Những công trình nghiên cứu chung về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam Cuốn sách 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1995 của Bế Viết Đẳng [38] đã tập trung nghiên
Trang 1PHẠM NGỌC ĐẠI
ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2017
Trang 2PHẠM NGỌC ĐẠI
ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Phạm Ngọc Đại
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan và những nội
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
2.1 Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách dân tộc
2.2 Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC
3.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về thực
Trang 5Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6Trang
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các nhóm dân cư tỉnh Đắk Lắk năm 2005 25
Biểu số 3.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Đắk Lắk 81 Biểu số 4.1: Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tỉnh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (tộc người) Dân tộc Kinh là dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số (DTTS) còn lại cư trú trên diện tích rộng lớn tới ¾ lãnh thổ, thường ở khu vực miền núi, biên giới Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các dân tộc
đã luôn đoàn kết, sát cánh bên nhau với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Thấy rõ đặc điểm ấy, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng và không ngừng phát triển, hoàn thiện chính sách dân tộc (CSDT) Chính sách dân tộc là bộ phận cấu thành chính sách chung của Đảng và Nhà nước, vạch ra những nguyên tắc, biện pháp đối xử và giải quyết vấn đề dân tộc CSDT thể hiện quan điểm chính trị của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ dân tộc, bao gồm những chính sách tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc, nhằm mục đích phát triển các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở các vùng dân tộc thiểu số; xây dựng khối
đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc
Chính sách dân tộc của Đảng luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ Qua các giai đoạn lịch sử cụ thể, CSDT của Đảng luôn được
bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước Khi
bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, CSDT của Đảng được triển khai ngày càng hiệu quả ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống Trong đó tỉnh Đắk Lắk là một trong những vùng có tính đặc thù
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái của vùng Tây Nguyên và cả nước Ngay sau ngày giải phóng (3-1975), xác định công tác dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã chú trọng và quan tâm đến CSDT: Vấn đề kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên luôn gắn chặt với vấn đề dân tộc, nếu không
Trang 8nói là vấn đề dân tộc có tính chất quyết định đối với các nội dung kinh tế - xã hội trên địa bàn này Có thể trong xu thế phát triển chung, tỉ lệ đồng bào dân tộc thiểu số giảm đi trong tổng số dân, nhưng tầm vóc của việc thực hiện CSDT không hề giảm nhẹ, ngược lại ngày càng phải được đề cao [146, tr.50-51]
Để thực hiện mục tiêu “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển" giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, CSDT, đặc biệt là được thể hiện tập trung toàn diện tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng (khóa IX, năm 2003) về công tác dân tộc Triển khai nghị quyết, nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Trung ương và của tỉnh Đắk Lắk đã được thực hiện nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc, giữa các khu vực dân cư Thực hiện hệ thống CSDT khá toàn diện, với nguồn lực thực hiện lớn, đã tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội; cơ sở hạ tầng từng bước tăng cường; giảm tỉ lệ hộ nghèo; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên Diện mạo vùng DTTS, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đã có những thay đổi căn bản
Tuy nhiên, cho đến năm 2015, vùng DTTS tỉnh Đắk Lắk vẫn là một trong những nơi khó khăn nhất Nhiều vấn đề quan hệ dân tộc bức xúc ở Đắk Lắk chưa được giải quyết tốt, như mức sống, trình độ phát triển giữa vùng đồng bào DTTS so với vùng đồng bào Kinh ngày càng cách xa; tác động tiêu cực của di cư tự do (DCTD) và mâu thuẫn về quyền sở hữu - sử dụng đất, rừng diễn biến phức tạp; lĩnh vực an ninh chính trị luôn tiềm ẩn những yếu tố bạo loạn; hệ thống chính trị (HTCT)
ở cơ sở hiệu quả hoạt động còn thấp Các chính sách được ban hành nhiều, nhưng hiệu lực, hiệu quả chưa cao, nhiều đầu mối quản lý Phương thức hỗ trợ của một số chính sách còn chưa phù hợp Nguồn lực đầu tư chính sách chưa bảo đảm thực hiện các mục tiêu; cơ chế phối hợp tổ chức thực hiện chính sách có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện CSDT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khóa IX) và cũng là hơn 10 năm đầu chia tách tỉnh (2003-2015) là việc làm cần thiết, để từ đó rút ra những kinh nghiệm thành công và chưa thành công, góp phần thực hiện tốt hơn CSDT của Đảng
Trang 9Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh
đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015 làm đề tài luận án tiến
sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện CSDT của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2015, từ đó rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu để thực hiện CSDT ở tỉnh nói riêng, cả nước nói chung, trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án hệ thống hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015
- Luận án đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của quá trình chỉ đạo thực hiện các chính sách dân tộc, từ đó chỉ ra nguyên nhân của sự lãnh đạo và kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
- Luận án rút ra 5 kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk thực hiện chính sách dân tộc sau hơn 10 năm chia tách tỉnh (2003 - 2015)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng về CSDT và quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện CSDT từ năm 2003 đến năm 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Lấy mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm
2015 với hai lý do: Một là, nhằm tổng kết Chương trình số 18/TU, ngày 14 tháng 05
năm 2003 của Tỉnh ủy Đắk Lắk, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
của BCH Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc Hai là, ngày 26-11-2003,
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia tách tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông Thực hiện Nghị quyết trên, ngày 01-01-2004, tỉnh Đắk Lắk (mới) được chính thức thành lập
Trang 10Không gian nghiên cứu: Đề tài luận án chủ yếu khảo sát tại địa bàn tỉnh Đắk
Lắk sau khi chia tách tỉnh (năm 2004 có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, năm 2015
có 15 đơn vị hành chính cấp huyện)
Nội dung nghiên cứu:
- Chính sách là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tập đoàn xã hội này vào những nhóm, tập đoàn xã hội khác thông qua các thiết chế khác nhau của HTCT nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định trước
- Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tổng hợp các quan
điểm, nguyên tắc, chủ trương, giải pháp tác động đến các dân tộc, vùng dân tộc, nhằm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa các dân tộc theo hướng bảo đảm khối đại đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam[14, tr.8] CSDT là toàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống của các DTTS, các vùng dân tộc và có thể đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thay đổi tình trạng lạc hậu, biệt lập, phân biệt, bất bình đẳng giữa các dân tộc, hướng tới sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau cùng phát triển [90, tr.52-53]
Biểu hiện của CSDT là ở nhiều cấp độ khác nhau, trong nhiều loại hình văn bản khác nhau: Như các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị do Đảng Cộng sản ban hành ban hành; Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh, các loại văn bản quy phạm pháp luật khác do Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước các cấp ban hành theo thẩm quyền
- Chính sách dân tộc có nội dung rất rộng, thể hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, Tuy nhiên, luận án giới hạn ở năm nhóm chính sách chủ yếu: Phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS; Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS; Xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS và nâng
cao chất lượng HTCT cơ sở; Chính sách quốc phòng - an ninh và một số chính
sách đặc thù khác
- Thực hiện CSDT là quá trình đưa chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống, đến với người dân Các ý tưởng của Đảng, mong muốn của người dân đã được thể hiện trong các văn bản tài liệu, nghị quyết sẽ phải cụ thể hóa thành lợi ích vật chất
xã hội Công tác tổ chức thực hiện chính sách không chỉ có tác dụng một chiều là đưa
Trang 11chính sách vào cuộc sống mà còn thông qua thực tiễn cuộc sống để điều chỉnh và hoàn thiện chính sách Tổ chức thực hiện CSDT của Đảng ở tỉnh Đắk Lắk có sự tham gia của nhiều lực lượng, cấp quản lý gồm cả cấp trung ương, địa phương (tỉnh, huyện, xã), cộng đồng (buôn/làng), doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và CSDT, đặc biệt là chủ trương của Đảng về CSDT trong thời kỳ đổi mới
4.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của luận án chủ yếu dựa vào số liệu khảo sát ở một số địa phương thuộc tỉnh Đắk Lắk, đồng thời luận án tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đã được công bố; các văn kiện của BCH Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, các văn bản pháp luật của Quốc hội, các văn bản điều hành của Chính phủ, các báo cáo của Uỷ ban Dân tộc, Ban chỉ đạo Tây Nguyên; những văn kiện của tỉnh Đắk Lắk
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp tiếp cận liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn; phân tích, tổng hợp, so sánh đối
chiếu, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn các đối
tượng như nhà quản lý, cán bộ thực hiện CSDT, phỏng vấn người dân - đối tượng thụ
hưởng chính sách
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trên cơ sở phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa tín ngưỡng; luận án làm sáng rõ tính đặc thù, sự khó khăn phức tạp của điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, dân cư, tộc người, các nhân tố bên ngoài tác động đến quá trình thực hiện CSDT ở tỉnh Đắk Lắk
- Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về CSDT
từ năm 2003 đến năm 2015
Trang 12- Đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế; lý giải nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; rút ra một số nhận xét về ưu, khuyết điểm, những kinh nghiệm chủ yếu về thực hiện CSDT của Đảng ở tỉnh Đắk Lắk từ năm 2003 đến năm 2015
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện CSDT và thực hiện CSDT của Đảng ở Đắk Lắk, các tỉnh Tây Nguyên và cả nước
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành của tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh khu vực Tây Nguyên trong việc thực hiện CSDT Ở một mức độ nhất định, kết quả đạt được trong luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề có liên quan đến CSDT và thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương, 8 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả luận án nhận thấy vấn đề “Đảng bộ tỉnh
Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015” được đề
cập đến nhiều trong các công trình, bài viết, có thể chia theo 3 nhóm như sau:
1.1.1 Những công trình nghiên cứu chung về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam
Cuốn sách 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1995) của Bế Viết
Đẳng [38] đã tập trung nghiên cứu khá đầy đủ về các DTTS Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới trên các lĩnh vực: xây dựng và phát triển kinh tế; thực hiện định canh, định cư; xây dựng quan hệ xã hội mới; xây dựng văn hóa và phát triển y tế Cuốn sách cung cấp những luận cứ thực tiễn nhằm đổi mới CSDT phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, nhất là khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội
ở miền núi của Bế Viết Đẳng [39] đã đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện
CSDT ở Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn
đề cấp bách đối với CSDT, tác giả đã đưa ra những nhận định và nêu một số nhận xét về CSDT trong thời kỳ mới Trong đó khẳng định: Phát triển kinh tế - xã hội là
cơ sở để thực hiện CSDT
Công trình Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ
dân tộc hiện nay của Phan Hữu Dật [23] và Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
của Đặng Nghiêm Vạn [192] đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quan
hệ tộc người ở Việt Nam, trong đó dành một phần đáng kể đề cập đến quan hệ tộc người ở Tây Nguyên
Viện nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi có báo cáo Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
[193] Công trình nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về CSDT của Đảng và những
Trang 14định hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Kiến nghị những giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc
Cuốn Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới của Trần
Văn Thuật và các cộng sự [100], trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát về sự đa dạng của điều kiện tự nhiên - môi trường, văn hóa và kinh tế miền núi Việt Nam, các tác giả đã nêu định hướng và nguyên tắc phát triển miền núi và vùng DTTS của Đảng Đánh giá thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội và đặt ra những vấn đề về phát triển miền núi trong giai đoạn mới Nhóm tác giả đã dành một chương bàn về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN), đề ra những giải pháp thực hiện mục tiêu XĐGN Về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc, vấn đề môi trường tự nhiên - quá trình khai thác, bảo vệ và biến đổi cũng được nghiên cứu khá đầy đủ
Cuốn Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay của
Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng [90] đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về dân tộc
và CSDT của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đang đặt
ra trong việc thực hiện CSDT và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CSDT ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách trình bày những nhận thức cơ bản về dân tộc và CSDT của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ từ 1930 đến 2006 Cuốn sách có những đánh giá tổng kết và phân tích sâu sắc đối với những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện CSDT ở Việt Nam, như sự tranh chấp nguồn lợi và sự xung đột dân tộc, vấn đề nghèo đói, hoạt động của các thế lực thù địch Đồng thời tác giả bước đầu đưa ra những quan điểm, giải pháp góp phần thực hiện tốt CSDT hiện nay ở Việt Nam
Cuốn sách Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay của Hoàng Chí Bảo [12] đã đánh giá
thực trạng công bằng bình đẳng và hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế
- xã hội tại vùng đa dân tộc, cũng như quá trình thực hiện CSDT hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Tác giả đã đưa ra 4 giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm công bằng, bình đẳng trong phát triển kinh tế, xã hội giữa các dân tộc ở miền núi Cùng
Trang 15với đổi mới nhận thức về dân tộc, xây dựng HTCT và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt CSDT trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được xem là giải pháp
cơ bản để thực hiện công bằng, bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Ủy ban Dân tộc - Viện
Dân tộc [140] đã cung cấp những thông tin đa chiều nhằm làm rõ kết quả, hạn chế, yếu kém, đề xuất các giải pháp, góp phần đổi mới và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) về công tác dân tộc của Đảng
Cuốn sách Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng [14] đã tổng kết, đánh giá về công tác dân tộc
và xây dựng, thực hiện CSDT, nhất là vấn đề đổi mới xây dựng và thực hiện CSDT
Cuốn sách Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở
nước ta hiện nay của Phan Văn Hùng [75] đã làm rõ những vấn đề về CSDT ở Việt
Nam hiện nay trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài "Những vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc ở nước ta", mã số KX 04.18/2011-2015 do Ủy ban Dân tộc chủ trì Đó là những vấn đề cơ bản về quan hệ dân tộc, các yếu tố chủ yếu tác động đến quan hệ dân tộc, nguồn gốc bất bình đẳng và xung đột dân tộc; chủ trương, CSDT của Đảng và Nhà nước Việt Nam và một số định hướng CSDT trong thời gian tới; vấn đề nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc, các vùng dân tộc; vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai trong vùng đồng bào DTTS Cuốn sách có những đánh giá, luận chứng có giá trị tham khảo tốt cho đề tài luận án
Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu về thực hiện CSDT ở các địa phương trong cả nước:
Cuốn sách Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân
tộc ở các tỉnh miền núi trong những năm gần đây Hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống của Lưu Văn Sùng [91] đã khảo sát đánh giá
về điểm nóng chính trị - xã hội và xử lý điểm nóng trên địa bàn Tây Bắc, Tây
Trang 16Nguyên, Tây Nam Bộ từ đó đề ra một số giải pháp và bài học kinh nghiệm trong
xử lý điểm nóng nhằm giải quyết quan hệ dân tộc trong một quốc gia đa tộc người
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 của Trần Thị Mỹ Hường [77] đã đánh giá
thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới, lãnh đạo của Đảng thực hiện CSDT ở Tây Bắc từ năm 1996 đến 2006, đúc kết 4 kinh nghiệm lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh khu vực Tây Bắc: Một là, phát triển toàn diện, đồng bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng; Hai là, lựa chọn đầu tư có trọng điểm Đồng thời, phát huy nội lực, tiềm năng, thế mạnh cũng như tính chủ động sáng tạo của địa phương; Ba là, thực hiện tốt định canh, định cư, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân; Bốn là, chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ người DTTS
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010 của Hoàng Thu Thủy [101] đã
làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình tổ chức thực hiện CSDT của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; tổng kết 5 kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010: Một là, bám sát đặc điểm cấu trúc xã hội tộc người ở vùng miền núi Đông Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với thực tiễn; Hai là, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo
ra các bước phát triển đột phá; Ba là, gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm
an ninh, quốc phòng vùng đồng bào DTTS là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CSDT; Bốn là, coi trọng nâng cao vai trò của HTCT địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện CSDT; Năm là, phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào DTTS tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi CSDT
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khơ-me ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Thanh Thủy [103], đã
Trang 17tập trung nghiên cứu CSDT của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào
Khơ-me cũng như quá trình thực hiện chính sách Từ những kết quả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đạt được trong quá trình thực hiện CSDT, tác giả đã mạnh dạn đưa
ra một số kiến nghị và giải pháp để thực hiện có hiệu quả CSDT vùng đồng bào dân tộc Khơ-me
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về khu vực Tây Nguyên
1.1.2.1 Công trình của các tác giả nước ngoài
Do vị trí và tầm quan trọng về địa lý - dân tộc học nên Tây Nguyên đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội trong và ngoài nước
Đầu thế kỷ XX, H Bernard với công trình Les populations Moi du Darlac
(Những cư dân Mọi ở Đắk Lắk) [13] đã mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng
thể về cư dân các DTTS ở Đắk Lắk nói chung và tộc người Ê-đê nói riêng
Henri Maitre, Les jung les Moi - Rừng người Mọi [80] đã phân chia vùng đất
Tây Nguyên và Nam Trường Sơn theo địa lý vùng, chia cư dân thành những nhóm theo ngôn ngữ - dân tộc một cách khoa học Đây là công trình lịch sử tộc người đầu tiên viết về cao nguyên nằm giữa Việt Nam, Campuchia và Lào
Công trình Monographie de province du Darlac, Extrême-Orient (Chuyên khảo
về tỉnh Đắk Lắk, vùng Viễn Đông) của Mus P [81]; “Bài ca Đam San” do Sabatier L
sưu tầm, công bố năm 1934; công trình “L’habitation Rhade” (Nhà ở của người
Ra-đê) của M Ner [82] nghiên cứu về nhà ở, kiến trúc của người Ê-đê
Jacques Dournes là một trong những nhà Tây Nguyên học say mê nhất Ông sống ở Tây Nguyên gần ba mươi năm, am hiểu sâu sắc các DTTS ở đây, nói thành thạo ngôn ngữ của họ và đã viết hàng chục công trình có thể coi là những nghiên cứu cơ bản nhất về Tây Nguyên
Dam Bo (Jacques Dournes), Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam
Đông Dương) [22], đã mô tả một hệ thống thần linh khá giàu có, người dân tộc Tây
Nguyên được hít thở trong một môi trường tâm linh phong phú, định hướng cho những gì tốt đẹp trong tâm hồn Những giá trị tâm hồn ấy toả sáng, nhưng mong manh và đang đương đầu với những thử thách trước cái văn minh và hiện đại đầy thực dụng đang tràn vào
Trang 18Tác giả đã phác thảo các cộng đồng với những chuyện kể thú vị: người Ra-glai
ở Đông - Nam Tây Nguyên sống hiếu khách và thuận hoà, thích giao lưu; người Srê ở cao nguyên Kon Tum hướng ngoại và dễ bị nền văn minh tác động, người Cil ở cao nguyên Lang Biang nghèo đói cam phận, người Ê-đê ở vùng Ðồng Nai Thượng và cao nguyên Đắk Lắk thì đầy ý chí học hỏi, v.v Nó như những đoạn phim tài liệu quý đầy tính gợi tả trên nền khảo cứu khoa học tinh tế, nhạy cảm được khảo sát trên các bình diện nhân chủng, văn hoá, đời sống…
Dam Bo viết: Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu Bài toán về sự phát triển của các dân tộc Tây Nguyên không hề là một bài toán đơn giản, dễ dàng Cần phải yêu, một tình yêu đầy kính trọng và cả ưu tư như Dam
Bo đã yêu đối với đất nước và con người Tây Nguyên để có thể hiểu nó một cách thấu đáo, từ đó có thể xử lý những câu hỏi không hề dễ dàng đặt ra vừa bức bách vừa lâu dài, cơ bản
Georges Condominas, Chúng tôi ăn rừng [20] đã khắc họa lại một bức tranh
chân thực về cuộc sống của người Mnông Gar Cuộc sống của người Mnông Gar luôn tuân thủ chặt chẽ theo vô số nghi lễ từ nhỏ đến lớn: lễ kết nghĩa, hội cúng đất, lễ buộc thóc, v.v Cuốn sách trình bày những tư liệu thu thập được trong diễn biến của một chu kỳ nông nghiệp trọn vẹn trong một năm, là cơ sở thực tiễn đề xuất các giải pháp phát triển, trên nhiều lĩnh vực đối với đồng bào Mnông Gar cũng như các nhóm dân
tộc thiểu số tại chỗ khác ở Đắk Lắk
Anne de Hautecloque Howe, Người Ê Đê, một xã hội mẫu quyền [1] đi sâu
nghiên cứu và giới thiệu về cơ cấu tổ chức, các quan hệ xã hội của dân tộc Ê-đê, đặc biệt xã hội Ê-đê là xã hội mẫu quyền điển hình nhất ở Tây Nguyên Những hiểu biết sâu sắc về dân tộc Ê-đê giúp cho các nhà nghiên cứu dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, là tài liệu tham khảo tốt cho những người làm công tác thực tiễn và quản lý địa phương hiện nay Tác giả đã gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: đó là
vị trí của người đàn ông trong xã hội Ê-đê; vấn đề đất đai và tái định cư người Việt tác động đến mọi mặt cấu trúc xã hội truyền thống, đặc biệt là phạm trù sở hữu mới
Công trình của G Hickey, Tự do trong rừng thẳm (Lịch sử các sắc tộc vùng Tây
Nguyên Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1976) [79], cuốn sách phản ánh chính sách
Trang 19đồng hóa người Tây Nguyên của Ngô Đình Diệm, như: bãi bỏ chế độ Hoàng triều cương thổ, di cư người Việt từ các tỉnh ven biển lên Tây Nguyên, thành lập Bộ Sắc tộc, xây dựng lại nền hành chính, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất tại cao nguyên miền Nam… gây ra làn sóng bất mãn, dẫn đến sự ra đời của tổ chức bí mật
Mặt trận giải phóng Tây Nguyên (Le Front pour la Libération des Montagnards) năm
1955 và sau đó đổi tên thành Bajaraka năm 1958…
Nhìn chung, tuy mỗi công trình không giống nhau về chính kiến và mục đích nghiên cứu cũng như cách tiếp cận, nhưng đây là những công trình đi sâu nghiên cứu tộc người, đóng góp những giá trị khoa học nhất định khi tìm hiểu tất cả các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội của các tộc người ở Tây Nguyên Đặc biệt, nhiều vấn đề có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị ở Tây Nguyên vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi
1.1.2.2 Công trình của các tác giả trong nước
Thời kỳ thuộc Pháp, có công trình Mọi Kon Tum của Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi [17] Cuốn sách Mọi Kontum đã cho người đọc những hiểu biết
tương đối cụ thể về Kon Tum nói riêng, Bắc Tây Nguyên nói chung Cuốn sách đã bước đầu nghiên cứu đặc điểm dân tộc, đời sống vật chất và văn hoá của các DTTS
ở Kon Tum
Trong thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975, ở miền Nam có một số công trình
nghiên cứu về các tộc người Tây Nguyên Đáng chú ý là cuốn sách Đường lên xứ
Thượng của Bùi Đình [59]; các công trình: Tìm hiểu phong trào tranh đấu FULRO (1958-1969) của Bộ Phát triển sắc tộc [15]; Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam, nguồn gốc và phong tục của Nguyễn Trắc Dĩ [24]; Cao nguyên miền Thượng
của Cửu Long Giang, Toan Ánh [61] Các công trình này chủ yếu đi sâu khảo sát và
mô tả địa bàn cư trú, nguồn gốc, nếp sống cá nhân, đời sống xã hội, tinh thần của các tộc người ở Tây Nguyên nói riêng và miền Nam nói chung
Ở miền Bắc có một số công trình của Y Điêng, Ngọc Anh, Lê Bá Thảo giới thiệu về vùng đất, văn hóa và con người Tây Nguyên, trong đó có các tộc người ở Đắk Lắk
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu về Tây Nguyên nhằm đưa ra những luận cứ khoa học để khai thác tiềm năng thế mạnh về điều kiện
Trang 20tự nhiên, những đặc điểm về văn hóa - xã hội của quá trình xây dựng cuộc sống mới
ấm no, hạnh phúc cho đồng bào các DTTS, thực hiện mục tiêu bình đẳng, đoàn kết dân tộc được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm Trong đó thành tựu nổi bật nhất là việc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) thực hiện thành công hai chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Chương trình Tây Nguyên 1 (1978-1983) và Chương trình Tây Nguyên 2 (1984-1988) Hai Chương trình này đã điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên, đặc điểm con người và xã hội các dân tộc, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách của nhà nước Kết quả phần khoa học xã hội
được tập hợp và xuất bản trong hai cuốn sách Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã
hội Tây Nguyên [145] và Tây Nguyên trên đường phát triển [146], trong đó đã làm
sáng tỏ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên rừng, DCTD, quan hệ tộc người Cùng với đó còn có những thành tựu khác về dân tộc học, văn hóa học, xã hội học đã điều tra, xác định thành phần dân tộc, giới thiệu đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa các dân tộc, góp phần thực hiện CSDT của Đảng
Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng quan tâm chỉ đạo quá trình đưa Tây Nguyên quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), trong đó chú ý đặc điểm dân tộc, dân cư và có chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên phù hợp với
đặc điểm địa lý, dân tộc, dân cư ở vùng này Lê Duẩn trong bài Tây Nguyên đoàn kết
tiến lên [30]; Trường Chinh trong bài Đưa đồng bào các dân tộc Đắk Lắk lên chủ nghĩa xã hội [18] đã phân tích những đặc thù về tộc người, dân cư và chỉ đạo các
đảng bộ tỉnh khu vực Tây Nguyên phải nghiên cứu, vận dụng để đề ra chủ trương, giải pháp cho phù hợp
Trong điều kiện khó khăn về kinh tế, tình hình an ninh chưa ổn định do hoạt động của lực lượng phản động FULRO (Front unifine pour la liberation des races opprimees (Mặt trận thống nhất giải phóng các dân tộc bị áp bức), đặc biệt là thiếu
tư liệu, nhưng nhiều nhà khoa học quan tâm đến nghiên cứu lịch sử, văn hoá tộc người, đặc biệt tham gia tích cực vào công tác xác định thành phần dân tộc ở các tỉnh vùng Tây Nguyên Một số công trình chuyên khảo về lịch sử, văn hoá và dân tộc học
Trang 21đã giúp người đọc hiểu rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử, văn hoá và đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của các DTTS ở Tây Nguyên
Sau hơn 20 năm kể từ chương trình Tây Nguyên 2, Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước TN3/11-15 (gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên 3) được triển khai Chương trình tập trung đánh giá tổng thể các mặt kinh tế, văn hóa,
xã hội, tài nguyên, môi trường, địa lý, quốc phòng và an ninh mang tính đặc thù để có
cơ sở xây dựng định hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn
2010-2020 và tầm nhìn 2030 Trong Chương trình Tây Nguyên 3, lĩnh vực khoa học xã hội
và nhân văn được phân thành 21 đề tài theo hướng chuyên môn sâu từng lĩnh vực, như vấn đề quyền sử dụng đất, quan hệ tộc người, tình hình tôn giáo, tiềm năng du lịch,… ở Tây Nguyên
Đáng chú ý là Quan hệ tộc người và chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc trong phát triển bền vững Tây Nguyên của Phạm Quang Hoan [69] Trên cơ sở
phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ dân tộc và các yếu tố tác động đến quan hệ dân tộc và đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên, đề tài đúc rút những bài học kinh nghiệm,
đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp đối với CSDT nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên Kết quả của đề tài
là cơ sở khoa học để đổi mới quan điểm trong xây dựng và thực hiện CSDT, đẩy mạnh sự phát triển các dân tộc và quản lý các mối quan hệ dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong phát triển bền vững Tây Nguyên
Bên cạnh đó, có các công trình, đề tài nghiên cứu các cấp khác đề cập đến CSDT ở Tây Nguyên:
Cuốn sách Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên của Vũ Đình Lợi, Bùi Minh
Đạo và Vũ Thị Hồng [78], sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện, tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, chỉ ra những thành công, đồng thời đã vạch ra những thiếu sót, đưa ra những giải pháp có tính nguyên tắc Các tác giả đã nghiêm túc đưa ra lời cảnh báo rằng, nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì “vấn đề dân tộc” sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo
Trang 22Các công trình chuyên khảo: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế -
xã hội ở miền núi của Bế Viết Đẳng [39]; Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xoá đói giảm nghèo đối với các các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên của Bùi
Minh Đạo [52]; Thực trạng phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền
vững của Bùi Minh Đạo [56]… đã đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của các tộc
người Tây Nguyên dưới tác động của các chính sách kinh tế - xã hội; đánh giá những thành công và hạn chế của chính sách, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện CSDT của Đảng và Nhà nước
Đề tài Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện người
các dân tộc ở Tây Nguyên của Lê Hữu Nghĩa [83]; Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên của Phạm Hảo, Trương Minh Dục [62] Các công
trình này đã trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng HTCT và việc hình thành đội ngũ cán bộ các DTTS; đánh giá thực trạng HTCT, đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý người các DTTS trong HTCT ở Tây Nguyên; đề xuất các giải pháp để xây dựng HTCT, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay
Khía cạnh quan hệ tộc người, công trình Xu hướng phát triển và những giải
pháp giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền ở Tây Nguyên của Nguyễn
Quốc Phẩm [85], đã đánh giá thực trạng quá trình nhận thức và thực hiện CSDT, tôn giáo và nhân quyền của Đảng, Nhà nước ở Tây Nguyên thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền phù hợp với điều kiện lịch sử ở Tây Nguyên
Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở
Tây Nguyên của Trương Minh Dục [31], trình bày đặc điểm kinh tế - xã hội của các
DTTS ở Tây Nguyên và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế -
xã hội vùng DTTS; những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện CSDT của Đảng ở Tây Nguyên như: vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai và phát triển các hình thức kinh tế; phát triển văn hoá, giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức các DTTS; vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; vấn đề xây dựng HTCT và đào tạo đội ngũ cán
bộ các DTTS; vấn đề xây dựng khối đoàn kết dân tộc
Trang 23Trương Minh Dục có chuyên khảo Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân
tộc ở Tây Nguyên [32] Nội dung cuốn sách trình bày truyền thống đoàn kết của các
tộc người qua các thời kỳ lịch sử; quá trình xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới
Tổng kết thực tiễn đổi mới ở Tây Nguyên cũng được đề cập trong các cuốn
sách như Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong
thời kỳ đổi mới [33], Miền Trung và Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới của Trương
Minh Dục [34] đã khái quát quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và
quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích sâu vào thực trạng quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk, những hạn chế của chính sách và thực hiện các chính sách ở khu vực người DTTS
Nguyễn Văn Tiệp đã công bố cuốn Chính sách dân tộc của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa và vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên (1954-1975)
[107], đã bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu tổng kết về CSDT của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa đối với Tây Nguyên Trong lịch sử Việt Nam thời kỳ 1954-1975 là một giai đoạn hết sức phức tạp trong bối cảnh đất nước bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Ở miền Nam, do tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ban hành CSDT, trong đó
có chính sách Thượng vụ dành riêng cho các dân tộc ở Tây Nguyên
Cuốn sách trình bày những nội dung cơ bản của chính sách Thượng vụ và đánh giá những tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của các DTTS Tây Nguyên Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử cho việc xây dựng và thực thi CSDT của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu về đồng bào các DTTS Tây Nguyên, bởi nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau:
Dưới góc độ nghiên cứu lịch sử có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp
phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1996 đến năm 2006 của Lê Nhị Hoà [65], Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở Tây Nguyên từ năm 1996 đến năm 2006 của Phạm Văn Hồ [64]
Trang 24Chuyên khảo của Nguyễn Duy Thụy, Di cư của người dân tộc thiểu số đến Tây
Nguyên từ năm 1975 đến năm 2015 [105] đã làm rõ thực trạng di dân, các nguồn di
dân, nguyên nhân, mục đích của việc di dân; vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương; quan hệ giữa dân di cư với các DTTS tại chỗ; tác động của bộ phận dân di
cư đối với sự phát triển kinh tế, xã hội vùng Tây Nguyên
Dưới góc độ xây dựng Đảng có Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh
trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay của Phan Sỹ Thanh [95], phân tích những điểm đặc
thù về HTCT cơ sở và tổng kết một số kinh nghiệm xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên, đồng thời đề xuất các giải pháp xây dựng trong thời gian tới
Các công trình khoa học trên đây đã đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hoá, tôn giáo, quan hệ tộc người ở Tây Nguyên trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Tây Nguyên nói chung và CSDT của Đảng ở Tây Nguyên nói riêng
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk
Bên cạnh những công trình, đề tài nghiên cứu về CSDT bao quát toàn vùng Tây Nguyên và phụ cận, đã có những công trình nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk với những cách tiếp cận khác nhau
Bế Viết Đẳng và các cộng sự có cuốn Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông
ở Đắk Lắk [37] Cuốn sách là kết quả của hoạt động điền dã trong tất cả các
huyện, trong hầu hết các nhóm người của hai dân tộc Ê-đê và Mnông ở Đắk Lắk Đây là kết quả quá trình làm việc nghiêm túc của tập thể nhà khoa học của Viện Dân tộc học trong những năm 1976-1979, ngay sau ngày miền Nam được giải phóng, trong những điều kiện khó khăn Nội dung của cuốn sách là những tư liệu quý giới thiệu về đặc điểm tự nhiên và dân cư, kinh tế và xã hội, văn hóa, đặc biệt
là những biến đổi về kinh tế - xã hội và văn hóa của các DTTS ở Đắk Lắk, phục
vụ cho công tác lý luận và thực tiễn về dân tộc và CSDT
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk đã xuất bản
cuốn Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk [147] Cuốn
sách là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam với Tỉnh
Trang 25ủy Đắk Lắk Trong 2 năm 1987-1988, đề tài đã tổ chức nhiều đợt điều tra nghiên cứu
ở các buôn làng Ê-đê, Mnông; trao đổi với lãnh đạo các cấp huyện, xã; đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học theo từng đề tài, nhiều vấn đề khoa học và thực tiễn được đưa ra thảo luận, tranh luận rộng rãi và dân chủ
Cuốn sách tập trung làm sáng tỏ thực trạng các dân tộc sau 15 năm giải phóng (1975-1990) góp phần cung cấp cơ sở khoa học để tìm ra phương hướng phát triển hợp quy luật trong giai đoạn đầu thời kỳ quá độ lên CNXH; đề xuất những nhiệm vụ
và giải pháp cấp bách, đồng bộ với cơ quan Đảng, chính quyền về những vấn đề kinh
tế, xã hội đang đặt ra ở Đắk Lắk Mặc dù là những nghiên cứu ban đầu, nhưng những kết luận trong cuốn sách là những gợi ý quý báu cho những nhà quản lý, lãnh đạo ở địa phương; đồng thời là những chỉ dẫn tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ và cụ thể hơn
về vấn đề dân tộc và CSDT
Tác giả Nguyễn Văn Tiệp và các cộng sự công bố cuốn sách Một số vấn đề về
kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk [106] Nội dung cuốn sách gồm 6
chương, chuyển tải nội dung khoa học về hiện trạng, dự báo xu hướng phát triển kinh
tế - xã hội, đánh giá chính sách phát triển kinh tế - xã hội và CSDT được thực hiện tại địa phương trong thời gian từ sau năm 1986 đến năm 2006, từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp giúp cho các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết mối quan hệ trong vùng
Ngoài ra, có nhiều luận án tiến sỹ đã nghiên cứu về Đắk Lắk dưới nhiều góc độ:
Nguyễn Bá Thủy, Di dân tự do của các dân tộc Tày, Nùng, Hmông, Dao từ Cao
Bằng, Lạng Sơn vào Đắk Lắk giai đoạn 1986-2000 [102] đã đánh giá thực trạng,
nguyên nhân di dân tự do và tác động của quá trình di dân tự do của người Tày, Nùng, Hmông, Dao, từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đắk Lắk Đề xuất một số biện pháp
và khuyến nghị nhằm góp phần hoạch định chính sách di dân, điều tiết việc di dân tự
do; Các luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Duy Thụy, Chuyển biến kinh tế - xã hội
Đắk Lắk từ năm 1975 đến năm 2003 [104], Lương Thy Cân, Chuyển biến kinh tế - xã hội thành phố Buôn Ma Thuột từ năm 1975 đến 2010 [16] và Nguyễn Khắc Trinh, Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2004 đến năm 2013
[137] đã đề cập đến một số khía cạnh của quan hệ dân tộc và CSDT ở Đắk Lắk, với
Trang 26tư cách vừa là nhân tố tác động đến hoạch định chủ trương, chính sách, vừa là kết quả thực hiện chủ trương, chính sách
Có thể nói, nội dung của các công trình trên đã giúp tác giả luận án có được cái nhìn bao quát để đối chiếu, so sánh quá trình thực hiện CSDT của Đảng trên phạm vi
cả nước, để thấy được tính thống nhất và đặc thù mỗi vùng miền trong quá trình thực hiện CSDT của Đảng Cộng sản Việt Nam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Những công trình nghiên cứu trên đây đã ít nhiều đề cập các vấn đề liên quan đến nội dung của Luận án:
Thứ nhất, hệ thống lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc và thực hiện CSDT, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
Thứ hai, tính đặc thù về tự nhiên, dân cư, phương thức sản xuất, văn hóa, tôn
giáo - tín ngưỡng, thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng;
Thứ ba, quá trình lịch sử hình thành vùng đất, lịch sử cai trị của các thế lực
ngoại xâm và lịch sử đấu tranh cách mạng của các dân tộc Tây Nguyên trước năm 1975;
Thứ tư, quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện CSDT ở
Việt Nam từ năm 1930, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay;
Thứ năm, một số vấn đề mới về quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên nói chung và
Đắk Lắk nói riêng;
Thứ sáu, một số kết quả thực hiện các CSDT trên địa bàn Tây Nguyên, trong đó
có tỉnh Đắk Lắk
Thứ bảy, những thách thức, rào cản trong thực hiện CSDT ở Đắk Lắk
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã cung cấp những tư liệu, những
luận cứ quan trọng để luận án kế thừa giải quyết những nhiệm vụ đặt ra Như vậy, đã
có nhiều công trình khoa học thuộc nhiều thể loại khác nhau: Sách chuyên khảo, đề tài, bài viết tạp chí, luận văn, luận án, ngoài ra còn có hệ thống văn bản, chỉ thị, nghị
Trang 27quyết của Đảng về vấn đề dân tộc và CSDT Một số công trình nghiên cứu về quá trình thực hiện CSDT ở các địa phương, vùng và cả nước, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện CSDT theo tinh thần và nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc,
từ năm 2003 đến năm 2015
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận án, tác giả tập trung nghiên cứu giải quyết một số vấn đề sau:
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình nhận thức, hoàn thiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng về CSDT vào thực tiễn địa phương từ năm 2003 đến năm 2015
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong nhận thức và thực hiện CSDT ở Đắk Lắk giai đoạn 2003-2015
- Đúc kết một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trong quá trình lãnh đạo thực hiện CSDT giai đoạn 2003-2015
Trang 28Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK
dài 73 km giáp tỉnh Mondulkiri (Campuchia) Tỉnh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Búk, Ea Kar, Krông Ana, Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, M'Đrắk, Krông Pắk, Ea H'Leo, Krông Bông, Cư M'Gar, Krông Năng (sau đó chia tách thêm 2 đơn vị: Huyện Cư Kuin thành lập theo Nghị định 137/2007/NĐ-CP và Thị xã Buôn Hồ thành lập theo Nghị định 07/2008/NĐ-CP của Chính phủ), với 165 đơn vị hành chính cấp xã, 2.129 thôn, buôn, tổ dân phố [4, tr.358-359], [Phụ lục 1]
Đắk Lắk có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng không chỉ đối với Tây Nguyên mà đối với cả nước Đắk Lắk có hệ thống giao thông tương đối phát triển, gồm nhiều tuyến đường bộ quan trọng Từ Đắk Lắk có thể kiểm soát và khống chế toàn bộ Tây Nguyên, án ngữ các tuyến đường xuyên Việt từ Kon Tum - Plei Ku qua Đắk Lắk xuống miền Tây Nam Bộ (Quốc lộ 14), từ cao nguyên Đắk Lắk xuống dải đất ven biển Nam Trung Bộ, từ ven biển Trung Bộ qua Đắk Lắk sang các nước Lào và Campuchia (Quốc lộ 26, 27) Với vị trí và hệ thống đường giao thông trên, Đắk Lắk không quá cách xa các thành phố lớn và cảng biển để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 29Đắk Lắk có địa hình đa dạng, tài nguyên đất, rừng phong phú Độ cao trung bình từ 500-800 m so với mặt biển, địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Ở giữa tỉnh có cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài từ Bắc xuống Nam trên 90 km, từ Đông sang Tây khoảng 70 km, bề mặt có dạng đồi lượn sóng, nhưng khá bằng phẳng, độ dốc từ 3-15o Bề mặt cao nguyên Buôn Ma Thuột là kết quả của phun trào núi lửa phủ lên bề mặt lớp phiến thạch mi-ca và sa phiến thạch bị phong hóa, tạo nên một lớp đất màu mỡ, rất thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp Phía Nam
có nhiều đồng trũng và đầm hồ dọc theo các con sông chính như Krông Ana, Krông Nô Phía Đông Bắc và Đông Nam bao gồm các dãy núi cao trên 1.000m, tạo nên biên giới khí hậu giữa duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Trong đó lớn nhất là vùng núi Chư Yang Sin nằm ở phía Đông Nam, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột với cao nguyên Lâm Viên, có đỉnh Chư Yang Sin cao 2.445 m
Địa hình phức tạp cùng với khác biệt về khí hậu tạo ra nhiều vùng sinh thái khác nhau ở Đắk Lắk, có điều kiện để đa dạng hóa nông nghiệp và lâm nghiệp; song cũng có nhiều hiện tượng bất lợi như xói mòn đất, rửa trôi, sụt lở đất đá…
Đất đai tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk, được chia thành 11 nhóm chính và 84 đơn vị đất đai, tạo thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp (dễ khai thác, chi phí đầu tư cải tạo thấp, độ an toàn sinh thái cao) Đặc biệt, Đắk Lắk có nhóm đất đỏ bazan với diện tích 324.679 ha, chiếm 24,81% diện tích tự nhiên, phần lớn nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng phù hợp cho phát triển cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, ca cao, cao su, tiêu… Ngoài ra còn có nhiều loại đất khác thích hợp với các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, một số cây lâu năm và lúa nước Tỉnh Đắk Lắk gồm nhiều tiểu vùng khí hậu, vừa mang tính chất cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, khí hậu mát và lạnh, độ ẩm thấp, thường có gió cao nguyên từ cấp 4 đến cấp 6; Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hằng năm, khí hậu ẩm và dịu mát, hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đối với các cây trồng lâu năm và hoa màu ngắn ngày
Khí hậu Đắk Lắk có nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời và tổng nhiệt độ cao, là điều kiện hình thành và phát triển một nền nông nghiệp với năng suất và chất lượng cao với các sản phẩm đặc trưng như cà phê, cao su, hồ tiêu, bông và nhiều cây lương
Trang 30thực, thực phẩm có giá trị khác Tuy nhiên, do phân hóa hai mùa khắc nghiệt nên luôn phải chú ý đến việc giữ nước chống hạn vào mùa khô Đặc biệt, trong những năm gần đây, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến đổi khí hậu toàn cầu, đặc biệt là hiện tượng El Nino, mùa khô ở Đắk Lắk có xu hướng kéo dài, mùa mưa kết thúc sớm, lượng mưa giảm nên xảy ra khô hạn, số giờ nắng và nhiệt độ trung bình trong năm cũng có xu hướng tăng; thiên tai do lũ, ngập úng, sạt lở đất, hạn hán, giông lốc diễn biến ngày càng phức tạp và nghiêm trọng
Tài nguyên rừng: Tính đến năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp của Đắk Lắk
có khoảng 618,2 nghìn ha Tổng trữ lượng rừng khoảng 59 - 60 triệu m3 [149, tr.11] Rừng Đắk Lắk có nhiều loại gỗ, cây dược liệu, trong đó có một số loại gỗ quý như cẩm lai, trắc, lim, sến, táu… và nhiều loại lâm thổ sản khác; nhiều loài động vật quý hiếm, phân bố chủ yếu ở vườn quốc gia Yok Đôn, khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yang Sin Rừng Đắk Lắk nằm ở thượng lưu các sông suối lớn nên có vai trò quan trọng phòng hộ và bảo vệ nguồn sinh thủy không những cho tỉnh mà còn cho cả khu vực
Đắk Lắk là địa phương có diện tích rừng rộng lớn và phong phú nhất cả nước với thảm thực vật đa dạng, chất đất màu mỡ, có nguồn lợi kinh tế cao
Diện tích rừng ở Đắk Lắk có xu hướng giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng Trong vòng 9 năm (1995-2004), diện tích rừng giảm 77,9 nghìn ha, trung bình mỗi năm giảm 8,7 nghìn ha Nguyên nhân chủ yếu là sự gia tăng dân số tự nhiên và đặc biệt là tình trạng di dân ngoài kế hoạch vào Đắk Lắk hằng năm rất lớn, dẫn đến nhu cầu về đất sản xuất tăng cao
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đắk Lắk là địa bàn có sự đa dạng về thành phần dân cư và dân tộc nhất cả nước
Sau năm 1975, Đắk Lắk là một trong những vùng trọng điểm phân bổ lực lượng lao động và dân cư trong cả nước Ngoài việc tiếp nhận hàng chục nghìn hộ dân đến xây dựng kinh tế theo kế hoạch, Đắk Lắk là nơi thu hút mạnh mẽ luồng DCTD đến, chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc Từ năm 1976 đến 2004, có 57.995 hộ, 282.230 khẩu đã DCTD đến Đắk Lắk [60, tr.1-2], [Phụ lục 6]
Năm 2005, dân số Đắk Lắk là 1.710.000 người (chiếm 36,3% dân số vùng Tây Nguyên), với 44 dân tộc, tăng gần gấp 5 lần so với năm 1975, bao gồm ba bộ phận dân cư: Dân tộc Kinh, DTTS tại chỗ và DTTS khác
Trang 3172 11,2
16,6
Dân tộc Kinh DTTS khác DTTS tại chỗ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các nhóm dân cư tỉnh Đắk Lắk năm 2005
Nguồn: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk [60]
Ba khối dân cư có trình độ phát triển kinh tế - xã hội tự thân khác nhau Dân tộc Kinh chiếm đông nhất, 72% dân số (năm 2005) Người Kinh có truyền thống thâm canh, định canh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội cao, đời sống từ ổn định đến khá giả, tỉ lệ hộ nghèo đói thấp, khoảng 5%, là lực lượng quyết định sự phát triển kinh tế
Tỉnh Đắk Lắk có 10 DTTS tại chỗ thuộc 2 hệ ngôn ngữ Môn - Khơ-me (Nam Á) và Malayo - Polinesien (Nam Đảo) Người DTTS tại chỗ, chiếm khoảng 18,9% dân số, cư trú ở hầu khắp các huyện và thành phố Buôn Ma Thuột
Các dân tộc tại chỗ có trình độ phát triển kinh tế - xã hội tự thân thấp, sản xuất mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp, dựa trên một nền sản xuất nông nghiệp nương rẫy Trình độ dân trí thấp nên khả năng tiếp thu khoa học, kỹ thuật, tiếp thu cái mới còn nhiều hạn chế Phong tục tập quán lạc hậu còn phổ biến Các tập tục cổ hủ mang yếu tố tự ti, biệt lập, khép kín của các công xã thị tộc và có giá trị như luật pháp của từng buôn làng… đã kìm hãm trí tuệ con người, không thích thay đổi, chậm tiếp thu cái mới
Trang 32Đắk Lắk - Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa với nhiều nét văn hóa đặc trưng, mang sắc thái của nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước Các DTTS ở Đắk Lắk có bản sắc văn hóa phong phú và độc đáo, là nơi lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, có giá trị lịch sử và thẩm mỹ độc đáo như nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội văn hóa và một kho tàng văn học dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ Một trong những di sản nổi tiếng là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO (2005), công nhận
là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại Một số dân tộc như Ê-đê, Mnông, Gia-rai có bộ chữ viết khá sớm
Cộng đồng các dân tộc ở Đắk Lắk cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
có truyền thống đoàn kết đấu tranh chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống Số dân và trình độ phát triển kinh tế - văn hóa giữa các dân tộc có sự chênh lệch nhau Các dân tộc ở Đắk Lắk cũng có những quan hệ thân tộc, thích tộc và những quan hệ xuyên biên giới khác Những đặc điểm nói trên phản ánh tính chất quan trọng và phức tạp của vấn đề dân tộc ở Đắk Lắk
Những tác động của di cư tự do
Một trong những vấn đề lớn của Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng là tăng dân số tự nhiên và cơ học rất cao Do có điều kiện thuận lợi về đất đai và khí hậu nên Đắk Lắk đã thu hút một lượng lớn dân di cư đến làm ăn, sinh sống Số dân DCTD đến một cách ồ ạt không thể kiểm soát, nhiều nhất là giai đoạn từ 1990-2002 Dân DCTD chủ yếu là đồng bào DTTS như Tày, Nùng, Mường, Dao thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Theo thống kê của UBND tỉnh Đắk Lắk, từ năm 1976 đến 2014, số dân di cư ngoài kế hoạch đến là 59.524 hộ, với 289.915 khẩu của 63 tỉnh thành trong cả nước đến cư trú [60, tr.1]
Trong đó, từ năm 2004 đến năm 2014, có 1.529 hộ, với 7.685 khẩu của 38 tỉnh, thành di cư đến Đắk Lắk; trong đó người DTTS có 1.463 hộ, 7.484 khẩu (riêng dân tộc Hmông chiếm 81%, với 1.230 hộ, 6.408 khẩu) [60, tr.2-3]
Về tác động tích cực: DCTD đã bổ sung cho tỉnh lực lượng lao động đáng kể nhằm khai thác tiềm năng đất đai, phát triển sản xuất nông nghiệp; tạo thuận lợi cho các DTTS tại chỗ trao đổi kinh nghiệm sản xuất, phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa; tạo thuận lợi cho nhiệm vụ phân bố lại dân cư vùng biên giới, góp phần củng cố HTCT cơ sở, bảo vệ an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh
Trang 33Về tác động tiêu cực: DCTD làm phá vỡ quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội chung của tỉnh và địa phương; nảy sinh nạn phá rừng, lấn chiếm, sang nhượng đất đai trái pháp luật Tình trạng mất an ninh trật tự thường xuyên xảy ra; do thiếu đất sản xuất nên tỉ lệ hộ nghèo không giảm mà có xu hướng tăng; số trẻ trong
độ tuổi không được đến trường tăng; các chỉ tiêu đầu tư phát triển hằng năm của tỉnh
và các địa phương có dân DCTD đến không đạt kế hoạch Áp lực gánh nặng về ngân sách đối với tỉnh nghèo như Đắk Lắk để bố trí đầu tư hạ tầng cơ sở, cũng như xây dựng HTCT ở cơ sở [170, tr.7]
Dân DCTD đến Đắk Lắk tập trung sinh sống tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và gây khó khăn cho công tác quản lý, sắp xếp dân cư tại địa phương
Dân số tăng nhanh đã làm cho diện tích canh tác bị thu hẹp, sản lượng trên một đơn vị diện tích lúa rẫy bị suy giảm dẫn đến tình trạng thiếu lương thực Ở Đắk Lắk, các DTTS tại chỗ có truyền thống canh tác nương rẫy Chu trình luân chuyển đất canh tác kéo dài từ 20-25 năm Hiện nay, do di dân đến quá lớn, thiếu đất sản xuất, thời gian hưu canh bị rút ngắn chỉ còn khoảng 3-5 năm Vì vậy, năng suất lúa nương giảm từ 2,5 tấn/ha (năm 1976) xuống còn khoảng 1,5 tấn/ha năm 2003 Do đó, để duy trì sản lượng lương thực, bảo đảm cuộc sống (cho cả việc duy trì năng suất và bù vào diện tích canh tác giảm đi), đồng bào phải phát đốt rừng một diện tích gieo trồng gấp
10 lần so với trước [86, tr 71]
Phân hóa xã hội diễn ra sâu sắc
Trong 3 bộ phận dân cư, người Kinh và các DTTS miền núi phía Bắc tuy đến Tây Nguyên muộn hơn nhưng đời sống đã ổn định và khá giả, trong khi đó đời sống của các dân tộc tại chỗ vẫn khó khăn
Năm 2004, toàn tỉnh Đắk Lắk có 1.428 thôn, 525 buôn, 43.646 hộ đồng bào DTTS tại chỗ, với hơn 322 nghìn khẩu, chiếm 19% dân số toàn tỉnh Diện tích đất sản xuất ổn định là 72.395 ha, bằng 16% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh, bình quân đất sản xuất một khẩu là 0,22 ha Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2 triệu đồng; tỉ lệ hộ đói nghèo chiếm 30% so với tổng số hộ DTTS tại chỗ Hệ thống thủy lợi mới chỉ đáp ứng 40% diện tích cây trồng được tưới nước; giao thông đi lại khó khăn; có 365 buôn thuộc 72 xã chưa có điện; tỉ lệ hộ dùng nước sạch hợp vệ sinh mới đạt 70% Số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất là 24.161 hộ (chiếm 55,3% số hộ DTTS tại
Trang 34chỗ); có 17% hộ chưa có nhà ở Tỉ lệ hộ dùng điện mới đạt 48%; mạng lưới y tế thôn, buôn còn nhiều khó khăn [121, tr.1]
Theo tiêu chí nghèo mới năm 2005 (Hộ nghèo nông thôn có mức thu nhập từ 200.000 VND/tháng trở xuống (theo Chuẩn nghèo giai đoạn 2005-2010), toàn tỉnh có 90.247 hộ nghèo, chiếm 27,5% tổng số hộ, trong đó, hộ nghèo DTTS 47.300 hộ, chiếm 53% tổng số hộ nghèo và 56% tổng số hộ DTTS tại chỗ Các huyện có tỉ lệ hộ nghèo cao là Ea Súp 50%, Lắk 49,5%, Buôn Đôn 47% Năm 2005, toàn tỉnh có 51.500 hộ thiếu lượng thực, chủ yếu là hộ đồng bào DTTS tại chỗ
Tuy tốc độ phát triển kinh tế và kết quả giảm nghèo nhanh, nhưng Đắk Lắk vẫn là tỉnh nghèo Nghèo đói tập trung chủ yếu ở các hộ DTTS, nhất là DTTS tại chỗ, trong mọi thời điểm, tỉ lệ hộ nghèo DTTS đều cao gấp hơn hai lần so với tỉ lệ hộ nghèo chung toàn vùng và cao hơn 3 lần so với tỉ lệ hộ nghèo chung cả nước [69, tr.50] Những số liệu thống kê của tỉnh Đắk Lắk cho thấy tình hình đói nghèo vẫn
ở mức cao, tốc độ giảm không có sự đồng đều giữa các huyện trên địa bàn Câu hỏi đặt ra ở đây: Ai là người nghèo của tỉnh Đắk Lắk? Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hòa, Đặng Hoàng Giang (2013) tính toán từ các số liệu Điều tra mức sống dân cư năm 2010 cho thấy thu nhập của nhóm dân tộc Kinh là 1324,98 nghìn đồng/tháng; nhóm dân tộc mới đến là 794,17 nghìn đồng Thu nhập trung bình của nhóm dân tộc mới đến và nhóm dân tộc tại chỗ chỉ bằng 73% và 48% so với dân tộc Kinh Do thu nhập thấp và có sự chênh lệch giữa các nhóm dân tộc nên dẫn đến sự chênh lệch trong mức chi tiêu Chi tiêu của nhóm dân tộc Kinh đạt 1.193,4 nghìn đồng/người/tháng, cao hơn 1,6 lần so với nhóm dân tộc mới đến (721,9 nghìn đồng) và gần 3 lần so với nhóm dân tộc tại chỗ (425,5 nghìn đồng) Như vậy, dựa trên tiêu chí thu nhập cho thấy, nhóm DTTS, nhất là nhóm dân tộc tại chỗ, dường như là những đối tượng nghèo của Đắk Lắk nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung Theo Bùi Quang Tuấn (2015), tỉ lệ hộ nghèo của dân tộc Kinh, nhóm các dân tộc mới đến, nhóm các dân tộc tại chỗ lần lượt là 7,51%; 24,58% và 37,02%; theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, tỉ lệ nghèo của các nhóm tương ứng như sau: 11,5%; 32,44% và 52,08% Độ sâu nghèo đói biểu thị tổng thể các nguồn lực cần thiết để nâng các hộ nghèo lên mức chuẩn nghèo; nhóm dân tộc tại chỗ có độ sâu nghèo đói (theo chuẩn nghèo năm 2010) với 0,078; tiếp theo là nhóm dân tộc mới đến (0,06) và thấp nhất là dân tộc Kinh (0,015)
Trang 35Rõ ràng, đói nghèo đã và đang là một trong những thách thức đối với quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên Để giải quyết đói nghèo cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ và sự tham gia của nhiều chủ thể, tuy nhiên, vấn
đề này vẫn còn nhiều hạn chế
Vấn đề đất đai
Việc chưa thận thức đầy đủ khác biệt giữa sở hữu, quản lý đất đai toàn dân với sở hữu, quản lý đất đai tập thể của buôn làng dân tộc tại chỗ đã dẫn đến một số bất cập, mâu thuẫn về quản lý, sở hữu đất đai ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng
Thứ nhất, phổ biến tình trạng nông - lâm trường dựa vào quyền sở hữu toàn
dân, trưng dụng đất sản xuất hưu canh thuộc quyền quản lý của các DTTS tại chỗ Chính sách di dân và phát triển nông - lâm trường với tốc độ nhanh và trên quy mô lớn, một mặt thúc đẩy kinh tế Đắk Lắk phát triển, nhưng mặt khác nảy sinh mâu thuẫn với truyền thống sở hữu, quản lý và sử dụng của các DTTS tại chỗ, làm phát sinh tình trạng mất đất, mất rừng, mất không gian sinh tồn, mất không gian xã hội buôn làng, thiếu đất sản xuất nảy sinh tình trạng mua bán, tranh chấp, khiếu kiện đất đai, đoàn kết Kinh - Thượng rạn nứt, niềm tin với chế độ suy giảm, là nguyên nhân chính yếu làm cho các mối quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk phức tạp và xấu đi
Thứ hai, quá trình công nhân hóa, rồi lại đưa đồng bào ra khỏi nông lâm trường,
cũng như quá trình hợp tác hóa nông nghiệp rồi lại giải thể hợp tác xã nông nghiệp (người vào - đất vào, người ra - đất ở lại) đã dẫn đến người dân mất đi phần đất rẫy hưu canh hoặc đất ruộng nước quan trọng vốn có của mình;
Thứ ba, trong khi người DTTS tại chỗ thiếu đất sản xuất, các nông trường lại
giao đất cho hộ công nhân người Kinh trồng cây công nghiệp lâu năm để thu sản phẩm nông nghiệp khiến người dân tại chỗ bất bình;
Thứ tư, do thiếu hiểu biết về phương cách sử dụng đất rừng truyền thống, lại do
lợi dụng tính cách chân thật và chưa biết tính toán của người dân Đắk Lắk, một bộ phận người Kinh đã tìm cách mua rẻ, hoặc lừa gạt lấn chiếm đất đai của người dân tộc tại chỗ; tình trạng cán bộ người Kinh lợi dụng chức quyền, mượn danh luật đất đai, mượn danh dự án để hợp thức hóa cho mình quyền sử dụng đất canh tác của người DTTS tại chỗ;
Thứ năm, sự phát triển của hàng chục dự án thủy điện, dự án nông - lâm nghiệp
trên khắp Đắk Lắk (Đến tháng 4-2012, tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi 28 dự án, với gần
Trang 3620.000 ha đất rừng) do quy hoạch không hợp lý, mượn danh nhà nước, mượn danh luật đất đai khiến hàng nghìn hộ dân tộc tại chỗ mất đất, mất sinh kế và mai một nền văn hóa Đầu năm 2004, tổng số hộ người DTTS ở tỉnh Đắk Lắk thiếu đất ở và đất sản xuất là 28.523, với nhu cầu là 13.770,89 ha [Phụ lục 5]
Tất cả những mâu thuẫn, bất cập nói trên đã dẫn đến tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai ngày càng nhiều và kéo dài, lên đến hàng nghìn vụ giữa các cộng đồng tại chỗ với nông - lâm trường, với chính quyền địa phương, giữa cá nhân người DTTS với cá nhân người dân tộc Kinh
Sự mai một, đứt gãy và khủng hoảng văn hóa truyền thống
Văn hóa các tộc người thiểu số ở Đắk Lắk và văn hóa của người Kinh có sự giao thoa mạnh mẽ trên nhiều bình diện: ngôn ngữ, trang phục, kiến trúc, lối sống… Đồng thời, đó cũng là quá trình các tộc người Tây Nguyên và người Kinh có sự hiểu biết lẫn nhau ngày càng sâu sắc hơn Tuy nhiên hiện nay, vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc ở Đắk Lắk trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu Sự tiếp xúc với văn hóa của người Kinh và văn hóa quốc tế thông qua người Kinh hoặc trực tiếp, trong nhiều thập kỷ qua đã làm cho nhiều giá trị văn hóa cổ truyền của các DTTS tại chỗ ở Đắk Lắk đứng trước những thách thức lớn, bị mai một và có nguy cơ mất đi bản sắc của mình Nhà dài truyền thống bị mất dần, thay vào đó là những ngôi nhà xây kiên cố; lễ hội truyền thống không được tổ chức như trước, do phương thức canh tác thay đổi (từ làm lúa nương rẫy luân khoảnh, hưu canh chuyển sang trồng cây công nghiệp tập trung) Không gian buôn làng bị thu hẹp dần làm ảnh hưởng đến không gian lễ hội và không gian văn hóa cồng chiêng Nhiều hộ đã bán đi những bộ chiêng quý, ché cổ, kpan… để mua công cụ sản xuất và phương tiện sinh hoạt; lớp trẻ lớn lên chưa thực
sự yêu thích nền văn hóa truyền thống của ông cha, đua đòi chạy theo văn hóa của nước ngoài mới du nhập; nghệ nhân - trí thức dân gian ngày càng ít trong khi chưa kịp truyền dạy vốn văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ Một số nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát, gốm, tạc tượng không còn phù hợp với xã hội hiện đại, và ít được quan tâm đầu tư để bảo tồn Văn hóa kể (sử thi, truyện kể dân gian, dân vũ…) ngày càng thưa vắng trong các buôn làng Bến nước cộng đồng bị
bỏ quên; vai trò già làng, chủ bến nước, luật tục bị phai mờ trong đời sống văn hóa buôn làng ở Đắk Lắk
Trang 37Mất rừng, mất nương rẫy, cơ cấu dân cư bị đảo lộn do DCTD làm cho người DTTS "ngơ ngác" giữa quê hương mình, và hệ quả tất yếu là văn hóa “đứt gãy” và đổ
vỡ Hiện nay, văn hóa truyền thống đích thực Tây Nguyên hầu như không còn tồn tại Văn hóa cũ mất đi, nhưng văn hóa mới chưa phù hợp hoặc chưa đủ mạnh để thay thế, dẫn đến hai hệ quả đáng báo động: Một là, hình thành trong thanh thiếu niên những biểu hiện văn hóa lai căng phản cảm; Hai là, sự du nhập và phát triển ngày càng mạnh mẽ, phổ biến của các tôn giáo mới, đặc biệt là đạo Tin lành, trong đó có
"Tin lành Đề Ga"
Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng
Tác động của hội nhập và toàn cầu hóa làm cho mối quan hệ dân tộc trong những quốc gia đa dân tộc tiếp tục phức tạp và căng thẳng Hiện tượng “hồi sinh ý thức tộc người” xuất hiện từ những thập niên cuối thế kỷ XX tiếp tục gia tăng mà khẩu hiệu là đòi quyền tự quyết dân tộc, quyền tự do tôn giáo và quyền làm chủ với lãnh thổ cư trú Xung đột dân tộc và tôn giáo tiếp tục diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia
đa dân tộc trên thế giới và trong khu vực, điển hình là ở Cộng hòa Liên bang Nga, Nam Tư, Ấn Độ, Pakistan, Myanma, Anbani, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan… [69] Tỉnh Đắk Lắk có 4 tôn giáo là Công giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài; với
273 cơ sở thờ tự, 567 chức sắc, 332 tu sỹ phục vụ khoảng 530.000 tín đồ (Công giáo: 210.628; Phật giáo: 155.000; Tin lành: 159.000; Cao đài: 5.200), chiếm 26% dân số toàn tỉnh Riêng tín đồ là đồng bào DTTS có khoảng 217.500 người [149, tr.3] Hoạt động lợi dụng tôn giáo của thế lực thù địch đã ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định và phát triển của tỉnh Đắk Lắk - Tây Nguyên nói riêng và của cả nước nói chung, làm suy giảm lòng tin và niềm tin của người dân tại chỗ với Đảng và Nhà nước, gây tâm
lý bất an, thụ động trong xây dựng cuộc sống mới của người dân
Tại Đắk Lắk - Tây Nguyên, lực lượng FULRO Thượng là tổ chức chính trị phản động đã bị xóa bỏ, nhưng trong thực tế, tàn dư và ảnh hưởng của tổ chức này vẫn còn Từ sau năm 1990, một số tàn quân FULRO tiếp tục sống lưu vong trên đất Campuchia và Mỹ Được sự cổ vũ của phong trào đòi ly khai dân tộc đang diễn ra trên thế giới, lực lượng FULRO lưu vong ráo riết hoạt động tích cực trở lại Đặc biệt
từ năm 2000, một số tàn quân FULRO tại Mỹ là người DTTS tại chỗ Tây Nguyên đã thành lập cái gọi là "Nhà nước Đề Ga" và hệ phái "Tin lành Đề Ga", tiếp tục giương
Trang 38chiêu bài "Tây Nguyên độc lập" và "Tây Nguyên tự trị" để thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, chống phá cách mạng Việt Nam, chia rẽ Kinh - Thượng
Hoạt động của thiết chế tổ chức Tin lành cùng các sinh hoạt của các giáo đoàn thanh niên, phụ nữ, người già và thiếu niên đã tác động đến hoạt động của các đoàn thể chính trị tương ứng, vô hình chung dẫn đến tình trạng "hai chính quyền" ở các buôn làng có đạo Có tình trạng các giáo đoàn ngấm ngầm tranh giành ảnh hưởng với các đoàn thể chính trị - xã hội Sinh hoạt của các giáo đoàn thu hút Nhân dân hơn so với sinh hoạt của các đoàn thể chính trị - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của HTCT tại địa phương Nếu không có những biện pháp phù hợp kịp thời, dù tự giác hay tự phát, tổ chức và sinh hoạt của đạo Tin lành sẽ cản trở hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội, là môi trường thuận lợi để "Tin lành Đề Ga" được củng cố, tiếp tục chia rẽ đoàn kết dân tộc
Trong những năm 2001-2005, trên địa bàn Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói tiêng, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch và bọn phản động đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực Ngay từ cuối năm 2000, được các thế lực phản động, thù địch bên ngoài trợ giúp, hậu thuẫn, các phần tử cầm đầu FULRO lưu vong tăng cường hoạt động móc nối, lôi kéo, tập hợp lực lượng, phục hồi tổ chức FULRO với ý đồ thành lập “Nhà nước Đề Ga tự trị” ở Tây Nguyên do Ksor Kơk cầm đầu Chúng liên tục kích động Nhân dân, tổ chức lôi kéo quần chúng theo Tin lành Đề Ga, chúng đã mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa và kích động một số đồng bào DTTS gây ra cuộc bạo loạn chính trị vào đầu tháng 2-2001 và tháng 4-2004 tại thành phố Buôn Ma Thuột
Khai thác những mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc, tổ chức phản động FULRO trong và ngoài nước có sự hỗ trợ từ bên ngoài đã lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc, vấn đề nhân quyền, ra sức tuyên truyền lôi kéo quần chúng các DTTS tại chỗ đòi ly khai khỏi Việt Nam, đòi thành lập cái gọi là "Nhà nước Đề Ga" của người Tây Nguyên", làm cho an ninh chính trị ở Đắk Lắk - Tây Nguyên diễn biến phức tạp
Hệ thống chính trị cơ sở còn nhiều hạn chế, yếu kém
Hệ thống chính trị nhiều nơi ở cơ sở còn yếu, không làm tròn chức năng nhiệm vụ, không nắm được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, không quản lý và xử lý được các hoạt động trái luật, nhất là hoạt động tôn giáo trái phép ở các buôn Việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến đồng bào DTTS ở một số ngành, một số địa phương chưa sâu sắc, do đó trong phương pháp giải quyết có vấn đề chưa thỏa đáng, nhất là các vụ tranh
Trang 39chấp, khiếu kiện có liên quan đến đồng bào DTTS, gây nên tâm lý không tốt trong đồng bào, đó cũng là kẽ hở để các phần tử phản động lợi dụng kích động[4, tr.341]
Công tác dân vận trong một thời gian dài chưa được quan tâm đúng mức, tác phong làm việc và cả trong lối sống của một bộ phận cán bộ còn quan liêu, xa dân, không nắm được tâm tư nguyện vọng chính đáng của Nhân dân Công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong Nhân dân còn yếu, ít được quan tâm, nhất là vận động xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tương trợ cùng phát triển kinh tế gia đình và xã hội; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân, người dân thiếu kiến thức, lại thiếu thông tin, thiếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, hướng dẫn của chính quyền… Việc kiểm tra, giám sát, chưa thường xuyên, thiếu liên tục nên hiệu quả chính sách không cao
…việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể Nhân dân các cấp từ Trung ương đến cơ sở đã có một thời gian dài chủ quan, mất cảnh giác, quan liêu, xa dân; chưa thấy hết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng này, nhất là những vấn đề liên quan đến đất đai; chưa quan tâm giải quyết kịp thời chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số[44, tr.2]
2.1.2 Thực trạng tỉnh Đắk Lắk thực hiện chính sách dân tộc trước khi tách tỉnh
2.1.2.1 Chủ trương và quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Đắk Lắk từ năm 1986 đến năm 2003
Phát huy truyền thống đoàn kết của Nhân dân các DTTS qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đề ra đường lối chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng XHCN Đảng xác định, CSDT luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội của Đảng và chỉ rõ con đường phát triển các dân tộc cùng với mối quan hệ giữa các dân tộc
Việc thực hiện CSDT phải gắn với sự phát triển tổng thể nền kinh tế - xã hội của đất nước, với kế hoạch 5 năm cũng như kế hoạch hàng năm là một cách nhìn nhận mới,
Trang 40một tư duy mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội VI của Đảng chỉ rõ, việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các DTTS, cần thể hiện đầy đủ CSDT, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết,
bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể Về chính sách, phải "kết hợp phát triển
kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và người dân tại chỗ" và "Thực hành những hình thức, biện pháp thích hợp thu hút đồng bào các dân tộc tại chỗ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế với tư cách là người làm chủ thực sự bình đẳng" [40, tr.97-98]
Đại hội VI đã mở ra bước ngoặt lịch sử phát triển đất nước nói chung, vùng DTTS nói riêng Trong đó, việc đổi mới và thực hiện CSDT đáp ứng với tình hình lúc bấy giờ là vô cùng cấp bách đối với vùng DTTS, trong đó có đồng bào các dân tộc tại tỉnh Đắk Lắk
Nghị quyết số 10/NQ-TW, ngày 05-04-1988 của Trung ương Đảng đã thừa nhận kinh tế hộ gia đình và chính sách khoán trong sản xuất nông nghiệp Nghị quyết
10 đã thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển năng động, chuyển đổi dần cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng dần chất lượng
và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất lại vấp phải những khó khăn, cản trở do
cơ chế kinh tế chưa đồng bộ Do đó, phần lớn hợp tác xã tan rã và ở tình trạng yếu kém, để lại nhiều vấn đề về kinh tế - xã hội, trong đó tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp, là vấn đề nổi cộm của CSDT
Việc định canh, định cư được tiến hành bằng phương thức đưa đồng bào tại chỗ tham gia vào lao động sản xuất trong các nông lâm trường Năm 1988, tại Đắk Lắk đã
có 43 buôn được chuyển vào tham gia lao động sản xuất trong các nông - lâm trường quốc doanh
Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi với những kết quả và hạn chế, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 27-11-
1989, Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Đắk Lắk cho đến trước khi chia tỉnh (2003) là một tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam, thuộc khu vực miền núi Tây Nam vùng Tây Nguyên với diện tích 19.599
km2 Khi bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sách nhằm nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên nói chung, Đắk