Nghiên cứu cấu trúc xã hội CTXH và tái CTXH là lĩnh vực mới ở Việt Nam; bước đầu đã được một số nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, sử
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
T¸I CÊU TRóC §éI NGò C¸N Bé L·NH §¹O, QU¶N Lý
ë C¸C HUYÖN MIÒN NóI NGHÖ AN
(Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương)
HÀ NỘI - 2017
Trang 2
T¸I CÊU TRóC §éI NGò C¸N Bé L·NH §¹O, QU¶N Lý
ë C¸C HUYÖN MIÒN NóI NGHÖ AN
(Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương)
Mã số: 62 31 30 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS LÊ NGỌC HÙNG
2 GS.TS TÔ DUY HỢP
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Đặng Thị Minh Lý
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN
1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc xã hội 12 1.2. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 30
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TÁI CẤU
2.1. Một số khái niệm - công cụ nghiên cứu của luận án 43 2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà
nước về xây dựng đội ngũ cán bộ 60 2.3. Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong luận án 67 2.4. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An 78
Chương 3: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH
3.1. Phương pháp nghiên cứu và đặc điểm mẫu khảo sát 88 3.2. Tái cấu trúc nhân khẩu - xã hội của đội ngũ lãnh đạo, quản lý 104 3.3. Tái cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật 115
Chương 4: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ XU HƯỚNG TÁI CẤU
TRÚC XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 133 4.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 133 4.2. Một số xu hướng tái cấu trúc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 146 4.3. Một số phương hướng và khuyến nghị định hướng, điều chỉnh tái cấu
trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 154
Trang 5CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTXH : Cấu trúc xã hội
DTTS : Dân tộc thiểu số ĐNCB : Đội ngũ cán bộ
LĐ, QL : Lãnh đạo, quản lý
Trang 6Trang Bảng 3.1: Tái cấu trúc giới tính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Bảng 3.5: Tái cấu trúc xã hội trên phương diện và thành phần tôn giáo
Bảng 3.6: Sự thay đổi về trình độ học vấn theo nhiệm kỳ 115 Bảng 3.7: Ma trận thay đổi về trình độ học vấn của cán bộ lãnh đạo,
quản lý làm hai nhiệm kỳ liên tiếp 116 Bảng 3.8: Sự thay đổi về trình độ học lý luận chính trị 120 Bảng 3.9: Ma trận thay đổi về trình độ lý luận chính trị của cán bộ làm
Bảng 3.10: Sự thay đổi về trình độ quản lý nhà nước theo nhiệm kỳ 123 Bảng 3.11: Ma trận thay đổi về trình độ quản lý nhà nước của cán bộ
làm liên tiếp hai nhiệm kỳ 124 Bảng 3.12: Sự thay đổi về khối công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
Bảng 3.13: Ma trận thay đổi về khối công tác của cán bộ làm lãnh đạo,
quản lý liên tiếp hai nhiệm kỳ 128 Bảng 3.14: Sự thay đổi về cấu trúc chức vụ của cán bộ theo nhiệm kỳ 130 Bảng 3.15: Ma trận thay đổi chức vụ của cán bộ làm lãnh đạo, quản lý
Bảng 4.1: Đánh giá bình quân về mức độ quan trọng của các nguyên
tắc đối với việc đạt được chức vụ hiện tại138 139 Bảng 4.2: Điểm đánh giá bình quân về sự ảnh hưởng của yếu tố tổ chức 140 Bảng 4.3: Điểm đánh giá bình quân về khả năng làm việc 141 Bảng 4.4: Điểm đánh giá bình quân về nguồn lực từ gia đình, bạn bè 141
Trang 7Bảng 4.6: Điểm đánh giá bình quân về các nguồn lực khác 143 Bảng 4.7: Điểm đánh giá bình quân về nỗ lực nâng cao trình độ 143 Bảng 4.8: Điểm đánh giá bình quân về các nỗ lực khác 144 Bảng 4.9: Tỷ lệ đánh giá về phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo,
Bảng 4.19: Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật 149 Bảng 4.20: Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ lý luận chính trị 149 Bảng 4.21: Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ quản lý nhà nước 149 Bảng 4.22: Mức độ đánh giá về cấu trúc ngành nghề đào tạo 150 Bảng 4.23: Mức độ đánh giá về dự báo đội ngũ lãnh đạo, quản lý ngày
Bảng 4.24: Mức độ đánh giá về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngày càng
phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương 151 Bảng 4.25: Mức độ đánh giá về xu hướng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý ngày càng vững mạnh về phẩm chất đạo đức lối
Trang 8Bảng 4.27: Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý phân theo cấp xã 152 Bảng 4.28: Mức độ đánh giá về cơ cấu thành phần tại chỗ và từ nơi
khác đến của cán bộ lãnh đạo, quản lý 152 Bảng 4.29: Mức độ đánh giá cấu trúc thành phần dân tộc của đội ngũ
Bảng 4.30: Mức độ đánh giá về xu hướng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý ngày càng cân đối về thế hệ 153 Bảng 4.31: Mức độ đánh giá xu hướng về cấu trúc thành phần dân tộc 153
Trang 9
Biểu đồ 3.1: Cấu trúc về giới tính, nhóm tuổi và thành phần dân tộc của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 95 Biểu đồ 3.2: Thành phần tôn giáo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 96 Biểu đồ 3.3: Cấu trúc về trình độ học vấn, lý luận chính trị và trình độ
quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 97 Biểu đồ 3.4: Khả năng về ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ về trình độ học vấn của cán bộ lần đầu làm lãnh đạo,
quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại 116 Biểu đồ 3.6: Cấu trúc về trình độ lý luận chính trị của cán bộ lần đầu làm
quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại 122 Biểu đồ 3.7: Cấu trúc về trình độ quản lý nhà nước của cán bộ lần đầu làm
quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại 126 Biểu đồ 3.8: Cấu trúc cán bộ lần đầu làm lãnh đạo, quản lý phân theo khối
công tác ở nhiệm kỳ hiện tại 129
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn mới của quá trình phát triển nhằm thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nền kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu và chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, chúng ta đứng trước những cơ hội và thách thức mới để hội nhập với kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, chúng ta có cơ hội để tiến hành những bước phát triển nhanh chóng, song đây cũng là thời kỳ mà chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức bởi sự cạnh tranh gay gắt, sự bất lợi trong so sánh về kinh tế - kỹ thuật, diễn biến phức tạp của tình hình chính trị khu vực và thế giới. Việt Nam xét trong quan
hệ so sánh với các nước trên thế giới, có đủ tiềm năng và những lợi thế nhất định, đảm bảo điều kiện cần và đủ để thực hiện sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong đó tiềm năng về con người là nhân tố hàng đầu, là một nguồn lực đặc biệt quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã khẳng định khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là động lực trực tiếp của đổi mới và phát triển đất nước. Trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, chính sách phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, với quan điểm lấy nhân tố con Người làm trung tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "Nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [40]; "Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)" [40]. Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của các nguồn nội lực và ngoại lực của phát triển.
Đối với địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) - nơi có trình độ dân trí thấp, khó khăn về nhiều mặt, việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ cán bộ (ĐNCB) lãnh đạo, quản lý (LĐ, QL) nói riêng càng có ý nghĩa quan trọng. Chỉ trên cơ sở xây dựng ĐNCB tại chỗ đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cấu trúc thì mới có thể tạo ra động lực đầu tàu thúc đẩy kinh tế -
xã hội phát triển [169, tr.77]. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng đã
Trang 11luôn quan tâm chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển ĐNCB LĐ, QL DTTS nhằm thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc, đưa miền núi, vùng đồng bào DTTS từng bước phát triển hòa nhập trong sự phát triển chung của đất nước. Để các DTTS sớm có được ĐNCB đồng bộ, trong đó có nhiều người có phẩm chất chính trị, đạo đức đổi mới, người giỏi, người tài đủ sức giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội bền vững của dân tộc mình và của cộng đồng vùng DTTS.
Nước ta là một quốc gia đa tộc người, với 54 thành phần dân tộc, các DTTS chiếm 13% dân số cả nước. Các DTTS cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Với nhiều lý do khác nhau, kể cả về điều kiện tự nhiên và lịch sử để lại, hầu hết các vùng DTTS gặp nhiều khó khăn, trong đó có trên 1000 xã thuộc diện khó khăn. Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi, vùng DTTS thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực mà đặc biệt là việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB LĐ, QL trong hệ thống cơ quan lãnh đạo Đảng quản lý Nhà
nước, và các Đoàn thể chính trị - xã hội là vấn đề có vị trí then chốt, tạo động lực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS theo kịp vùng đồng bằng.
Sự phát triển chậm chạp của vùng DTTS nhiều khi không chỉ do thiếu nguồn vốn đầu tư, mà nhiều khi lại do thiếu ĐNCB có khả năng triển khai các dự án ưu tiên đầu tư của Nhà nước Ngược lại, có những nơi, nhờ ĐNCB có năng lực đã biết biến nguồn lực ưu tiên đầu tư của Trung ương trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, biến các tiềm năng tiềm ẩn thành hiện thực [21, tr.228].
Đồng bào DTTS là một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vùng DTTS là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Đất nước chỉ có thể phát triển bền vững khi lãnh thổ được bảo vệ toàn vẹn, an ninh quốc gia được giữ vững và khi các vùng miền phát triển cân đối, hài hòa. Tình trạng kém phát triển của một vùng miền không chỉ tác động tới vùng đó mà còn gây ảnh hưởng, thậm chí còn là rào cản đối với việc phát triển của các vùng khác và tiến trình phát triển chung của đất nước. Hơn thế nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng ĐNCB cho vùng DTTS phải
đi đôi với việc xây dựng ĐNCB nói chung, phải gắn liền với quy hoạch tổng thể về đào tạo, sử dụng, phân bố nguồn lực cán bộ LĐ, QL trên phạm vi cả nước. Vì vậy
ưu tiên cho việc xây dựng, phát triển ĐNCB LĐ, QL khu vực miền núi, vùng DTTS
Trang 12là nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình phát triển ở chính vùng DTTS và cả đất nước trong bối cảnh hiện nay; góp phần giảm bớt bất bình đẳng kinh tế - xã hội với các vùng, miền khác nhau trong phạm vi cả nước. Từ đó đóng góp tích cực vào thực hiện mục tiêu phát triển chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh, phải: "Quan tâm xây dựng ĐNCB trẻ, cán bộ
nữ, cán bộ DTTS, cán bộ xuất thân từ công nhân, con em những gia đình có công với cách mạng" [38]. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, chiến lược của Đảng về xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực các DTTS đã đạt được những kết quả khả quan. Đội ngũ cán bộ các DTTS từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng- an ninh ở miền núi, vùng đồng bào DTTS. Như trong việc thực hiện chính sách tạo nguồn với mục tiêu tạo nguồn nhân lực cho các vùng đồng bào DTTS, chúng ta đã lấy công tác giáo dục, nâng cao dân trí gắn liền với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh làm nền tảng. Các chủ trương, biện pháp cho chính sách này được thực hiện gồm: mở rộng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dạy nghề, trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, chuẩn bị nguồn lực để đào tạo con em các dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, ưu đãi việc tuyển sinh vào các trường cao đẳng, đại học, thực hiện chế độ cử tuyển; mở rộng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ kỹ thuật về chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận, Hay như, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách ưu tiên trong việc sử dụng và đãi ngộ ĐNCB DTTS; một mặt, sử dụng đan xen giữa cán bộ dân tộc đa số và cán bộ DTTS, nhằm tăng cường sự hỗ trợ nhau nâng cao năng lực và hiệu quả công tác; mặt khác, bồi dưỡng, phát triển ĐNCB tại chỗ cho từng vùng và từng dân tộc, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với cán bộ DTTS công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa…Tuy vậy, khi xem xét việc thực hiện các chính sách trong chiến lược này vẫn còn một số mặt hạn chế như: chất lượng cán bộ sau khi được đào tạo chưa cao, nhất là về mặt trình độ chuyên môn, kỹ thuật trong ĐNCB LĐ, QL các cấp; việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt trong việc đào tạo ĐNCB khoa học - kỹ thuật chưa gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và từng dân tộc. Hơn thế nữa khi xem xét thực
Trang 13có việc làm… Do đó cần tập trung nghiên cứu để đánh giá đúng thực trạng, phát hiện cấu trúc đặc thù, bất cập của các thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố tạo nên cấu trúc của ĐNCB ở khu vực miền núi, vùng DTTS. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp tái tạo cấu trúc ĐNCB LĐ, QL ở vùng miền núi và DTTS trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Nghiên cứu cấu trúc xã hội (CTXH) và tái CTXH là lĩnh vực mới ở Việt Nam; bước đầu đã được một số nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, sử học, chính trị học, kinh tế học,…Đặc biệt
là những nghiên cứu xã hội học về CTXH thường gắn với phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo và cho rằng sự biến đổi CTXH thường gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay (theo kinh tế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, toàn cầu hoá…). Những nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở cấp độ vĩ mô mà chưa đi vào vận dụng và phân tích một cách cụ thể (Nguyễn Đình Tấn, 2005). Theo thống kê (Lê Ngọc Hùng, 2010) có đến 43 bài viết bàn về CTXH đăng trên tạp chí Xã hội học của các tác giả trong và ngoài nước. Thông qua các bài viết này, chủ đề nghiên cứu CTXH đã có sự phát triển từ nghiên cứu thuần tuý lý luận đến khảo sát thực nghiệm, các tác giả đặc biệt quan tâm làm rõ vấn đề cơ cấu lao động - nghề nghiệp và cơ cấu phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới đất nước. Tuy nhiên cần phải nâng tầm nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về CTXH cả
ở trạng thái "tĩnh tại" của các thành phần và mối quan hệ của chúng và cả trạng thái
"sinh động" của sự hình thành, biến đổi, phát triển tức là quá trình cấu trúc hoá xã hội (Lê Ngọc Hùng, 2009). Từ thực tế này vấn đề đặt ra ở đây là cần thiết phải triển khai hướng nghiên cứu về CTXH để lý giải những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, chẳng hạn vấn đề cấu trúc của ĐNCB LĐ, QL ở khu vực miền núi trên cả hai phương diện
lý thuyết và thực nghiệm. Mặc dù không có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ "cơ cấu
xã hội" và "cấu trúc xã hội" vì đều có một gốc khái niệm cơ bản của Xã hội học được biểu đạt trong tiếng Anh là "social structure", nhưng luận án này vẫn chủ yếu
sử dụng thuật ngữ "Cấu trúc xã hội".
Trang 14Miền núi Nghệ An bao gồm 11 huyện (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn), chiếm khoảng 3/4 diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, là ngôi nhà chung của hơn một triệu người thuộc nhiều dân tộc sinh sống trong đó có 7 dân tộc chính (Kinh, Thái, H' Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ và Đan Lai). Miền núi Nghệ An có vị trí đặc biệt quan trọng về mặt địa chính trị - kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung. Là một vùng đất rộng lớn và màu mỡ thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây nguyên liệu, cây ăn quả. Nghệ An có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng, khoáng sản để phát triển, mở rộng sản xuất nông lâm nghiệp và khai khoáng gắn với công nghiệp chế biến. Ngoài ra, còn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, lịch sử, văn hoá. Nhân dân các huyện miền núi Nghệ An có truyền thống đoàn kết dân tộc, yêu nước nồng nàn. Trong những năm chiến tranh, người dân ở đây đã có những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đổi mới, dưới tác động của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, Nhân dân các huyện miền núi Nghệ
An đã vươn lên từng bước làm chủ đất rừng, bước đầu hoà nhập vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được vẫn còn những tồn tại và hạn chế trong quá trình phát triển về mọi mặt của các huyện miền núi
so với các huyện miền xuôi. Một trong những khó khăn đó là sự phát triển và sử dụng hiệu quả ĐNCB LĐ, QL cấp xã và huyện; đặc biệt là những hạn chế và giải pháp xây dựng phát triển ĐNCB nhìn từ phương diện CTXH.
Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, tác giả lựa chọn đề tài "Tái cấu trúc
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện miền núi Nghệ An" (Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương) làm chủ đề nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên
Trang 152.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Nghiên cứu lý thuyết: hệ thống hóa và phân tích cơ sở khoa học của cấu trúc và tái cấu trúc; các khái niệm về CTXH (cấu trúc xã hội), tái cấu trúc, lãnh đạo, quản lý, dân tộc thiểu số, và các lý thuyết về cấu trúc xã hội, lãnh đạo, quản lý.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng: sử dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành và xã hội học để phân tích thực trạng, các hình thức, mức độ tái cấu trúc
về mặt nhân khẩu học, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện miền núi Nghệ An cụ thể: tái cấu trúc về độ tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, bằng cấp quản lý nhà nước, khối công tác và chức vụ.
- Phân tích mức độ, hình thức của các yếu tố cơ chế, chính sách, tổ chức và những yếu tố thuộc về gia đình, nỗ lực cá nhân đã ảnh hưởng như thế nào đến tái cấu trúc xã hội đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
- Dự báo một số xu hướng tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
- Từ kết quả nghiên cứu khái quát lên một số quan điểm lý thuyết về tái cấu trúc xã hội của đội cán bộ lãnh đạo, quản lý đồng thời có thể nhận diện vấn đề đặt ra
và nêu lên các khuyến nghị, giải pháp tái cấu trúc nhằm hoàn thiện cấu trúc xã hội của nhóm xã hội này ở các huyện miền núi Nghệ An.
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là tái CTXH ĐNCB LĐ, QL ở các huyện miền núi Nghệ An. Cụ thể luận án sẽ đi sâu phân tích thực trạng, các mức độ, hình
Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Trang 163.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Như đã trình bày ở phần đối tượng nghiên
cứu, các nội dung chính mà Luận án tập trung nghiên cứu là thực trạng, các mức độ, hình thức tái cấu trúc về các mặt nhân khẩu học, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ
thuật, chức vụ và một số nhân tố ảnh hưởng, xu hướng tái cấu trúc ĐNCB LĐ, QL ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An hiện nay.
- Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu):
Luận án tiến hành khảo sát định tính bằng quan sát tham dự, phỏng vấn sâu,
và điều tra định lượng bằng thống kê, bảng hỏi toàn bộ cán bộ LĐ, QL tại các xã, thị trấn (17 xã, 1 thị trấn) của huyện Tương Dương, Tỉnh Nghệ An cụ thể bao gồm các xã sau đây: Tam Quang, Tam Đình, Tam Thái, Tam Hợp, Thạch Giám, Xá Lượng, Lưu Kiền, Lượng Minh, Yên Na, Yên Tĩnh, Yên Hòa, Yên Thắng, Nga My, Xiêng My, Hữu Khuông, Nhôn Mai, Mai Sơn, thị trấn Hòa Bình và Huyện ủy, Uỷ
ban nhân dân huyện.
- Phạm vi thời gian (thời gian thu thập thông tin trên thực địa):
Phạm vi thời gian diễn ra quá trình tái cấu trúc mà luận án cần nghiên cứu. Các cuộc khảo sát, điều tra thực địa để thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu của Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng tháng 6 năm 2016. Nhiều cuộc phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp được bổ sung trong quá trình viết và xử lý số liệu của Luận án tiếp tục thực hiện từ sau tháng 6 năm 2016.
4 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tương quan giữa các biến số
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Tái cấu trúc xã hội của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các
môn kỹ thuật và chức vụ
Trang 17Biến phụ thuộc
Tái cấu trúc ĐNCB
LĐ, QL:
- Tái cấu trúc nhân khẩu - xã hội (tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, dân tộc và tôn giáo)
- Tái cấu trúc trình
độ chuyên môn kỹ thuật (trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, quản
lý nhà nước, khối công tác và chức vụ)
Trang 18- Các nguồn lực, nguồn vốn: Bao gồm các nguồn lực vật chất như tài chính,
hiện vật và nguồn lực tinh thần như sự khuyến khích, động viên, khích lệ của cá nhân, gia đình, tổ chức, cộng đồng mà mỗi người có thể tìm kiếm, tiếp cận và sử dụng trong hành vi, hoạt động của mình.; Nguồn vốn xã hội, nguồn vốn văn hóa cho tái cấu trúc ĐNCB, quản lý.
Các nguồn lực có thể là các điểm mạnh, ưu điểm, điều kiện của cá nhân và gia đình. Nhưng cũng có thể là sự ủng hộ, tạo điều kiện, sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, người quản lý và cơ quan nơi họ công tác.
Nguồn lực liên quan đến yếu tố kinh tế, tài chính, thời gian, sức khỏe, năng lực, trình độ, sự hỗ trợ, quan tâm, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và lãnh đạo, mạng lưới các quan hệ xã hội… ở bản thân nhóm xã hội này.
Nguồn vốn có thể là những kinh nghiệm trong quản lý hay có thể là những hiểu biết, trải nghiệm về văn hóa, phong tục tập quán
- Các yếu đặc điểm nhân khẩu - xã hội: như giới tính, độ tuổi, trình độ
chuyên môn, nghề ngiệp, dân tộc, tôn giáo, vị thế chính trị;
Trang 194.3.2 Biến phụ thuộc
Tái cấu trúc ĐNCB LĐ, QL cụ thể:
- Tái cấu trúc nhân khẩu học (tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, dân tộc và tôn giáo).
- Tái cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật (trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, khối công tác và chức vụ).
- Tái cấu trúc về số lượng ĐNCB LĐ, QL (sự tăng/giảm tổng số cán bộ LĐ, QL; sự tăng/giảm số lượng cán bộ LĐ, QL theo các khối công tác).
4.3.3 Biến can thiệp
- Các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường địa phương, cơ sở
- Bối cảnh đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa
5 Điểm mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1 Điểm mới của đề tài
- Vận dụng lý thuyết xã hội học về tái cấu trúc để nghiên cứu sâu quá trình vận động, biến đổi của CTXH mà các nghiên hiện có ít quan tâm.
- Luận án được hoàn thành sẽ là một trong những công trình Xã hội học nghiên cứu có hệ thống về lý luận CTXH và tái CTXH của ĐNCB LĐ, QL khu vực miền núi và vùng DTTS.
- Thực hiện đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra được một số khuyến nghị, giải pháp cơ bản nhằm tái cấu trúc ĐNCB LĐ, QL khu vực miền núi, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước từ cơ sở, địa phương đến Trung ương.
- Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết xã hội học để tìm hiểu, phân tích CTXH, nhằm làm rõ những đặc trưng và xu hướng biến đổi các phân hệ CTXH của ĐNCB LĐ, QL hiện nay.
Trang 20- Góp phần phát triển thêm một số khái niệm như: các phân hệ CTXH, tái CTXH của ĐNCB LĐ, QL.
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chỉ đạo thực tiễn liên quan đến CTXH và tái CTXH.
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của Luận án sẽ được chia thành 4 chương, 13 tiết
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ
THUỘC ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI 1.1.1 Nghiên cứu về khái niệm cấu trúc xã hội
Lịch sử lý thuyết xã hội học cho biết, CTXH (social structure) là đối tượng nghiên cứu của Xã hội học (phần lớn các cuốn sách nhập môn xã hội học trên thế giới đều dành 1 chương bàn về CTXH); và cách tiếp cận CTXH thực chất là dựa trên nền tảng xã hội học của A. Comte (1798-1857- cha đẻ của khoa học xã hội học, người Pháp) đó là: tĩnh học xã hội và động học xã hội. Về sau được các nhà xã hội học, nhất là những người theo trường phái chức năng - cấu trúc tiếp tục bổ sung, vận dụng và phát triển (E. Durkheim; Ralph Linton; Talcott Parsons; Robert Merton, Athony Giddens, Peter Blau…). Ngoài ra, hướng tiếp cận CTXH còn được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin quan tâm thông qua việc phân tích về hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, CTXH được quy giản về CTXH-giai cấp với mối quan hệ chủ yếu là quan hệ đấu tranh giữa những giai cấp thống trị và những giai cấp bị thống trị, đặc biệt là đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản dưới chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa. Cấu trúc xã hội - giai cấp suy cho cùng do phương thức sản xuất và trao đổi quyết định, sự biến đổi CTXH suy cho cùng cũng do sự biến đổi về phương thức sản xuất và trao đổi quy định.
Cấu trúc xã hội là một trong những khái niệm cơ bản trong lý thuyết và phân tích xã hội học. Cho đến nay nó đã trở thành một thuật ngữ được dùng rất phổ biến trong xã hội học đương đại. Quả thật, khái niệm CTXH được không ít nhà xã hội học coi là một khái niệm hiển nhiên không cần bất cứ một định nghĩa rõ ràng nào. Tuy nhiên, chính điều này đã dẫn đến việc sử dung khái niệm này trong thực tế rất
đa dạng. Chẳng hạn, như Từ điển Xã hội học Oxford định nghĩa: Cấu trúc xã hội là một thuật ngữ không chặt chẽ dùng để chỉ các dạng hành vi xã hội lặp đi lặp lại hay
cụ thể hơn để chỉ các mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của một hệ thống xã hội hay một xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hay một nỗ lực nào để đưa ra một định nghĩa cô đọng cho thuật ngữ này (Oxford
Trang 22Dictionary of Sociology, 2005). Còn trong Từ điển Xã hội học Collins viết: Cấu trúc xã hội là một dạng hay một mối liện hệ của các thành tố xã hội tương đối ổn định trong một xã hội cụ thể. Tuy nhiên, không có một khái niệm đơn nhất về CTXH tồn tại trong lĩnh vực xã hội học, mặc dù thuật ngữ này vẫn được sự dụng khá phổ biến (Collins Dictionary of Sociology, 2005). Có thể kể ra đây các học giả
mà tên tuổi của họ gắn liền với những công trình nghiên cứu bàn về chủ đề CTXH
như sau: "The problem of sociology" (Vấn đề của xã hội học) của Simmel, G. [231];
"Elementary Forms of the Religious Life" (Các hình thức sơ khai của cuộc sống tôn giáo) của Durkheim, E. [208]; "Systematic Sociology" (Hệ thống xã hội học) của
Wiese-Becker [234]; "A Natural Science of Society" (Khoa học tự nhiên của xã hội) của Radcliffe-Brown, A. R. [227]; "The Social Sytem" (Hệ thống xã hội) của
Parsons, T. [222]; "The System of Modern Society" (Hệ thống xã hội hiện đại) của
Parsons, T. [223]; "Culture and Behaviour in Handbook of Social Psychology" (Văn hoá và hành vi trong cẩm nang tâm lý xã hội) của Kluckhohn, C. [218]; "On
Theoretical Sociology" (Về lý thuyết xã hội học) của Robert Merton [229]; "Society as
symbolic interaction" (Sự tương tác của xã hội) của George Allen & Unwin.Blumer
[210]; "Cognitive Sociology" (Xã hội học nhận thức) của Cicourel, A. V. [206]; "The
differentiation of society" (Sự khác biệt của xã hội) của Luckmann, N. [221];
"Inequality and Heterogeneity: A Primitive Theory of Social Structure" (Bất bình đẳng
và tính không đồng nhất: Lý thuyết nguyên thủy của cấu trúc xã hội) của Peter Blau
[224]; "The Social Associations" (Các hiệp hội xã hội) của Peter Blau [225]; "The
Constitution of Society" (Hiến pháp của xã hội) của Giddens, A. [212]; "Social Theory
and Modern Sociology" (Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại) của Giddens, A.
[213]; "Sociology" (Xã hội học) của Giddens, A [214]; "The Body and Social Theory"
(Lý thuyết cơ thể và xã hội) của Shilling, C. [230]; "Realist Social Theory: The
Morphogenetic Approach" (Lý thuyết xã hội thực tế: Cách tiếp cận Morphogenetic)
của Archer, M. S. [204]; "Status and Roles Explain Social Behavior" (Tình trạng và vai trò giải thích hành vi xã hội) của Ralp Linton [228]…
Trong lịch sử phát triển xã hội học đã có hai cách tiếp cận về CTXH. Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, CTXH là cấu trúc mang tính thiết chế (thể chế. (E. Durkheim, 1893; Alfred Kroeber, 1945; Linton, 1945; Kluckhohn, 1954; Richard,
Trang 231957; Luckmann, 1966; T. Parsons, 1971; Archer, 1988). Theo cách này CTXH được xem là một tập hợp các chuẩn mực và văn hóa để tạo thành các mối quan hệ
ổn định giữa các thành viên trong một xã hội. Trong khi đó, một trường phái khác lại coi CTXH như một dạng cấu trúc quan hệ bao gồm các mối quan hệ xã hội ổn định, bền vững (Simmel, 1908; Wiese-Becker, 1932; Radcliffe-Brown, 1937; Walby, 1990). Ở đây CTXH được hiểu là các mối liên hệ nhân quả và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm xã hội cũng như hoạt động của các nhóm xã hội và địa vị của chúng. Thực tế đã cho thấy, những người theo trường phái cấu trúc mang tính thiết chế thường coi cấu trúc quan hệ như là thứ yếu, và ngược lại những người ủng
hộ cấu trúc quan hệ lại xem nhẹ cách hiểu CTXH như là cấu trúc thiết chế.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của các ngành khoa học khác như: nhân học ngôn ngữ, nhân học và tâm lý học (Herbert Blumer, 1962; Aaron Cicourel, 1972; Giddens, 1981; Walby, 1990; Turner, 1991; Sawicki, 1991; Shilling, 1993; Bartky, 1997) đã có một cách hiểu mới về CTXH. Cách hiểu này cho rằng CTXH giống như cấu trúc ngữ pháp của một bài diễn thuyết hay của một văn bản viết. Theo quan điểm này các dạng thiết chế hay quan hệ đều bắt nguồn từ hoạt động của mỗi cá nhân với khả năng hay năng lực khiến họ hành động theo cách
đã được sắp đặt. Khả năng là sự sắp đặt mang tính hành vi do đó CTXH được xem như là cấu trúc biểu hiện. Cấu trúc biểu hiện được thấy trong thói quen, trong kỹ năng có trong cơ thể và trí tuệ của con người cho phép họ tạo, tái tạo ra và thay đổi cấu trúc thiết chế và cấu trúc quan hệ. Ý tưởng về cấu trúc biểu hiện có xu hướng tự coi nó như là mặt cơ bản nhất của CTXH.
Từ ba cách tiếp cận trên có thể rút ra kết luận rằng: CTXH là một khái niệm
để chỉ 3 khía cạnh liên hệ chặt chẽ với nhau của một tổ chức đời sống xã hội bao
gồm: cấu trúc thiết chế, cấu trúc quan hệ và cấu trúc biểu hiện. Cấu trúc xã hội phụ
thuộc vào sự tồn tại của con người hoạt động trong các thiết chế, song bản thân con người không thể bị quy về các hoạt động đó, vì thế họ không thể bị loại bỏ ra khỏi các phân tích xã hội học. Đương nhiên các hoạt động phải luôn được cấu trúc bởi các bối cảnh xã hội mà chúng đang xảy ra. Về nguyên tắc, không có hoạt động xã hội nào
mà lại không có CTXH. Để làm rõ hơn những kết quả nghiên cứu về CTXH của các nhà xã hội học trên thế giới có thể đi vào phân tích cụ thể hơn một số khuynh hướng và thành tựu cụ thể trong nghiên cứu CTXH trên thế giới. Chẳng hạn:
Trang 24- Lý thuyết hành vi xã hội của Ralph Linton (1893-1953) giải thích về vị thế vai trò trong CTXH. Ralph Linton (là nhà nhân học văn hoá người Mỹ-Người đầu
tiên sử dụng khái niệm vai trò-vị thế để nghiên cứu cấu trúc bên trong của hệ thống
xã hội). Theo quan niệm của Linton vị thế là vị trí trong CTXH với những quyền lợi
và nghĩa vụ tương ứng và vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của những người khác xung quanh. Ông đặt ra vấn đề bằng cách nào mà xã hội quy định hành
vi của con người? Tại sao con người luôn phải thực hiện những vai trò tương ứng với vị thế gán cho hay giành được từ xã hội. Theo Linton, một cá nhân trong xã hội, tất yếu nắm giữ nhiều vị thế và mỗi một vị thế có ít nhất một vai trò kèm theo. Trong CTXH đã có những vị thế có sẵn để gán cho các cá nhân, nhóm người và các nguồn lực mới có thể giành được. Cấu trúc xã hội không đơn giản áp đặt vai trò lên con người và con người cũng không thụ động chờ đợi xã hội ban phát hay gán cho
vị thế nhất định. Ngược lại con người luôn có thể tích cực, chủ động tham gia vào các quan hệ với xã hội và bằng những nỗ lực của mình để giành lấy những vị thế nhất định cho họ. Tuy nhiên, Linton chưa đề cập đến vấn đề cơ bản và quan trọng là con người có khả năng biến đổi các vị thế đang có trong xã hội và có khả năng sáng tạo ra những vị thế mới, vai trò mới cho xã hội, bằng cách đó con người có thể biến đổi các mối tương tác xã hội và toàn bộ CTXH mà họ là thành viên.
- Lý thuyết hệ thống xã hội về cấu trúc vai trò của Talcott Parsons 1979) nhà xã hội học người Mỹ. Bộ khung lý thuyết này được Parsons phác họa và
(1902-kiểm chứng qua phân tích trường hợp thực hành y tế trong cuốn sách Hệ thống xã
hội xuất bản năm 1951. Với lý thuyết này ông xem xét sự tham gia của mỗi một
nhân vật trong hệ thống xã hội trên hai phương diện. Một là, ở vị trí tĩnh tại, đó là nơi nhân vật định vị vị trí của mình trong mối liên hệ với các cá nhân khác trong hệ thống xã hội, tức vị thế xã hội. Hai là, phương diện quá trình tức là mặt động thái:
đó là những gì mà nhân vật thực hiện trong mối liên hệ với các nhân vật khác trong bối cảnh có ý nghĩa chức năng đối với hệ thống xã hội, tức là vai trò xã hội. Ông cho rằng hệ thống các vai trò xã hội khác nhau là hệ thống xã hội theo nghĩa hẹp. Tương tự như vậy, có thể hiểu CTXH là cấu trúc vai trò. Theo Parsons, CTXH của
hệ thống xã hội bao gồm 4 đơn vị của hệ thống xã hội: hành động xã hội do một người thực hiện và được định hướng vào một/nhiều người khác như là khách thể
Trang 25của hành động; tập hợp vị thế, vai trò với tư cách là tiểu hệ thống có tổ chức của các hành động của một/nhiều người đang nắm giữ những vị thế tương tác và hành động theo một định hướng tương tác nhất định; bản thân nhân vật với tư cách là 1 hệ thống của các vị thế vai trò gắn với họ như là một khách thể xã hội và như là một tác giả của một hệ thống các hành động vai trò; và đơn vị thứ 4 của hệ thống xã hội
là một tập thể với tư cách vừa là nhân vật vừa là khách thể. Parsons cho rằng vị thế
là mặt tĩnh tại và vai trò là mặt động thái của một đơn vị của hệ thống xã hội, nó trả lời cho câu hỏi người đó có vị trí nào; phải làm gì trong mối liên hệ với người khác
và hệ thống xã hội.
- Quan niệm về hệ vai trò trong CTXH: Robert Merton (1910-2003) nhà xã
hội học người Mỹ. Mối quan tâm của Merton khi nghiên cứu về thuyết vị thế & vai
trò là tìm cách trả lời cho câu hỏi: vị thế xã hội được hình thành như thế nào trong một CTXH? Khác với Ralp Linton, Merton cho rằng mỗi một vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà là hàng loạt vai trò, tức tập hợp vai trò. Merton đưa ra khái niệm:
hệ vai trò để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế xã hội nhất định. Hệ vai trò thực chất là hệ thống các chức năng và phản chức năng, chức năng trội và chức năng lặn có liên quan chặt chẽ với nhau. Lý thuyết hệ vai trò của Merton cho biết vị trí mà một người chiếm giữ trong CTXH sẽ quyết định tập hợp vai trò của người đó và sự khác nhau đến mâu thuẫn và đối kháng về lợi ích đều bắt nguồn từ sự khác nhau về vị thế xã hội trong CTXH vĩ mô. Theo đánh giá của tác giả Lê Ngọc Hùng thì: Lý thuyết tầm trung bình của Merton về hệ vai trò hay tập hợp vai trò đặt ra một loạt vấn đề nghiên cứu quan trọng trong Xã hội học. Đó là sự tìm hiểu sự tác động của CTXH đối với việc hình thành hệ vai trò. Đó là xem xét cách thực hiện hệ vai trò để đảm bảo tính cân bằng, ổn định và giải quyết những mâu thuẫn xung đột có thể xảy ra giữa các vai trò.
- Hướng nghiên cứu CTXH vĩ mô của Peter Blau (1918-2002) nhà xã hội học
người Mỹ. Trong cuốn sách "Bất bình đẳng và sự hỗn tạp", 1977, Ông cho rằng nhất
định phải có cái gì để tạo nên sự liên kết xã hội, một loại quan hệ xã hội nào đó có khả năng tạo ra sự thống nhất xã hội. Theo Ông, sự kết hợp của các nhóm, các tầng lớp xã hội khác nhau thành một thể thống nhất không thể chỉ dựa vào mối quan hệ
Trang 26phụ thuộc lẫn nhau về mặt chức năng mà đòi hỏi sự tương tác xã hội thực sự giữa các thành viên. Do vậy, nhiệm vụ của Xã hội học là phải chỉ ra được các tác nhân cấu trúc của mối tương tác đó để hiểu sự thống nhất xã hội. Theo Ông, có hai loại đặc điểm cơ bản của CTXH quy định vị trí, vai trò và mối liên hệ xã hội của các cá nhân. Loại đặc điểm thứ nhất là đặc điểm danh nghĩa (định tính bằng tên gọi) cho biết bản chất của sự vật, hiện tượng xã hội. Nhờ chúng mà các cá nhân được phân ra thành từng loại, từng nhóm khác nhau về tên gọi chứ không phải về thứ bậc cao thấp, trên dưới. Ví dụ đặc điểm về giới tính, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, nghề nghiệp… Loại đặc điểm thứ hai là đặc điểm mức độ (định lượng) nhờ nó mà các cá nhân phân hoá thành từng loại, từng nhóm khác nhau về mức độ nhiều ít, cao thấp, trên dưới, Ví dụ các đặc điểm về mức thu nhập, trình độ học vấn, chuyên môn, mức
độ uy tín, quyền lực… Theo Peter Blau, tương ứng với hai loại đặc điểm này là 2 kiểu CTXH như sau: (1) Dựa vào đặc điểm danh nghĩa, có kiểu CTXH không đồng nhất - kiểu cấu trúc hàng ngang gồm các nhóm người khác nhau về tên gọi nhưng giống nhau về cấp bậc, tầng lớp; (2) Dựa vào đặc điểm mức độ, có kiểu CTXH bất bình đẳng - kiểu CTXH hàng dọc bao gồm các nhóm người khác nhau về vị thế trên dưới, cao thấp. Các kiểu CTXH như vậy đều có thể tạo ra những hàng rào hoặc những cơ hội cho sự tương tác xã hội, tức là thống nhất xã hội. Sự đóng góp của Peter Blau đối với nghiên cứu CTXH không thể không kể đến việc Ông sử dụng Lý thuyết trao đổi xã hội để nghiên cứu CTXH vi mô và vĩ mô.
Lý thuyết trao đổi xã hội trong nghiên cứu CTXH vi mô và vĩ mô. Với cách
tiếp cận này Peter Blau đã phân biệt các hình thái quyền lực trong nhóm 2 người và nhóm đông người với hai loại CTXH. Cấu trúc xã hội vi mô bao gồm các cá nhân tương tác với nhau tạo thành, còn CTXH vĩ mô bao gồm các nhóm tương tác với nhau tạo thành. Hai hình thái CTXH này đều có những đặc điểm giống nhau do cùng bắt nguồn từ quá trình hấp dẫn xã hội, trao đổi xã hội và chống đối, mâu thuẫn giữa các cá nhân và giữa các nhóm. Bên cạnh đó, hai loại CTXH này cũng có những đặc điểm khác nhau cơ bản như: Cấu trúc xã hội vi mô được hình thành trên cơ sở của sự nhất trí về hệ giá trị, chuẩn mực chi phối các hành động và quan hệ giữa các yếu tố tạo thành cấu trúc; Cấu trúc xã hội vĩ mô luôn bao gồm các các mối liên hệ phức tạp của cấu trúc bộ phận và các cấu trúc vi mô; và cấu trúc vĩ mô có tính bền
Trang 27sẽ cho tần suất lớn hơn so với nhóm có quy mô lớn hơn (vì tử số như nhau mẫu số tăng thì giá trị thương số sẽ giảm). Tuy nhiên, trên thực tế ít nhà khoa học thực sự chú ý và nhận thấy rõ sự tác động của quy mô nhóm tới mối tương tác xã hội của các thành viên.
+ Định đề sự liên kết xã hội tỷ lệ thuận với sự không đồng nhất. Qua việc
nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm của CTXH với sự thống nhất xã hội Peter Blau đã khái quát được một số định đề quan trọng, ví dụ như sau: sự không đồng nhất càng lớn thì các nhóm phân hoá càng nhỏ và do vậy càng tăng khả năng liên kết giữa các nhóm nhỏ. Điều này được phản ánh qua phương châm quản lý đảm bảo: sự thống nhất trong đa dạng của lợi ích, sáng kiến và hành động xã hội. Các nghiên cứu về các nhóm không đồng nhất về nghề nghiệp, ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc cho thấy mối tương quan rõ rệt giữa quy mô nhóm với quan hệ giữa các nhóm đúng như định lý của Peter Blau: quy mô nhóm nhỏ và sự không đồng nhất của nhóm làm tăng mối liên hệ giữa các nhóm tức làm tăng sự thống nhất xã hội.
+ Định đề tương tác xã hội làm tăng sự liên kết xã hội. Peter Blau đưa ra một
định lý nữa, đó là sự giao kết và tương tác hợp đồng góp phần củng cố mối liên hệ giữa các nhóm; còn sự hợp nhất làm giảm mối liên hệ giữa các nhóm. Điều này liên quan tới vấn đề phân hoá xã hội và sự phân công lao động trong xã hội mà Durkheim đã từng nói tới khi bàn đến sự đoàn kết xã hội. Theo Durkheim, sự phân
Trang 28công lao động càng cao, chuyên môn hoá càng sâu sắc thì càng làm tăng sự phân hoá xã hội, làm tăng sự phụ thuộc chức năng lẫn nhau giữa các thành viên trong xã hội. Nhưng Peter Blau cho rằng sự phân công lao động xã hội không nhất thiết tạo
ra sự thống nhất xã hội, hội nhập xã hội. Mà sự đoàn kết xã hội phụ thuộc chủ yếu vào mối tương tác thực sự giữa các cá nhân thành viên khác nhau trong xã hội. Trên thực tế các cá nhân có thể phụ thuộc lẫn nhau nhưng lại không trực tiếp gặp gỡ trao đổi với nhau, do vậy cũng khó có thể tạo ra được sự thống nhất, đoàn kết xã hội thực sự. Như vậy, Peter Blau nhấn mạnh vai trò quan trọng của mối tương tác xã hội thực sự diễn ra giữa các cá nhân đối với sự hội nhập, thống nhất xã hội.
1.1.2 Nghiên cứu lý thuyết cấu trúc hoá của Anthony Giddens
Anthony Gidden (1938) nhà xã hội học người Anh Khái niệm Structuration
được Giddens sử dụng để chỉ quá trình phát sinh, vận động và tái tạo các hệ thống của mối tương tác xã hội thông qua "tính hai mặt của CTXH" hay "tính nhị phân của cấu trúc". Tính nhị phân của cấu trúc hay Tính hai mặt của CTXH hay là quá trình tổng - tích hợp các quy tắc xã hội và các nguồn lực xã hội mà con người vừa tạo ra và vừa sử dụng trong đời sống. Theo Anthony Giddens, cấu trúc gồm các quy tắc và các nguồn lực được sử dụng trong quá trình tái tạo các hệ thống xã hội. Các quy tắc cho biết con người phải làm gì và làm như thế nào khi tương tác xã hội, còn nguồn lực vật chất - tinh thần giúp con người đạt được mục đích của họ. Luận điểm cốt lõi nhất của Lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH là con người với tư cách là những chủ thể - diễn viên, người hành động luôn tái tạo ra các CTXH, đồng thời hành động của họ bị CTXH quy định. Thông qua các hành vi, hoạt động của mình, con người tạo dựng, thay đổi những CTXH mà họ là thành viên. Tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH diễn ra trong thời gian, không gian và trong suốt cuộc sống của mỗi cá nhân. Nhờ mặt tích cực của hành động cá nhân mà CTXH được tái tạo một cách sinh động, liên tục chứ không máy móc. Ông chỉ ra một số yếu tố tác động tới sự tái tạo xã hội mang tính 2 mặt hành động và cấu trúc. Trong số đó có sự hiểu biết lẫn nhau, sự tự chủ, sự tin cậy, thói quen và những yếu tố khác nhau thuộc về điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài. Với việc đưa ra lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH, Anthony Giddens hy vọng giải quyết được những vấn đề "tiến thoái lưỡng
Trang 29nan" của Lý thuyết xã hội học giữa một bên là Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) còn bên kia là Chủ nghĩa hành vi (Behaviourism), một bên là Thuyết cấu trúc (Structure Theory) và bên kia là Thuyết hành động (Action Theory). Lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH nhấn mạnh tính chất hai mặt của hành động người và CTXH cũng như nói đến quá trình chuyển hoá và tái tạo lẫn nhau của chúng. Bên cạnh đó, Lý thuyết đó còn bổ sung khái niệm "hội nhập xã hội" để chỉ sự tương tác trong hệ thống xã hội và khái niệm "hội nhập hệ thống" chỉ
sự hội nhập giữa các hệ thống xã hội; sự khác biệt giữa "mâu thuẫn xã hội" và "mâu thuẫn hệ thống". Tuy nhiên, Quan điểm lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH của Anthony Giddens không phải là cách tiếp cận lý thuyết duy nhất để thấu hiểu và hóa giải tình trạng song đề lý thuyết (theoretical dilemma) giữa
"Cấu trúc (Structure) và Hành động (Action)" trong Xã hội học đương đại. Cho đến nay đã có nhiều cách tiếp cận lý thuyết khác cũng có hạt nhân hợp lý, đáng lưu ý là:
M. Archer khi xem xét mối quan hệ phức hợp giữa Culture (Văn hóa) mang tính cấu trúc và Agency (Tác nhân) là Chủ thể hành động đã cho rằng không có vấn đề thay thế Quan điểm lý thuyết nhị nguyên (Dualism) bằng Quan điểm lý thuyết nhị phân (Duality Theory) như A. Giddens đã giả định, mà có vấn đề lựa chọn Nhị nguyên hay Nhị phân một cách phù hợp với đối tượng cụ thể trong bối cảnh cụ thể; hay P. Bourdieu cho rằng không đơn giản chỉ là Nhị phân như A. Giddens đã nhấn mạnh,
mà hơn thế nữa là sự tương tác thường xuyên giữa Habitus (Tập tính của Hành động
có đặc trưng chủ quan của Chủ thể) và Fild (Trường có đặc trưng cấu trúc khách quan của hoàn cảnh xã hội); bởi vì theo P. Bourdieu thì Tập tính thực chất là sự chủ quan hóa các đặc trưng khách quan của Trường, ngược lại, Trường thực chất là sự khách quan hóa các đăc trưng chủ quan của Tập tính (G. Ritzer, 2000: 521- 552).
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài, ta thấy hướng nghiên cứu CTXH là một nội dung quan trọng và cơ bản, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà xã hội học nổi tiếng trên thế giới trong lịch sử phát triển của Xã hội học. Bản thân hướng nghiên cứu CTXH cũng được các nhà xã hội học tiếp cận trên nhiều khía cạnh, cấp độ với mức độ thành công và hạn chế khác nhau. Tuy nhiên, các kết luận trong nghiên cứu lý thuyết về CTXH thường bị cho rằng thiếu các bằng chứng thực nghiệm cần thiết, hoặc tính nhất quán chưa cao và đôi khi khó hiểu/xa lạ
Trang 30đối với không ít các nhà xã hội học có chịu ảnh hưởng/theo trường phái mácxít. Điều này đặt ra, là cần phải phải nghiên cứu về CTXH với sự vận dụng, phối hợp một cách nhuần nhuyễn trên cả hai cấp độ: lý luận và thực nghiệm tại Việt Nam.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về thực trạng và biến đổi cấu trúc xã hội ở Việt Nam
Tại Việt Nam khi nghiên cứu/đề cập đến CTXH thường được phiên giải thành thuật ngữ khá quen thuộc là "cơ cấu xã hội", đồng thời được đặt dưới nhiều lát cắt của các khoa học khác nhau, như: triết học, sử học, kinh tế học, chính trị học, và xã hội học. Cho đến nay, ở Nước ta đã có một số công trình nghiên cứu lý luận và phương pháp về những vấn đề CTXH trong bối cảnh CNH, HĐH, và hội nhập quốc tế. Các nghiên cứu
đã cung cấp cho chúng ta những số liệu thống kê, phân tích, đánh giá khái quát và khá sâu sắc theo nhiều chiều cạnh khác nhau về những vấn đề liên quan đến CTXH và những nguy cơ, tệ nạn xã hội trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay. Đặc biệt các nghiên cứu đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết sâu hơn về những vấn đề lý luận
và phương pháp tiếp cận CTXH dựa trên sự phân tích khái niệm về cơ cấu xã hội, các loại hình cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội - giai cấp với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội. Nhóm tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cơ cấu xã hội - giai cấp, đặt nó ở vị trí trung tâm, quan trọng nhất và coi đó là yếu tố cốt lõi làm
tiêu chí để phân định bản chất của từng xã hội. "Cơ cấu xã hội Việt Nam và những vấn
đề xã hội bức xúc trong quá trình đổi mới" của Đỗ Nguyên Phương, Nguyễn Xuân
Kiên [143]; "Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai đoạn
hiện nay" của Đỗ Nguyên Phương [142]
Cũng cần phải kể đến những nghiên cứu rất sớm trong thời kỳ đầu của đổi mới. Nghiên cứu này đã áp dụng lý luận về cơ cấu xã hội để phân tích vấn đề "phân tầng xã hội" và đo lường sự phân tầng xã hội về mặt mức sống [121]. Có thể tìm hiểu CTXH mức sống thông qua các mô hình phân tầng xã hội về mức sống. Mức sống là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự biến đổi cấu trúc thông qua sự phân tầng giữa các nhóm có thu nhập khác nhau. Các tác giả của nghiên cứu trên đã xây dựng được một số chỉ báo để đo lường sự phân hóa giàu nghèo về mức sống của người dân Hà Nội, trong đó nổi bật lên 4 chỉ báo quan trọng là: điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu và thu nhập. Điều đặc biệt ở nghiên cứu này là đã
Trang 31Cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục thống kê thực hiện với sự hỗ trợ của UNDP và các chuyên gia quốc tế vào năm 1992-1993. Bằng phương pháp chọn mẫu với quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc, nghiên cứu này đã
mô tả được bức tranh CTXH về mức sống, về thực trạng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội trên các khía cạnh kinh tế, giáo dục, sức khỏe của các nhóm hộ gia đình và các nhóm dân cư Việt Nam [181].
Nghiên cứu: "Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã hội nông
thôn Nam Bộ" của tác giả Đỗ Thái Đồng [46]. Đây là một trong những bài viết sớm
vận dụng lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu CTXH dưới góc độ xã hội học để nghiên cứu cơ cấu xã hội nông thôn ở nước ta sau thời kỳ đổi mới. Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra những yếu tố cản trở, bất hợp lý trong lực lượng sản xuất ở nông thôn Nam Bộ thời kỳ mới bắt đầu đổi mới đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển lực lượng sản xuất.
Hiểu rõ bản chất khoa học cũng như việc nhận thức đúng về mặt lý luận và
phương pháp khi tiếp cận nghiên cứu CTXH là cơ sở để xây dựng, thực hiện các chính
sách có liên quan đến CTXH nói chung [98]. Hơn thế nữa nó cũng giúp cho chúng ta hiểu được bản chất của CTXH là thuộc tính và quá trình vận động của bất kỳ xã hội nào; CTXH phản ánh đầy đủ và chính xác các kiểu quan hệ giữa con người và xã hội,
hệ thống CTXH bao gồm các giai tầng, các nhóm nhóm, các thành tố và mối quan hệ của chúng tạo nên xã hội Việt Nam đang trên đường đổi mới và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới [89, tr.29-37; 66, tr.82-90].
Công trình: "Mấy nét sơ bộ về sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta
khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của tác giả
Phạm Xuân Nam [118] đã bàn về việc sử dụng cơ sở lý luận, phương pháp luận trong nghiên cứu sự biến đổi về cơ cấu xã hội - giai cấp ở Nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã chỉ ra sự thay đổi về
cơ cấu xã hội - giai cấp từ tương đối thuần nhất chuyển sang cơ cấu xã hội - giai cấp
đa dạng và cũng dựa vào xu hướng vận động, biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp
mà đưa ra một số dự báo về triển vọng trong tương lai.
Trang 32Bằng sự phân tích khái niệm cơ cấu xã hội và mối liên hệ của nó với cơ cấu kinh tế, tác giả đã chỉ ra rằng sự phát triển hay thoái bộ của xã hội có nguồn gốc nội sinh từ những biến đổi của cơ cấu xã hội mà nguyên nhân sâu xa suy cho cùng là những biến đổi trong sản xuất, trong kinh tế, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, sự xung đột lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, tập đoàn xã hội. Với cách hiểu và khái quát về phương diện lý luận của cơ cấu xã hội như vậy chúng ta có thể soi vào thực tiễn đổi mới hơn 25 năm qua để thấy được những biến đổi trong cơ cấu
xã hội của nước ta [162, tr.49-58].
Công trình: "Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam" của tác giả Tạ
Ngọc Tấn [164] khi nghiên cứu, phân tích sự biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến 2010, đã phát hiện ra những nguyên nhân bên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan tác động, làm biến đổi cơ cấu xã hội ở từng giai đoạn lịch
sử cụ thể; qua đó đánh giá tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực của biến đổi cơ cấu xã hội trong 25 năm đổi mới (từ 1986-2010), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm giúp cho sự phát triển của đất nước trong những năm sắp tới. Hơn thế nữa còn đưa
ra dự báo xu hướng và giải pháp nhằm tạo ra sự biến đổi một cách tích cực để phát triển đất nước một cách bền vững.
Công trình: "Phân tích cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học" của tác giả
Nguyễn Đình Tấn [155] khi phân tích cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học đã khẳng định vai trò của lý luận, lý thuyết về cơ cấu xã hội trong các công trình nghiên cứu của Xã hội học nói riêng và các ngành Khoa học xã hội khác nói chung. Công trình:
"Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội" của tác giả Nguyễn Đình Tấn [159] đã vận
Trang 33Nghiên cứu của các tác giả Tương Lai, Nguyễn Quang Ngọc, Phạm Ngọc Quang đã có những đóng góp đáng kể cho việc nhận thức khoa học, lý luận về cơ cấu xã hội, điểm chung của các nghiên cứu này là tiếp cận cơ cấu xã hội gắn với phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, cũng như sự vận động biến đổi của cơ cấu
xã hội gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay (kinh tế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, toàn cầu hoá…). Đồng thời, chủ yếu dừng lại ở cấp độ mô tả, phân tích hiện tượng, thông qua đó rút ra những kết luận được phiên giải bởi nhiều khía cạnh tiếp cận khoa học khác nhau. Đặc biệt, khi tiếp cận cơ cấu xã hội các nghiên cứu thường quan tâm đến cơ cấu xã hội-giai cấp theo tiêu chí của chủ nghĩa Mác mà ít đề cập một cách phù hợp đối với các lý thuyết phi mácxít; thường nhấn mạnh cơ cấu ở khía cạnh tĩnh tại, biệt lập hơn là sự vận động phát triển đan xen phức hợp; nói đến bề nổi hơn là chiều sâu của vấn đề; nói đến sự khác biệt hơn là thống nhất, hoặc nói về sự đoàn kết xã hội mang nặng yếu tố chính trị quy giản hơn là thực sự quan tâm đến việc tạo ra sự đồng thuận, liên kết xã hội dựa trên những tiên đề mà các nhà xã hội học khi nghiên cứu về CTXH
trên thế giới đã khẳng định, nhất là của Ralph Linton; Talcott Parsons; Robert
Merton, Athony Giddens, Peter Blau…như đã trình bày ở phần trên [99; 123; 145].
Nếu chỉ tính các bài viết đăng tải trên tạp chí Xã hội học từ năm 1986 đến
2009, theo thống kê của tác giả Lê Ngọc Hùng chủ đề bàn về cơ cấu xã hội đã có 43 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước. Trong đó, nổi bật lên việc khẳng định:
cơ cấu xã hội là một khái niệm cơ bản và đối tượng nghiên cứu quan trọng của Xã hội học. Bên cạnh đó, thông qua các bài viết này, chủ đề nghiên cứu cơ cấu xã hội
đã có sự phát triển từ nghiên cứu thuần tuý lý luận đến khảo sát thực nghiệm về cơ cấu xã hội. Đặc biệt, đã quan tâm làm rõ vấn đề cơ cấu lao động- nghề nghiệp và cơ cấu phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, theo tác giả
Lê Ngọc Hùng, một trong những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu có tính cơ bản của Xã hội học ở Việt Nam hiện nay chính là cần phải tiếp cận thuật ngữ "CTXH" thay vì thuật ngữ "cơ cấu xã hội", và cần phải nâng tầm nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về CTXH cả ở trạng thái "tĩnh tại" của các thành phần và mối quan hệ của chúng và cả trạng thái "sinh động" của sự hình thành, biến đổi, phát triển tức là qúa trình cấu trúc hoá xã hội. Cũng theo tác giả Lê Ngọc Hùng thì cần phải chuyển sang
Trang 34khái niệm "CTXH" để nhấn mạnh rằng CTXH là thuộc tính và quá trình vận động của bất kỳ xã hội nào. Đồng thời, để phản ánh đầy đủ và chính xác hơn các kiểu quan hệ giữa con người và xã hội; biểu hiện ra là hệ thống xã hội được cấu trúc hoá
từ các giai tầng, các nhóm nhóm, các thành tố và mối quan hệ của chúng tạo nên xã hội Việt Nam đang trên đường CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới [69, tr.85-97].
Xuất phát từ quan niệm hệ thống là tập hợp các yếu tố phân hóa nhau và cấu trúc với nhau tạo thành chỉnh thể khác biệt và mở với môi trường. Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Hùng đã cung cấp cho chúng ta cách tiếp cận lý thuyết hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội. Qua đó gợi mở cho chúng ta cách thức sử dụng những tri thức xã hội học về hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội để thu thập, xử lý, phân tích và đánh giá các vấn đề xã hội đặc biệt là những vấn đề tiêu cực cần kiểm soát như: sai lệch xã hội, bất bình đẳng xã hội Khi đề cập đến vấn đề phân hóa xã hội
và CTXH ở Việt Nam tác giả cho rằng: trong quá trình đổi mới đất nước vừa qua CTXH Việt Nam đã biến đổi mạnh theo hướng phân hóa xã hội từ một cấu trúc giai cấp kiểu cũ đặc trưng cho thời kỳ kinh tế quan liêu, bao cấp sang CTXH kiểu mới đặc trưng cho thời kỳ kinh tế thị trường với nhiều thành phần và nhiều mối quan hệ phong phú, đa dạng. Nghiên cứu xã hội học về CTXH ở Việt Nam trong thời gian
từ năm 1983 đến nay được chia làm bốn giai đoạn [74, tr.212-213]. Giai đoạn đầu (từ 1983 -1986) đặc trưng bởi sự xuất hiện thiết chế khoa học như Viện Xã hội học (1983) và Tạp chí xã hội (1983) gắn liền với sự hình thành quan niệm xã hội học Marx-Lenin về CTXH [Dẫn theo 74, tr.213]. Giai đoạn thứ 2 (từ 1987- 1990), giai đoạn này đặc trưng bởi việc đề xuất xây dựng khung lý thuyết trong điều tra xã hội học [88, tr.56-57] và việc thành lập Trung tâm Xã hội học và Tin học vào năm 1990 nay là viện Xã hội học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Giai đoạn 3 là
từ năm 1991-2000, đây là giai đoạn được đặc trưng bởi việc áp dụng một số một số cách tiếp cận mới trong điều tra xã hội học và một số phát hiện mới về CTXH gắn liền với phân tầng xã hội. Đồng thời ở giai đoạn này xuất hiện thiết chế đào tạo xã hội học trình độ trình độ đại học và sau đại học như các khoa Xã hội học thuộc trường Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trường Đại học Công
Trang 35lý thuyết và các cuộc nghiên cứu thực nghiệm, điều tra về cấu trúc và sự biến đổi của nó trong mối quan hệ chặt chẽ với phân tầng xã hội. Kết quả tiếp cận lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm của giai đoạn này được công bố trong nhiều sách và bài viết trên Tạp chí Xã hội học cùng một số ấn phẩm khác. Những nghiên cứu này xem xét CTXH trên cơ sở các hệ thống lý luận, trong đó nổi bật nhất: một là học thuyết Karl Marx về hình thái kinh tế - xã hội; hai là lý thuyết của Marx Weber về cấu trúc phân tầng xã hội dựa vào tài sản, quyền lực, vị thế xã hội và một số lý thuyết xã hội học khác; ba là tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc thù CTXH Việt Nam [Dẫn theo 74, tr.228-229]. Nội dung các nghiên cứu này đã khẳng định một xu thế không thể đảo ngược của sự biến đổi CTXH - giai cấp từ cấu trúc hai giai cấp một tầng lớp sang CTXH gồm nhiều giai cấp, nhiều nhóm xã hội, nhiều tầng lớp xã hội đa dạng, phức tạp. Theo một số tác giả, CTXH kiểu mới, "cấu trúc giai cấp của xã hội mới " còn
có thể gọi "CTXH giai tầng" hay "cấu trúc giai tầng xã hội" bao gồm các thành phần như sau: giai cấp công nhân; giai cấp nông dân; tầng lớp trí thức; tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ; tầng lớp doanh nhân và tầng lớp người nghèo, hộ nghèo, cộng đồng nghèo được quan tâm, hỗ trợ để xóa đói, giảm nghèo [74, tr.229-230].
Như vậy có thể khẳng định rằng trong thực tế CTXH bao gồm nhiều thành phần, nhiều nhóm, nhiều tầng lớp xã hội trong đó tầng lớp nghèo, những nhóm người yếu thế, khó khăn luôn được xã hội quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ để tự mình có thể xóa được đói, giảm được nghèo. Quan niệm về CTXH ở giai đoạn này có những phát triển mới. Năm 1992 một định nghĩa về CTXH đã nêu ra bốn thành phần cơ bản của nó là: vị thế, vai trò, nhóm và các thiết chế xã hội. Đến năm 2005, trong định nghĩa về CTXH được bổ sung thêm một thành phần nữa là mạng lưới xã hội, đồng thời nhấn mạnh một đơn vị phân tích là nhóm xã hội [158, tr.26-29; 159]. Những thay đổi trên cho thấy sự coi trọng yếu tố quan hệ xã hội trong CTXH. Ở giai đoạn này một số bài giới thiệu hướng nghiên cứu lý thuyết về quá trình tạo ra
và tái tạo, duy trì cùng sự biến đổi, phân hóa và phát triển CTXH như lý thuyết "cấu trúc hóa" [66, tr.82-90; 8, tr.120]. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu đi sâu phân tích, làm rõ các hệ thống phân tầng xã hội và các phân hệ cấu trúc như CTXH - dân
Trang 36phân hóa xã hội đa dạng, phức tạp như: "Phân hóa xã hội về việc làm của lao động Việt
Nam hiện nay" của Hoàng Lan [96]; "Biến đổi phân tầng xã hội - nghề nghiệp ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2002 đến năm 2010" của Trần Văn Thạch [165].
Công trình " Tái cấu trúc nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát triển ở Việt
Nam" của tác giả Đặng Nguyên Anh [2] khi nghiên cứu về vấn đề tái cấu trúc đã
nhận định tuy cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu gây nên nhiều tác động tiêu cực song cũng đặt ra những cơ hội mới nhằm tái cấu trúc kinh tế và xem tái cấu trúc nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá quan trọng của tái cơ cấu nền kinh
tế. Khi bàn về vấn đề tái cấu trúc nguồn nhân lực của Việt Nam tác giả chủ yếu xem xét từ góc độ nhân khẩu-xã hội. Sử dụng các quan điểm lý luận để phân tích những vấn đề nổi bật có liên quan và đánh giá thực trạng, nghiên cứu đã đưa ra các hướng giải pháp chủ yếu nhằm tái cấu trúc và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ nay cho đến năm 2010, định hướng đến năm 2030.
Cũng bàn về vấn đề tái cấu trúc, công trình "Những vấn đề phân giải và tái
tạo cơ cấu xã hội trong xã hội Việt Nam hiện đại" của tác giả Đặng Cảnh Khanh
[91] đã cho rằng: CNH, HĐH ở nước ta là một cuộc cách mạng về cơ cấu xã hội, một quá trình phân giải và tái cơ cấu xã hội liên tục để hướng tới sự hoàn thiện. Bởi
sự phát triển theo hướng CNH, HĐH về thực chất là một quá trình biến đổi mà trong đó cơ cấu xã hội sẽ bị lay chuyển tận gốc rễ. Những cơ sở xã hội cũ sẽ bị thay thế bởi một cơ sở xã hội mới. Việc tiếp cận vấn đề CNH, HĐH đất nước với tư cách
là một quá trình giải thể và tái tạo cơ cấu xã hội không chỉ giúp cho chúng ta chủ động, sáng tạo trong việc xử lý những vấn đề của cơ cấu xã hội mà còn tạo ra một góc nhìn khác về sự phát triển lý luận và phương pháp khi nghiên cứu CTXH. Tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay, chúng ta phải xem xét toàn diện
và cơ bản trên 2 khía cạnh: Thứ nhất, phải phân tích, làm rõ một cơ cấu xã hội mang
những nét truyền thống đang giải thể mà kéo theo nó là một loạt sự thay đổi về kinh
tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Thứ hai, phân tích nhưng đồng thời phải phát hiện,
dự báo được về sự tái tạo cơ cấu mới trên cơ sở định hướng phát triển của quá trình CNH, HĐH. Để làm rõ những vấn đề phân giải và tái tạo cơ cấu xã hội trong xã hội hiện đại, tác giả đã vận dụng hướng tiếp cận lịch sử và so sánh [91, tr.69-78]. Vấn
Trang 37sâu trong nghiên cứu: "Tái cấu trúc kinh tế Hà Nội theo hướng hiện đại và phát
triển bền vững" của các tác giả Đinh Trọng Thịnh và Nguyễn Minh Phong [175].
Nghiên cứu đã làm rõ các khái niệm về tái cấu trúc kinh tế, đi sâu đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững của thành phố Hà Nội giai đoạn 2005-2010, nội dung quá trình thực hiện và các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc nền kinh tế. Trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng, khung giải pháp và các giải pháp cụ thể thúc đẩy tái cấu trúc kinh tế Hà Nội theo hướng hiện đại và phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030.
Những công trình nghiên cứu thực nghiệm sớm nhất về cơ cấu xã hội đó là những đề tài nghiên cứu đã được công bố vào đầu những năm 1990. Các nghiên cứu này đã xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhấn mạnh vai trò quyết định của phương thức sản xuất và trao đổi đối với cơ cấu xã hội Việt Nam. Chế độ công hữu trong đó chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đã tạo nên một nền tảng cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp đó là công nhân và nông dân cùng một tầng lớp tri thức. Sự đổi mới kinh tế của đất nước đã thúc đẩy sự biến đổi của cơ cấu xã hội. Tương ứng với nền kinh tế nhiều thành phần cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay cũng
có nhiều giai tầng, nhiều nhóm xã hội khác nhau về mức thu nhập, nghề nghiệp, chi
tiêu, học vấn, mức sống, lối sống như công trình: "Cơ cấu xã hội và phân tầng xã
hội" của Lê Hữu Nghĩa [121].
Công trình: "Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai
đoạn hiện nay" của tác giả Đỗ Nguyên Phương [142] đã mô tả bức tranh về thực
trạng cơ cấu xã hội và xu thế biến động của cơ cấu xã hội giai cấp, lao động, nghề nghiệp, dân cư, dân tộc ở nước ta. Trên cơ sở đó chỉ ra mối liên hệ và việc hình thành con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới; mặt khác cũng đưa ra các dự báo biến động về mặt xã hội của con người thông qua các biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp, dân số, lao động, nghề nghiệp, dân tộc khi chuyển sang cơ chế thị trường.
Công trình: "Thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn
đồng bằng Bắc Bộ hiện nay" của tác giả Tô Duy Hợp [60] đã tóm tắt những đặc
điểm và xu hướng chủ yếu của sự chuyển đổi từ cơ cấu xã hội nông thôn kiểu cũ sang cơ cấu xã hội nông thôn kiểu mới qua kết quả điều tra xã hội học ở đồng bằng
Trang 38xã hội ở nông thôn: vượt trội và chủ động; trung bình và nghèo khổ cuối cùng là thụ động. Bên cạnh đó nghiên cứu còn khẳng định cơ cấu xã hội nông thôn trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa bị phân tán và dần dần hình thành tháp phân tầng xã hội vượt trội-yếu kém, giàu có-nghèo khổ.
Công trình: "Nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam từ hướng tiếp cận cơ
cấu xã hội - một số vấn đề đáng quan tâm" của tác giả Nguyễn Hữu Minh [116] khi
bàn về vấn đề giai cấp công nhân Việt Nam từ hướng tiếp cận cơ cấu xã hội - một
số vấn đề đáng quan tâm, đã phác họa bức chân dung xã hội của giai cấp công nhân,
mô tả thực trạng và những đặc trưng về số lượng, chất lượng, đồng thời phân tích các nhóm xã hội bên trong giai cấp công nhân và mối liên hệ giữa chúng cùng tính
cơ động của nó.
Công trình: "Cấu trúc xã hội trong cả nước, nông thôn - đô thị và chân dung
tầng lớp nông dân Việt Nam" của Đỗ Thiên Kính [94]. Cách tiếp cận về CTXH
phản ánh cơ cấu kinh tế là một cách tiếp cận căn bản trong nghiên cứu xã hội học. Những thay đổi của thực trạng cơ cấu kinh tế đều được phản ánh và thể hiện qua sự biến đổi của CTXH. Cơ cấu kinh tế thay đổi sẽ kéo theo sự biến đổi của CTXH. Có thể coi đây là mối quan hệ nhân quả. Bằng phương pháp "phân nhóm" dựa vào tiêu chuẩn nghề nghiệp và "phân tầng" dựa vào bộ 3 tiêu chuẩn về địa vị kinh tế -xã hội (thu nhập, học vấn, uy tín nghề nghiệp) cùng các số liệu nghiên cứu thực nghiệm của 4 cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam trong các năm 2002, 2004,
2006, 2008 do Tổng cục Thống kê thực hiện, tác giả đã phân tích cấu trúc về địa vị kinh tế -xã hội cao thấp giữa các tầng lớp xã hội ở nông thôn và đô thị nước ta. Nhóm lãnh đạo toàn xã hội (các nhà lãnh đạo các cấp, các ngành) được xếp đặt ở vị trí cao nhất. Tầng lớp Nông dân và Người lao động giản đơn ở vị trí thấp nhất. Theo nhận định của tác giả nếu so sánh với xã hội Việt Nam trong lịch sử thì trật tự thứ bậc giữa các tầng lớp trong xã hội hiện nay có sự thay đổi. Tầng lớp thợ thủ công và tiểu thương (con buôn) trước kia được xếp ở vị trí cuối cùng trong xã hội (Sĩ - Nông
- Công - Thương), thì hiện nay tầng lớp này đã có vị trí cao hơn.
Trang 39Các tác động của biến đổi cơ cấu xã hội đến đời sống tôn giáo, đến nông thôn, đến vấn đề chuyển dịch lao động nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phân tầng xã hội, phân hóa xã hội đã được đề cập trong đề tài khoa học trọng điểm cấp nhà nước KX.04.14/06-14: "Biến đổi xã hội ở Việt Nam". Bên cạnh đó nghiên cứu còn chỉ ra được xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong những năm tới như: tăng nhanh quy mô lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm nhanh quy mô lao động trong ngành nông nghiệp; phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên gay gắt; thay đổi giá trị, triết lý sống mới của các nhóm xã hội; xu hướng hình thành tầng lớp xã hội "ưu trội" và nhóm xã hội yếu thế; xu hướng biến đổi trong hoạt động kinh tế; xu hướng biến đổi trong sự phân bố các dân tộc; biến đổi cơ cấu xã hội -giai cấp [163].
Kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước: "Cơ cấu xã hội và
phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay" của tác giả Lê Hữu
Nghĩa [121]. Với khối lượng đồ sộ các kết quả điều tra thực nghiệm về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, đề tài phân tích rõ các đặc điểm của cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở các tỉnh, thành phố được khảo sát như: cơ cấu tuổi, cơ cấu xã hội giới tính, cơ cấu thế hệ và qui mô gia đình, cơ cấu xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - tôn giáo, cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội thành thị - nông thôn về thu nhập, Vấn đề
cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội về mức sống; về giáo dục - đào tạo; lao động, việc làm cũng được mô tả chi tiết. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài cho thấy sự hình thành và phát triển phong phú đa dạng của các thành phần xã hội, quan
hệ xã hội của cơ cấu xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung
Xuất phát từ yêu cầu về vai trò, vị thế và những đòi hỏi thực tiễn đối với ĐNCB LĐ, QL các cấp/ngành trong hệ thống chính trị ở Việt Nam; Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác cán bộ, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB LĐ, QL. Vì lẽ đó, trong nhiều thập kỷ vừa qua vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực
Trang 40Trong đó trước hết phải kể đến những nghiên cứu về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong một công
trình nghiên cứu: "Hồ Chí Minh - Đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài" của Đức
Vượng [199] đã nhận định: Đối với vấn đề cán bộ Người rất chú trọng đến phương hướng và phương pháp phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là vấn đề dùng người. Người luôn nhắc nhở cán bộ LĐ, QL phải biết khai thác nguồn nhân lực cho tốt để qua đó có thể tìm ra được những người tài; phải biết lựa chọn cán bộ, lựa chọn nhân tài, sử dụng đúng người, đúng việc. Để làm được như vậy, người cán
bộ LĐ, QL phải có tâm sáng, tài cao. Theo quan điểm của Người, công tác cán bộ muốn phát triển và có chất lượng thì cần phải có 2 yếu tố: Thứ nhất: Đảng và Nhà nước phải có đường lối và chính sách rõ ràng đối với vấn đề cán bộ; Thứ hai: Đảng
và Nhà nước phải đào tạo đội ngũ những người làm công tác cán bộ giỏi, biết dùng người và nhìn người.
Bên cạnh đó, có thể đưa ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, có đóng góp to lớn trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về xây dựng ĐNCB LĐ, QL. Các công này đã mô tả về thực trạng ĐNCB và công tác cán bộ hiện nay của nước
ta, trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra hệ thống quan điểm và phương hướng nhằm nâng cao chất lượng ĐNCB trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước như:
"Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm
[183]; "Đánh giá quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của tác giả Trần Đình Hoan [59] đã đi sâu phân
tích các khâu của công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH mà còn đặc biệt nhấn mạnh công tác đánh giá, quy hoạch và vấn đề luân chuyển cán bộ nhằm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ và coi đây là một khâu đột phá của công tác cán bộ.
Với những luận giải sâu sắc về các vấn đề lý luận và thực tiễn như: "Xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của tác giả Vũ Văn Hiền [57] đã trình bày các