1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TáI CấU TRúC ĐộI NGũ CáN Bộ LÃNH ĐạO, QUảN Lý CáC HUYệN MIềN NúI NGHệ AN (Nghiờn cứu trường hợp huyện Tương Dương) LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC

201 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện miền núi Nghệ An (Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương)
Tác giả Đặng Thị Minh Lý
Người hướng dẫn GS.TS. Lấ Ngọc Hùng, GS.TS. Tễ Duy Hợp
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cấu trúc xã hội CTXH và tái CTXH là lĩnh vực mới ở Việt Nam; bước đầu đã được một số nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, sử

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

     

T¸I CÊU TRóC §éI NGò C¸N Bé L·NH §¹O, QU¶N Lý

ë C¸C HUYÖN MIÒN NóI NGHÖ AN

(Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương)

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

   

T¸I CÊU TRóC §éI NGò C¸N Bé L·NH §¹O, QU¶N Lý

ë C¸C HUYÖN MIÒN NóI NGHÖ AN

(Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương)

Mã số: 62 31 30 01

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS LÊ NGỌC HÙNG

2 GS.TS TÔ DUY HỢP

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

  

Đặng Thị Minh Lý

Trang 4

  Trang 

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN

1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc xã hội  12 1.2. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý   30 

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TÁI CẤU

2.1. Một số khái niệm - công cụ nghiên cứu của luận án  43 2.2.  Tư  tưởng  Hồ  Chí  Minh,  quan  điểm  của  Đảng  và  chính  sách  của  Nhà 

nước về xây dựng đội ngũ cán bộ   60 2.3. Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong luận án  67 2.4. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 

ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An  78 

Chương 3: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH

3.1. Phương pháp nghiên cứu và đặc điểm mẫu khảo sát  88 3.2. Tái cấu trúc nhân khẩu - xã hội của đội ngũ lãnh đạo, quản lý  104 3.3. Tái cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật   115 

Chương 4: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ XU HƯỚNG TÁI CẤU

TRÚC XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 133 4.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý   133 4.2. Một số xu hướng tái cấu trúc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý  146 4.3. Một số phương hướng và khuyến nghị định hướng, điều chỉnh tái cấu 

trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý   154 

Trang 5

CNH, HĐH   :   Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTXH    :  Cấu trúc xã hội 

DTTS    :  Dân tộc thiểu số ĐNCB    :  Đội ngũ cán bộ 

LĐ, QL    :  Lãnh đạo, quản lý 

Trang 6

    Trang Bảng 3.1:   Tái cấu trúc giới tính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý 

Bảng 3.5:   Tái cấu trúc xã hội trên phương diện và thành phần tôn giáo 

Bảng 3.6:   Sự thay đổi về trình độ học vấn theo nhiệm kỳ   115 Bảng 3.7:   Ma trận thay đổi về trình độ học vấn của cán bộ lãnh đạo, 

quản lý làm hai nhiệm kỳ liên tiếp  116 Bảng 3.8:   Sự thay đổi về trình độ học lý luận chính trị  120 Bảng 3.9:   Ma trận thay đổi về trình độ lý luận chính trị của cán bộ làm 

Bảng 3.10:  Sự thay đổi về trình độ quản lý nhà nước theo nhiệm kỳ  123 Bảng 3.11:   Ma  trận  thay  đổi  về trình  độ  quản  lý  nhà nước  của  cán  bộ 

làm liên tiếp hai nhiệm kỳ  124 Bảng 3.12:   Sự thay đổi về khối công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, 

Bảng 3.13:   Ma trận thay đổi về khối công tác của cán bộ làm lãnh đạo, 

quản lý liên tiếp hai nhiệm kỳ  128 Bảng 3.14:   Sự thay đổi về cấu trúc chức vụ của cán bộ theo nhiệm kỳ  130 Bảng 3.15:   Ma trận thay đổi chức vụ của cán bộ làm lãnh đạo, quản lý 

Bảng 4.1:   Đánh giá bình quân về mức độ quan trọng của các nguyên 

tắc đối với việc đạt được chức vụ hiện tại138  139 Bảng 4.2:   Điểm đánh giá bình quân về sự ảnh hưởng của yếu tố tổ chức  140 Bảng 4.3:   Điểm đánh giá bình quân về khả năng làm việc  141 Bảng 4.4:   Điểm đánh giá bình quân về nguồn lực từ gia đình, bạn bè  141 

Trang 7

Bảng 4.6:   Điểm đánh giá bình quân về các nguồn lực khác  143 Bảng 4.7:   Điểm đánh giá bình quân về nỗ lực nâng cao trình độ  143 Bảng 4.8:   Điểm đánh giá bình quân về các nỗ lực khác  144 Bảng 4.9:   Tỷ lệ đánh giá về phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, 

Bảng 4.19:   Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật  149 Bảng 4.20:   Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ lý luận chính trị  149 Bảng 4.21:   Mức độ đánh giá về cấu trúc trình độ quản lý nhà nước  149 Bảng 4.22:   Mức độ đánh giá về cấu trúc ngành nghề đào tạo  150 Bảng 4.23:   Mức độ đánh giá về dự báo đội ngũ lãnh đạo, quản lý ngày 

Bảng 4.24:   Mức độ đánh giá về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngày càng 

phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương  151 Bảng 4.25:   Mức  độ  đánh  giá  về  xu  hướng  đội  ngũ  cán  bộ  lãnh  đạo, 

quản  lý  ngày  càng  vững  mạnh  về  phẩm  chất  đạo  đức  lối 

Trang 8

Bảng 4.27:   Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý phân theo cấp xã  152 Bảng 4.28:   Mức  độ  đánh  giá  về  cơ  cấu  thành  phần  tại  chỗ  và  từ  nơi 

khác đến của cán bộ lãnh đạo, quản lý  152 Bảng 4.29:   Mức độ  đánh  giá cấu trúc  thành phần  dân  tộc  của  đội  ngũ 

Bảng 4.30:   Mức  độ  đánh  giá  về  xu  hướng  đội  ngũ  cán  bộ  lãnh  đạo, 

quản lý ngày càng cân đối về thế hệ  153 Bảng 4.31:   Mức độ đánh giá xu hướng về cấu trúc thành phần dân tộc  153  

 

 

 

 

Trang 9

Biểu đồ 3.1:   Cấu  trúc  về giới  tính,  nhóm  tuổi  và  thành phần  dân  tộc  của 

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý   95 Biểu đồ 3.2:   Thành phần tôn giáo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý  96 Biểu đồ 3.3:   Cấu  trúc  về  trình  độ  học  vấn,  lý  luận  chính  trị  và  trình  độ 

quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý  97 Biểu đồ 3.4:   Khả năng về ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, 

Biểu đồ 3.5:   Tỷ lệ  về  trình  độ  học vấn  của  cán bộ  lần đầu  làm  lãnh  đạo, 

quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại   116 Biểu đồ 3.6:   Cấu trúc về trình độ lý luận chính trị của cán bộ lần đầu làm 

quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại   122 Biểu đồ 3.7:   Cấu trúc về trình độ quản lý nhà nước của cán bộ lần đầu làm 

quản lý ở nhiệm kỳ hiện tại   126 Biểu đồ 3.8:   Cấu trúc cán bộ lần đầu làm lãnh đạo, quản lý phân theo khối 

công tác ở nhiệm kỳ hiện tại  129 

 

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn mới của quá trình phát triển nhằm thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nền kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu và chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, chúng  ta  đứng  trước  những  cơ  hội  và  thách  thức  mới  để  hội  nhập  với  kinh  tế  thế giới.  Trong  bối  cảnh  đó,  chúng  ta  có  cơ  hội  để  tiến  hành  những  bước  phát  triển nhanh chóng,  song  đây  cũng  là  thời  kỳ  mà  chúng  ta  phải  đối  mặt  với nhiều  thách thức bởi sự cạnh tranh gay gắt, sự bất lợi trong so sánh về kinh tế - kỹ thuật, diễn biến phức tạp của tình hình chính trị khu vực và thế giới. Việt Nam xét trong quan 

hệ so sánh với các nước trên thế giới, có đủ tiềm năng và những lợi thế nhất định, đảm bảo điều kiện cần và đủ để thực hiện sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong đó tiềm năng về con người là nhân tố hàng đầu, là một nguồn lực đặc biệt quyết định sự thành bại của công cuộc  xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã khẳng định khoa học và công nghệ, giáo dục và đào  tạo  là  động  lực  trực  tiếp  của  đổi  mới  và  phát  triển  đất  nước.  Trong  hệ  thống chính sách kinh tế - xã hội, chính sách phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục 

và đào tạo là quốc sách hàng đầu, với quan điểm lấy nhân tố con Người làm trung tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định "Nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh  và bền  vững" [40]; "Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định  sự  phát  triển  đất  nước  trong  thời  kỳ  công  nghiệp  hóa,  hiện  đại  hóa  (CNH, HĐH)" [40]. Nguồn  lực con  người là  điểm cốt  yếu  nhất  của  các  nguồn  nội  lực  và ngoại lực của phát triển.  

Đối với địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) - nơi có trình độ dân trí  thấp,  khó  khăn  về  nhiều  mặt,  việc  phát  triển  nguồn  nhân  lực  nói  chung  và  đội ngũ  cán  bộ  (ĐNCB)  lãnh  đạo,  quản  lý  (LĐ,  QL)  nói  riêng  càng  có  ý  nghĩa  quan trọng.  Chỉ  trên  cơ  sở  xây  dựng  ĐNCB  tại  chỗ  đủ  về  số  lượng,  đảm  bảo  về  chất lượng, đồng bộ về cấu trúc thì mới có thể tạo ra động lực đầu tàu thúc đẩy kinh tế - 

xã  hội  phát triển  [169, tr.77]. Trong  quá  trình  lãnh  đạo  cách  mạng  giải  phóng  dân tộc  trước  đây  và  trong  sự  nghiệp  xây  dựng  và  bảo  vệ  Tổ  quốc  hiện  nay,  Đảng  đã 

Trang 11

luôn  quan  tâm  chăm  lo  xây  dựng,  đào  tạo,  bồi  dưỡng,  phát  triển  ĐNCB  LĐ,  QL DTTS nhằm thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc, đưa miền núi, vùng đồng bào DTTS từng bước phát triển hòa nhập trong sự phát triển chung của đất nước. Để các DTTS sớm có được ĐNCB đồng bộ, trong đó có nhiều người có phẩm chất chính trị, đạo đức đổi mới, người giỏi, người tài đủ sức giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội bền vững của dân tộc mình và của cộng đồng vùng DTTS. 

Nước ta là một quốc gia đa tộc người, với 54 thành phần dân tộc, các DTTS chiếm 13% dân số cả nước. Các DTTS cư trú chủ yếu ở các vùng  miền núi, vùng sâu, vùng xa. Với nhiều lý do khác nhau, kể cả về điều kiện tự nhiên và lịch sử để lại,  hầu  hết  các  vùng  DTTS  gặp  nhiều  khó  khăn,  trong  đó  có  trên  1000  xã  thuộc diện  khó  khăn.  Để  đẩy nhanh tốc  độ phát  triển  kinh  tế  -  xã  hội  các  tỉnh  miền  núi, vùng DTTS thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực mà đặc biệt là việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB LĐ, QL trong hệ thống cơ quan lãnh đạo Đảng quản lý Nhà 

nước, và các Đoàn thể chính trị - xã hội là vấn đề có vị trí then chốt, tạo động lực 

cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS theo kịp vùng đồng bằng.  

Sự  phát  triển  chậm  chạp  của  vùng  DTTS  nhiều  khi  không  chỉ  do  thiếu nguồn vốn đầu tư, mà nhiều khi lại do thiếu ĐNCB có khả năng triển khai các  dự  án ưu tiên  đầu  tư của  Nhà  nước   Ngược lại,  có  những  nơi,  nhờ ĐNCB có năng lực đã biết biến nguồn lực ưu tiên đầu tư của Trung ương trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, biến các tiềm năng tiềm ẩn thành hiện thực [21, tr.228].  

Đồng  bào  DTTS  là  một  bộ  phận  trong  cộng  đồng  các  dân  tộc  Việt  Nam, vùng DTTS là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Đất nước chỉ có thể phát triển bền vững khi lãnh thổ được bảo vệ toàn vẹn, an ninh quốc gia được giữ vững và khi các vùng miền phát triển cân đối, hài hòa. Tình trạng kém phát triển của một vùng miền không chỉ tác động tới vùng đó mà còn gây ảnh hưởng, thậm chí còn là rào cản đối với  việc  phát triển  của  các  vùng  khác và  tiến  trình  phát  triển  chung  của  đất nước. Hơn thế nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng ĐNCB cho vùng DTTS phải 

đi đôi với việc xây dựng ĐNCB nói chung, phải gắn liền với quy hoạch tổng thể về đào tạo, sử dụng, phân bố nguồn lực cán bộ LĐ, QL trên phạm vi cả nước. Vì vậy 

ưu tiên cho việc xây dựng, phát triển ĐNCB LĐ, QL khu vực miền núi, vùng DTTS 

Trang 12

là nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình phát triển ở chính vùng DTTS và cả đất nước trong bối cảnh hiện nay; góp phần giảm bớt bất bình đẳng kinh tế - xã hội với các vùng, miền khác nhau trong phạm vi cả nước. Từ đó đóng góp tích cực vào thực hiện  mục  tiêu  phát  triển  chung  của  đại  gia  đình  các  dân  tộc  Việt  Nam:  dân  giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh, phải: "Quan tâm xây dựng ĐNCB trẻ, cán bộ 

nữ, cán bộ DTTS, cán bộ xuất thân từ công nhân, con em những gia đình có công với  cách  mạng"  [38].  Thực  tiễn  nhiều  năm  qua  cho  thấy,  chiến  lược  của  Đảng  về xây  dựng,  đào  tạo,  bồi  dưỡng,  phát  triển  nguồn  nhân  lực  các  DTTS  đã  đạt  được những kết quả khả quan. Đội ngũ cán bộ các DTTS từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng vai trò to lớn trong phát triển  kinh tế -  xã hội, củng cố quốc phòng- an ninh ở miền núi, vùng đồng  bào DTTS. Như trong  việc thực  hiện chính  sách  tạo  nguồn  với  mục  tiêu  tạo  nguồn  nhân  lực  cho  các  vùng  đồng  bào DTTS, chúng ta đã lấy công tác giáo dục, nâng cao dân trí gắn liền với các mục tiêu phát  triển  kinh  tế  -  xã  hội,  củng  cố  quốc  phòng  -  an  ninh  làm  nền  tảng.  Các  chủ trương, biện pháp cho chính sách này được thực hiện gồm: mở rộng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dạy nghề, trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, chuẩn bị nguồn lực để đào tạo con em các dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, ưu đãi việc tuyển sinh vào các trường cao đẳng, đại học, thực hiện chế  độ  cử  tuyển;  mở  rộng  chương  trình  đào  tạo,  bồi  dưỡng  kiến  thức  cho  cán  bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ kỹ thuật về chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận,  Hay như, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách ưu tiên trong việc sử dụng và đãi ngộ ĐNCB DTTS; một mặt, sử dụng đan xen giữa cán bộ dân tộc đa số và cán bộ DTTS, nhằm tăng cường sự hỗ trợ nhau nâng cao năng lực và hiệu quả công tác; mặt khác, bồi dưỡng, phát triển ĐNCB tại chỗ cho từng vùng và từng dân tộc, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với cán bộ DTTS công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa…Tuy vậy, khi xem xét việc thực hiện các chính sách trong chiến lược này vẫn còn một số mặt hạn chế  như:  chất  lượng  cán  bộ  sau  khi  được  đào  tạo  chưa  cao,  nhất  là  về  mặt  trình  độ chuyên môn, kỹ thuật trong ĐNCB LĐ, QL các cấp; việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt trong việc đào tạo ĐNCB khoa học - kỹ thuật chưa gắn liền với quy hoạch phát triển  kinh  tế  -  xã  hội  của  từng  vùng  và  từng  dân tộc.  Hơn  thế  nữa  khi  xem  xét  thực 

Trang 13

có việc làm… Do đó cần tập trung nghiên cứu để đánh giá đúng thực trạng, phát hiện cấu trúc đặc thù, bất cập của các thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố tạo nên cấu trúc của ĐNCB ở khu vực miền núi, vùng DTTS. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp tái tạo cấu trúc ĐNCB LĐ, QL ở vùng miền núi và DTTS trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.  

Nghiên  cứu  cấu  trúc  xã  hội  (CTXH)  và  tái  CTXH  là  lĩnh  vực  mới  ở  Việt Nam; bước đầu đã được một số nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, sử học, chính trị học, kinh tế học,…Đặc biệt 

là những nghiên cứu xã hội học  về CTXH thường gắn với phân  tầng xã hội, phân hoá  giàu  nghèo  và  cho  rằng  sự  biến  đổi  CTXH  thường  gắn  liền  với  quá  trình  đổi mới  của  đất  nước  trong  giai  đoạn  hiện  nay  (theo  kinh  tế  thị  trường,  công  nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, toàn cầu hoá…). Những nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở cấp độ vĩ mô mà chưa đi vào vận dụng và phân tích một cách cụ thể (Nguyễn Đình Tấn, 2005). Theo thống kê (Lê Ngọc Hùng, 2010) có đến 43 bài viết bàn về CTXH đăng trên tạp chí Xã hội học của các tác giả trong và ngoài nước. Thông qua các bài viết này, chủ đề nghiên cứu CTXH đã có sự phát triển từ nghiên cứu thuần tuý lý luận đến khảo sát thực nghiệm, các tác giả đặc biệt quan tâm làm rõ vấn đề cơ cấu lao động - nghề nghiệp và cơ cấu phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới đất nước. Tuy nhiên cần phải nâng tầm nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về CTXH cả 

ở trạng thái "tĩnh tại" của các thành phần và mối quan hệ của chúng và cả trạng thái 

"sinh động" của sự hình thành, biến đổi, phát triển tức là quá trình cấu trúc hoá xã hội (Lê Ngọc Hùng, 2009). Từ thực tế này vấn đề đặt ra ở đây là cần thiết phải triển khai hướng nghiên cứu về CTXH để lý giải những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, chẳng hạn vấn đề cấu trúc của ĐNCB LĐ, QL ở khu vực miền núi trên cả hai phương diện 

lý thuyết và thực nghiệm. Mặc dù không có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ "cơ cấu 

xã  hội"  và  "cấu  trúc  xã  hội"  vì  đều  có  một  gốc  khái  niệm  cơ  bản  của  Xã  hội  học được biểu đạt trong tiếng Anh là "social structure", nhưng luận án này vẫn chủ yếu 

sử dụng thuật ngữ "Cấu trúc xã hội". 

Trang 14

Miền núi Nghệ An bao gồm 11 huyện (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn), chiếm khoảng 3/4 diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, là ngôi nhà chung của hơn  một triệu người thuộc nhiều dân tộc sinh sống trong đó có 7 dân tộc chính (Kinh, Thái, H'  Mông,  Khơ Mú, Ơ Đu,  Thổ  và  Đan  Lai).  Miền  núi  Nghệ  An  có  vị  trí  đặc  biệt quan trọng về mặt địa chính trị - kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung. Là một vùng đất rộng lớn và màu mỡ thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây nguyên liệu, cây ăn quả. Nghệ An có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng, khoáng sản  để  phát  triển,  mở  rộng  sản  xuất  nông  lâm  nghiệp  và  khai  khoáng  gắn  với công nghiệp chế biến. Ngoài ra, còn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh  thái,  lịch  sử,  văn  hoá.  Nhân  dân  các  huyện  miền  núi  Nghệ  An  có  truyền thống đoàn kết dân tộc, yêu nước nồng nàn. Trong những năm chiến tranh, người dân ở đây đã có những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đổi mới, dưới tác động của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, Nhân dân các huyện miền núi Nghệ 

An đã vươn lên từng bước làm chủ đất rừng, bước đầu hoà nhập vào sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được vẫn còn những tồn tại và hạn chế trong quá trình phát triển về mọi mặt của các huyện miền núi 

so với các huyện miền xuôi. Một trong những khó khăn đó là sự phát triển và sử dụng hiệu quả ĐNCB LĐ, QL cấp xã và huyện; đặc biệt là những hạn chế và giải pháp xây dựng phát triển ĐNCB nhìn từ phương diện CTXH.  

Từ  những  vấn  đề  đã  phân  tích  ở trên,  tác  giả  lựa  chọn đề  tài "Tái cấu trúc

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện miền núi Nghệ An" (Nghiên cứu trường hợp huyện Tương Dương) làm  chủ  đề  nghiên  cứu  luận  án  tiến  sĩ  chuyên 

Trang 15

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể như sau:  

- Nghiên  cứu  lý  thuyết:  hệ  thống  hóa  và  phân  tích  cơ  sở  khoa  học  của  cấu trúc và tái cấu trúc; các khái niệm về CTXH (cấu trúc xã hội), tái cấu trúc, lãnh đạo, quản lý, dân tộc thiểu số,  và các lý thuyết về cấu trúc xã hội, lãnh đạo, quản lý.  

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng:  sử dụng những phương pháp nghiên cứu liên ngành và xã hội học để phân tích thực trạng, các hình thức, mức độ tái cấu trúc 

về  mặt  nhân  khẩu  học,  trình  độ  chuyên  môn  kỹ  thuật  của  nhóm  cán  bộ  lãnh  đạo, quản  lý  ở  các  huyện  miền  núi  Nghệ  An  cụ  thể:  tái  cấu  trúc  về  độ  tuổi,  giới  tính, thành phần xuất thân, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, bằng cấp quản lý nhà nước, khối công tác và chức vụ.  

- Phân tích mức độ, hình thức của các yếu tố cơ chế, chính sách, tổ chức và những yếu tố thuộc về gia đình, nỗ lực cá nhân đã ảnh hưởng như thế nào đến tái cấu trúc xã hội đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. 

- Dự báo một số xu hướng tái cấu trúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý  

- Từ kết quả nghiên cứu khái quát lên một số quan điểm lý thuyết về tái cấu trúc xã hội của đội cán bộ lãnh đạo, quản lý đồng thời có thể nhận diện vấn đề đặt ra 

và nêu lên các khuyến nghị, giải pháp tái cấu trúc nhằm hoàn thiện cấu trúc xã hội của nhóm xã hội này ở các huyện miền núi Nghệ An. 

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu  của Đề tài là tái CTXH ĐNCB LĐ, QL ở các huyện miền núi Nghệ An. Cụ thể luận án sẽ đi sâu phân tích thực trạng, các mức độ, hình 

Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

Trang 16

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Như đã trình bày ở phần đối tượng nghiên 

cứu, các nội dung chính mà Luận án tập trung nghiên cứu là thực trạng, các mức độ, hình thức tái cấu trúc về các mặt nhân khẩu học, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ 

thuật, chức vụ và một số nhân tố ảnh hưởng, xu hướng tái cấu trúc ĐNCB LĐ, QL ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An hiện nay.  

- Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): 

Luận án tiến hành khảo sát định tính bằng quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, 

và điều tra định lượng bằng thống kê, bảng hỏi toàn bộ cán bộ LĐ, QL tại các xã, thị trấn (17 xã, 1 thị trấn) của huyện Tương Dương, Tỉnh Nghệ An cụ thể bao gồm các  xã  sau  đây:  Tam  Quang,  Tam  Đình,  Tam  Thái,  Tam  Hợp,  Thạch  Giám,  Xá Lượng, Lưu Kiền, Lượng Minh, Yên Na, Yên Tĩnh, Yên Hòa, Yên Thắng, Nga My, Xiêng My, Hữu Khuông, Nhôn Mai, Mai Sơn, thị trấn Hòa Bình và Huyện ủy, Uỷ 

ban nhân dân huyện. 

- Phạm vi thời gian (thời gian thu thập thông tin trên thực địa):

Phạm vi thời gian diễn ra quá trình tái cấu trúc mà luận án cần nghiên cứu. Các cuộc khảo sát, điều tra thực địa để thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu của Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng tháng 6 năm 2016. Nhiều cuộc phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp được bổ sung trong quá trình viết và xử lý số liệu của Luận án tiếp tục thực hiện từ sau tháng 6 năm 2016.  

4 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tương quan giữa các biến số 

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu  hỏi  1:  Tái  cấu  trúc  xã  hội  của  đội  ngũ  cán  bộ  lãnh  đạo,  quản  lý  ở  các 

môn kỹ thuật và chức vụ

Trang 17

Biến phụ thuộc

 Tái cấu trúc ĐNCB 

LĐ, QL: 

- Tái cấu trúc nhân khẩu - xã hội (tuổi, giới  tính,  thành phần xuất thân, dân tộc và tôn giáo) 

- Tái cấu trúc trình 

độ  chuyên  môn  kỹ thuật  (trình  độ  học vấn,  trình  độ  lý luận chính trị, quản 

lý  nhà  nước,  khối công  tác  và  chức vụ) 

Trang 18

- Các nguồn lực, nguồn vốn: Bao gồm các nguồn lực vật chất như tài chính, 

hiện  vật  và  nguồn  lực  tinh  thần  như  sự  khuyến  khích,  động  viên,  khích  lệ  của  cá nhân,  gia đình, tổ  chức,  cộng  đồng  mà  mỗi  người  có thể  tìm  kiếm, tiếp cận  và  sử dụng trong hành vi, hoạt động của mình.; Nguồn vốn xã hội, nguồn vốn văn hóa cho tái cấu trúc ĐNCB, quản lý. 

Các nguồn lực có thể là các điểm mạnh, ưu điểm, điều kiện của cá nhân và gia đình. Nhưng cũng có thể là sự ủng hộ, tạo điều kiện, sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, người quản lý và cơ quan nơi họ công tác. 

Nguồn lực liên quan đến yếu tố kinh tế, tài chính, thời gian, sức khỏe, năng lực, trình độ, sự hỗ trợ, quan tâm, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và lãnh đạo, mạng lưới các quan hệ xã hội… ở bản thân nhóm xã hội này. 

Nguồn vốn có thể là những kinh nghiệm trong quản lý hay có thể là những hiểu biết, trải nghiệm về văn hóa, phong tục tập quán  

-  Các  yếu đặc điểm nhân khẩu - xã hội:  như  giới  tính,  độ  tuổi,  trình  độ 

chuyên môn, nghề ngiệp, dân tộc, tôn giáo, vị thế chính trị; 

Trang 19

4.3.2 Biến phụ thuộc

Tái cấu trúc ĐNCB LĐ, QL cụ thể:  

- Tái cấu trúc nhân khẩu học (tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, dân tộc và tôn giáo). 

-  Tái  cấu  trúc  trình  độ  chuyên  môn  kỹ  thuật  (trình  độ  học  vấn,  trình  độ  lý luận chính trị, quản lý nhà nước, khối công tác và chức vụ). 

- Tái cấu trúc về số lượng ĐNCB LĐ, QL (sự tăng/giảm tổng số cán bộ LĐ, QL; sự tăng/giảm số lượng cán bộ LĐ, QL theo các khối công tác). 

4.3.3 Biến can thiệp

  - Các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường địa phương, cơ sở 

  - Bối cảnh đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa 

5 Điểm mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

5.1 Điểm mới của đề tài

 - Vận dụng lý thuyết xã hội học về tái cấu trúc để nghiên cứu sâu quá trình vận động, biến đổi của CTXH mà các nghiên hiện có ít quan tâm.  

-  Luận  án  được  hoàn  thành  sẽ  là  một  trong  những  công  trình  Xã  hội  học nghiên cứu có hệ thống về lý luận CTXH và tái CTXH của ĐNCB LĐ, QL khu vực miền núi và vùng DTTS. 

- Thực hiện đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra được một số khuyến nghị, giải  pháp  cơ  bản  nhằm  tái  cấu  trúc  ĐNCB  LĐ,  QL  khu  vực  miền  núi,  góp  phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước từ cơ sở, địa phương đến Trung ương. 

-  Nghiên  cứu  vận  dụng  các  lý  thuyết  xã  hội  học  để  tìm  hiểu,  phân  tích CTXH, nhằm làm rõ những đặc trưng và xu hướng biến đổi các phân hệ CTXH của ĐNCB LĐ, QL hiện nay.  

Trang 20

-  Góp  phần  phát  triển  thêm  một  số  khái  niệm  như:  các  phân  hệ  CTXH,  tái CTXH của ĐNCB LĐ, QL. 

- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chỉ đạo thực tiễn liên quan đến CTXH và tái CTXH. 

6 Kết cấu của luận án

Ngoài  phần  mở  đầu  và  kết  luận,  danh  mục  tài  liệu  tham  khảo  và  phụ  lục, phần nội dung chính của Luận án sẽ được chia thành 4 chương, 13 tiết

Trang 21

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ

THUỘC ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI 1.1.1 Nghiên cứu về khái niệm cấu trúc xã hội

Lịch sử lý thuyết xã hội học cho biết, CTXH (social structure) là đối tượng nghiên cứu của Xã hội học (phần lớn các cuốn sách nhập môn xã hội học trên thế giới  đều  dành  1  chương  bàn  về  CTXH);  và  cách  tiếp  cận  CTXH  thực  chất  là  dựa trên nền tảng xã hội học của A. Comte (1798-1857- cha đẻ của khoa học xã hội học, người Pháp) đó là: tĩnh học xã hội và động học xã hội. Về sau được các nhà xã hội học,  nhất  là  những  người  theo  trường  phái  chức  năng  -  cấu  trúc  tiếp  tục  bổ  sung, vận  dụng  và  phát  triển  (E.  Durkheim;  Ralph  Linton;  Talcott  Parsons;  Robert Merton, Athony Giddens, Peter Blau…). Ngoài ra, hướng tiếp cận CTXH còn được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin quan tâm thông qua việc phân tích về hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, CTXH được quy giản về CTXH-giai cấp với mối quan hệ chủ yếu là quan hệ đấu tranh giữa những giai cấp thống trị và những giai cấp bị thống trị, đặc biệt là đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản dưới chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa. Cấu trúc xã hội - giai cấp suy cho cùng do phương thức sản xuất và trao đổi quyết định, sự biến đổi CTXH suy cho cùng cũng do sự biến đổi về phương thức sản xuất và trao đổi quy định. 

Cấu trúc xã hội là một trong những khái niệm cơ bản trong lý thuyết và phân tích xã hội học. Cho đến nay nó đã trở thành một thuật ngữ được dùng rất phổ biến trong  xã hội  học  đương  đại. Quả thật,  khái niệm CTXH được  không  ít  nhà xã  hội học coi là một khái niệm hiển nhiên không cần bất cứ một định nghĩa rõ ràng nào. Tuy nhiên, chính điều này đã dẫn đến việc sử dung khái niệm này trong thực tế rất 

đa dạng. Chẳng hạn, như Từ điển Xã hội học Oxford định nghĩa: Cấu trúc xã hội là một thuật ngữ không chặt chẽ dùng để chỉ các dạng hành vi xã hội lặp đi lặp lại hay 

cụ thể hơn để chỉ các mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của một hệ thống xã hội hay một xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hay  một  nỗ  lực nào  để  đưa  ra một  định nghĩa  cô đọng  cho  thuật  ngữ  này  (Oxford 

Trang 22

Dictionary  of  Sociology,  2005).  Còn  trong  Từ  điển  Xã  hội  học  Collins  viết:  Cấu trúc xã hội là một dạng hay một  mối liện hệ của các thành tố xã hội tương đối ổn định  trong  một  xã  hội  cụ  thể.  Tuy  nhiên,  không  có  một  khái  niệm  đơn  nhất  về CTXH tồn tại trong lĩnh vực xã hội học, mặc dù thuật ngữ này vẫn được sự dụng khá phổ biến (Collins Dictionary of Sociology, 2005). Có thể kể ra đây các học giả 

mà tên tuổi của họ gắn liền với những công trình nghiên cứu bàn về chủ đề CTXH 

như sau: "The problem of sociology" (Vấn đề của xã hội học) của Simmel, G. [231]; 

"Elementary Forms of the Religious Life" (Các hình thức sơ khai của cuộc sống tôn giáo)  của  Durkheim,  E.  [208];  "Systematic Sociology" (Hệ  thống  xã  hội  học)  của 

Wiese-Becker [234]; "A Natural Science of Society" (Khoa học tự nhiên của xã hội)  của  Radcliffe-Brown,  A.  R.  [227];  "The Social Sytem" (Hệ  thống  xã  hội)  của 

Parsons, T. [222]; "The System of Modern Society" (Hệ thống xã hội hiện đại) của 

Parsons, T. [223]; "Culture and Behaviour in Handbook of Social Psychology" (Văn hoá  và  hành  vi  trong  cẩm  nang  tâm  lý  xã  hội)  của  Kluckhohn,  C.  [218];  "On

Theoretical Sociology" (Về lý thuyết xã hội học) của Robert Merton [229]; "Society as

symbolic interaction" (Sự  tương  tác  của  xã  hội)  của  George  Allen  &  Unwin.Blumer 

[210]; "Cognitive Sociology" (Xã hội học nhận thức) của Cicourel, A. V. [206]; "The

differentiation of society"  (Sự  khác  biệt  của  xã  hội)  của  Luckmann,  N.  [221]; 

"Inequality and Heterogeneity: A Primitive Theory of Social Structure" (Bất bình đẳng 

và tính không đồng nhất:  Lý thuyết nguyên  thủy của cấu  trúc xã hội) của Peter  Blau 

[224];  "The Social Associations" (Các  hiệp  hội  xã  hội)  của  Peter  Blau  [225];  "The

Constitution of Society" (Hiến pháp của xã hội) của Giddens, A. [212]; "Social Theory

and Modern Sociology"  (Lý  thuyết  xã  hội  và  xã  hội  học  hiện  đại)  của  Giddens,  A. 

[213]; "Sociology" (Xã hội học) của Giddens, A [214]; "The Body and Social Theory" 

(Lý  thuyết  cơ  thể  và  xã  hội)  của  Shilling,  C.  [230];  "Realist Social Theory: The

Morphogenetic Approach"  (Lý  thuyết  xã  hội  thực  tế:  Cách  tiếp  cận  Morphogenetic) 

của Archer, M. S. [204]; "Status and Roles Explain Social Behavior" (Tình trạng và vai trò giải thích hành vi xã hội) của Ralp Linton [228]… 

Trong lịch sử phát triển xã hội học đã có hai cách tiếp cận về CTXH. Cách tiếp  cận  thứ  nhất  cho  rằng,  CTXH  là  cấu  trúc  mang  tính  thiết  chế  (thể  chế.  (E. Durkheim,  1893;  Alfred  Kroeber,  1945;  Linton,  1945;  Kluckhohn,  1954;  Richard, 

Trang 23

1957;  Luckmann,  1966;  T.  Parsons,  1971;  Archer,  1988).  Theo  cách  này  CTXH được xem là một tập hợp các chuẩn mực và văn hóa để tạo thành các mối quan hệ 

ổn định giữa các thành viên trong một xã hội. Trong khi đó, một trường phái khác lại coi CTXH như một dạng cấu trúc quan hệ bao gồm các mối quan hệ xã hội ổn định,  bền  vững  (Simmel,  1908;  Wiese-Becker,  1932;  Radcliffe-Brown,  1937; Walby, 1990). Ở đây CTXH được hiểu là các mối liên hệ nhân quả và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm xã hội cũng như hoạt động của các nhóm xã hội và địa vị của chúng. Thực tế đã cho thấy, những người theo trường phái cấu trúc mang tính thiết chế thường coi cấu trúc quan hệ như là thứ yếu, và ngược lại những người ủng 

hộ cấu trúc quan hệ lại xem nhẹ cách hiểu CTXH như là cấu trúc thiết chế. 

Trong  những  năm  gần  đây  do  sự  phát  triển  của  các  ngành  khoa  học  khác như:  nhân  học  ngôn  ngữ,  nhân  học  và  tâm  lý  học  (Herbert  Blumer,  1962;  Aaron Cicourel,  1972;  Giddens,  1981;  Walby,  1990;  Turner,  1991;  Sawicki,  1991; Shilling,  1993;  Bartky,  1997)  đã  có  một  cách  hiểu  mới  về  CTXH.  Cách  hiểu  này cho rằng CTXH giống như cấu trúc ngữ pháp của một bài diễn thuyết hay của một văn bản viết. Theo quan điểm này các dạng thiết chế hay quan hệ đều bắt nguồn từ hoạt động của mỗi cá nhân với khả năng hay năng lực khiến họ hành động theo cách 

đã được sắp đặt. Khả năng là sự sắp đặt mang tính hành vi do đó CTXH được xem như  là  cấu  trúc  biểu  hiện.  Cấu  trúc  biểu  hiện  được  thấy  trong  thói  quen,  trong  kỹ năng có trong cơ thể và trí tuệ của con người cho phép họ tạo, tái tạo ra và thay đổi cấu trúc thiết chế và cấu trúc quan hệ. Ý tưởng về cấu trúc biểu hiện có xu hướng tự coi nó như là mặt cơ bản nhất của CTXH. 

Từ ba cách tiếp cận trên có thể rút ra kết luận rằng: CTXH là một khái niệm 

để chỉ 3 khía cạnh liên hệ chặt chẽ với nhau  của một tổ chức đời sống xã hội bao 

gồm: cấu trúc thiết chế, cấu trúc quan hệ và cấu trúc biểu hiện. Cấu trúc xã hội phụ 

thuộc vào sự tồn tại của con người hoạt động trong các thiết chế, song bản thân con người không thể bị quy về các hoạt động đó, vì thế họ không thể bị loại bỏ ra khỏi các phân tích xã hội học. Đương nhiên các hoạt động phải luôn được cấu trúc bởi các bối cảnh xã hội mà chúng đang xảy ra. Về nguyên tắc, không có hoạt động xã hội nào 

mà lại không có CTXH. Để làm rõ hơn những kết quả nghiên cứu về CTXH của các nhà xã hội học trên thế giới có thể đi vào phân tích cụ thể hơn một số khuynh hướng và thành tựu cụ thể trong nghiên cứu CTXH trên thế giới. Chẳng hạn:  

Trang 24

- Lý thuyết hành vi xã hội của Ralph Linton (1893-1953) giải thích về vị thế vai trò trong CTXH. Ralph Linton (là nhà nhân học văn hoá người Mỹ-Người đầu 

tiên sử dụng khái niệm vai trò-vị thế để nghiên cứu cấu trúc bên trong của hệ thống 

xã hội). Theo quan niệm của Linton vị thế là vị trí trong CTXH với những quyền lợi 

và nghĩa vụ tương ứng và vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của những người khác xung quanh. Ông đặt ra vấn đề bằng cách nào mà xã hội quy định hành 

vi của con người? Tại sao con người luôn phải thực hiện những vai trò tương ứng với vị thế gán cho hay giành được từ xã hội. Theo Linton, một cá nhân trong xã hội, tất  yếu  nắm  giữ  nhiều  vị  thế  và  mỗi  một  vị  thế  có  ít  nhất  một  vai  trò  kèm  theo. Trong CTXH đã có những vị thế có sẵn để gán cho các cá nhân, nhóm người và các nguồn lực mới có thể giành được. Cấu trúc xã hội không đơn giản áp đặt vai trò lên con người và con người cũng không thụ động chờ đợi xã hội ban phát hay gán cho 

vị thế nhất định. Ngược lại con người luôn có thể tích cực, chủ động tham gia vào các quan hệ với xã hội và bằng những nỗ lực của  mình để giành lấy những vị thế nhất định cho họ. Tuy nhiên, Linton chưa đề cập đến vấn đề cơ bản và quan trọng là con người có khả năng biến đổi các vị thế đang có trong xã hội và có khả năng sáng tạo ra những vị thế mới, vai trò mới cho xã hội, bằng cách đó con người có thể biến đổi các mối tương tác xã hội và toàn bộ CTXH mà họ là thành viên. 

- Lý thuyết hệ thống xã hội về cấu trúc vai trò của Talcott Parsons 1979) nhà xã hội học người Mỹ. Bộ khung lý thuyết này được Parsons phác họa và 

(1902-kiểm chứng qua phân tích trường hợp thực hành y tế trong cuốn sách Hệ thống xã

hội  xuất  bản  năm  1951.  Với  lý  thuyết  này  ông  xem  xét  sự  tham  gia  của  mỗi  một 

nhân vật trong hệ thống xã hội trên hai phương diện. Một là, ở vị trí tĩnh tại, đó là nơi nhân vật định vị vị trí của mình trong mối liên hệ với các cá nhân khác trong hệ thống xã hội, tức vị thế xã hội. Hai là, phương diện quá trình tức là mặt động thái: 

đó là những gì mà nhân vật thực hiện trong mối liên hệ với các nhân vật khác trong bối cảnh có ý nghĩa chức năng đối với hệ thống xã hội, tức là vai trò xã hội. Ông cho rằng hệ thống các vai trò xã hội khác nhau là hệ thống xã hội theo nghĩa hẹp. Tương tự như vậy, có thể hiểu CTXH là cấu trúc vai trò. Theo Parsons, CTXH của 

hệ  thống  xã  hội  bao  gồm  4 đơn  vị  của  hệ thống xã  hội:  hành  động  xã  hội  do  một người  thực  hiện  và  được  định  hướng  vào  một/nhiều  người  khác  như  là  khách  thể 

Trang 25

của hành động; tập hợp vị thế, vai trò với tư cách là tiểu hệ thống có tổ chức của các hành động của một/nhiều người đang nắm giữ những vị thế tương tác và hành động theo  một  định  hướng  tương  tác  nhất  định;  bản  thân  nhân  vật  với  tư  cách  là  1  hệ thống của các vị thế vai trò gắn với họ như là một khách thể xã hội và như là một tác giả của một hệ thống các hành động vai trò; và đơn vị thứ 4 của hệ thống xã hội 

là một tập thể với tư cách vừa là nhân vật vừa là khách thể. Parsons cho rằng vị thế 

là mặt tĩnh tại và vai trò là mặt động thái của một đơn vị của hệ thống xã hội, nó trả lời cho câu hỏi người đó có vị trí nào; phải làm gì trong mối liên hệ với người khác 

và hệ thống xã hội. 

- Quan niệm về hệ vai trò trong CTXH: Robert Merton (1910-2003) nhà xã

hội học người Mỹ. Mối quan tâm của Merton khi nghiên cứu về thuyết vị thế & vai 

trò là tìm cách trả lời cho câu hỏi: vị thế xã hội được hình thành như thế nào trong một CTXH? Khác với Ralp Linton, Merton cho rằng mỗi một vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà là hàng loạt vai trò, tức tập hợp vai trò. Merton đưa ra khái niệm: 

hệ vai trò để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế xã hội nhất định. Hệ vai trò thực chất là hệ thống các  chức  năng  và  phản  chức  năng,  chức  năng  trội  và  chức  năng  lặn  có  liên  quan chặt  chẽ  với  nhau.  Lý  thuyết  hệ  vai  trò  của  Merton  cho  biết  vị  trí  mà  một  người chiếm giữ trong CTXH sẽ quyết định tập hợp vai trò của người đó và sự khác nhau đến mâu thuẫn và đối kháng về lợi ích đều bắt nguồn từ sự khác nhau về vị thế xã hội trong CTXH vĩ mô. Theo đánh giá của tác giả Lê Ngọc Hùng thì: Lý thuyết tầm trung  bình  của  Merton  về  hệ  vai  trò  hay  tập  hợp  vai  trò  đặt  ra  một  loạt  vấn  đề nghiên cứu quan trọng trong Xã hội học. Đó là sự tìm hiểu sự tác động của CTXH đối với việc hình thành hệ vai trò. Đó là xem xét cách thực hiện hệ vai trò để đảm bảo tính cân bằng, ổn định và giải quyết những  mâu thuẫn xung đột có thể xảy ra giữa các vai trò. 

- Hướng nghiên cứu CTXH vĩ mô của Peter Blau (1918-2002) nhà xã hội học

người Mỹ. Trong cuốn sách "Bất bình đẳng và sự hỗn tạp", 1977, Ông cho rằng nhất 

định phải có cái gì để tạo nên sự liên kết xã hội, một loại quan hệ xã hội nào đó có khả năng tạo ra sự thống nhất xã hội. Theo Ông, sự kết hợp của các nhóm, các tầng lớp xã hội khác nhau thành một thể thống nhất không thể chỉ dựa vào mối quan hệ 

Trang 26

phụ thuộc lẫn nhau về mặt chức năng mà đòi hỏi sự tương tác xã hội thực sự giữa các thành viên. Do vậy, nhiệm vụ của Xã hội học là phải chỉ ra được các tác nhân cấu trúc của mối tương tác đó để hiểu sự thống nhất xã hội. Theo Ông, có hai loại đặc điểm cơ bản của CTXH quy định vị trí, vai trò và mối liên hệ xã hội của các cá nhân. Loại đặc điểm thứ nhất là đặc điểm danh nghĩa (định tính bằng tên gọi) cho biết bản chất của sự vật, hiện tượng xã hội. Nhờ chúng mà các cá nhân được phân ra thành  từng  loại,  từng  nhóm  khác  nhau  về  tên  gọi  chứ  không  phải  về  thứ  bậc  cao thấp,  trên  dưới.  Ví  dụ  đặc  điểm  về  giới  tính,  dân  tộc,  tôn  giáo,  đảng  phái,  nghề nghiệp… Loại đặc điểm thứ hai là đặc điểm mức độ (định lượng) nhờ nó mà các cá nhân phân hoá thành từng loại, từng nhóm khác nhau về mức độ nhiều ít, cao thấp, trên dưới, Ví dụ các đặc điểm về mức thu nhập, trình độ học vấn, chuyên môn, mức 

độ uy tín, quyền lực… Theo Peter Blau, tương ứng với hai loại đặc điểm này là 2 kiểu CTXH như sau: (1) Dựa vào đặc điểm danh nghĩa, có kiểu CTXH không đồng nhất - kiểu cấu trúc hàng ngang gồm các nhóm người khác nhau về tên gọi nhưng giống nhau về cấp bậc, tầng lớp; (2) Dựa vào đặc điểm mức độ, có kiểu CTXH bất bình đẳng - kiểu CTXH hàng dọc bao gồm các nhóm người khác nhau về vị thế trên dưới,  cao  thấp.  Các  kiểu  CTXH  như  vậy  đều  có  thể  tạo  ra  những  hàng  rào  hoặc những  cơ  hội  cho  sự  tương  tác xã  hội,  tức là thống nhất  xã  hội. Sự  đóng  góp  của Peter Blau đối với nghiên cứu CTXH không thể không kể đến việc Ông sử dụng Lý thuyết trao đổi xã hội để nghiên cứu CTXH vi mô và vĩ mô. 

Lý thuyết trao đổi xã hội trong nghiên cứu CTXH vi mô và vĩ mô. Với cách 

tiếp cận này Peter Blau đã phân biệt các hình thái quyền lực trong nhóm 2 người và nhóm đông người với hai loại CTXH. Cấu trúc xã hội vi mô bao gồm các cá nhân tương  tác với  nhau  tạo thành,  còn  CTXH  vĩ mô  bao gồm các  nhóm  tương  tác  với nhau  tạo  thành.  Hai  hình  thái  CTXH  này  đều  có  những  đặc  điểm  giống  nhau  do cùng bắt nguồn từ quá trình hấp dẫn xã hội, trao đổi xã hội và chống đối, mâu thuẫn giữa các cá nhân và giữa các nhóm. Bên cạnh đó, hai loại CTXH này cũng có những đặc điểm khác nhau cơ bản như: Cấu trúc xã hội vi mô được hình thành trên cơ sở của sự nhất trí về hệ giá trị, chuẩn mực chi phối các hành động và quan hệ giữa các yếu tố tạo thành cấu trúc; Cấu trúc xã hội vĩ mô luôn bao gồm các các mối liên hệ phức tạp của cấu trúc bộ phận và các cấu trúc vi mô; và cấu trúc vĩ mô có tính bền 

Trang 27

sẽ cho tần suất lớn hơn so với nhóm có quy mô lớn hơn (vì tử số như nhau mẫu số tăng thì giá trị thương số sẽ giảm). Tuy nhiên, trên thực tế ít nhà khoa học thực sự chú ý và nhận thấy rõ sự tác động của quy mô nhóm tới mối tương tác xã hội của các thành viên. 

+  Định đề sự liên kết xã hội tỷ lệ thuận với sự không đồng nhất.  Qua  việc 

nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm của CTXH với sự thống nhất xã hội Peter Blau đã khái quát được một số định đề quan trọng, ví dụ như sau: sự không đồng nhất càng lớn thì các nhóm phân hoá càng nhỏ và do vậy càng tăng khả năng liên kết giữa các nhóm nhỏ. Điều này được phản ánh qua phương châm quản lý đảm bảo:  sự  thống  nhất trong  đa  dạng của  lợi  ích, sáng  kiến  và  hành động  xã  hội.  Các nghiên cứu về các nhóm không đồng nhất về nghề nghiệp, ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc cho thấy mối tương quan rõ rệt giữa quy mô nhóm với quan hệ giữa các nhóm đúng  như  định  lý  của  Peter  Blau:  quy  mô  nhóm  nhỏ  và  sự  không  đồng  nhất  của nhóm làm tăng mối liên hệ giữa các nhóm tức làm tăng sự thống nhất xã hội. 

+ Định đề tương tác xã hội làm tăng sự liên kết xã hội. Peter Blau đưa ra một 

định lý nữa, đó là sự giao kết và tương tác hợp đồng góp phần củng cố mối liên hệ giữa các nhóm; còn sự hợp nhất làm giảm mối liên hệ giữa các nhóm. Điều này liên quan  tới  vấn  đề  phân  hoá  xã  hội  và  sự  phân  công  lao  động  trong  xã  hội  mà Durkheim đã từng nói tới khi bàn đến sự đoàn kết xã hội. Theo Durkheim, sự phân 

Trang 28

công  lao động càng  cao,  chuyên  môn  hoá  càng  sâu  sắc  thì càng  làm  tăng  sự phân hoá xã hội, làm tăng sự phụ thuộc chức năng lẫn nhau giữa các thành viên trong xã hội. Nhưng Peter Blau cho rằng sự phân công lao động xã hội không nhất thiết tạo 

ra sự thống nhất xã hội, hội nhập xã hội. Mà sự đoàn kết xã hội phụ thuộc chủ yếu vào mối tương tác thực sự giữa các cá nhân thành viên khác nhau trong xã hội. Trên thực tế các cá nhân có thể phụ thuộc lẫn nhau nhưng lại không trực tiếp gặp gỡ trao đổi  với  nhau,  do  vậy  cũng  khó  có  thể  tạo  ra  được  sự  thống  nhất,  đoàn  kết  xã  hội thực  sự.  Như  vậy, Peter Blau  nhấn  mạnh  vai  trò  quan  trọng  của  mối  tương  tác  xã hội thực sự diễn ra giữa các cá nhân đối với sự hội nhập, thống nhất xã hội. 

1.1.2 Nghiên cứu lý thuyết cấu trúc hoá của Anthony Giddens

Anthony Gidden (1938) nhà xã hội học người Anh Khái niệm Structuration 

được Giddens sử dụng để chỉ quá trình phát sinh, vận động và tái tạo các hệ thống của  mối  tương  tác  xã  hội  thông  qua  "tính  hai  mặt  của  CTXH"  hay  "tính  nhị  phân của cấu trúc". Tính nhị phân của cấu trúc hay Tính hai mặt của CTXH hay là quá trình tổng - tích hợp các quy tắc xã hội và các nguồn lực xã hội mà con người vừa tạo ra và vừa sử dụng trong đời sống. Theo Anthony Giddens, cấu trúc gồm các quy tắc và các nguồn lực được sử dụng trong quá trình tái tạo các hệ thống xã hội. Các quy tắc cho biết con người phải làm gì và làm như thế nào khi tương tác xã hội, còn nguồn lực vật chất - tinh thần giúp con người đạt được mục đích của họ. Luận điểm cốt lõi nhất của Lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH là con người với tư cách là những chủ thể - diễn viên, người hành động luôn tái tạo ra các CTXH, đồng thời hành động của họ bị CTXH quy định. Thông qua các hành vi, hoạt  động  của  mình,  con  người  tạo  dựng,  thay  đổi  những  CTXH  mà  họ  là  thành viên. Tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH diễn ra trong thời gian, không  gian  và  trong  suốt  cuộc  sống  của  mỗi  cá  nhân.  Nhờ  mặt  tích  cực  của  hành động cá nhân mà CTXH được tái tạo một cách sinh động, liên tục chứ không máy móc. Ông chỉ ra một số yếu tố tác động tới sự tái tạo xã hội mang tính 2 mặt hành động và cấu trúc. Trong số đó có sự hiểu biết lẫn nhau, sự tự chủ, sự tin cậy, thói quen  và  những  yếu  tố  khác  nhau  thuộc  về  điều  kiện  bên  trong  và  điều  kiện  bên ngoài.  Với  việc  đưa  ra  lý  thuyết  tính  nhị  phân  của  cấu  trúc  hay  tính  hai  mặt  của CTXH, Anthony Giddens hy vọng giải quyết được những vấn đề "tiến thoái lưỡng 

Trang 29

nan" của Lý thuyết xã hội học giữa một bên là Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) còn  bên  kia  là  Chủ  nghĩa  hành  vi  (Behaviourism),  một  bên  là  Thuyết  cấu  trúc (Structure Theory) và bên kia là Thuyết hành động (Action Theory). Lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH nhấn mạnh tính chất hai mặt của hành  động  người  và  CTXH  cũng  như  nói  đến  quá  trình  chuyển  hoá  và  tái  tạo  lẫn nhau  của  chúng.  Bên  cạnh  đó,  Lý  thuyết  đó  còn  bổ  sung  khái  niệm  "hội  nhập  xã hội" để chỉ sự tương tác trong hệ thống xã hội và khái niệm "hội nhập hệ thống" chỉ 

sự hội nhập giữa các hệ thống xã hội; sự khác biệt giữa "mâu thuẫn xã hội" và "mâu thuẫn hệ thống". Tuy nhiên, Quan điểm lý thuyết tính nhị phân của cấu trúc hay tính hai mặt của CTXH của Anthony Giddens không phải là cách tiếp cận lý thuyết duy nhất để thấu hiểu và hóa giải tình trạng song đề lý thuyết (theoretical dilemma) giữa 

"Cấu trúc (Structure) và Hành động (Action)" trong Xã hội học đương đại. Cho đến nay đã có nhiều cách tiếp cận lý thuyết khác cũng có hạt nhân hợp lý, đáng lưu ý là: 

M. Archer khi xem xét mối quan hệ phức hợp giữa Culture (Văn hóa) mang tính cấu trúc và Agency (Tác nhân) là Chủ thể hành động đã cho rằng không có vấn đề thay thế Quan điểm lý thuyết nhị nguyên (Dualism) bằng Quan điểm lý thuyết nhị phân (Duality Theory) như A. Giddens đã giả định, mà có vấn  đề lựa chọn Nhị nguyên hay Nhị phân một cách phù hợp với đối tượng cụ thể trong bối cảnh cụ thể; hay P. Bourdieu cho rằng không đơn giản chỉ là Nhị phân như A. Giddens đã nhấn mạnh, 

mà hơn thế nữa là sự tương tác thường xuyên giữa Habitus (Tập tính của Hành động 

có  đặc  trưng  chủ  quan  của  Chủ  thể)  và  Fild  (Trường  có  đặc  trưng  cấu  trúc  khách quan của hoàn cảnh xã hội); bởi vì theo P. Bourdieu thì Tập tính thực chất là sự chủ quan hóa các đặc trưng khách quan của Trường, ngược lại, Trường thực chất là sự khách quan hóa các đăc trưng chủ quan của Tập tính (G. Ritzer, 2000: 521- 552). 

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài, ta thấy hướng nghiên cứu CTXH là một nội dung quan trọng và cơ bản, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà xã hội học nổi tiếng trên thế giới trong lịch sử phát triển của Xã hội học. Bản  thân  hướng  nghiên  cứu  CTXH  cũng  được  các  nhà  xã  hội  học  tiếp  cận  trên nhiều khía cạnh, cấp độ với mức độ thành công và hạn chế khác nhau. Tuy nhiên, các kết luận trong nghiên cứu lý thuyết về CTXH thường bị cho rằng thiếu các bằng chứng thực nghiệm cần thiết, hoặc tính nhất quán chưa cao và đôi khi khó hiểu/xa lạ 

Trang 30

đối  với  không  ít  các  nhà  xã  hội  học  có  chịu  ảnh  hưởng/theo  trường  phái  mácxít. Điều này đặt ra, là cần phải phải nghiên cứu về CTXH với sự vận dụng, phối hợp một cách nhuần nhuyễn trên cả hai cấp độ: lý luận và thực nghiệm tại Việt Nam. 

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về thực trạng và biến đổi cấu trúc xã hội ở Việt Nam

 Tại Việt Nam khi nghiên cứu/đề cập đến CTXH thường được phiên giải thành thuật ngữ khá quen thuộc là "cơ cấu xã hội", đồng thời được đặt dưới nhiều lát cắt của các khoa học khác nhau, như: triết học, sử học, kinh tế học, chính trị học, và xã hội học. Cho đến nay, ở Nước ta đã có một số công trình nghiên cứu lý luận và phương pháp về những vấn đề CTXH trong bối cảnh CNH, HĐH, và hội nhập quốc tế. Các nghiên cứu 

đã cung cấp cho chúng ta những số liệu thống kê, phân tích, đánh giá khái quát và khá sâu  sắc  theo  nhiều  chiều  cạnh  khác  nhau  về  những  vấn  đề  liên  quan  đến  CTXH  và những nguy cơ, tệ nạn xã hội trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay. Đặc biệt các nghiên cứu đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết sâu hơn về những vấn đề lý luận 

và phương pháp tiếp cận CTXH dựa trên sự phân tích khái niệm về cơ cấu xã hội, các loại hình cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội - giai cấp với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội. Nhóm tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cơ cấu xã hội - giai cấp, đặt nó ở vị trí trung tâm, quan trọng nhất và coi đó là yếu tố cốt lõi làm 

tiêu chí để phân định bản chất của từng xã hội. "Cơ cấu xã hội Việt Nam và những vấn

đề xã hội bức xúc trong quá trình đổi mới"  của  Đỗ  Nguyên  Phương,  Nguyễn  Xuân 

Kiên  [143];  "Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai đoạn

hiện nay" của Đỗ Nguyên Phương [142]

Cũng  cần  phải  kể đến  những  nghiên  cứu  rất  sớm  trong  thời  kỳ  đầu  của  đổi mới. Nghiên cứu này đã áp dụng lý luận về cơ cấu xã hội để phân tích vấn đề "phân tầng  xã  hội"  và đo  lường  sự  phân  tầng  xã  hội  về mặt  mức  sống  [121]. Có  thể tìm hiểu CTXH mức sống thông qua các mô hình phân tầng xã hội về mức sống. Mức sống là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự biến đổi cấu trúc thông qua sự phân tầng giữa các nhóm có thu nhập khác nhau. Các tác giả của nghiên cứu trên đã xây dựng được một số chỉ báo để đo lường sự phân hóa giàu nghèo về mức sống của người dân Hà Nội, trong đó nổi bật lên 4 chỉ báo quan trọng là: điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu và thu nhập. Điều đặc biệt ở nghiên cứu này là đã 

Trang 31

 Cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục thống kê thực hiện với  sự  hỗ  trợ  của  UNDP  và  các  chuyên  gia  quốc  tế  vào  năm  1992-1993.  Bằng phương pháp chọn mẫu với quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc, nghiên cứu này đã 

mô  tả  được  bức  tranh  CTXH về  mức sống,  về  thực trạng  phân  hóa  giàu  nghèo  và bất bình đẳng xã hội trên các khía cạnh kinh tế, giáo dục, sức khỏe của các nhóm hộ gia đình và các nhóm dân cư Việt Nam [181]. 

Nghiên cứu: "Những vấn đề cơ cấu xã hội và sự phát triển ở một xã hội nông

thôn Nam Bộ" của tác giả Đỗ Thái Đồng [46]. Đây là một trong những bài viết sớm 

vận  dụng  lý  luận  và  phương  pháp  tiếp  cận  nghiên  cứu  CTXH  dưới  góc  độ  xã  hội học  để  nghiên  cứu  cơ  cấu  xã  hội  nông  thôn  ở  nước  ta sau thời  kỳ  đổi  mới.  Trong nghiên cứu này  tác giả đã chỉ ra  những yếu tố cản trở, bất hợp lý trong lực lượng sản xuất ở nông thôn Nam Bộ thời kỳ mới bắt đầu đổi mới đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển lực lượng sản xuất. 

Hiểu  rõ  bản  chất  khoa  học  cũng  như  việc  nhận  thức  đúng  về  mặt  lý  luận  và 

phương pháp khi tiếp cận nghiên cứu CTXH là cơ sở để xây dựng, thực hiện các chính 

sách có liên quan đến CTXH nói chung [98]. Hơn thế nữa nó cũng giúp cho chúng ta hiểu được bản chất của CTXH là thuộc tính và quá trình vận động của bất kỳ xã hội nào; CTXH phản ánh đầy đủ và chính xác các kiểu quan hệ giữa con người và xã hội, 

hệ thống CTXH bao gồm các giai tầng, các nhóm nhóm, các thành tố và mối quan hệ của chúng  tạo nên xã hội Việt Nam  đang  trên  đường đổi  mới và  phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới [89, tr.29-37; 66, tr.82-90]. 

Công trình: "Mấy nét sơ bộ về sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta

khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"  của  tác  giả 

Phạm  Xuân  Nam  [118]  đã  bàn  về  việc  sử  dụng  cơ  sở  lý  luận,  phương  pháp  luận trong nghiên cứu sự biến đổi về cơ cấu xã hội - giai cấp ở Nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã chỉ ra sự thay đổi về 

cơ cấu xã hội - giai cấp từ tương đối thuần nhất chuyển sang cơ cấu xã hội - giai cấp 

đa dạng và cũng dựa vào xu hướng vận động, biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp 

mà đưa ra một số dự báo về triển vọng trong tương lai. 

Trang 32

Bằng sự phân tích khái niệm cơ cấu xã hội và mối liên hệ của nó với cơ cấu kinh tế, tác giả đã chỉ ra rằng sự phát triển hay thoái bộ của xã hội có nguồn gốc nội sinh từ những biến đổi của cơ cấu xã hội mà nguyên nhân sâu xa suy cho cùng là những biến đổi trong sản xuất, trong kinh tế, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, sự xung đột lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, tập đoàn xã  hội. Với cách hiểu và khái quát về phương diện lý luận của cơ cấu xã hội như vậy chúng ta có thể soi vào thực tiễn đổi mới hơn 25 năm qua để thấy được những biến đổi trong cơ cấu 

xã hội của nước ta [162, tr.49-58].  

Công  trình:  "Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam"  của  tác  giả  Tạ 

Ngọc  Tấn  [164]  khi  nghiên cứu,  phân  tích  sự  biến đổi  cơ cấu  xã  hội  Việt Nam  từ năm  1945  đến  2010,  đã  phát  hiện  ra  những  nguyên  nhân  bên  trong  và  bên  ngoài, khách quan và chủ quan tác động, làm biến đổi cơ cấu xã hội ở từng giai đoạn lịch 

sử cụ thể; qua đó đánh giá tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực của biến đổi cơ cấu xã hội trong 25 năm đổi mới (từ 1986-2010), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm giúp cho sự phát triển của đất nước trong những năm sắp tới. Hơn thế nữa còn đưa 

ra dự báo xu hướng và giải pháp nhằm tạo ra sự biến đổi một cách tích cực để phát triển đất nước một cách bền vững. 

Công  trình:  "Phân tích cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học"  của  tác  giả 

Nguyễn Đình Tấn [155] khi phân tích cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học  đã khẳng định vai trò của lý luận, lý thuyết về cơ cấu xã hội trong các công trình nghiên cứu của Xã hội học nói riêng và các ngành Khoa học xã hội khác nói chung. Công trình: 

"Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội"  của  tác  giả  Nguyễn  Đình  Tấn  [159]  đã  vận 

Trang 33

Nghiên  cứu  của  các  tác  giả  Tương  Lai,  Nguyễn  Quang  Ngọc,  Phạm  Ngọc Quang đã có những đóng góp đáng kể cho việc nhận thức khoa học, lý luận về cơ cấu xã  hội,  điểm  chung của  các  nghiên cứu  này  là tiếp  cận  cơ  cấu  xã hội  gắn  với phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, cũng như sự vận động biến đổi của cơ cấu 

xã hội gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay (kinh tế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, toàn cầu hoá…). Đồng thời, chủ yếu dừng lại ở cấp độ mô tả, phân tích hiện tượng, thông qua đó rút ra những kết luận được phiên giải bởi nhiều khía cạnh tiếp cận khoa học khác nhau. Đặc biệt, khi tiếp cận cơ cấu xã hội các nghiên cứu thường quan tâm đến cơ cấu xã hội-giai cấp theo tiêu chí của chủ nghĩa Mác mà ít đề cập một cách phù hợp đối với các lý thuyết phi mácxít; thường nhấn mạnh cơ cấu ở khía cạnh tĩnh tại, biệt lập hơn là sự vận động phát triển đan xen phức hợp; nói đến bề nổi hơn là chiều sâu của vấn đề; nói đến sự khác biệt hơn là thống nhất, hoặc nói về sự đoàn kết xã hội mang nặng yếu tố chính trị quy giản hơn là thực sự quan tâm đến việc tạo ra sự đồng thuận, liên kết xã hội dựa trên những tiên đề mà các nhà xã hội học khi nghiên cứu về CTXH 

trên  thế  giới  đã  khẳng  định,  nhất  là  của  Ralph  Linton;  Talcott Parsons;  Robert 

Merton, Athony Giddens, Peter Blau…như đã trình bày ở phần trên [99; 123; 145].  

 Nếu chỉ tính các bài viết đăng tải trên tạp chí Xã hội học từ năm 1986 đến 

2009, theo thống kê của tác giả Lê Ngọc Hùng chủ đề bàn về cơ cấu xã hội đã có 43 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước. Trong đó, nổi bật lên việc khẳng định: 

cơ cấu xã hội là một khái niệm cơ bản và đối tượng nghiên cứu quan trọng của Xã hội học. Bên cạnh đó, thông qua các bài viết này, chủ đề nghiên cứu cơ cấu xã hội 

đã có sự phát triển từ nghiên cứu thuần tuý lý luận đến khảo sát thực nghiệm về cơ cấu xã hội. Đặc biệt, đã quan tâm làm rõ vấn đề cơ cấu lao động- nghề nghiệp và cơ cấu phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, theo tác giả 

Lê Ngọc  Hùng,  một  trong  những  vấn  đề  đặt  ra đối  với  nghiên  cứu  có  tính  cơ  bản của Xã hội học ở Việt Nam hiện nay chính là cần phải tiếp cận thuật ngữ "CTXH" thay vì thuật ngữ "cơ cấu xã hội", và cần phải nâng tầm nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về CTXH cả ở trạng thái "tĩnh tại" của các thành phần và mối quan hệ của chúng và cả trạng thái "sinh động" của sự hình thành, biến đổi, phát triển tức là qúa trình cấu trúc hoá xã hội. Cũng theo tác giả Lê Ngọc Hùng thì cần phải chuyển sang 

Trang 34

khái niệm "CTXH" để nhấn mạnh rằng CTXH là thuộc tính và quá trình vận động của  bất  kỳ  xã  hội  nào.  Đồng  thời,  để  phản  ánh  đầy  đủ  và  chính  xác  hơn  các  kiểu quan hệ giữa con người và xã hội; biểu hiện ra là hệ thống xã hội được cấu trúc hoá 

từ các giai tầng, các nhóm nhóm, các thành tố và mối quan hệ của chúng tạo nên xã hội Việt Nam đang trên đường CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới [69, tr.85-97].  

Xuất phát từ quan niệm hệ thống là tập hợp các yếu tố phân hóa nhau và cấu trúc với nhau tạo thành chỉnh thể khác biệt và mở với môi trường. Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Hùng đã cung cấp cho chúng ta cách tiếp cận lý  thuyết hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội. Qua đó gợi mở cho chúng ta cách thức sử dụng những tri thức xã hội học về hệ thống, cấu trúc và phân hóa xã hội để thu thập, xử lý, phân tích và đánh giá các vấn đề xã hội đặc biệt là những vấn đề tiêu cực cần kiểm soát như: sai lệch xã hội, bất bình đẳng xã hội  Khi đề cập đến vấn đề phân hóa xã hội 

và CTXH ở Việt Nam tác giả cho rằng: trong quá trình đổi  mới đất nước vừa qua CTXH Việt Nam đã biến đổi mạnh theo hướng phân hóa xã hội từ một cấu trúc giai cấp kiểu cũ đặc trưng cho thời kỳ kinh tế quan liêu, bao cấp sang CTXH kiểu mới đặc trưng cho thời kỳ kinh tế thị trường với nhiều thành phần và nhiều mối quan hệ phong phú, đa dạng. Nghiên cứu xã hội học về CTXH ở Việt Nam trong thời gian 

từ năm 1983 đến nay được chia làm bốn giai đoạn [74, tr.212-213]. Giai đoạn đầu (từ 1983 -1986) đặc trưng bởi sự xuất hiện thiết chế khoa học như Viện Xã hội học (1983)  và  Tạp chí  xã  hội (1983)  gắn  liền với  sự hình  thành  quan  niệm  xã  hội  học Marx-Lenin về CTXH [Dẫn theo 74, tr.213]. Giai đoạn thứ 2 (từ 1987- 1990), giai đoạn này đặc trưng bởi việc đề xuất xây dựng khung lý thuyết trong điều tra xã hội học [88, tr.56-57] và việc thành lập Trung tâm Xã hội học và Tin học vào năm 1990 nay là viện Xã hội học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Giai đoạn 3 là 

từ năm 1991-2000, đây là giai đoạn được đặc trưng bởi việc áp dụng một số một số cách tiếp cận mới trong điều tra xã hội học và một số phát hiện mới về CTXH gắn liền với phân tầng xã hội. Đồng thời ở giai đoạn này xuất hiện thiết chế đào tạo xã hội  học  trình  độ  trình  độ  đại  học  và  sau  đại  học  như  các  khoa  Xã  hội  học  thuộc trường  Khoa  học  Xã  hội  và  Nhân  văn  thuộc  Đại  học  quốc  gia  Hà  Nội,  Đại  học Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trường Đại học Công 

Trang 35

lý thuyết và các cuộc nghiên cứu thực nghiệm, điều tra về cấu trúc và sự biến đổi của nó trong mối quan hệ chặt chẽ với phân tầng xã hội. Kết quả tiếp cận lý thuyết, nghiên  cứu  thực  nghiệm  của  giai  đoạn  này  được  công  bố  trong  nhiều  sách  và  bài viết trên Tạp chí Xã hội học cùng một số ấn phẩm khác. Những nghiên cứu này xem xét CTXH trên cơ sở các hệ thống lý luận, trong đó nổi bật nhất: một là học thuyết Karl Marx về hình thái kinh tế - xã hội; hai là lý thuyết của Marx Weber về cấu trúc phân tầng xã hội dựa vào tài sản, quyền lực, vị thế xã hội và một số lý thuyết xã hội học khác; ba là tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc thù CTXH Việt Nam [Dẫn theo 74, tr.228-229]. Nội dung các nghiên cứu này đã khẳng định một xu thế không thể đảo ngược của sự biến đổi CTXH - giai cấp từ cấu trúc hai giai cấp một tầng lớp sang CTXH gồm nhiều giai cấp, nhiều nhóm xã hội, nhiều tầng lớp xã hội đa dạng, phức tạp. Theo một số tác giả, CTXH kiểu mới, "cấu trúc giai cấp của xã hội mới " còn 

có thể gọi "CTXH giai tầng" hay "cấu trúc giai tầng xã hội" bao gồm các thành phần như  sau:  giai  cấp  công  nhân;  giai  cấp  nông  dân;  tầng  lớp  trí  thức;  tầng  lớp  tiểu thương,  tiểu  chủ;  tầng  lớp  doanh  nhân  và  tầng  lớp  người  nghèo,  hộ  nghèo,  cộng đồng nghèo được quan tâm, hỗ trợ để xóa đói, giảm nghèo [74, tr.229-230].  

Như vậy có thể khẳng định rằng trong thực tế CTXH bao gồm  nhiều thành phần,  nhiều  nhóm,  nhiều  tầng  lớp  xã  hội  trong  đó  tầng  lớp  nghèo,  những  nhóm người yếu thế, khó khăn luôn được xã hội quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ để tự mình có thể xóa được đói, giảm được nghèo. Quan niệm về CTXH ở giai đoạn này có những phát triển  mới.  Năm  1992  một định  nghĩa  về  CTXH  đã nêu  ra bốn  thành  phần  cơ bản  của  nó  là: vị  thế,  vai trò,  nhóm  và các thiết  chế xã  hội.  Đến  năm 2005,  trong định nghĩa về CTXH được bổ sung thêm một thành phần nữa là mạng lưới xã hội, đồng  thời  nhấn  mạnh  một  đơn  vị  phân  tích  là  nhóm  xã  hội  [158,  tr.26-29;  159]. Những  thay  đổi  trên  cho  thấy  sự  coi  trọng  yếu  tố  quan  hệ  xã  hội  trong  CTXH. Ở giai đoạn này một số bài giới thiệu hướng nghiên cứu lý thuyết về quá trình tạo ra 

và tái tạo, duy trì cùng sự biến đổi, phân hóa và phát triển CTXH như lý thuyết "cấu trúc hóa" [66, tr.82-90; 8, tr.120]. Ngoài ra còn có một số nghiên  cứu đi sâu phân tích, làm rõ các hệ thống phân tầng xã hội và các phân hệ cấu trúc như CTXH - dân 

Trang 36

phân hóa xã hội đa dạng, phức tạp như: "Phân hóa xã hội về việc làm của lao động Việt

Nam hiện nay" của Hoàng Lan [96]; "Biến đổi phân tầng xã hội - nghề nghiệp ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2002 đến năm 2010" của Trần Văn Thạch [165]. 

Công trình " Tái cấu trúc nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát triển ở Việt

Nam" của  tác giả  Đặng  Nguyên  Anh  [2]  khi  nghiên cứu  về  vấn  đề  tái cấu  trúc  đã 

nhận định tuy cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu gây nên nhiều tác động tiêu cực song cũng đặt ra những cơ hội mới nhằm tái cấu trúc kinh tế và xem tái cấu trúc nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá quan trọng của tái cơ cấu nền kinh 

tế. Khi bàn về vấn đề tái cấu trúc nguồn nhân lực của Việt Nam tác giả chủ yếu xem xét từ góc độ nhân khẩu-xã hội. Sử dụng các quan điểm lý luận để phân tích những vấn đề nổi bật có liên quan và đánh giá thực trạng, nghiên cứu đã đưa ra các hướng giải pháp chủ yếu nhằm tái cấu trúc và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ nay cho đến năm 2010, định hướng đến năm 2030. 

Cũng bàn về vấn đề tái cấu trúc, công trình "Những vấn đề phân giải và tái

tạo cơ cấu xã hội trong xã hội Việt Nam hiện đại"  của  tác  giả  Đặng  Cảnh  Khanh 

[91] đã cho rằng: CNH, HĐH ở nước ta là một cuộc cách mạng về cơ cấu xã hội, một quá trình phân giải và tái cơ cấu xã hội liên tục để hướng tới sự hoàn thiện. Bởi 

sự  phát  triển  theo  hướng  CNH,  HĐH  về  thực  chất  là  một  quá  trình  biến  đổi  mà trong đó cơ cấu xã hội sẽ bị lay chuyển tận gốc rễ. Những cơ sở xã hội cũ sẽ bị thay thế bởi một cơ sở xã hội mới. Việc tiếp cận vấn đề CNH, HĐH đất nước với tư cách 

là một quá trình giải thể và tái tạo cơ cấu xã hội không chỉ giúp cho chúng ta chủ động, sáng tạo trong việc xử lý những vấn đề của cơ cấu xã hội mà còn tạo ra một góc nhìn khác về sự phát triển lý luận và phương pháp khi nghiên cứu CTXH. Tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay, chúng ta phải xem xét toàn diện 

và cơ bản trên 2 khía cạnh: Thứ nhất, phải phân tích, làm rõ một cơ cấu xã hội mang 

những nét truyền thống đang giải thể mà kéo theo nó là một loạt sự thay đổi về kinh 

tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Thứ hai, phân tích nhưng đồng thời phải phát hiện, 

dự báo được về sự tái tạo cơ cấu mới trên cơ sở định hướng phát triển của quá trình CNH, HĐH. Để làm rõ những vấn đề phân giải và tái tạo cơ cấu xã hội trong xã hội hiện đại, tác giả đã vận dụng hướng tiếp cận lịch sử và so sánh [91, tr.69-78]. Vấn 

Trang 37

sâu  trong  nghiên  cứu:  "Tái cấu trúc kinh tế Hà Nội theo hướng hiện đại và phát

triển bền vững"  của  các  tác  giả  Đinh  Trọng  Thịnh  và  Nguyễn  Minh  Phong  [175]. 

Nghiên  cứu  đã  làm  rõ  các  khái  niệm  về  tái  cấu  trúc  kinh  tế,  đi  sâu  đánh  giá  thực trạng  chuyển  dịch  cơ  cấu  kinh  tế  theo  hướng  hiện  đại  và  phát  triển  bền  vững  của thành phố Hà Nội giai đoạn 2005-2010, nội dung quá trình thực hiện và các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc nền kinh tế. Trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng, khung giải pháp và các giải pháp cụ thể thúc đẩy tái cấu trúc kinh tế Hà Nội theo hướng hiện đại và phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030. 

Những công trình nghiên cứu thực nghiệm sớm nhất về cơ cấu xã hội đó là những đề tài nghiên cứu đã được công bố vào đầu những năm 1990. Các nghiên cứu này đã xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhấn mạnh vai trò quyết định của phương thức sản xuất và trao đổi đối với cơ cấu xã hội Việt Nam. Chế độ công hữu trong đó chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đã tạo nên một nền tảng cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp đó là công nhân và nông dân cùng một tầng lớp tri thức. Sự đổi mới kinh tế của đất nước đã thúc đẩy sự biến đổi của cơ cấu xã hội. Tương ứng với nền kinh tế nhiều thành phần cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay cũng 

có nhiều giai tầng, nhiều nhóm xã hội khác nhau về mức thu nhập, nghề nghiệp, chi 

tiêu, học vấn, mức sống, lối sống như công trình: "Cơ cấu xã hội và phân tầng xã

hội" của Lê Hữu Nghĩa [121]. 

Công trình: "Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai

đoạn hiện nay" của  tác  giả  Đỗ  Nguyên  Phương  [142]  đã  mô  tả  bức  tranh  về  thực 

trạng cơ cấu xã hội và xu thế biến động của cơ cấu xã hội giai cấp, lao động, nghề nghiệp,  dân  cư,  dân  tộc  ở  nước  ta.  Trên  cơ  sở  đó  chỉ  ra  mối  liên  hệ  và  việc  hình thành  con người  Việt Nam  trong  điều  kiện  đổi  mới;  mặt  khác cũng  đưa  ra các dự báo biến động về mặt xã hội của con người thông qua các biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp, dân số, lao động, nghề nghiệp, dân tộc khi chuyển sang cơ chế thị trường. 

Công  trình:  "Thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn

đồng bằng Bắc Bộ hiện nay"  của  tác  giả  Tô  Duy  Hợp  [60]  đã  tóm  tắt  những  đặc 

điểm và  xu hướng chủ  yếu  của  sự  chuyển  đổi  từ  cơ  cấu  xã  hội  nông  thôn  kiểu  cũ sang cơ cấu xã hội nông thôn kiểu mới qua kết quả điều tra xã hội học ở đồng bằng 

Trang 38

xã hội ở nông thôn: vượt trội và chủ động; trung bình và nghèo khổ cuối cùng là thụ động.  Bên  cạnh  đó  nghiên  cứu  còn khẳng định  cơ  cấu  xã hội  nông  thôn  trong  bối cảnh  chuyển  sang  nền  kinh  tế  hàng  hóa  nhiều  thành  phần  định  hướng  xã  hội  chủ nghĩa bị phân tán và dần dần hình thành tháp phân tầng xã hội vượt trội-yếu kém, giàu có-nghèo khổ.  

Công trình: "Nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam từ hướng tiếp cận cơ

cấu xã hội - một số vấn đề đáng quan tâm" của tác giả Nguyễn Hữu Minh [116] khi 

bàn về vấn đề giai cấp công nhân Việt Nam từ hướng tiếp cận cơ cấu xã hội - một 

số vấn đề đáng quan tâm, đã phác họa bức chân dung xã hội của giai cấp công nhân, 

mô tả thực trạng và những đặc trưng về số lượng, chất lượng, đồng thời phân tích các nhóm xã hội bên trong giai cấp công nhân và mối liên hệ giữa chúng cùng tính 

cơ động của nó. 

Công trình: "Cấu trúc xã hội trong cả nước, nông thôn - đô thị và chân dung

tầng lớp nông dân Việt Nam"  của  Đỗ  Thiên  Kính  [94].  Cách  tiếp  cận  về  CTXH 

phản ánh cơ cấu kinh tế là một cách tiếp cận căn bản trong nghiên cứu xã hội học. Những thay đổi của thực trạng cơ cấu kinh tế đều được phản ánh và thể hiện qua sự biến đổi của CTXH. Cơ cấu kinh tế thay đổi sẽ kéo theo sự biến đổi của CTXH. Có thể coi đây là mối quan hệ nhân quả. Bằng phương pháp "phân nhóm" dựa vào tiêu chuẩn nghề nghiệp và "phân tầng" dựa vào bộ 3 tiêu chuẩn về địa vị kinh tế -xã hội (thu  nhập, học  vấn, uy  tín  nghề  nghiệp)  cùng  các  số  liệu  nghiên cứu  thực nghiệm của  4  cuộc  Điều  tra  Mức  sống  Hộ  gia  đình  Việt  Nam  trong  các  năm  2002,  2004, 

2006, 2008 do Tổng cục Thống kê thực hiện, tác giả đã phân tích cấu trúc về địa vị kinh  tế  -xã  hội  cao  thấp  giữa  các  tầng  lớp  xã  hội  ở  nông  thôn  và  đô  thị  nước  ta. Nhóm lãnh đạo toàn xã hội (các nhà lãnh đạo các cấp, các ngành) được xếp đặt ở vị trí cao nhất. Tầng lớp Nông dân và Người lao động giản đơn ở vị trí thấp nhất. Theo nhận định của tác giả nếu so sánh với xã hội Việt Nam trong lịch sử thì trật tự thứ bậc giữa các tầng lớp trong xã hội hiện nay có sự thay đổi. Tầng lớp thợ thủ công và tiểu thương (con buôn) trước kia được xếp ở vị trí cuối cùng trong xã hội (Sĩ - Nông 

- Công - Thương), thì hiện nay tầng lớp này đã có vị trí cao hơn.  

Trang 39

Các  tác  động  của  biến  đổi  cơ  cấu  xã  hội  đến  đời  sống  tôn  giáo,  đến  nông thôn,  đến  vấn  đề  chuyển  dịch  lao  động  nông  nghiệp  vùng  Đồng  bằng  sông  Cửu Long, phân tầng xã hội, phân hóa xã hội đã được đề cập trong đề tài khoa học trọng điểm  cấp  nhà  nước  KX.04.14/06-14:  "Biến  đổi  xã  hội  ở  Việt  Nam".  Bên  cạnh  đó nghiên cứu còn chỉ ra được xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam trong những năm tới như: tăng nhanh quy mô lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm nhanh quy mô lao động trong ngành nông nghiệp; phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên gay gắt; thay đổi giá trị, triết lý sống mới của các nhóm xã hội;  xu  hướng  hình  thành  tầng  lớp  xã  hội  "ưu  trội"  và  nhóm  xã  hội  yếu  thế;  xu hướng biến đổi trong hoạt động kinh tế; xu hướng biến đổi trong sự phân bố các dân tộc; biến đổi cơ cấu xã hội -giai cấp  [163]. 

Kết  quả  nghiên  cứu  của  đề  tài  khoa  học  cấp  nhà  nước:  "Cơ cấu xã hội và

phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện đổi mới hiện nay" của tác giả Lê Hữu 

Nghĩa [121]. Với khối lượng đồ sộ các kết quả điều tra thực nghiệm về cơ cấu xã hội và phân tầng xã  hội, đề tài phân tích rõ  các đặc điểm của cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội ở các tỉnh, thành phố được khảo sát như: cơ cấu tuổi, cơ cấu xã hội giới tính, cơ cấu thế hệ và qui mô gia đình, cơ cấu xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - tôn giáo, cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội thành thị - nông thôn về thu nhập,  Vấn đề 

cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội về mức sống; về giáo dục - đào tạo; lao động, việc làm  cũng được mô tả chi tiết. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài cho thấy sự hình thành và phát triển phong phú đa dạng của các thành phần xã hội, quan 

hệ xã hội của cơ cấu xã hội trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.  

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung

Xuất  phát  từ  yêu  cầu  về  vai  trò,  vị  thế  và  những  đòi  hỏi  thực  tiễn  đối  với ĐNCB LĐ, QL các cấp/ngành trong hệ thống chính trị  ở Việt Nam; Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác cán bộ, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng đào  tạo,  bồi  dưỡng  ĐNCB LĐ, QL. Vì  lẽ  đó, trong  nhiều  thập  kỷ  vừa  qua vấn  đề này đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực 

Trang 40

Trong  đó  trước  hết  phải  kể  đến  những  nghiên  cứu  về  tư  tưởng  của  Hồ  Chí Minh  đối  với  công  tác  cán  bộ  của  Đảng  và  Nhà  nước  Việt Nam.  Trong  một công 

trình nghiên cứu: "Hồ Chí Minh - Đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài" của Đức 

Vượng [199] đã nhận định: Đối với vấn đề cán bộ Người rất chú trọng đến phương hướng  và  phương  pháp  phát  hiện,  đào  tạo,  bồi  dưỡng  cán  bộ,  đặc  biệt  là  vấn  đề dùng người.  Người  luôn  nhắc  nhở  cán  bộ  LĐ, QL phải  biết  khai  thác  nguồn nhân lực cho tốt để qua đó có thể tìm ra được những người tài; phải biết lựa chọn cán bộ, lựa chọn nhân tài, sử dụng đúng người, đúng việc. Để làm được như vậy, người cán 

bộ LĐ, QL phải có tâm sáng, tài cao. Theo quan điểm của Người, công tác cán bộ muốn phát triển và có chất lượng thì cần phải có 2 yếu tố: Thứ nhất: Đảng và Nhà nước phải có đường lối và chính sách rõ ràng đối với vấn đề cán bộ; Thứ hai: Đảng 

và Nhà nước phải đào tạo đội ngũ những người làm công tác cán bộ giỏi, biết dùng người và nhìn người.  

Bên cạnh đó, có thể đưa ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, có đóng góp to lớn trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về xây dựng ĐNCB LĐ, QL. Các công này đã mô tả về thực trạng ĐNCB và công tác cán bộ hiện nay của nước 

ta, trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra hệ thống quan điểm và phương hướng nhằm nâng  cao  chất  lượng  ĐNCB  trong  thời  kỳ  đẩy  mạnh  CNH,  HĐH  đất  nước  như: 

"Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm 

[183];  "Đánh giá quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của tác giả Trần Đình Hoan [59] đã đi sâu phân 

tích các khâu của công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH mà còn đặc biệt nhấn mạnh công tác đánh giá, quy hoạch và vấn đề luân chuyển cán bộ nhằm đào  tạo,  bồi  dưỡng  nâng  cao  trình  độ  cán  bộ  và  coi  đây  là  một  khâu  đột  phá  của công tác cán bộ. 

Với  những  luận  giải  sâu  sắc  về  các  vấn  đề  lý  luận  và  thực  tiễn  như:  "Xây

dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của tác giả Vũ Văn Hiền [57] đã trình bày các 

Ngày đăng: 23/05/2021, 00:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2000), "Cấu trúc hộ gia đình và sức khỏe trẻ em: những phát hiện qua khảo sát nhân khẩu học và sức khỏe", Tạp chí Xã hội học, (4).  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc hộ gia đình và sức khỏe trẻ em: những phát hiện qua khảo sát nhân khẩu học và sức khỏe
Tác giả: Đặng Nguyên Anh 
Năm: 2000
2. Đặng  Nguyên  Anh  (2013),  "Tái  cấu  trúc  nguồn  nhân  lực  đáp  ứng  mục  tiêu  phát triển ở Việt Nam", Tạp chí Xã hội học, (4), tr.15-22.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái  cấu  trúc  nguồn  nhân  lực  đáp  ứng  mục  tiêu phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Đặng  Nguyên  Anh 
Năm: 2013
3. Nguyễn Ngọc Anh (2014), Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án tiến sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh 
Năm: 2014
4. Ban Dân tộc  và  Miền  núi  Nghệ  An  (1992), Một số chính sách về dân tộc và miền núi Nghệ An, Nxb Nghệ An, Nghệ An.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách về dân tộc và miền núi Nghệ An
Tác giả: Ban Dân tộc  và  Miền  núi  Nghệ  An 
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1992
5. Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An (2002), Một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi Nghệ An, Nxb Nghệ An, Nghệ An.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi Nghệ An
Tác giả: Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An 
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2002
6. Ban  Dân  tộc  và  Miền  núi  Nghệ  An  (2016),  70 năm xây dựng và phát triển (1946-2016), Nxb Nghệ An, Nghệ An.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70 năm xây dựng và phát triển (1946-2016)
Tác giả: Ban  Dân  tộc  và  Miền  núi  Nghệ  An 
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2016
7. Nguyễn Trọng Bảo (1998), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá, Nxb  Giáo dục, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo 
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Phạm Văn Bích (2012), "Lý thuyết structuration của A.Giddens", Tạp chí Xã hội học, (4), tr.120.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết structuration của A.Giddens
Tác giả: Phạm Văn Bích 
Năm: 2012
9. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 42-NQ/TW về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị 
Năm: 2004
10. Bộ  Nội  vụ  (2013),  Tài liệu bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, Nxb Bách khoa, Hà Nội.   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
Tác giả: Bộ  Nội  vụ 
Nhà XB: Nxb Bách khoa
Năm: 2013
11. T. Bilton, K. Bonnett và cộng sự (1993), Nhập môn Xã hội học, Nxb Khoa học  xã hội, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Xã hội học
Tác giả: T. Bilton, K. Bonnett và cộng sự 
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
12. Ngô  Thành  Can  (2003),  "Quản  lý  công  tác  đào  tạo,  bồi  dưỡng  cán  bộ,  công  chức", Tạp chí Quản lý nhà nước, (88), tr.24-27.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản  lý  công  tác  đào  tạo,  bồi  dưỡng  cán  bộ,  công chức
Tác giả: Ngô  Thành  Can 
Năm: 2003
13. Trịnh Quanh Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,  Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Tác giả: Trịnh Quanh Cảnh 
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
14. Nguyễn Cảnh Chắt (2002), Tinh hoa quản lý, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa quản lý
Tác giả: Nguyễn Cảnh Chắt 
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2002
15. Nguyễn Thị Mai Chi (2014), Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010 ở các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010, Luận án Tiến sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010 ở các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Chi 
Năm: 2014
16. Chính phủ (2003), Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước,  Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước
Tác giả: Chính phủ 
Năm: 2003
17. Chính phủ (2009), Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã,  Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Tác giả: Chính phủ 
Năm: 2009
18. Chính  phủ  (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Tác giả: Chính  phủ 
Năm: 2010
19. Chính  phủ  (2011),  Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính  phủ 
Năm: 2011
20. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú 
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w