Nhờ triển khai thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bản chất giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững; vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng được tăng cường[r]
Trang 1Họ và tên: Nguyễn Nữ Mỹ Phương
Quốc tịch: Việt Nam giới tính: nữ
Nghề nghiệp: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Trần Phú
Chỗ ở: Sa Nghĩa – Sa Thầy- Kon Tum
BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU "KON TUM –100 NĂM LỊCH SỬ VÀ PHÁT TRIỂN"
Câu 1 Trình bày nguồn gốc tên gọi “Kon Tum” Nêu những biến đổi về địa giới quản
lý hành chính tỉnh Kon Tum từ năm 1913 đến nay?
* Trả lời:
- Nguồn gốc tên gọi Kon tum: “Làng Hồ”
Kon Tum là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam
Theo truyền thuyết của dân tộc BaNa vùng này được lưu lại rằng: Kon Tum ban đầuchỉ là tên gọi của một làng người Bana Khoảng trước năm 1800 có làng người địa phương sống bên sông ĐăkBla tên gọi là KonTrang- or Lúc ấy làng KonTrang - or rất thịnh với dân số khá đông Bấy giờ giữa các làng thường xuyên có sự gây chiến đánh nhau.Vì thế những người đứng đầu làng Kon Trang -or cũng thường hay đem dân làng mình đi đánh phá các làng khác để chiếm đoạt của cải và bắt người về là nô lệ Trong
số những người đứng đầu làng Kon Trang - or có người tên là Ja xi có hai con trai là JơRông và Uông; hai người này không thích cảnh những người đứng đầu làng luôn gây chiến đánh nhau với làng khác, nên đã ra đi làm nhà ở cạnh sông Đăkbla Vùng đất nàyrất tốt cho việc định cư sinh sống, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày được phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum Từ đó Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập ra của người Bana sát bên bờ sông Đăk
b la nơi có nhiều hồ nước trũng
Vùng đất này có những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động con người ,vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Kon Tum
Theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ và Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ,bởi xưa kia khu vực này đã từng có một hồ lớn
Kon Tum nằm ở phía bắc vùng Tây Nguyên, có tọa độ trong giới hạn 13°55’-15°27’
vĩ độ bắc và 107°20’ -108°32’ kinh độ đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía namgiáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 150 kmgiáp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 127 km với Vương quốc Campuchia
Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.614,5 km² (tức 961.450 ha), trong đó:
Do phần lớn diện tích tự nhiên nằm ở phía đông dãy Trường Sơn nên địa hình KonTum nghiêng dần từ đông sang tây và thấp dần từ bắc xuống nam
Phía bắc tỉnh là khối núi Ngọc Linh có độ cao trong khoảng 800-1.200 m, trong đó
có đỉnh Ngọc Linh 2.596 m, Ngọc Phan 2.251 m, Ngọc Krinh 2.066 m, Ngọc Bôn Sơn1.939 m, Kon Bo Ria 1.500 m, Kon Krông 1.330 m
Vùng này là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn như sông Cái chảy sang QuảngNam, sông Sê San chảy sang Cămpuchia và sông Ba chảy sang Phú Yên
Phía nam tỉnh có độ cao trên dưới 500m với độ dốc 2-5% Từ phía tây Ngọc Linh cómột dải thung lũng hẹp chạy đến giữa tỉnh thì mở rộng ra tạo nên cánh đồng bằngphẳng trải dài 50 km tới tận thị xã Kon Tum Đây là khu vực đồng bằng nằm ở độ cao
Trang 2252m so với mặt biển và được phù sa hai nhánh sông Se San là sông Đắk Pôkô và ĐắkBla bồi đắp.
Cực nam tỉnh có thác Yaly cao 60m đổ sang địa phận Gia Lai Từ nguồn nước củathác này đã xây dựng trên đất Gia Lai nhà máy thuỷ điện Yaly công suất 720 MW
- Những biến đối về địa giới quản lý hành chính kon tum từ năm 1913 đến nay:
Tuy vùng đất cao nguyên này được coi là thuộc lãnh thổ Đại Việt từ năm 1470, khivua Lê Thánh Tông đánh chiếm Trà Bàn, lập phủ Quy Nhơn, nhưng trải qua các triềuđại, ở đây chưa hề có hệ thống hành chính, mà chế độ "già làng" vẫn tiếp tục tồn tại Năm 1893, sau khi thôn tính Đông Dương, người Pháp đã cho lập một tòa Đại lýhành chính tại Kon Tum, ban đầu trực thuộc Tòa Công sứ Attôpư (Attopeu) ở Lào, đếnnăm 1905 mới trực thuộc Tòa Công sứ Quy Nhơn Viên Đại lý là một linh mục ngườiPháp, tên là P Vialleton, vốn là cha xứ ở đây từ trước
Năm 1904, Pháp thành lập tỉnh tự trị Plâycu Đe (Pleiku Der), gồm tòa đại lý hànhchính Kon Tum thuộc tỉnh Bình Định và tòa đại lý hành chính Cheo Reo thuộc tỉnhPhú Yên
Đến năm 1907, Pháp lại bãi bỏ tỉnh Plâycu Đe, lúc này hai đại lý hành chính KonTum và đại lý hành chính Cheo Reo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và PhúYên như trước
Ngày 9 tháng 2 năm 1913, tỉnh Kon Tum chính thức được thành lập, gồm toàn bộ tỉnh Plâycu Đe trước kia Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ bao gồm Đại lý Kon Tum tách ra
từ tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách ra từ tỉnh Phú Yên và tòa Đại lý hành chính Buôn Ma Thuột
Từ năm 1913 đến năm 1943 các đại lý hành chính Buôn Ma Thuột, Plei Ku, AnKhê trực thuộc tỉnh Kon Tum lần lượt tách ra thành lập tỉnh mới: năm 1923, đại lýBuôn Ma Thuột tách ra thành lập tỉnh Đắc Lắc Năm 1925, thành lập Đại lý Plei Kudưới quyền Công sứ Kon Tum và đến năm 1932 Đại lý Plei Ku mới tách ra để trởthành tỉnh Gia Lai Đến năm 1943 thì đại lý An Khê tách khỏi tỉnh Kon Tum để nhậpvào tỉnh Gia Lai Năm 1932, tổng Tân Hương được lập thành thị trấn Kon Tum, trungtâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Kon Tum Đến năm 1945 thị trấn KonTum được chính quyền cách mạng nâng lên thành thị xã Kon Tum
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946-1954, tỉnh Kon Tum nhiều lần chia tách, sápnhập với các địa phương khác Đầu năm 1947 thuộc phân khu 15, tháng 8 năm 1947nằm trong khu 15 Tây Nguyên Tháng 3 năm 1950 sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnhGia Lai – Kon Tum Tháng 10 năm 1951 nhập với các huyện miền tây tỉnh Quảng ngãithành Mặt trận miền Tây Tháng 2 năm 1954, tỉnh Kon Tum được giải phóng, đếntháng 7 năm 1954 tách khỏi mặt trận miền Tây
Về phía ta, đầu năm 1955, toàn tỉnh đuợc chia thành 6 khu nông thôn (tươngđương huyện) và một thành phố
Khu 1: lúc đầu là vùng đụng và bắc thành phố Kon Tum, từ bờ sụng Pụ Kụ (phía tõy)đến bờ sụng Đăk Nghé (phía đụng)
Khu 2: bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay
Khu 3: gồm một số vùng thuộc huyện Đăk Glei và một số vùng của Đăk Tụ (nay thuộchuyện Đăk Hà) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngày nay
Khu 4: vùng tõy huyện Đăk Glei từ giáp Quảng Nam đến Đăk Nõy Pui, phía tõy giápbiờn giới Lào
Khu 5: được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ Một phần khu 5nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6
Khu 6: từ Vơmơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giới Lào,phía bắc giáp vùng Đăk Hà, phía nam đến Konplong
Trang 3Khu 7: thuộc huyện Sa Thầy ngày nay
Sau Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam (tháng 7 năm 1954), Mỹ Ngụy tiếp quản miền Nam Việt Nam Ở Kon Tum, địch nhiều lần điều chỉnh các đơn
-vị hành chính trong tỉnh Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, ngoài tòa hành chính tỉnh,địch còn chia tỉnh Kon Tum thành 4 quận theo Nghị định số 348-BNV/HC/NĐ ngày
27 tháng 6 năm 1958: quận Kon Plong gồm 3 tổng 11 xã, quận Đăk Tô gồm 9 tổng 29
xã, quận Đăk Sut gồm 6 tổng 23 xã, quận Kon Tum gồm 10 tổng 57 xã, trong đó có 10
xã người Kinh Chưa đầy một tháng sau, quận Đak Tô lại bị chia thành 2 quận Đăk Tô
và Tou Mơrông
Quận Chương Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi được thành lập theo Sắc lệnh số
234-NV ngày 9 tháng 9 năm 1959 trên cơ sở tách ra một phần đất của quận Kon Plong.Sang năm 1960 địch bỏ quận Kon Plong Năm 1961 giao quận Chương Nghĩa về tỉnhQuảng Ngãi, rồi đến ngày 19 tháng 12 năm 1964, quận Chương Nghĩa được sáp nhậpvào tỉnh Kon Tum
Từ năm 1965, chính quyền Sài Gòn có sự thay đổi các cấp hành chính Những vùngđông dân chúng giữ nguyên cấp quận, những nới xa xôi, ít dân chúng đặt thành Pháiviên hành chính Theo đó địch lập thành các phái viên hành chính Đăk Sút, Măng Bút,Chương Nghĩa, Năm 1972, địch cải danh chi khu Đăk Pét thành quận Đăk Sút (quậnĐăk Sút cũ bị quân cách mạng tiêu diệt năm 1965) để mở rộng chức năng về mặt hànhchính Năm 1972, ta giải phóng Đăk Tô-Tân Cảnh, quận lỵ đăk Tô của địch phải lưuvong về đóng tại đèo Sao Mai (đông nam thị xã Kon Tum) Năm 1974, các chi khuĐăk Pét, Măng Đen, Măng Bút sau một thời gian bị cô lập giữa vùng giải phóng cũng
bị ta tiêu diệt Ngày 17 tháng 3 năm 1975, thị xã Kon Tum được giải phóng, tỉnh KonTum được giải phóng hoàn toàn
Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ- Ngụy, chính quyền cách mạng có sựphân chia các huyện trong tỉnh, đặt tên theo mật danh để thuận tiện trong chỉ đạo hạotđộng Theo đó, ở địa bàn tỉnh có các huyện được gọi theo mật danh như sau: H16(Konprai), H29 (Kon Plong, H80 (Đăk Tô), H67 (Sa Thầy), H30 (đông Đăk Glêi), H9(Kon H’Ring, phần lớn nay thuộc huyện Đăk Hà), H5 (thị xã Kon Tum)
Tháng 10 năm 1975, tỉnh Kon Tum lại được sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnhGia Lai – Kon Tum
Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ngày 12 tháng 8 năm 1991 đã chialại tỉnh Gia Lai - Kon Tum thành hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai
Từ khi được tái thành lập lại đến nay, trên địa bàn tỉnh Kon Tum có các huyện mớiđược thành lập, đó là: Ngọc Hồi (1992), Đăk Hà (1994), Kon Rẫy (2002),Tu Mơ Rông(2008) Hiện nay, tỉnh Kon Tum có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, với 96 xã, phường
Tỉnh lỵ của Kon Tum hiện nay là thành phố Kon Tum cách Quy Nhơn 215 km vềphía tây, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 600 km về phía bắc
Trang 4Câu 2: Hiện nay, tỉnh Kon Tum cú bao nhiêu di tích lịch sử cách mạng, di tích lịch sử
văn hóa, di tích lịch sử- danh thắng cấp quốc gia và cấp tỉnh? Hãy nêu sơ lược về các
di tích?
Trả lời: Hiện nay, tỉnh Kon Tum có 03 Di tích lịch sử cách mạng, 06 Di tích lịch
sử văn hóa và có 01 Di tích lịch sử-danh thắng cấp quốc gia và cấp tỉnh
* Sơ lược về Di tích Lịch sử cách mạng:
+ Ngục Kon Tum: Với một quần thể nhà tưởng niệm, nhà truyền thống, nhà tiếpđón, cụm tường đài và hai ngôi mộ nằm bên sông Đăk Bla lộng gió, dẫn dắt ngườitham quan về với quá khứ đấu tranh kiên cường, bất khuất của các bậc tiền bối cáchmạng khi nước nhà còn trong xiềng xích nô lệ Nhà lao được xây dựng trong khoảng từ1915-1917, tuy không có quy mô lớn nhưng lại là lò giết người tàn bạo nhất của thựcdân Pháp trong thời kỳ 1930-1931 Và cũng chính tại nhà tù này, ngày 25-9-1930,đồng chí Ngô Đức Đệ đã triệu tập một cuộc họp bí mật tại phòng biệt giam của mình,tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Kon Tum
Năm 2000, được sự hỗ trợ của Trung ương và địa phương, tỉnh Kon Tum đã đầu tưchỉnh trang, tôn tạo và xây dựng lại khu du lịch, xứng đáng với di tích lịch sử cáchmạng cấp quốc gia, được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng
Khu Di tích trở thành nơi hành hương, thăm viếng của các vị lãnh đạo Đảng và Nhànước, của nhân dân và các đoàn khách trong và ngoài nước khi đến Kon Tum
+ Điểm cao 601 Kon Tum: Cách thị xã Kon Tum (nay là Thành phố Kon Tum) 17
km về phía bắc theo quốc lộ 14, có một địa danh mà trong chúng ta hẳn nhiều ngườibiết đến: Đó là dốc Đầu Lâu
Dốc Đầu Lâu là tên gọi dân gian mới có từ sau ngày xảy ra chiến sự tháng 4 năm
1972 giữa quân cách mạng và quân địch Người Ba na ở vùng này gọi địa danh đó làKon Loong Phă, có nghĩa là dốc có nhiều cây trắc và và điểm cao 601 là thuật ngữquân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi KRang Loong Phă
Cho đến đầu năm 1972, điểm cao vẫn là một chốt điểm quân sự quan trọng củađịch, gồm có trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa.Phía Bắc cò đồn Bảo an Hà Mòn do tiểu đoàn Bảo an số 23 đóng giữ có xe thiết giáptăng cường Phía Đông có sở chỉ huy lữ đoàn dù 3, trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọcthép chốt giữ Ngoài ra còn có các trận địa pháo, đồn bảo an của địch ở Kon TrangKlả, Bãi Ủi, phía bắc thị xã Kon Tum…Với vị trí chiến lược quân sự quan trọng, chiếmđược điểm cao 601 là khống chế được phần lớn thị xã Kon Tum cũng như toàn bộvùng Đăk Tô – Tân Cảnh Chiếm được điểm cao 601 là làm chủ được hoàn toàn conđường chiến lược 14, đoạn phía bắc Tây Nguyên
Nhận rõ được tầm quan trọng của điểm cao 601, ta quyết tâm đánh chiếm, về phíađịch cũng tìm mọi cách cố thủ Nhưng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, trong haingày 10 và 11 tháng 4 năm 1972 ta đã thắng lớn tại điểm cao 601
Trong những năm qua, bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum đã lên dach mục di tíchtrên địa bàn toàn tỉnh, trong đó điểm cao 601 là một điểm di tích lịch sử cách mạngđược lãnh đạo tỉnh và ngành văn hóa rất quan tâm Thời gian qua, Bảo tàng tỉnh đãtiến hành lập hồ sơ khoa học cho di tích lịch sử điểm cao 601 đề đề nghị xếp hạngTuy, đã hơn 30 năm sau sự kiện chiến thắng điểm cao 601, do tác động của con người,môi trường tự nhiên khắc nghiệt, Di tích chỉ còn là dấu tích, tuy vậy nó vẫn còn sứcthuyết phục
+ Di tích chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh Kon Tum:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đăk Tô – Tân Cảnh là căn cứ quân sựmạnh nhất của Ngụ quyền Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên Đầu năm 1972, tại đây có 28
Trang 5tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp Phần lơn lực lượngđược bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôcô, hình thành tuyến phòng ngự từ xa.
Về lực lượng quân đội ta, gồm các trung đoàn chủ lực của Tây Nguyên: trung đoàn
28, trung đoàn 66, trung đoàn 95, trung đoàn 24B (sư đoàn 10 – binh đoàn Đăk Tôngày nay) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum
Vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972 , xe tăng T54 xông thẳng qua thị trấnTân Cảnh, lao lên mở cửa phía đông căn cứ Tân Cảnh Chớp thời cơ địch còn hoảng sợkhi thấy xe tăng ta tiến lên, tiểu đoàn 9 cùng đội công tác tỉnh Kon Tum kêu gọi nhândân nổi dậy
Vào lúc 5 giờ 55 phút sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, thị trấn Tân Cảnh được giảiphóng Lúc này cuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội Xe taưng T54-
377 của bộ đội ta đã tiêu diệt 7 xe tăng địch Quân ta dần dần làm chủ tình hình
Vào lúc 11 giờ trưa ngày 24 thang 4 năm 1972, trung đoàn 66 của bộ đội ta hoàntoàn làm chủ căn cứ Tân Cảnh Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 29 pháo 105
li, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch,bắt 429 tù binh Ngụy
Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, Bộ Tư lệnh quân Giải phóng mặt trận cánhĐông đã cho pháo binh bắn phá căn cứ Đăk Tô 2 Sức kháng cự của E47 ngụy nhanhchóng bị đè bẹp, quân ta làm chủ căn cứ Đăk Tô 2 Cụm phòng ngự mạnh của địch ởcăn cứ Tân cảnh – Đăk Tô 2 bị tiêu diệt Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Biêng,Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận Đăk Tô rút chạy tán loạn Một vùng đất từ Diên Bìnhqua Tân Cảnh đến Đăk Tô về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc KonTum được giải phóng
Ngày nay, đi qua căn cứ E42 Đăk Tô – Tân Cảnh ngày xưa, du khách thấy sừngsững một bia tưởng niệm về chiến tích anh hùng của quân và dân ta trong thời kỳchống Mỹ cứu nước Gần đây, tỉnh đã đầu tư xây dựng cụm tượng đài chiến thắng Đăk
Tô – Tân Cảnh rất hùng tráng Bên cạnh tượng đài là hai chiếc xe tăng cách mạng đãtừng tham gia trận đánh năm 1972 Khu Di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốcgia namư 1993
* Sơ lược về di tích lịch sử văn hóa:
+ Nhà mồ - văn hóa cổ Tây Nguyên: Nhà mồ và Tượng mồ là mảng đặc sắccủa văn hóa cổ Tây Nguyên Thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ - tượng
mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ đăng
Nhà mồ được xây trùm trên tấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ mả Nhà mồ có nhiềuloại khác nhau Trang trí nhà mồ thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ và trắng
Tượng mồ là loại tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của vùng đất Tây Nguyên,với kỹ thuật đẽo tượng thể hiện tính nghệ thuật cao Nghệ thuật tượng mồ còn bắtnguồn từ bản thân sự sống động của mỗi bức tượng Loại trừ tượng ôm mặt ở tư thếtĩnh, còn hầu hết các bức tuaoạng khác đều diễn tả các trạng thái động của con người.Người Gia rai khi tạc tượng đã làm cho từng bức tượng trở nên sinh động như có hồn.Người xem nếu đã một lần đến buôn làng của người Gia Rai, được dự lễ bỏ mả, khichiêm ngưỡng tượng sẽ có cảm giác như mình đang có mặt tại chính buôn làng của họvới các hoạt động quen thuộc của con người diễn ra trong lễ hội bỏ mả Nghệ thuậtchính là đem đến sự gần gũi thân thuộc của cuộc sống đời thường vào trong tác phẩmnghệ thuật một cách tự nhiên
Lễ bỏ mả là lễ hội lớn nhất và mang tính văn hóa nhất của cộng đồng các dân tộc TâyNguyên Trong đó, nhà mồ và tượng nhà mồ là những tác phẩm kiến trúc và điêu khắcdân gian độc đáo
Trang 6Theo dòng thời gian, các bức tượng nhà mồ này mang tính hiện thực hơn Cái thực
ấy được thể hiện chủ yếu bằng các nét, các khối mang tính khái quát cao Và cũngchính những đặc tính ấy mà tượng nhà mồ đã góp phần tạo nên nét hoành tráng choriêng mình
+ Nhà thờ gỗ Kon Tum:
Nhà thờ gỗ Kon Tum được xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổchức thi công nằm ở thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, là một điểm du lịch hấp dẫn chonhiều du khách đến vùng đất Kon Tum
Nhà thờ tọa lạc trên một diện tích rộng với nhiều công trình liên hoàn khép kín:nhà thờ - nhà tiếp khách – nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo – nhà rông.Ngoài ra trong khuôn viên nhà thờ còn có cô nhi viện – cơ sở may, dệt thổ cẩm – cơ sởmộc, thu hút hàng chục lao động làm việc từ thiện Từ xa, Nhà thờ là một công trìnhkiến trúc hoàn toàn bằng gỗ làm theo kiểu Roman du khách đã có thể thấy tháp chuôngnhà thờ cao sừng sững trên nóc trời Bên trong cột và các gian gỗ được lắp ghép khítkhao Trần nhà xây bởi rui, mè tre, đất và rơm, đã hơn 80 năm trôi qua mà vẫn bền,đẹp Cung thánh nhà thờ được trang trí theo hoa văn các dân tộc ít người Tây Nguyên,trang nghiêm và gần gũi
Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đẹp, điệu nghệ như vậy màđược xây dựng hòan toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa củangười thợ Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượngđược tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng báo các dân tộc Dukhách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm do chính ngườidân tộc bản địa và uống rượu dau, rượu nho do các nữ tu sĩ chế biến
Nhà thờ gỗ Kon Tum ngoài giá trị về kiến trúc văn hóa, còn là nơi hấp dẫn du kháchbởi các yếu tố nhân văn
+ Làng Ba Na Kon Tum:
Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nóc nhà sàn dựng trên nền đấthình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽothành nhiều bậc khá công phu Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biếtdùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu, bò để cày ruộng Tuy nhiên họ cũng chưabiết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày Cũng như nhiều dân tộckhác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than Bếp cũng
là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình
+ Di chỉ Khảo cổ học Lung Leng Kon Tum:
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng nằm ở thôn Lung Leng, xã Sa Bình, huyện SaThầy, tỉnh Kon Tum Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật vô cùngphong phú Bước đầu, một xã hội Tây Nguyrn thời tìên sử đã tái hiện
Qua khai quật, người ta thấy Lung Leng là di chỉ có tầng văn hóa nguyên vẹn phảnánh các giai đoạn phát triển cơ bản từ thời đại đá cũ đến thời đá mới, qua thời kỳ kimkhí, thậm chí cả thời kỳ trung đại Dấu tích cư dân hậu kỳ đá cũ tìm thấy trong lớp đấtlaterite hóa ở dưới độ sâu từ 1,4 mét đến 1,6 mét với những công cụ ghè, đẽo thô sơ,kích thước lớnn làm từ cuội thách anh hoặc đá bazan như các công cụ mũi nhọn, công
cụ chặt rìa lưới dọc, công cụ nạo hình múi bưởi Kết quả phân tích niên đại cho thấylớp đất này tương ứng với thời kỳ cách tân (pleistosene) cách đây trên một vạn năm Gần chúng ta hơn, ngay lớp đất trên là vết tích văn hóa hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kimkhí, tương ứng với niên đại toàn tân (holocen), từ 2 000 đến 4 000 năm trước đây Đây
là nơi tập trung với mật độ cao nhiều loại hình di vật, di tích như rìu bôn đá mài toànthân, bàn mài, hòn ghè, hòn nghiền, đồ ghốm, than tro, lọ nung, mộ táng, …
Trang 7Qu a khai quật hàng loạt, phạt hiện mới được ghi nhận, đặc biệt là di cốt và dấu cết
vỏ trấu, cho thấy tục táng người chết của cư dân cổ, đồng thời xác nhận nghề trồng lúa
đã xuất hiện sớm tại Tây Nguyên
Những phát hiện bước đầu ở Di khảo cổ học Lung Leng đã được giới thiệu nghiêncứu, khảo cổ đánh giá cao Di khảo cổ học Lung Leng là một trong những di sản vănhóa lớn của cả nước Qua di chỉ văn hóa này, chứng tỏ người tiền sử đã có mặt, sinhsống ở đây từ trước một vạn năm
+ Chủng viện thừa sai Kon Tum:
Chủng viện thừa sai Kon Tum nằm tại số 56 đường Trần Hưng đạo, thị xã KonTum (nay là thành phố KonTum), tỉnh Kon Tum, cách cách chợ Kon Tum khoảng 15phút đi bộ Chủng viện thừa sai là nơi dành riêng cho những ai muốn trở thành linhmục Thời gian tu học ở đây là 6 năm tiểu học, 4 năm trung học, 4 năm học thần họcrồi mới trở thành lanh mục
Tòa chủng viện do đức cha Marital Junrin Phước - người sáng lập hội Thừa sai KonTum được cho xây dựng từ namư 1935 đến năm 1938 thì hoàn thành Cha là ngườiPháp theo dòng thừa sai lập ra để dạy bảo tín đồ khi sai đi đâu thì đi đó khi phục vụ.Tòa chủng viện mang phong cách Pháp và kiểu dáng nhà rông của dân tộc TâyNguyên, nhân công là những người Việt sống tại Kon Tum
Trước năm 1975, phía trước chủng viện là nghĩa trang Người xây dựng có ý muốnnhắc nhở các tu sĩ rằng trước mặt họ là cõi chết để họ dốc lòng vào việc tu hành và làmnhiều điều tốt cho mọi người Các cha xứ giảng đạo cũng là người dân tộc và đượcđào tạo trong dòng thừa sai Cho xứ giảng dạy bằng tiếng Ba Na để người đồng bào cóthể nghe và hiểu cũng như thực hiện những quy định của đạo giáo đưa ra Vào thời kỳ
đó có khoảng 200 tu sĩ tu tại đây, nhưng sau năm 1975 chủng viện ngưng hoạt động.Hiện nay, nơi đây chỉ dành riêng cho các cha ở Vào những ngày lễ lớn, các cha sẽ đếnlàng cử hành Thánh lễ và lo tổ chức lễ mựng phục sinh và giáng sinh
Tại sao ở Kon Tum lại có dòng thừa sai và vừa có nhà thờ của người Ba Na? Bởi vì,người Pháp đến Việt Nam thì người dân đồng bằng đã có tôn giáo riêng của mình vàhầu như tất cả đều theo Phật giáo Họ không thể lôi kéo người dân theo đạo của mìnhđược nên họ đã lên những vùng cao xa xôi và hẻo lánh, nơi mà người dân chưa theođạo nào chính thống mà chi thờ cúng đa thần, để việc truyền đạo được dễ hơn Hơn thếnữa, vùng đất Tay nguyên lại được người Pháp coi như “nóc nhà của Đông Dương” vàđặt nền thống trị Do đó các cha truyền đạo đã đến nơi đây để có thể truyền đạo mộtcách dễ dàng hơn
Tào chủng viện dài 100 mét, cao 3 tầng Tầng trên để thờ, tầng giữa để nghỉ ngơi,tầng trệ để xe Gian giữa của chủng viện có phòng trưng bày lịch sử truyền giáo tạiKon Tum từ năm 1848 Nơi đây có tất cả hiện vật đồ cổ, những tượng gỗ dựng cảnhsinh hoạt của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, những công cụ cuả người xưa, những tấmảnh chụp từ nhứng năm 1912-1913 trắng đen về cảnh Tây Nguyên xưa Có thể nóiphòng trưng bày truyền thống này có thể ví như một bảo tàng thu nhỏ về đời sống vănhóa các dân tộc thiểu số chính đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Kon Tum, như: dân tộc
Ba Na, dân tộc Xơ đăng,…
Chửng viền thừa sai là một nơi đáng để du khách quan tâm khi bạn đến thị xã KonTum
+ Cầu treo Konklor Kon Tum:
Cầu treo Konklor thuộc địa phận làng Konklor, thị xã Kon Tum (nay là thành phốKon Tum) Cầu nối liền hai bờ của dòng sông ĐăkBla huyền thoại Đến đây, du khách
có thể ghé thăm làng dân tộc Ba Na Konklor ở hựu ngạn dòng sông, uống với họ canrượu cần rồi lên đường vượt dòng sông qua cầu treo để đến một vùng đất phù sa thù
Trang 8phú Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loại cây ăn quả Vượt con đườngquanh co khoảng 6 km, du khách đến làng Konkơtu, một làng dân tôc Ba Na còn giữnguyên được những nét sinh hoạt và cảnh vật thiên nhiên hoang sơ Làng du lịch vănhóa Konkơtu có nhà rông cao, đẹp, du khách sẽ được thỏa mãn nhu cầu khi ngủ lại quađêm, tham gia các sinh hoạt giao lưu văn hóa, uống rượu cần, nghe kể Khan bên bếplửa bập bùng cùng người dân bản địa Khi từ biệt làng trở về, chắc chắn du khách sẽthấy hài lòng về những món quà lưu niệm do chính bàn tay khéo léo của người dân ởđây làm bẳng vật liệu từ núi rừng.
* Di tích lịch sử-danh thắng:
+ Thắng cảnh Măng Đen Kon Tum:
Nằm ở độ cao từ 1.100 mét đến 1.400 mét so với mặt nước biển, cách thị xã KonTum hơn 50 km, giữa ngút ngàn thông và hoa rừng, Măng Đen lúc nào cũng se se lạnh
và tĩnh lặng giữa đại ngàn,… được coi là “Đà Lạt của Kon Tum”, Măng Đen theo tiếngdân tộc Mnông nơi đây có nghĩa là chỗ đất bằng phẳng Trên bình nguyên Măng Đen
có nhiều “Toong” (hồ), như: toong Đăm, toong Ki, toong Lung…, nhiều “kơi” (thác),như: cơi Tram, cơi Pa Sĩ, cơi Đăk Ke…tung bọt trắng xóa giữa núi rừng trầmmặckhiến Măng Đen càng thêm mơ mộng và huyền hoặc
Đến đây, du khach như thấy mình lạc vào xứ sở khác sau khi vượt qua một chăngđường dài Rừng thông mênh mông, có cây được trồng từ thời Pháp thuộc to, cao vúttrời xanh Thông ở đây phát triển nhanh bởi chất đất đỏ bazan rất màu mỡ Khí hậu ônđới, mát mẻ quanh năm
Măng Đen có dòng sông Đăk Ne hiền hòa, mát rượi, có nhiều hồ nước trong xanh,nhiều tôm, cá Nếu lấy trung tâm huyện Kon Plông làm tâm điểm thì các hồ, thác ởđây đều nằm trong vòng bán kính khoảng 10 km trở lại, có nghĩa là khá tập trung đểvui chơi, thưởng ngoạn Đặc biệt là hồ Đăm rộng khoảng 2 hecta, cách sân bay MăngĐen chừng 500 mét, vào mùa khô hoa mua, hoa sim nở tím ven hồ Xung quanh hồ làrừng thông, lá thông trải một lớp thảm dày khỏang từ 10 đến 15 cm mượt mà nhưnhung Tiêu biểu là hồ Lung rộng hơn 1 hecta, xung quanh còn có những cây cổ thụ từhai đêna ba người ôm không xuể, rừng ven hồ có nhiều phong lan Hồ Ly Leng rộngkhoảng 2 hecta, hồ Zin rộng khoảng 1 hecta, hồ Chàng rộng 2,5 hecta Các hồ còn lại,như: hồ Pô, hồ Jri, hồ Săng, hồ Rpoong, … hẹp hơn nhưng lại rất đẹp
Măng Đen còn có một hệ thực vật phong phú, đa dạng với loại rừng lá kim, rừnghỗn giao, nhiều loài gỗ quý Măng Đen không chỉ có tiềm năng về du lịch mà còn làvùng đất nhiều chiến công cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ
Hiện nay, khu du lịch Măng Đen được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là khu ditích lịch sử - danh thắng Măng Đen hiện vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ hiếm có Tổngcục Du lịch và chính quyền địa phương đã lập dự án quy hoạch khu du lịch Măng Đen,kêu gọi các nguồn vốn đầu tư để biến nơi đây thành điểm du lịch sinh thái và nghỉ máthấp dãn trong tương lai
Câu 3: Hãy nêu bối cảnh, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Đăk
Tô- Tân Cảnh (24/4/1972)?
* Trả lời: Chiến dịch Đắk Tô, thường được biết đến là trận Trận Đắk Tô - Tân Cảnh
là trận đánh mở màn cho Chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972 của Quân đội Nhân dânViệt Nam, diễn ra từ ngày 23 tháng 4 đến ngày 24 tháng 4 năm 1972 trên địa bàn Đắk
Tô và Tân Cảnh thuộc tỉnh Kon Tum
* Bối cảnh:
Trang 9Đăk Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của Quân lực Việt NamCộng hòa ở Bắc Tây Nguyên Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểudoàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy caođiểm phía Tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã
Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, để thực hiện Chiến dịch Bắc TâyNguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lựccủa 2 sư đoàn là Sư đoàn 320 (gồm 3 Trung đoàn 52, 64 và 48) và Sư đoàn 2 (gồm 2Trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), Trung đoàn đặccông 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòngkhông Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương Tổngbinh lực tham gia khoảng 20.000 người Riêng tại mặt trận Đắk Tô - Tân Cảnh, lựclượng gồm các đơn vị: Trung đoàn 28, Trung đoàn 66, Trung đoàn 95, Trung đoàn 24B(Sư đoàn 10 sau này) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum do Phó tư lệnhmặt trân Tây Nguyên Nguyễn Mạnh Quân trực tiếp chỉ huy
Đúng 15 giờ ngày 23 tháng 4 năm 1972, pháo binh QĐNDVN nã đạn dồn dập vàocăn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của QLVNCH Vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng
căn cứ Tân Cảnh Chớp thời cơ đối phương hoảng loạn, Tiểu đoàn 9 của Quân Giảiphóng cùng đội công tác tỉnh Kon Tum kêu gọi nhân dân nổi dậy Cho đến 5 giờ 55phút ngày 24 tháng 4 năm 1972, QĐNDVN đã chiếm được thị trấn Tân Cảnh Lúc nàycuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội Một mình chiếc xe tăng T-54mang số hiệu 377 của QĐNDVN đã tiêu diệt 7 xe tăng địch trước khi bị QLVNCH bắncháy bằng súng chống tăng QĐNDVN dần dần làm chủ tình hình Đến lúc 11 giờ trưangày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 66 QĐNDVN đã làm chủ căn cứ Tân Cảnh.Theo phía QĐNDVN, họ bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 mm, gần 100
xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tùbinh Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, Bộ tư lệnh QĐNDVN mặt trận cánh Đông đãcho pháo binh bắn phá căn cứ Đăk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng) Vào lúc 8 giờ sángngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 đánh thẳng vào sở chỉ huy E47ngay ở sân bay Phượng Hoàng, 4 xe tăng T-54 và một pháo tự hành cấp tốc rời căn cứTân Cảnh chi viện cho mũi tấn công tại căn cứ Đăk Tô 2 Sức kháng cự của E47 nhanhchóng bị đè bẹp, QĐNDVN làm chủ căn cứ Đăk Tô 2 Cụm phòng ngự mạnh của
đoàn 22 QLVNCH tử trận, phần còn lại của sư đoàn rút vào rừng tìm đường về KonTum QLVNCH đóng ở các căn cứ Ngok Blêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận Đăk Tôcũng bắt đầu rút chạy trong hoảng loạn Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đếnĐăk Tô, về Đăk Mốt đã hoàn toàn nằm trong tay QĐNDVN Tuy nhiên, sau trận đánhbản thân họ cũng bị thiệt hại đáng kể, nhiều xe tăng bị cháy, hậu cần thiếu, đặc biệt làđạn pháo nên 20 ngày sau mới tổ chức tấn công tiếp vào Kon Tum
*Kết quả:
Sau khi tiêu diệt cụm phòng ngự Đắk Tô - Tân Cảnh, một căn cứ phòng ngự quy
mô sư đoàn của Việt Nam Cộng Hòa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm chủ một
Trang 10vùng tương đối rộng, đồng thời gây ra bầu không khí hoang mang cao độ cho lựclượng phòng ngự ở thị xã Kon Tum Lúc này, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa ở thị xãKon Tum rất mỏng và yếu, trong thị xã chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vịĐịa phương quân Điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cuộc tiến công quyếtđịnh vào thị xã Nhưng lúc đó Bộ tư lệnh chiến dịch (Tướng Hoàng Minh Thảo?)lạinhận định: “Tuy địch ở Kon Tum rất hoang mang, sơ hở và mỏng yếu, nhưng ta chưa
cú đủ điều kiện để phỏt triển tiến cụng một cỏch nhanh chúng, mạnh mẽ vỡ đường cơđộng chưa làm xong, việc bảo đảm cơ sở vật chất và triển khai binh khớ kỹ thuật gặpkhú khăn, nờn quyết định mở đường để vận chuyển vật chất, đồng thời bổ sung cơ sở
QĐNDVN đã đánh mất thời cơ để đánh chiếm thị xã Kon Tum, tạo điều kiện đểQLVNCH có thời gian để kịp xốc lại tinh thần và bố trị lại lực lượng phòng ngự Cuộctiến công của QĐNDVN vào thị xã Kon Tum sau đó rút cục đã thất bại
* Ý nghĩa:
Ngày 24-4-1972 là một ngày không thể nào quên ở Kon Tum Ấy là ngày hai phần
ba tỉnh mạn bắc được giải phóng với chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh vang dội, làm đổnhào tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn Với đồng bào các dântộc tỉnh Kon Tum, chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh đã đi vào lịch sử của cuộc khángchiến chống Mỹ Bằng sức mạnh đấu tranh kiên cường như vũ bão của quân và dânKon Tum, chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh là kết quả tất yếu minh chứng hùng hồntruyền thống đấu tranh của dân tộc ta Thắng lợi trên đã cổ vũ lòng dân và thúc đẩycông cuộc đấu tranh của cả nước thêm mạnh mẽ, góp phần vào sự nghiệp giải phóngtoàn bộ Tây Nguyên sau này
Với ý nghĩa to lớn đó, Đăk Tô - Tân Cảnh đã được công nhận là di tích lịch sử cấpquốc gia, là niềm tự hào của người Kon Tum và cả khu vực Tây Nguyên Ngày nay,chiến thắng ấy được lưu dấu với thời gian bằng cụm tượng đài hoành tráng tại trungtâm thị trấn Đăk Tô Và dưới chân tượng đài Chiến thắng ấy lừng lững một chiếc xetăng oai dũng, đứng hiên ngang như đang sẵn sàng lao vào trận tuyến!
Câu 4: Nêu tóm tắt những thành tựu cơ bản của tỉnh Kon Tum sau hơn 20 năm
thành lập lại tỉnh (1991-2011)
* Trả lời: Ngày 12-8-1991, kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết giải
thể tỉnh Gia Lai-Kon Tum và thành lập lại 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum Việc thành lậplại tỉnh Kon Tum xuất phát từ yêu cầu phát triển chung của đất nước trong thời kỳ đổimới, xu thế và điều kiện phát triển của khu vực Tây Nguyên và tâm tư, nguyện vọngcủa nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum Từ khi thành lập lại, trong điều kiện còn nhiềukhó khăn của một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới; đời sống nhân dân còn rất nhiềukhó khăn, thiếu thốn; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, đặc biệt cơn bão số 9 (năm2009) đã làm ảnh hưởng và thiệt hại 11.834 ha đất sản xuất nông nghiệp và nhiều tàisản của nhân dân Song, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ kịp thờicủa Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương; với tinh thần tựlực, tự cường, cần cù sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trongtỉnh đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, phát huy truyền thống cách mạng và nhữngtiềm năng, thế mạnh sẵn có, tranh thủ sự hỗ trợ đầu tư của Trung ương, xây dựng tỉnhKon Tum phát triển
Sau 20 năm thành lập lại tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trongtỉnh đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tạo được những dấu ấn
Trang 11khá rõ nét về phát triển kinh tế - văn hoá, xã hội; củng cố quốc phòng-an ninh; kiệntoàn hệ thống chính trị, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong công cuộc đổimới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
1 Về lĩnh vực kinh tế-văn hoá, xã hội
* Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng khá cao (giai đoạn 1992-1995 đạt 9,15%/năm; 1996-2000 đạt 9,85%/năm; 2001-2005 đạt 11%/năm; 2005-2010 đạt14,71%/năm) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp-xây dựng (Năm 1992, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng: 7,4% Năm 2005, tăng lên19,04% Đến 2010 tỷ trọng công nghiệp- xây dựng 24,1%) Thu nhập bình quân đầungười/năm tăng liên tục qua các năm: Năm 1992 là 88,6 USD; năm 2000 đạt 182 USD,năm 2005 đạt 301 USD Đến năm 2010 đạt 707 USD, vượt 28% chỉ tiêu Nghị quyếtĐảng bộ tỉnh lần thứ XIII Tổng thu ngân sách nhà nước tại địa bàn tăng nhanh Nếunhư năm 1991 tổng thu ngân sách mới đạt 25-30% nhu cầu chi thường xuyên, số cònlại phải dựa vào trợ cấp của Trung ương; năm 2000 tổng thu ngân sách nhà nước tại địabàn gần 82 tỷ đồng thì đến năm 2005 đạt gần 270 tỷ đồng và năm 2010 đạt gần 1.400
tỷ đồng Việt Nam
- Nông lâm nghiệp và thủy sản có những chuyển biến tích cực, phát triển vữngchắc theo hướng sản xuất hàng hoá (giai đoạn 1992-1995: tăng trưởng 3,28%/năm;1996-2000: 10,7%/năm; 2001-2005: 9,15%/năm; 2005-2010 là 7,52%/năm) Diện tíchtrồng cây cao su ngày càng tăng, từ 886 ha năm 1991 đã tăng lên 19.762 ha năm 2005.Đến 2010, diện tích cao su 42.125 ha; trong đó diện tích cao su tiểu điền tăng gần 4 lần
so với năm 2005 (20.426 ha/5.734 ha) Cà phê cũng là cây trồng chủ lực của TâyNguyên nói chung và Kon Tum nói riêng Trong giai đoạn 1996 - 2000, diện tích càphê đạt 14.404 ha, đến 2005, do giá cà phê giảm, nên diện tích trồng cũng dần bị thuhẹp, toàn tỉnh còn 10.928 ha; đến 2010 diện tích cà phê đạt khoảng 11.668 ha Chănnuôi tiếp tục phát triển, một số cơ sở sản xuất giống vật nuôi chất lượng cao được hình
nghiệm, bước đầu đạt kết quả, mở ra hướng mới cho phát triển kinh tế nông thôn.Nông dân nhiều nơi tích cực đầu tư, liên kết với các doanh nghiệp để trồng rừng, gópphần nâng độ che phủ của rừng từ 65,5% lên 66,6%
- Tăng trưởng công nghiệp ngày càng cao và phát triển vượt bậc ở năm 2010: Giaiđoạn 1996-2000 chỉ đạt 14,5%/năm; 2001-2005 đạt 16,76%/năm thì giai đoạn 2005-
2010 công nghiệp-xây dựng tăng trưởng bình quân 25,7% năm; trong đó, giá trị sảnxuất công nghiệp đến 2010 tăng trên 6 lần so với năm 2005 Các cơ sở chế biến nông-lâm sản và khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng được sắp xếp một bước và tiếp tục mởrộng, hiện tỉnh có trên 3.050 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tăng 28,3% sovới năm 2005 Các công trình thuỷ điện Sê San 3, Sê San 3a, Sê San 4, Plei Krông vàmột số nhà máy thuỷ điện nhỏ với tổng công suất trên 839 MW đã đi vào hoạt động.Nhà máy chế biến bột giấy và giấy Tân Mai, nhiều công trình thuỷ điện vừa và nhỏđang được tích cực triển khai, thi công
- Thương mại-dịch vụ có bước phát triển, giai đoạn 1996-2000: 6,8%/năm; giai đoạn2001-2005: 11,18%/năm; giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămđạt 16,49% ( năm 2010 là 17,45%)
Trang 12- Năm 1992 kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh mới đạt 1,1 triệu USD, năm 2005 đã đạtkhoảng 11,4 triệu USD, đến 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 59,151 triệu USD, đạt gần200% chỉ tiêu Một số điểm du lịch văn hoá, lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng đã được quyhoạch và từng bước đầu tư.
- Ba vùng kinh tế động lực, tiềm năng về thuỷ điện, khoáng sản và đất lâm nghiệp
đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đến tìm hiểu và đầu tư vốn với quy mô khá lớn:Tại 3 vùng động lực đã có 111 dự án đang được triển khai thực hiện (thành phố KonTum: 41 dự án, huyện Kon Plông: 45 dự án, huyện Ngọc Hồi: 15 dự án), với tổng vốnđăng ký là 15.736 tỷ đồng, vốn thực hiện đến nay đạt 1.457 tỷ đồng Có 80 dự án thuỷđiện vừa và nhỏ được quy hoạch và đầu tư, trong đó có 2 công trình hoàn thành Dự ánthăm dò Wolfram (Sa Thầy), vàng (Đăk Glei) đã được Trung ương cấp phép thăm dò.Thành phố Kon Tum được thành lập theo đúng kế hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Quốc
tế Bờ Y gắn với thị trấn Plei Kần và khu Du lịch sinh thái Măng Đen có kết cấu hạ tầngđồng bộ hơn Các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp cơ bản theo đúng tiến độ,bước đầu ổn định và hoạt động hiệu quả hơn Kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân pháttriển khá về số lượng; đến nay, toàn tỉnh có 1.000 doanh nghiệp (tăng gấp 5 lần) và 80HTX, tăng 26 (50%) HTX so với năm 2005; Ngoài ra còn có 1.130 nhóm hộ và 70 tổhợp tác Năng lực cạnh tranh của tỉnh từ nhóm tương đối thấp lên nhóm khá: từ vị trí61/64 (năm 2006) lên 51/63 (năm 2009) và vị trí 39/63 năm 2010
* Về văn hoá, xã hội:
- Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh triển khai một cách đồng bộ và đạtđược kết quả tương đối cao, góp phần ổn định cuộc sống của người nghèo trên địa bàntỉnh Khi mới thành lập lại tỉnh, tỷ lệ hộ đói, nghèo của toàn tỉnh là trên 65%, đến 2005giảm xuống còn 9,23% (theo chuẩn nghèo năm 2005 là 38,63%) và đến 2010 giảmxuống còn khoảng 16,34%(chuẩn nghèo năm 2005) Các chính sách giải quyết đất ở,đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ nhà ở đối với gia đình chính sách,
hộ đồng bào dân tộc thiểu số, khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, được tỉnhquan tâm chỉ đạo và đạt kết quả rất đáng khích lệ Những kết quả này đã thực sự gópphần tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Khắcphục thiệt hại sau cơn bão số 9/2009 Về nhà cửa: Tổng kinh phí phân bổ hỗ trợ nhândân là 6,479 tỷ, đến cuối năm 2010 đã khắc phục xong 711 căn nhà bị sập, hư hỏngnặng và 1.749 căn nhà tốc mái, siêu vẹo, nhà có công trình phụ bị hư hỏng Xây dựngnhà cho các hộ dân sau bão: Tổng số căn nhà thuộc diện di dời là 2.986 căn nhà Đã didời 1.575 hộ dân và làm nhà cho 1.080 hộ dân, số còn lại hiện đang trong quá trìnhtriển khai thực hiện theo đề án UBND tỉnh đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xétcho xóa nợ và miễn, giảm lãi tiền vay đối với các hộ vay vốn Chi nhánh Ngân hàngchính sách xã hội tỉnh Kon Tum do ảnh hưởng của bão số 9 là 393 triệu đồng, trong đó
số dư nợ đề nghị xóa nợ 360 triệu đồng, số dư nợ đề nghị miễn, giảm lãi 33 triệu đồng
- Giáo dục-đào tạo được phát triển, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình pháttriển của tỉnh Khắc phục tình trạng thiếu thầy, thiếu lớp, thiếu phòng học và có nhiềuphòng học tạm bợ, tranh tre, nứa lá; số lượng cán bộ quản lý và giáo viên có trình độchuyên môn đạt chuẩn còn quá thấp của những năm đầu mới thành lập lại, tỉnh đã từngbước thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, từ tập trung mở rộng hệ thống trường, lớp đếnnâng cao chất và lượng giáo viên ở các cấp học, ngành học Đến nay tỉ lệ giáo viên cáccấp đạt chuẩn đạt 99,3%; cán bộ quản lý giáo dục 100% đạt chuẩn; 100% số xã đã cótrường THCS (năm 2001 có 27 xã chưa có Trường THCS chiếm 34% tổng số xã trêntoàn tỉnh); đã có 80 trường đạt chuẩn Quốc gia (19 trường Mầm non, 44 trường Tiểu
Trang 13học (trong đó có 02 trường đạt chuẩn mức độ 2), 12 trường THCS và 5 trường THPT.Nếu như đến năm 2005 chỉ có 1.650 phòng học thì đến năm 2010 đã xây dựng được5.980 phòng học Năm 1991 mới chỉ có 60% số người trong độ tuổi được cắp sách đếntrường, tỷ lệ mù chữ trong độ tuổi 15 - 25 là 46,6%, thì đến năm 2004 giảm xuống còn6,3% Số học sinh có mặt đầu năm học năm 2005 là 122.841 học sinh thì đến năm 2010
là 134.037 học sinh Năm 2000, tỉnh được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xoá
mù chữ và đến năm 2010 tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đangtiến hành phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện.Hệ thống cơ sở đào tạonguồn nhân lực tiếp tục được mở rộng: Phân hiệu đại học Đà nẵng tại Kon Tum đượcthành lập, Trường Trung cấp nghề Kon Tum đang được nâng cấp thành trường Caođẳng Trung tâm dạy nghề (cho các huyện khu vực phía Bắc và phía Đông của tỉnh)được thành lập;tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 21% năm 2005 lên 33% năm 2010
- Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ Khi mới thành lập lạitỉnh, cơ sở vật chất của ngành y tế thiếu thốn nghiêm trọng; đội ngũ cán bộ y tế vừathiếu, vừa yếu; trang thiết bị chuyên môn thiếu thốn, lạc hậu, nhiều xã “trắng” về y tế(không có trạm và cán bộ y tế), Nhưng đến nay, mạng lưới y tế được xây dựng, củng
cố và kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở Đã có 6,3 bác sỹ/vạn dân; 83,5% số trạm y tế xã cóbác sỹ; 98% trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ Bệnh viện đa khoa khu vựcNgọc Hồi đã hoàn thành, đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả Tỷ lệ trạm y tế xã cóbác sĩ tăng từ 40% lên 55,7% Tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sĩ đượcchấn chỉnh và có chuyển biến khá tốt; y tế dự phòng được triển khai tích cực; quan tâmnhiều hơn đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và khống chế, đẩy lùi cácdịch bệnh nguy hiểm
- Về văn hoá, thông tin: phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"phát triển cả về số lượng và chất lượng; số thôn, làng, khu dân cư và hộ gia đình đượccông nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa tăng mạnh: Toàn tỉnh hiện có 402 làng văn hóa, tăng
123 làng (44%) so với năm 2005; có 67.447 hộ được công nhận là gia đình văn hóa,tăng 17.875 hộ (36%) so với năm 2005 Tỷ lệ hộ nghe Đài tiếng nói Việt Nam đạt100%; tỷ lệ hộ được xem Đài Truyền hình Việt Nam đạt 84%; có 69% số xã có thưviện, bưu điện văn hoá xã Đến nay một số công trình văn hoá, phúc lợi công cộng nhưBảo tàng tổng hợp, thư viện, công viên; các nhà văn hoá Công đoàn, Thanh thiếu nhi,Quảng trường 16-3 được đầu tư xây dựng Đã khôi phục và phục dựng 11 loại hình lễhội văn hóa cổ truyền tiêu biểu của 6 dân tộc bản địa, các loại hình sinh hoạt cồngchiêng-nhạc cụ dân tộc, hát dân ca dân vũ, diễn xướng dân gian Các tôn giáo đượcNhà nước công nhận đều được tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động theo đúng quy địnhcủa pháp luật
* Về kết cấu hạ tầng
Ngay từ những năm đầu thành lập lại tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã xác địnhmuốn thoát khỏi đói nghèo, tiến tới phát triển bền vững, trước tiên phải củng cố, pháttriển kết cấu hạ tầng song song với thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo trên địabàn tỉnh Sau 20 năm kể từ ngày thành lập lại tỉnh, kết cấu hạ tầng của tỉnh đã pháttriển mạnh, từng bước đáp ứng các nhu cầu dân sinh và yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh Mặc dù bị thiệt hại nặng nề sau cơn bão số 9 năm 2009 với tổng kinh phí
trình còn lại đang triển khai thực hiện Tổng số cầu treo bị hư hỏng, cuốn trôi là 170cầu, nhiều tuyến giao thông trọng điểm được khởi công xây dựng, nâng cấp; hệ thống