1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ

172 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do nêu trên, tôi nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc về “Tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” với mục tiêu

Trang 1

ĐÀO HUY TOÀN

TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

Trang 2

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lại Quốc Khánh và TS.Tống Đức Thảo Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Đào Huy Toàn

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân 9

1.2 Tình hình nghiên cứu về thực trạng, quan điểm và giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân 15

1.3 Thành tựu nghiên cứu và những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu 31

Chương 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN 35

2.1 Khái niệm tính tích cực chính trị của nông dân 35

2.2 Nội dung tính tích cực chính trị của nông dân 45

2.3 Tiêu chí cơ bản để đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân 60

Chương 3 THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 72

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng duyên hải Bắc Bộ tác động đến tính tích cực chính trị của nông dân 72

3.2 Thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay và nguyên nhân 89

3.3 Dự báo tình hình và một số vấn đề đặt ra trong tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay 108

Chương 4 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ 113

4.1 Quan điểm cơ bản về nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ 113

4.2 Giải pháp chủ yếu để nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ 116

KẾT LUẬN 151

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PHỤ LỤC 169

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU

Trang

Biểu số 1: NSLĐ của các khu vực kinh tế theo giá hiện hành 76

Biểu số 2: Số hộ, số nhân khẩu vùng duyên hải Bắc Bộ 77

Biểu số 3: Tỷ lệ phụ nữ vùng duyên hải Bắc Bộ sinh con thứ 3 trở lên 95

Biểu số 4: Thống kê phương tiện, tiện nghi sinh hoạt vùng nông thôn vùng

duyên hải Bắc Bộ 97

Biểu số 5: Đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp và các ngành kinh tế của

Việt Nam 103

Biểu số 6: Trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người dân từ 15 tuổi trở

lên của nông thôn vùng duyên hải Bắc Bộ 106

Biểu số 7: Dân số vùng nông thôn vùng duyên hải Bắc Bộ biết đọc, biết viết 107

Trang 5

MỞ ĐẦU

Trong đời sống chính trị hiện đại, tính tích cực chính trị của công dân có vai trò to lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình dân chủ hoá đời sống chính trị, đến sự vận hành của thể chế chính trị pháp quyền dân chủ Tính tích cực chính

trị của công dân chính là sự quan tâm đến các mục đích của quá trình chính trị,

là sự tự giác, chủ động, sáng tạo của công dân tham gia và góp phần làm cho quá trình chính trị vận hành một cách có hiệu quả Tính tích cực chính trị của

công dân được thể hiện trên nhiều bình diện, trong nhiều quá trình chính trị như trong quá trình bầu cử nhằm hình thành nên các cơ quan quyền lực, hình thành

cơ chế ủy quyền và trao quyền, trong quá trình tham gia vào các quyết định chính trị lớn của dân tộc, trong quá trình chấp hành luật cũng như tham gia xây dựng, sửa đổi bổ sung Hiến pháp và các đạo luật, tham gia vào chu trình hoạch định chính sách công, Nghiên cứu tính tích cực chính trị của công dân có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng tựu chung lại thì tính tích cực chính trị được nghiên cứu xem xét trong sự ảnh hưởng, tác động mang tính quyết định đến các quá trình chính trị, pháp lý, là sự tích cực tham gia vào bầu cử, tự giác chấp hành pháp luật, lao động sáng tạo thực hiện mục tiêu chính trị, tham gia có trách nhiệm vào các quyết sách chính trị của địa phương, dân tộc, đất nước, Có nghĩa

là xem xét mối quan hệ giữa tính tích cực chính trị của công dân trong mối quan

hệ giữa công dân với thể chế chính trị, trong quan hệ giữa các chủ thể của quyền

lực Rõ ràng là, nếu không phát huy được tính tích cực chính trị của công dân thì

toàn bộ các quá trình chính trị, pháp lý có thể vận hành lệch lạc với hậu quả tất yếu là dẫn đến thiếu dân chủ, thiếu công bằng và minh bạch, mất ổn định chính trị, cản trở và tạo nên các yếu tố bất lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

Ở Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông dân

đã và đang là lực lượng đông đảo nhất, có những đóng góp rất lớn trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, là lực lượng chủ lực trong phát triển đất nước, xây đắp nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, hình

Trang 6

thành nên những làng quê Việt Nam với những giá trị tinh thần phong phú, Hiện nay, nông dân chiếm gần 70% dân số và trên 44% lực lượng lao động xã hội [47; tr.13], đã và đang tiếp tục phát huy vai trò, vị trí quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giải quyết các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Văn kiện đại hội của Đảng qua các thời kỳ và nhiều nghị quyết của Đảng bàn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đều khẳng định vai trò chính trị của nông dân Năm 1953, khi Đảng chủ trương phát động nông dân triệt để giảm tô và tiến hành thí điểm cải cách ruộng đất ở một số xã trong vùng tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Năm nay, chúng ta phải kiên quyết thực hiện triệt để giảm tô

Muốn vậy, phải ra sức phát động quần chúng nông dân, làm cho quần chúng tự giác tự nguyện đứng ra đấu tranh triệt để giảm tô” [95; tr.30] Tại Hội nghị lần

thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (1-1953) Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông

dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế

quốc”; “Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực

hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân,

phải chia ruộng đất cho nông dân”[95; tr.31] Đại hội lần thứ III của Đảng 1960) khẳng định: “ Muốn đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải

(9-đi từ nông nghiệp, phải dựa vững vào lực lượng của nông dân lao động và phát huy tính tích cực cách mạng của họ”[109; tr.537] Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 (Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về Đ y mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn th i k 2001 - 2010” đã làm rõ hơn quan điểm của

Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đề cao vai trò của nông dân trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khoá X) của Đảng (7-2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ”[45] Đại hội lần

Trang 7

thứ XII của Đảng tiếp tục xác định phát triển sản xuất nông nghiệp là then chốt, xây dựng nông thôn mới là căn bản, nông dân giữ vai trò chủ thể [47; tr.92] Có thể thấy, tuy không sử dụng khái niệm “tính tích cực chính trị”, nhưng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của nông dân trong sự nghiệp cách mạng về cơ bản chính là nói đến tính tích cực chính trị của lực lượng xã hội này

Kết quả sau 30 năm đổi mới của đất nước ta (từ năm 1986 đến nay) là hết

sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử, thế và lực của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã phát huy vai trò, vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó nông dân là một lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng an ninh Bên cạnh những kết quả đạt được, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân hiện nay tuy có bước

cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2010 còn 14,2%; năm 2012 còn 9,6%; năm 2015 còn 4,5%; trong đó chủ yếu là nông dân), nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu,

vùng xa Thực trạng sản xuất của nông dân hiện nay đa số vẫn là sản xuất quy

mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp, giá sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp bấp bênh, chưa thực hiện đầy đủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Các chính sách về thu mua tạm trữ, tiêu thụ nông sản, nhập khẩu vật tư nông nghiệp; khai thác khoáng sản, khai thác hải sản; bảo hiểm nông nghiệp chưa mang lại quyền lợi thực sự cho nông dân Nông dân khó tiếp cận các chính sách tín dụng của Nhà nước dẫn đến thiếu vốn sản xuất, kinh doanh Việc thu hồi đất nông nghiệp, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư chưa phù hợp, một bộ phận nông dân mất đất sản xuất, không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn, chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị còn lớn và đang có xu hướng nới dần khoảng cách Dân trí không đồng đều giữa các vùng miền, còn nhiều nông dân

mù chữ, thiếu hiểu biết về pháp luật; còn hàng chục nghìn nông dân nhập cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp, Có nhiều nguyên nhân dẫn

Trang 8

đến tình trạng này, trong đó, một nguyên nhân quan trọng chính là người nông dân chưa ý thức hết hoặc chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm chính trị của mình trong các quá trình kinh tế - xã hội Hay nói cách khác, tính tích cực chính trị của nông dân chưa được nhận thức và phát huy đầy đủ, thậm chí, có nơi, có lúc bị lợi dụng, biến dạng Thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay không thể thiếu được vai trò của nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân số và lao động xã hội Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hiện các cam kết của hội nhập quốc tế, việc khắc phục những hạn chế, phát huy vai trò làm chủ của nông dân vừa là nhiệm vụ, vừa là điều kiện để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, cần được tập trung nghiên cứu và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc bồi đắp, củng cố, nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân là một trong các giải pháp trọng tâm Đòi hỏi là như vậy, nhưng trên thực tế, các nghiên cứu khoa học về nông dân thời gian qua còn thiếu các nghiên cứu sâu cả về

lý thuyết và thực tiễn tính tích cực chính trị của nông dân, vì vậy chưa có đầy đủ căn cứ khoa học để xây dựng các giải pháp thật sự hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực chính trị của nông dân Việt Nam tham gia vào đời sống chính trị, xã hội

Vùng duyên hải Bắc Bộ (theo Quyết định số 865/QĐ-TTg, ngày 10/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 5 tỉnh, thành phố là Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình với diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km2, nằm ven vịnh Bắc Bộ; đến năm 2015, dân số gần 8 triệu người, trong đó cư dân nông thôn trên 5 triệu người với nhiều vùng thuần nông ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Vùng duyên hải Bắc Bộ có vị trí địa chiến lược quan trọng là cửa ngõ ra biển của các tỉnh, thành phố miền Bắc nước ta; có biên giới trên bộ với Trung Quốc dài trên 118 km và trên 600 km biên giới trên biển,

là huyết mạch chính giao thương với Trung Quốc cả trên bộ và trên biển, là cửa ngõ của Trung Quốc với ASEAN Vùng duyên hải Bắc Bộ được định hướng là vùng kinh tế quan trọng tầm quốc gia và quốc tế, có vị thế ảnh hưởng đặc biệt với vùng Thủ đô Hà Nội và vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, là một vùng trọng

Trang 9

điểm của chiến lược biển Việt Nam Nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ trong thời gian qua luôn đoàn kết, phát huy tiềm năng thế mạnh của Vùng trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay còn nhiều khó khăn, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội, chưa tích cực tham gia các quá trình chính trị, chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để hội nhập quốc tế, trong khi đó hội nhập với Trung Quốc đang diễn ra sôi động, nhanh chóng và quyết liệt, đòi hỏi sự vào cuộc tích cực của người dân Vì vậy, việc nghiên cứu và phát huy tính tích cực chính trị của trên 5 triệu nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ là nhiệm vụ

có ý nghĩa quan trọng, tạo ra nguồn lực nói chung và nguồn lực con người nói riêng để phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và Tổ quốc Việt Nam

Với những lý do nêu trên, tôi nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu một cách

đầy đủ và sâu sắc về “Tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải

Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” với mục tiêu xây dựng và triển khai thực hiện đồng

bộ các giải pháp góp phần phát huy vai trò chủ thể chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ, tạo động lực giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển toàn diện và bền vững đời sống kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng, cả nước nói chung

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay

- Xây dựng tiêu chí cơ bản để đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân

- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng tính tích cực chính trị của nông

dân trong đời sống chính trị vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Tính tích cực chính trị của nông dân Khi nghiên cứu thực tiễn, Luận án tập trung nghiên cứu tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ trong hoạt động bầu cử và thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Vùng duyên hải Bắc Bộ (bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và thành phố Hải Phòng

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ tại thời điểm thực hiện Luận án (2015-2016 ; các giải pháp được đề xuất trong tầm nhìn đến 2020

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Tính tích cực chính trị của nông dân có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống chính trị, nhưng để nhận thức đúng đối tượng nghiên cứu này cần xây dựng một khung lý thuyết cụ thể (nếu xây dựng được khung lý thuyết phù hợp trong đó làm rõ được khái niệm và tiêu chí đánh giá thì sẽ nhận thức đúng tính tích cực chính trị của nông dân nói chung và nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ nói riêng)

- Mặc dù Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội đã có nhiều biện pháp và bản thân người nông dân cũng đã quan tâm đến đời sống chính trị, nhưng trên thực tế tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ

Trang 11

hiện nay vẫn chưa được nâng cao tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ mới và đang tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết

-Vấn đề tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ phương châm, quan điểm đến những chính sách cụ thể Trong liên minh giai cấp ở nước ta hiện nay, giai cấp nông dân có vị trí quan trọng hàng đầu, là nền tảng trong quan hệ giai cấp ở nước ta, nghiên cứu về giai cấp nông dân và tính tích cực của nông dân nhằm lý giải logic và lập luận trên

- Việc nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc

Bộ hiện nay có thể và cần thiết phải xây dựng hệ thống các giải pháp toàn diện

và nếu thực hiện được điều đó thì sẽ phát huy được một cách có hiệu quả vai trò của nông dân trong đời sống chính trị đất nước

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông dân, vai trò của nông dân trong đời sống chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả vận dụng các phương pháp chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành: kết hợp lịch sử - lôgic, phân tích, tổng hợp, thống kê, định lượng, định tính, so sánh, văn bản học, phân tích hành vi,

Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic được tác giả Luận án sử dụng để khái quát hóa quá trình hình thành và phát triển của tính tích cực chính trị của nông dân qua từng thời kỳ lịch sử Phương pháp phân tích tổng hợp đã được tác giả của Luận án sử dụng để phân tích những biểu hiện hành vi của tính tích cực chính trị của người nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ, trên cơ sở đó, tổng hợp, khái quát thành những đặc trưng thể hiện đặc điểm tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ

Phương pháp định tính, định lượng, điều tra xã hội học được tác giả Luận

án sử dụng để tiến hành điều tra xã hội học tại 5 tỉnh, thành phố vùng duyên hải

Bắc Bộ, thực hiện điều tra, khảo sát tại 10 huyện với 20 xã, tổng số 800 phiếu

Trang 12

(40 phiếu/ xã , nhằm bổ sung thêm tư liệu về thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân

6 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

- Góp phần xây dựng khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân, cụ thể là: Xác lập khái niệm khoa học về tính tích cực chính trị của nông dân; đặc điểm, vai trò, hình thức thể hiện tính tích cực chính trị của nông dân

- Góp phần cung cấp bộ tiêu chí cơ bản đánh giá về tính tích cực chính trị của nông dân

- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu, có tính khả thi, nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm rõ khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân, có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu sâu hơn về nông dân và giai cấp nông dân

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học và giảng viên đào tạo các vấn đề có liên quan trong lĩnh vực khoa học chính trị và một số lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn khác Các kết quả đó cũng có thể được tham khảo trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông dân, nông nghiệp và nông thôn

- Các giải pháp được đề xuất trong Luận án có thể được ứng dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ ở Việt Nam hiện nay, phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

8 Kết cấu của Luận án

Luận án kết cấu thành 4 chương, 11 tiết, kết luận, danh mục công trình công bố có liên quan đến Luận án của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN

Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân trong đó có

sử dụng khái niệm khoa học này

Tuy nhiên, những nghiên cứu lý thuyết về tính tích cực chính trị, tính tích cực chính trị của công dân nói chung thì đã được một số nhà khoa học quan tâm

và được đề cập trong một số công trình nghiên cứu trong vào ngoài nước Trong khuôn khổ Luận án này, tôi tập trung khảo sát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Ở trong nước, nghiên cứu của tác giả Chu Khắc về Tính tích cực chính trị - xã hội trong lối sống xã hội chủ nghĩa” đã khái quát dưới chế độ xã hội chủ

nghĩa, nhà nước luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để đông đảo quần chúng nhân dân được tham gia vào mọi hoạt động chính trị - xã hội; sự tham gia tự giác của quần chúng nhân dân vào các hoạt động chính trị - xã hội là đặc trưng của con người mới, thể hiện ở sự giác ngộ chính trị, sống có lý tưởng, có tình cảm cao đẹp và có năng lực hoàn thành các nhiệm vụ, Đồng thời quan niệm về nội dung tính tích cực chính trị - xã hội của mọi người trong xã hội là thi hành mọi nghĩa

vụ của công dân mà trước hết là chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tính tích cực chính trị

- xã hội còn bao gồm sự tham gia quản lý xã hội theo nguyên tắc của chế độ làm chủ tập thể, là việc kiểm tra của nhân dân với hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước và xã hội, là thi đua chủ nghĩa xã hội Nghiên cứu đã nêu rõ các yếu tố tác động đến tính tích cực chính trị - xã hội là sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị, là vai trò của công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, là cách mạng khoa học - kỹ thuật Giải pháp cơ bản để nâng cao tính tích cực chính trị -

xã hội là: Nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục cho các công dân và phát triển chế

Trang 14

độ làm chủ tập thể; phát huy vai trò của thông tin đại chúng; tác dụng của giáo dục tập thể lao động tức là thực hiện chế độ làm chủ tập thể đối với từng con người, đồng thời phát huy vai trò của dư luận xã hội [76] Đây có thể coi là một trong những công trình xuất hiện khá sớm trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam bàn

về tính tích cực chính trị

Luận án tiến sĩ chính trị học của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa về “Tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay” đã tổng hợp các nghiên cứu, các quan niệm về tính tích cực chính trị qua

các thời kỳ lịch sử, quan niệm của phương Đông, phương Tây về tính tích cực chính trị và xây dựng khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của công dân

Cuốn sách “Tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay”, do TS Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên, đã định nghĩa về tính

tích cực chính trị: “Tính tích cực chính trị là toàn bộ những biểu hiện của sự tự giác, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp, một chính đảng, một nhà nước với tư cách là những chủ thể chính trị khác nhau khi tham gia vào quá trình chính trị trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, nhằm hiện thực hóa những mục tiêu chính trị vì sự phát triển, tiến bộ của cộng đồng” [62; tr.52] Cuốn sách còn làm rõ những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn về tính tích cực chính trị của công dân để xây dựng đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế; góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về tính tích cực chính trị của công dân; đưa ra định nghĩa về tính tích cực chính trị của công dân

“Tính tích cực chính trị của công dân là toàn bộ những biểu hiện của sự tự giác, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của công dân tham gia vào quá trình chính trị, trên những cơ sở, điều kiện xác định, nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính trị tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển của cá nhân công dân và của cộng đồng” [62, tr.54]; dấu hiệu bản chất để nhận biết tính tích cực chính trị của công dân là thể hiện qua hành động tự giác, chủ động, sáng tạo của công dân; chuẩn mực chung

để đánh giá tính tích cực chính trị của công dân là ở mục tiêu, lý tưởng chính trị không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì sự tiến bộ của xã hội; đặc thù riêng tính

Trang 15

tích cực chính trị của công dân là không thể xuất hiện trong các hoạt động cô lập,

vô tổ chức của mỗi công dân mà chỉ được hình thành trong hoạt động chính trị có tính liên kết cao với tổ chức, lãnh đạo chặt chẽ, Đồng thời cuốn sách còn nêu lên

4 giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay là: Thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội; nâng cao văn hóa chính trị của công dân phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần trong hoạt động chính trị xã hội; xây dựng cơ chế thích hợp nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài

Nội dung Luận án tiến sĩ và cuốn sách của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa

đã tổng hợp, khái quát những quan niệm về tính tích cực chính trị qua các giai đoạn lịch sử, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tích cực chính trị của công dân, đó là những nghiên cứu rất quý, là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về tính tích cực chính trị Tuy nhiên, trong thực tế có phải công dân cứ chủ động, tự giác tham gia thật nhiều vào quá trình chính trị là tốt? Việc tham gia chủ động, tự giác nhưng thái quá của công dân vào quá trình chính trị có lúc làm cản trở quá trình chính trị, vì vậy định nghĩa về tính tích cực chính trị của công dân cần có giới hạn mức độ tham gia của công dân thế nào cho phù hợp Mặt khác không chỉ các biểu hiện của sự tự giác, chủ động là sự tích cực,

mà bản thân tính chủ động, tính tự giác chính là sự tích cực Vì vậy tính tích cực chính trị chính là tính chủ động và tự giác của chủ thể chính trị tham gia vào quá trình chính trị,

Báo cáo của Tổ chức Oxfam tại Việt Nam về Vun trồng một tương lai no đủ” đã đánh giá một cách sinh động công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt

Nam, trong đó đánh giá hệ thống nông nghiệp đang chạm ngưỡng quá tải, cần phát huy tối đa các tiềm năng của nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái mới, Báo cáo đã tổng hợp các nghiên cứu đối với người nghèo, nông dân sản xuất quy mô nhỏ, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là việc nâng cao tiếng nói và quyền đại diện của người dân thông qua tổ chức và sáng kiến dựa vào cộng đồng, tạo không gian và cơ chế mới cho đối thoại trực tiếp,

Trang 16

tăng năng lực của người dân tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội sao cho tiếng nói của họ được lắng nghe [105; tr.39] Tuy không đặt trọng tâm vào việc trình bày khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của công dân, nhưng nghiên cứu của Oxfarm cung cấp những gợi mở hữu ích cho việc xây dựng khung lý thuyết về vấn đề này

Ngân hàng thế giới đã xây dựng Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035 - Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” Báo cáo đã đánh giá

thực trạng kinh tế - xã hội của Việt Nam và định hướng mục tiêu đến 2035, trong

đó đề cao tiếng nói của người dân trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với sự tham gia tích cực hơn của nông dân trên các diễn đàn, trên truyền thông, qua giới thiệu và trực tiếp dân chủ bầu cử trưởng thôn, bản Đồng thời đề cao trách nhiệm giải trình, minh bạch các hoạt động của Chính phủ, là yếu tố quan trọng để giữ vững niềm tin và phát huy tính tích cực tham gia của người dân [99, tr.92] Tương tự như công trình của Oxfarm nói trên, khung lý thuyết được Ngân hàng thế giới sử dụng để thực hiện nghiên cứu của họ cũng có giá trị gợi mở rất lớn cho việc xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu tính tích cực chính trị của nông dân ở Việt Nam

Ở nước ngoài, trong công trình Nền dân trị Mỹ”, Alexis De Tocqueville

cho rằng, tinh thần trách nhiệm của các công dân đối với cộng đồng là yếu tố quyết định tương lai của nền dân trị, “phương tiện mạnh mẽ nhất, thậm chí là phương tiện duy nhất chúng ta còn có trong tay để mọi người quan tâm đến Tổ

quốc mình, đó là để họ tham gia vào việc cầm quyền” và khi đó họ sẽ bảo vệ

quyền tự do cho mình và cho tất cả mọi người [62; tr.13] Ông còn cho rằng: Người Mỹ ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh và theo nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng thường tạo ra các hiệp hội Một trong các hiệp hội đó là các nhóm lợi ích (nhóm lợi ích kinh doanh, nhóm nghề nghiệp, các nhóm lợi ích công, ) Hoạt động của các nhóm lợi ích tham gia vào mọi loại hình và tất cả các giai đoạn của hoạt động chính trị nhưng chủ yếu là vận động hành lang và tham gia vào hoạt động bầu cử (các nhóm lợi ích tham gia vào các cuộc vận động bầu cử thông qua

Trang 17

sự giúp đỡ các đảng phái chính trị và các ứng cử viên tự do Tham gia chính trị của các công dân Mỹ được đo bằng nhiều biến số như ký vào đơn kiến nghị, tham gia vào các buổi mít tinh chính trị và tham gia các cuộc diễu hành, biểu tình, tẩy chay, tuần hành, tham gia bầu cử, đóng góp cho các chiến dịch bầu cử, tiếp xúc với các quan chức, [1; tr.119] Công trình của Alexis De Tocqueville đã được xuất bản từ rất lâu và chính nó đã cung cấp nhiều gợi ý lý thuyết cho nghiên cứu tính tích cực chính trị của công dân nói chung, trong đó có nông dân

Giữa thế kỷ XX, hai nhà chính trị học người Mỹ là G.Almond và S.Verba

đã đi sâu nghiên cứu hành vi chính trị của công dân và cho rằng, mức độ sâu sắc

mà công dân can dự vào đời sống chính trị được đo bằng mức độ nhận thức của công dân cũng như những tình cảm, quan điểm, sự phán xét của họ về đất nước, dân tộc, lịch sử và hệ thống chính trị của mình, về quá trình thực thi chính sách của nhà nước, và cá nhân tự coi mình là thành viên tích cực của cả hệ thống chính trị G.Almond và S.Verba đã chia ra ba loại hình cơ bản của văn hóa chính trị là: Kiểu bộ lạc, kiểu phụ thuộc và kiểu tham dự Trong đó loại hình văn hóa chính trị tham dự là tiêu biểu của nền chính trị dân chủ, công dân tin tưởng rằng

họ có thể đóng góp vào hệ thống chính quyền và bị ảnh hưởng bởi chính quyền

Từ kết quả nghiên cứu này thì văn hóa chính trị tham dự là loại hình phát huy được tính tích cực chính trị của công dân, khi đó các thành viên của xã hội định hướng rõ ràng với hệ thống chính trị với tư cách là một chỉnh thể, Như vậy tính tích cực chính trị có thể được hiểu là sự tham dự chủ động, sâu sắc của người dân vào các hoạt động chính trị và đời sống chính trị [62; tr.14]

Cuốn sách Participation of Women in Political Life”(Sự tham gia của

phụ nữ trong đời sống chính trị) đã chỉ rõ việc tạo điều kiện cho tất cả các công dân tham gia quản lý các vấn đề công cộng, phát huy tính tích cực chính trị của công dân là vấn đề trung tâm của nền dân chủ Trong đa số các quốc gia hiện nay thì “đấu trường” chính trị phần lớn vẫn do nam giới và thậm chí là độc quyền của nam giới thực hiện Trong xã hội dân chủ, nam và nữ đều có quyền bình đẳng tham gia đầy đủ trong tất cả các khía cạnh của quá trình chính trị, nhưng

Trang 18

trong thực tế, thường khó khăn hơn cho phụ nữ thực hiện quyền này, vì vậy ở nhiều nước đã tạo thêm những thuận lợi để phụ nữ tham gia đảng chính trị, tham gia ứng cử, Các đảng chính trị là một trong những tổ chức quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tham gia chính trị của phụ nữ Vai trò của phụ nữ trong các đảng chính trị là một yếu tố quyết định quan trọng về triển vọng của họ để trao quyền chính trị, đặc biệt là ở cấp quốc gia Bởi vì các đảng chính trị rất có ảnh hưởng trong việc định hình triển vọng chính trị của phụ nữ, các chính phủ và tổ chức quốc tế đang cố thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các cuộc bầu cử chính đáng có xu hướng tập trung vào vai trò của các đảng chính trị, tổ chức phụ nữ, công đoàn, các tổ chức phi chính phủ và các phương tiện truyền thông đều có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia chính trị của phụ nữ [177; tr.12]

Cuốn sổ tay hướng dẫn của Osce Office for Democratic Institutions and

Human Rights (ODIHR), Handbook on promoting women’s participation in political parties (sổ tay hướng dẫn sự tham gia tích cực của phụ nữ trong các đảng chính trị) đã chỉ rõ bình đẳng giới, trong đó có sự tham gia bình đẳng của

phụ nữ và nam giới trong tất cả các khía cạnh của chính trị và đời sống công cộng, là một nguyên tắc nền tảng mà tất cả các nước tham gia OSCE đã đăng ký Tác phẩm đã góp phần hướng dẫn, đào tạo phụ nữ tham gia chính trị với phương thức và kỹ năng tham gia chính trị, tạo động lực cho phụ nữ tham gia chính trị một cách tích cực, Việc tham gia chính trị của phụ nữ ngày nay đang dần tăng lên trong khu vực OSCE, nhất là trong Quốc hội của các quốc gia trong khu vực OSCE tăng từ 17% năm 2000 lên 24,8% năm 2013, [179; tr.9]

Cuốn sách “Chính sách kinh tế mới qua lăng kính của th i đại hiện nay” của tác giả Epghênhi Ambaraxumốp đã trình bày tính tất yếu ra đời của NEP và quan điểm về một số vấn đề trong chính sách kinh tế ở Liên Xô, phân tích về vai

trò của nông dân trong giai đoạn thực hiện chính sách kinh tế mới NEP Nông dân có vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của chính sách, đã nhanh chóng khôi phục và phát triển mạnh kinh tế của nước Nga, là cơ sở để thực hiện kế hoạch điện khí hóa toàn quốc Những nội dung trực tiếp bàn về vai

Trang 19

trò của nông dân như: Bàn về thuế nông nghiệp; buôn bán lúa mì, đã khẳng định thực hiện chính sách kinh tế mới phải bắt đầu từ nông dân với sự vào cuộc tích cực, tự giác của nông dân, được thể hiện qua tiếng nói, qua việc làm của nông dân, tác giả nhấn mạnh “Để tiến hành Chính sách kinh tế mới và phát triển

nó, V.I.Lênin coi trọng tính độc lập của thành phần nông dân trong xã hội Xô

Viết và trong nhà nước hơn lúc trước rất nhiều” [51; tr.40]

Tóm lại, việc tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy, tuy chưa có

công trình nghiên cứu nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân, tuy nhiên, những công trình có liên quan thì khá nhiều, hoặc đề cập đến những vấn đề lý thuyết về tính tích cực chính trị, tính tích cực chính trị của công dân nói chung, hoặc trình bày những vấn đề lý thuyết ở khía cạnh này hay khía cạnh khác về tính tích cực chính trị của nông dân Những kết quả nghiên cứu này có thể được Luận án kế thừa, xong rõ ràng, việc xây dựng một khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân là nhiệm vụ khoa học cần được đặt ra và là một nhiệm vụ không hề đơn giản

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN

Các nghiên cứu liên quan đến tính tích cực chính trị của nông dân Việt Nam thời gian qua chủ yếu đề cập đến vị trí, vai trò của nông dân và giai cấp nông dân nhất là vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, cùng các điều kiện cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tác động đến tính tích cực chính trị của nông dân; đề cập một số kinh nghiệm, mô hình huy động sự tham gia tích cực của nông dân vào các quá trình chính trị:

Các cuốn sách “Làng xã Việt Nam - Một vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội”,

“Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử” của tác giả Phan Đại Doãn; “Xã thôn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng Phong; “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ Bắc Bộ” của tác giả Nguyễn Từ Chi đã khắc họa rõ đặc điểm

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của làng xã Việt Nam truyền thống: Vấn đề cơ bản trong sản xuất phát triển kinh tế của nông dân nước ta từ xưa là tái sản xuất

Trang 20

tiểu nông có tính chất tổng hợp trên cơ sở trồng lúa nước, trọng ruộng đất, trọng nông nghiệp và xem nhẹ tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp Trong đó sự tham gia tích cực của người nông dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và quản

lý nông thôn được thể hiện qua các quan hệ xã hội trong làng và thường quay xung quanh một trục gia đình - họ hàng - làng xóm, đan xen các quan hệ kinh tế, văn hóa và lan tỏa làm mềm hóa quan hệ pháp luật, quan hệ nhà nước Nhiều hương ước quy định hình phạt rất cụ thể, khắc nghiệt đối với từng vi phạm khác nhau và dư luận đảm bảo hiệu lực của lệ làng mà chính người nông dân tự nguyện thực hiện [30; tr.119] Gia đình nông thôn Việt Nam truyền thống là đơn

vị sinh hoạt, đơn vị kinh tế, đơn vị giáo dục và là tế bào của xã hội; dòng họ là tổ chức có tính huyết thống và xã hội thường gồm 3 yếu tố cơ bản (gia phả, từ đường, ruộng họ hoặc quỹ họ ; gia đình và dòng họ là tổ chức đa chức năng, là

tổ chức bảo hiểm cho các thành viên khi họ gặp khó khăn về kinh tế, trở ngại về

xã hội, khuyến học, khuyến tài, Tục thờ cúng tổ tiên với các quy định của gia

lễ, gia huấn góp phần điều chỉnh người nông dân vì vậy góp phần vào quản lý xã hội, giữ gìn sự an toàn và ổn định xã hội Kết cấu quyền lực của làng xã Việt Nam phải kể đến tính tự trị - tự quản qua lệ làng, của hương ước, dựa vào truyền thống được cộng đồng chấp nhận, tuân thủ Kết cấu quyền lực mang tính tự quản của làng phần lớn dựa trên cơ sở quyền trưởng lão, ngôi thứ trong làng được chia

ra nhiều hạng chức sắc, chức dịch, thí sinh, khóa sinh, lão hạng (từ 50 tuổi trở lên , dân đinh (từ 13 đến 49 tuổi , [32; tr.10, 20, 71]

Cuốn sách Ngư i nông dân châu thổ Bắc K ”của Pierre Gourou - Nhà

nghiên cứu địa lý học người Pháp đã khắc họa hình ảnh nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Châu thổ Bắc Kỳ gồm nhiều tỉnh (bao trùm hầu hết vùng duyên hải Bắc Bộ ngày nay , là vùng đồng bằng diện tích không rộng nhưng đông dân vào loại nhất trên thế giới, với 6.500000 nông dân cư trú lâu đời, mật độ dân số 450 người dân/ km2

[113; tr.11] Sản xuất manh mún, khép kín, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước gắn với hệ thống đê hàng nghìn km để ngăn nước sông và nước biển bảo vệ mùa

Trang 21

màng và cuộc sống của người dân, sự tham gia tích cực của người nông dân vào đời sống xã hội thể hiện qua việc thường xuyên tham gia đắp đê; đoàn kết sống tập trung thành làng, bao quanh làng thường là lũy tre vững chắc với các điếm canh, mọi người trong làng đều phải có trách nhiệm trồng và bảo vệ lũy tre; tham gia vào sự sắp xếp ngôi thứ trong làng, người nông dân rất thích trở thành chức sắc trong làng, khi trở thành chức sắc họ rất quan tâm đến đặc ân mà mình đáng được hưởng Đặc biệt, trong đời sống xã hội của làng là sự kiểm soát tuyệt đối của công luận đối với đời tư của mỗi người, đòi hỏi mọi người phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người dân, nghĩa vụ tôn giáo, thực hiện đạo lý, nếu vi phạm thì làng can thiệp và phạt vạ Sự bình yên của làng phụ thuộc vào sự phục tùng của dân làng vào lẽ phải và mỗi làng có một niềm hãnh diện riêng khiến người dân giữ gìn tên tuổi của làng Mặc dù đời sống khó khăn, nhưng người nông dân vẫn tham gia hoạt động của làng, xã, tự nguyện chấp hành các quy định của làng, xã và các phong tục, tập quán, đồng thời tích cực tố giác những người vi phạm để làng, xã xử

có sức mạnh bền vững, nước mất nhưng làng không mất, vẫn được phục hồi tái lập Đồng thời chỉ rõ nông dân Việt Nam luôn là lực lượng tham gia đông đảo nhất và hy sinh rất lớn cho các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền phong kiến, cho đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc [74; tr 18, 22-25]

Trang 22

Tính tích cực của nông dân Việt Nam không chỉ thể hiện qua đấu tranh cách mạng, qua duy trì hoạt động của làng xã, mà còn thể hiện trong sự nghiệp

đổi mới, phát triển kinh tế Cuốn sách Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới” của tác giả Đặng Phong đã góp phần dựng lại bức tranh sinh động, phong

phú về những tìm tòi, tháo gỡ của những năm trước 1986, tạo cơ sở thực tiễn và

lý luận cho đổi mới ở Việt Nam “Phá rào” đó là nói tới thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ nhiều nhược điểm, tạo nên rào cản cho phát triển Với 20 cuộc “Phá rào” trong các ngành nghề trong đó

có vai trò tự chủ, sáng tạo, nỗ lực của nông dân Từ quan niệm hợp tác xã là giải pháp để giải phóng người nông dân khỏi bần cùng, nên đã gò ép nông dân vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, tập thể hóa tư liệu sản xuất, dẫn đến tình trạng có hàng chục nghìn hợp tác xã được thành lập, đã có hàng triệu nông dân tham gia, nhưng nông dân vẫn không tha thiết với hợp tác xã, người nông dân làm chung, hưởng chung, nhưng quản lý kém đã gây tham ô, lãng phí của công, nông dân không gắn bó với đồng ruộng, đi làm theo lệnh của đội, theo kẻng nên làm dối, làm ẩu, lãn công là hiện tượng phổ biến [107; tr.169] Trước nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, người nông dân đã chủ động tham gia cơ chế khoán (áp dụng lén lút ở Kiến An - Hải Phòng năm 1962; công khai khoán đại trà ở tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1966 - 1968 , tạo cơ sở cho đổi mới kinh

tế, bắt nguồn từ nông nghiệp và nông dân Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 100-CT/TW về Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là khoán 100 Khoán 100 đã đem lại tác dụng thiết thực, phân chia lại chức năng giữa kinh tế tập thể và hộ gia đình, điều chỉnh quan hệ giữa quản lý và phân phối, dân chủ hóa kinh tế, đưa người nông dân gắn

bó với đồng ruộng, tích cực sản xuất, Tuy vậy, khoán 100 chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, do cơ chế quản lý tập trung quan liêu vẫn đè nặng lên người nông dân, mức khoán không ổn định tăng dần, người nông dân được hưởng lợi

Trang 23

rất ít không bù đắp được vốn và sức lao động bỏ ra, làm triệt tiêu sự tích cực, xã viên không còn gắn bó với hợp tác xã và sản xuất suy giảm, thiếu lương thực tiếp tục xảy ra Ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về Đổi mới quản lý nông nghiệp (khoán 10 , thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, chức năng kinh tế hộ gia đình nông dân được thiết lập, giao ruộng khoán cho hộ nông nghiệp, nông dân tự

quyết định trên ruộng khoán được giao, nhờ đó đã thực sự Cởi trói” cho nông

dân, nông dân phấn khởi, chủ động, tích cực đẩy mạnh sản xuất, chỉ sau 1 năm

đã đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trở thành nước xuất khẩu gạo và ngày nay luôn đứng hàng nhất nhì trên thế giới, [107; tr.276 - 279]

Nghiên cứu sự biến đổi vị thế chính trị, xã hội của người nông dân Việt

Nam đã được tác giả Hoàng Chí Bảo khái quát trong cuốn sách Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, với 4 lần biến đổi: Lần thứ nhất, nông dân từ thân phận nô lệ, người dân mất nước bị đế quốc, thực dân,

phong kiến bóc lột, sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 trở thành người làm chủ bản thân, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, được giải phóng chính trị

Lần thứ hai, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cải cách

ruộng đất đã đem lại ruộng đất cho người nông dân, giải phóng họ khỏi tình trạng bóc lột, xác lập địa vị người nông dân tự do có ruộng đất, đây là việc

xác lập vị thế cao hơn, đầy đủ hơn của nông dân cả chính trị lẫn kinh tế Lần thứ ba, người nông dân từ cá thể, tư hữu nhỏ trở thành người nông dân xã

viên hợp tác xã lao động tập thể và từ người nông dân xã viên hợp tác đến người nông dân nhận ruộng khoán, có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và quyền sử dụng đất lâu dài, thành các chủ thể trong kinh tế hộ gia

đình và kinh tế hợp tác Lần thứ tư, từ người nông dân và hộ nông dân thuần

nông với xã hội nông thôn truyền thống bước vào nền kinh tế thị trường, là bước phát triển mới lạ và nhiều thử thách, nông dân phải tự vượt lên bản thân mình để phát triển, biết vượt qua ngưỡng thuần nông bằng chuyển dịch cơ cấu

Trang 24

kinh tế, biết vươn ra thị trường, biết vươn tới hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp, hình thành một thế hệ nông dân mới, có học vấn, biết tổ chức sản xuất kinh doanh và xây dựng gia đình nông dân mới, [10; tr.146 - 151]

Trong 5 năm qua, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nông thôn mới và hội nhập quốc tế,

có nhiều nghiên cứu về nông dân và đời sống chính trị nông thôn với những kết quả đạt được, đồng thời nêu lên nhiều khó khăn, thách thức đang đặt ra và một

số giải pháp phát huy tính tích cực của nông dân như:

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Văn Đại về Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong th i k công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Luận án đã nêu lên một số kinh nghiệm đào tạo nghề của một số

nước trong khu vực và đi sâu đánh giá thực trang công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn (2006 - 2010 Qua đó đề xuất 8 nhóm giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó đề cao việc đổi mới tư duy của người nông dân với cách nghĩ mới, quan niệm đúng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó rèn luyện kỹ năng mới [34]

Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị của tác giả Phan Thị Kim Oanh về Vai trò của nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam” Luận án lựa

chọn tiếp cận một số nội dung liên quan trực tiếp đến vai trò của Nhà nước trong xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách an sinh xã hội; tổ chức phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế- xã hội khác, tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát nhằm thiết lập và tạo các điều kiện thực thi của

hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân Việt Nam, đồng thời đề cập sự cố gắng, tích cực, chủ động của bản thân người nông dân trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội [104]

Trang 25

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lệ Thủy, Bùi Hồng Việt, Mai Thị Ánh với đề tài

Thu nhập của nông dân bị tách biệt xã hội về kinh tế - thực trạng và khuyến nghị”,

trên cơ sở số liệu điều tra tại 5 tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, bài viết đã phân tích, đánh giá thực trạng thu nhập và tác động của nó đến cuộc sống của người nông dân bị tách biệt xã hội, nguyên nhân chủ yếu tách biệt về kinh tế do chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế; dân trí thấp, thiếu việc làm ổn định, thiếu vốn sản xuất, Giải pháp cơ bản để khắc phục tình trạng trên là có chính sách hỗ trợ phù hợp về giáo dục và đào tạo nghề, tiếp cận khoa học và công nghệ, hỗ trợ tiếp cận vốn đầu tư, hỗ trợ phát triển các vùng chuyên canh, thâm canh và với sự nỗ lực, cố gắng vươn lên của bản thân người nông dân, sự vào cuộc tích cực của cộng đồng [103]

Tác giả Đỗ Thị Hải Hà với nghiên cứu về Việc làm của nông dân ở nước ta hiện nay - Thách thức và giải pháp” đã đánh giá khái quát đặc điểm và

tình trạng thiếu, thừa cục bộ việc làm của nông dân nước ta hiện nay và nguyên nhân chủ yếu; đề ra các nhóm giải pháp trong lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, trong công tác đào tạo nghề, trong chuyển đổi nghề để từng bước tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người dân, trong đó phải thật sự chú trọng phát huy sự tích cực của người nông dân để nâng cao nhận thức, nâng cao dân trí, đẩy mạnh việc học nghề và chuyển đổi nghề trong nông dân [56]

Nghiên cứu về Phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới – khâu đột phá để cơ cấu lại nông nghiệp và nâng cao thu nhập bền vững cho ngư i nông dân” của tác giả Nguyễn Thiện Nhân đã đánh giá thực trạng thu nhập rất thấp

của nông dân hiện nay Tác giả đưa ra quan điểm, giải pháp để tăng thu nhập là

phải hướng đến hợp tác xã kiểu mới, liên kết hộ nông dân là tất yếu Nếu canh

tác độc lập, riêng lẻ thì sức mạnh kinh tế hộ nông dân rất nhỏ bé, khả năng chịu

đựng rủi ro thấp, tình trạng tái nghèo rất dễ xảy ra” và “Chừng nào nền sản xuất

nông nghiệp nước ta còn chủ yếu vẫn là các hộ riêng lẻ, không liên kết với nhau, thì 10 triệu hộ nông dân vẫn mãi là 10 triệu hộ yếu thế” [102]

Trang 26

Tác giả Mạch Quang Thắng với nghiên cứu Cơ cấu giai cấp nông dân - Một số biến đổi (chủ yếu từ năm 1996 đến nay)” đã nêu thực trạng biến đổi cơ

cấu giai cấp nông dân nước ta như: Chuyển dịch nơi cư trú, chuyển dịch lao động nông thôn ra thành thị đặc biệt là thanh niên, biến đổi điều kiện sản xuất, điều kiện sống, mức thu nhập, dẫn đến sự biến đổi tất yếu cơ cấu giai cấp nông dân, chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp [139]

Đối với các đề tài khoa học về nông dân, đáng chú ý là đề tài: Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới vùng ven biển đồng bằng sông Hồng”; Phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng” Các đề tài trên tuy nghiên cứu về xây dựng nông thôn

mới, về hoạt động của Hội Nông dân, nhưng bao hàm chủ thể là nông dân và không gian nghiên cứu bao trùm hầu hết vùng duyên hải Bắc Bộ; đánh giá thực trạng về sự tham gia của nông dân trong xây dựng nông thôn mới và đề ra các giải pháp nêu cao tính chủ động, tự giác của nông dân, xây dựng Hội nông dân các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thật sự là người đại diện cho nông dân, là cầu nối để liên kết nông dân [63]

Cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Vấn

đề và giải pháp” do tác giả Lê Quốc Lý chủ biên Qua tiến hành khảo sát ở các

tỉnh phía Bắc, cuốn sách đã phân tích sâu sắc nhiều vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đặc biệt cuốn sách đã chỉ rõ xung đột giữa các chủ thể, trong đó đáng quan tâm là xung đột giữa nông dân với cơ quan công quyền, với doanh nghiệp có xu hướng tăng, thậm chí có nguy cơ hình thành các điểm nóng bất ổn chính trị ở khu vực nông thôn [89; tr.128-131]

Cuốn sách Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam” do tác giả Tạ

Ngọc Tấn chủ biên đã mô tả, phân tích thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2010, trong đó đánh giá rõ sự biến đổi của nông dân Việt Nam qua các thời kỳ, đồng thời xác định mục tiêu, quan điểm định hướng

và giải pháp cơ bản nhằm tạo ra sự biến đổi cơ cấu xã hội một cách tích cực để phát triển đất nước Cuốn sách đã chỉ rõ xu hướng biến đổi của nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là: Ngày càng nâng cao trình độ sản xuất, kinh

Trang 27

doanh; xu thế đa dạng hóa cơ cấu ngành theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa; xu hướng khẳng định vai trò tự chủ của kinh tế hộ gia đình nông dân; xu hướng giảm tương đối và tuyệt đối số lượng nông dân, [129; tr.162, 164]

Cuốn sách 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” do tập thể tác giả

Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông đồng chủ biên đã đánh giá toàn diện, khách quan, khoa học những thành tựu và hạn chế của 30 năm đổi mới đất nước, rút ra bài học, định hướng mục tiêu, quan điểm, giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới trong những năm tiếp theo Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn có hạn chế như khoảng cách thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với chuẩn một nước công nghiệp còn lớn; tỷ lệ nghèo còn khá cao và chênh lệch giàu nghèo có xu hướng tăng trong các năm gần đây, người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, miền núi; chất lượng hệ thống an sinh xã hội còn hạn chế; thành quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm đổi mới vừa qua chưa được phân bổ đồng đều, hợp lý giữa các nhóm, các khu vực; công nghiệp và dịch vụ phát triển không đủ nhanh để thu hút lao động từ nông nghiệp, lao động nông thôn ra thành thị chủ yếu mang tính chất thời vụ, chưa thể hóa thân thành lao động phi nông nghiệp; phát triển doanh nghiệp ở nông thôn chưa đủ mạnh để chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp ở nông thôn Đồng thời xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trong lao động xã hội, [134; tr.145,146]

Ngày 28/11/2016, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản phối hợp với Hội Nông

dân Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học Phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

th i k hội nhập”, với 73 tham luận tham gia Hội thảo của các nhà khoa học, các

nhà lãnh đạo, nhà quản lý ở Trung ương và địa phương Các tham luận đã đề cập sâu sắc nhiều vấn đề về nông nghiệp, nông dân từ nhiều góc độ khác nhau và phân tích sâu sắc liên quan đến vai trò chủ thể của nông dân trong tái cơ cấu

Trang 28

nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, làm rõ môi trường, điều kiện kinh tế nông nghiệp, điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội của nông thôn hiện nay; những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, những rào cản đối với nông dân cần phải được tháo gỡ để tăng cường năng lực chủ thể, phát huy vai trò của nông dân; đánh giá các mô hình thực tiễn về thực hiện phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, như “cánh đồng mẫu lớn”, cánh đồng liên kết; xây dựng hợp tác xã kiểu mới; liên kết giữa Nhà nước, nhà nông, doanh nghiệp và nhà khoa học; việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân để thu hút, đoàn kết, tập hợp nông dân phát huy vai trò chủ thể của mình và các giải pháp phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới, 28 năm thực hiện

“khoán 10”, đến nay nhiều cơ chế, chính sách đã bất cập trước tình hình mới, làm cho nông dân không phát huy đầy đủ vai trò chủ thể mà còn có nguy cơ trở thành đối tượng yếu thế, rủi ro, chịu nhiều thua thiệt trong kinh tế thị trường Báo cáo đề

dẫn tại Hội thảo đã chỉ rõ với 4 mâu thuẫn, nghịch lý hiện nay: Một là, mâu thuẫn

giữa tình trạng ruộng đất manh mún, sản xuất nhỏ lẻ của hộ tiểu nông với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của kinh tế nông nghiệp trong điều

kiện phát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Hai là, mâu thuẫn

giữa yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn với những nghịch lý của bản thân quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa Ba là, nghịch lý giữa yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong

phát triển nông nghiệp, nông thôn với những bất cập của những thiết chế xã hội

bảo đảm tăng cường năng lực chủ thể của nông dân Bốn là, xây dựng nông thôn

mới đang đối diện với nhiều thách thức, nhất là phát huy vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn con người của nông dân, cải tạo những hủ tục lạc hậu ở nông thôn [126] Ngoài các nghiên cứu về tính tích cực chính trị của người nông dân Việt Nam, còn có một số công trình nghiên cứu tính tích cực chính trị của nông dân một số nước, trong đó có nghiên cứu so sánh với nông dân Việt Nam Cả hai

Trang 29

nhóm công trình này đều có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu của Luận án

Cuốn sách Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa” của tác giả Đặng Kim Sơn đã làm rõ các quan

niệm về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước, chỉ rõ kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan trong công nghiệp hóa; phát triển nông nghiệp là tiền đề cho công nghiệp hóa, nông nghiệp phát triển sẽ tạo

ra thặng dư nông phẩm để đóng góp đầu tư cho phát triển công nghiệp; công nghiệp không phải là động cơ duy nhất cho phát triển kinh tế, khi công nghiệp cất cánh vẫn phải coi trọng nông thôn, giữ cân bằng với nông nghiệp; trong xã hội hiện đại, nông dân vẫn giữ vai trò chính trị quan trọng, [118]

Kinh nghiệm phát huy vai trò tích cực của nông dân Hàn Quốc từ những năm 1960: Khi bước vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã xảy ra tình trạng nông dân di cư ồ ạt ra thành phố kéo theo mâu thuẫn xã hội và môi trường,

đe dọa ổn định của xã hội Trước bối cảnh đó Hàn Quốc đã lấy vật chất và chính sách để thay đổi tư duy của nông dân, phát động phong trào “Làng mới” tạo điều kiện cho nông dân đứng lên, tự tin, làm chủ, làm việc hợp tác Nông dân phát huy vai trò chính trị của mình, bầu ra thủ lĩnh của mình bằng việc dân chủ giới thiệu và bầu ra Ủy ban phát triển làng, đứng đầu là người có tín nhiệm cao nhất;

Ủy ban phát triển làng phải xây dựng kế hoạch, lựa chọn và duyệt thiết kế đến tổ chức thi công và nghiệm thu, người dân tham gia đánh giá công khai Làng làm tốt thì tiếp tục được làm, làng làm kém thì không được tiếp tục đầu tư, đã tạo ra việc thi đua giữa các làng, việc tham gia kiểm soát của nông dân; kinh phí nhà nước hỗ trợ ngày càng giảm, nông dân tự nguyện góp đất, góp lao động và vật liệu, nông dân tích cực hợp tác để thay đổi vận mệnh của mình [118; tr.55, 56] Tổng thống Hàn Quốc đã đến tất cả 3000 làng để gặp gỡ, động viên những điển hình tiên tiến, lãnh đạo của làng được mời dự các cuộc họp hàng tháng của Chính phủ

Trong xã hội hiện đại, cư dân nông thôn hay thành thị là lực lượng chính trị quan trọng? Sự phồn vinh của xã hội Âu - Mỹ hiện nay phải trả bằng cái giá

Trang 30

khổng lồ của bao thế hệ nông dân, vì thế khi nông dân chiếm tỷ lệ không đáng kể trong dân số thì họ lại trở thành lực lượng chính trị đặc biệt quan trọng trong xã hội công nghiệp, dưới sức ép của nông thôn, các quốc gia phải tiến hành bảo hộ mậu dịch và trợ cấp cho nông nghiệp rất cao, xây dựng các hàng rào kỹ thuật để ngăn chặn nhập khẩu nông sản Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thường tạo ra khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị, tạo ra các xung đột xã hội, nông dân biểu tình, khiếu kiện ở nhiều nơi, tạo nên những nguy cơ gây mất ổn định chính trị, xã hội Tại nhiều nước hiện nay, việc giải quyết công bằng không chỉ qua trợ cấp mà còn được thể hiện qua lá phiếu bầu cử nên vai trò chính trị của nông dân là rất lớn Tại Nhật Bản, nông dân chỉ chiếm khoảng 5% dân số, vì vậy chế độ bầu cử theo địa bàn dân cư quy định 01 lá phiếu vùng nông thôn bằng 03 lá phiếu ở thành thị khi bầu Hạ nghị viện và bằng 06 phiếu bầu khi bầu Thượng nghị viện, [118; tr.86, 94]

Từ thực tiễn công nghiệp hóa trên thế giới, tác giả rút ra những kinh nghiệm cho nông nghiệp, nông thôn và nhất là nông dân: Phải tạo điều kiện để những nông dân sản xuất giỏi có thể tích lũy để sản xuất lớn, trở thành nông dân chuyên nghiệp Thông qua tổ chức hợp tác để trang bị cho nông dân kiến thức,

kỹ năng sản xuất, năng lực tiếp thu khoa học và công nghệ, tiếp cận thị trường,

Hỗ trợ thay đổi tập quán sinh hoạt và chuyển đổi việc làm bằng phát triển doanh nghiệp ở nông thôn, thực hiện đào tạo nghề và chuyển đổi lao động sang công nghiệp, dịch vụ Người làm nông nghiệp phải được tổ chức lại thành đội ngũ chính trị tự giác trong nông hội, lao động chuyển đi từ nông thôn cũng phải tổ chức thành các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi, đào tạo nghề và đảm bảo vị thế trong đời sống chính trị- xã hội [118; tr.125]

Trên cơ sở kinh nghiệm của thế giới, tác giả đề xuất con đường phát triển

nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa hiện nay đòi hỏi người nông dân phải tích cực, nhạy bén, năng động, sáng tạo hơn; cần kiên quyết thực hiện liên kết công - nông; kết nối nông dân và

đô thị; có chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phát huy dân

Trang 31

chủ để bầu ra người đứng đầu cộng đồng, hình thành các tổ chức tự quản nhân dân, [118; tr.195]

Cuốn sách của Department for International Development, Sustainable Rural Livelihoods (Phát triển đ i sống nông thôn bền vững) đã nêu bật những

đặc trưng của đời sống kinh tế nông thôn và những yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển bền vững, trong đó đề cao vai trò tự thân của người nông dân, chủ động tiếp cận các chính sách, bảo vệ và khai thác hợp lý và hiệu quả các tài nguyên để phát triển [160]

Cuốn sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” do Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản Nội

dung cuốn sách gồm các tham luận của các nhà khoa học nghiên cứu lý luận và thực tiễn của Việt Nam và Trung Quốc, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và quan điểm, giải pháp về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Trần Tích Văn

với bài viết về “Giải phóng tư tưởng, đi sâu cải cách hơn nữa, thúc đ y nông nghiệp phát triển ổn định, nông dân tăng thu nhập liên tục” Bài viết đã nêu bật

những thành tựu và kinh nghiệm cơ bản cải cách nông thôn Trung Quốc, trong

đó chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, đảm bảo lợi ích cho nông dân, tôn trọng

và phát huy tinh thần sáng tạo của quần chúng nông dân, phát huy yếu tố con

người để phát triển [65; tr.88]; Vương Tề Ngạn với nghiên cứu về “Thúc đ y xây dựng chính trị dân chủ cơ sở nông thôn, thực hiện quản lý của chính quyền cơ sở

và tự trị của quần chúng thúc đ y lẫn nhau một cách tích cực” Nghiên cứu đã

khơi thông quan hệ xã, thôn, thực hiện quản lý của chính quyền và tự trị của nông dân bằng giải pháp phát huy dân chủ, tạo nên sự thúc đẩy tích cực trong xây dựng nông thôn, qua đó đã phát huy tính tích cực của nông dân trong phong trào nông dân tự quản và chính phong trào tự quản giúp cho người nông dân tự tin, sẵn sàng tham gia các hoạt động xã hội [65; tr 438]; Chu Hòa Bình với

nghiên cứu về “Tăng cư ng xây dựng văn hóa nông thôn, nâng cao trình độ văn hóa của nông dân, đóng góp cho xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa”

Trang 32

Nghiên cứu đã đề cao vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nông thôn nói riêng Việc nâng cao trình độ văn hóa cho nông dân là nhiệm vụ quan trọng, là nhân tố con người, nâng cao năng lực của người nông dân trong tham gia các hoạt động và xây dựng nông thôn mới [8; tr.116]; Lưu

Phúc Hợp với nghiên cứu về “Thành tựu và kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn Trung Quốc” Nghiên cứu đã nêu bật thành thành tựu giảm nghèo ở

nông thôn Trung Quốc sau 30 năm mở cửa với sự kiên trì vai trò chủ đạo của Chính phủ, đồng thời tăng cường kinh tế vĩ mô duy trì phát triển ổn định của nông thôn, khuyến khích xã hội tham dự, tăng cường hợp tác quốc tế, đề xướng các giải pháp tự lực cánh sinh, nhờ đó khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường của

nông dân để thoát nghèo bền vững [65; tr 477]; Lý Bồi Lâm với bài viết về “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nông thôn Trung Quốc” Bài viết đã

làm rõ vai trò to lớn các chính sách an sinh xã hội đối với nông dân, kinh nghiệm

và những giải pháp chủ yếu để xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đối với vùng nông thôn trong đó đề cao nhận thức và sự tham gia tích cực của nông dân trong công tác vận động và thực hiện chính sách an sinh xã hội, giúp cho việc

ổn định và phát triển bền vững của nông nghiệp, nông thôn [65; tr.234]

Cuốn sách Trung Quốc đối mặt với những điểm nóng lý luận” do Cục Lý

luận - Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phát hành, đã

đề cập và luận giải những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong quá trình phát triển của Trung Quốc, trong đó có nhiều vấn đề về nông dân nhất là việc nông dân di cư ra thành phố, gây nên những vấn đề về mặt xã hội Thôn Tiểu Cương ở tỉnh An Huy là nơi đầu tiên thực hiện khoán ruộng đất của nông thôn Trung Quốc, sau hơn 30 năm thôn Tiểu Cương lại gây chú ý của mọi người khi thực hiện chuyển đổi quyền kinh doanh trong khoán ruộng dưới nhiều hình thức, làm kích thích mạnh mẽ sức sản xuất ở nông thôn là cơ sở cho đổi mới, hoàn thiện chính sách đất đai đối với nông thôn Trung Quốc [24; tr.136] Thuế nông nghiệp đã bãi bỏ hoàn toàn, nhà nước thi hành chính sách phát triển mạnh và ưu tiên cho nông nghiệp, hiệu quả nông nghiệp phải được tăng cao, giá trị đất nông nghiệp phải

Trang 33

được tăng lên, tạo thêm nhiều cơ hội đầu tư phát triển nông nghiệp, mở rộng nhu cầu đất nông nghiệp cho các tổ chức kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh cải tạo nông nghiệp truyền thống với sản xuất phân tán, quy mô nhỏ hẹp, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh thấp sang nền nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, công nghệ cao, đồng thời có lợi cho nông dân chuyển đổi nghề, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, Trước sức ép việc làm ngày càng lớn, từ năm 2009 tại Trung Quốc đã xuất hiện trào lưu của sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học

“làm cán bộ thôn” để thử thách, rèn luyện và trưởng thành từ cơ sở, đã có hàng trăm nghìn sinh viên tham gia dự tuyển, tạo nguồn nhân lực mới cho nông thôn phát triển Nhiều nông dân ra thành phố làm việc trở thành thợ nông dân, là một

bộ phận xã hội đặc thù, làm việc khổ nhất, kiếm được ít tiền nhất so với công nhân, tuy giữ vai trò hạt nhân trong cơ cấu cư dân nông thôn nhưng có địa vị

“bên lề” trong cơ cấu cư dân thành thị, họ vừa cư trú ở nông thôn, lại vừa cư trú

ở thành thị nên ít tham gia vào các hoạt động đoàn thể, vừa giữ tập quán truyền thống của nông thôn vừa thích nghi với đời sống đô thị hiện đại Nhằm đẩy nhanh việc tạo công ăn việc làm cho thợ nông dân, mở rộng con đường chuyển dịch sức lao động ở nông thôn, Trung Quốc đã thực hiện chương trình “Phượng hoàng về tổ”, coi thợ nông dân là “Phượng hoàng” về quê hương xây tổ ấm với một cơ chế lâu dài, đồng bộ, hiệu quả để thu hút nông dân quay về quê hương lập nghiệp, ban hành nhiều chính sách như chính sách đất đai, nhà xưởng, đào tạo, dịch vụ và bảo vệ quyền lợi, thành lập thêm các doanh nghiệp thu hút lao động, Thợ nông dân sau khi có thời gian làm việc ở thành phố, khi quay về quê hương thường đem theo kỹ thuật, kinh tế, kiến thức và tư duy linh hoạt sẽ là lực lượng quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, góp phần bù đắp việc thiếu hụt về nhân tài cho nông thôn [24; tr.322, 341]

Từ ngày 19/10 đến 29/10/2016, bản thân được tham gia đoàn cán bộ tỉnh Quảng Ninh học tập tại tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc về phát triển ngành nghề, trong đó được nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới của Trung Quốc Qua bài giảng của Giáo sư Đường Tống Hoa - Học viện Bách Sắc, tỉnh Quảng

Trang 34

Tây, Trung Quốc về Lý luận và thực tiễn của Trung Quốc về xây dựng nông thôn mới” và thâm nhập thực tế cho thấy tỉnh Quảng Tây đã và đang thực

hiện cơ chế tăng thu nhập và bảo đảm quyền lợi của nông dân, thực hiện nông dân là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy nông thôn hài hoà, huy động tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nông dân, đẩy mạnh kinh tế và xã hội nông thôn phát triển nhanh và hiệu quả với “Sản xuất phát triển, cuộc sống giàu có, làng xóm văn minh, môi trường sạch sẽ, quản lý dân chủ”, thực hiện “Từ nhà ra ngõ ” tức là phải thực hiện, tạo chuyển biến từ người dân, từ từng gia đình đến cộng đồng Đặc điểm lớn nhất của xây dựng nông thôn mới chính là huy động được tính tích cực của người nông dân, phong trào này có thành công hay không, điểm mấu chốt là phải xem người nông dân có tổ chức đoàn kết lại với nhau hay không, có phát huy được hết tính tích cực, tính chủ động và tính sáng tạo hay không Đồng thời khuyến khích và ủng hộ nông dân

và các tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp xây dựng nên các tổ chức bảo hiểm hợp tác tương hỗ lẫn nhau nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, khuyến khích các công ty bảo hiểm thương mại triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp trên nguyên tắc tự nguyện, không được phép cưỡng chế nông dân hoặc các tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp tham gia bảo hiểm Đồng thời cấp huyện lựa chọn và phân công cán bộ có năng lực tốt xuống làm Bí thư thứ nhất tại các thôn nghèo, thực hiện cùng ăn

ở với dân từ 2 đến 3 năm và được hưởng nguyên lương Bí thư thứ nhất có trách nhiệm phối hợp với thôn để tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo Trong đó, có trách nhiệm tìm nguồn vốn đầu tư, huy động nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo đúng qui hoạch được duyệt, tìm đầu ra cho sản phẩm được sản xuất tại địa phương, Sau thời gian làm Bí thư thứ nhất, nếu cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ được đề bạt thăng chức vụ, nếu không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị xem xét

Trang 35

trách nhiệm Thực hiện tốt chính sách tích tụ đất sản xuất nông nghiệp quy

mô lớn, thúc đẩy nông dân hăng hái, trách nhiệm tham gia doanh nghiệp, hợp tác xã với phương châm trước mắt là “làm cho nông dân thấy, hướng cho nông dân làm, giúp cho nông dân kiếm”, [49; tr.6-8]

1.3 THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ĐƢỢC TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Thành tựu nghiên cứu

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể thấy, các nghiên cứu hiện có

đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tính tích cực chính trị nhất là khái niệm

và nhiều nội dung về tính tích cực chính trị của công dân, cơ sở và điều kiện hình thành tính tích cực chính trị của công dân, là cơ sở quan trọng về lý luận

và thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về nông dân và tính tích cực chính trị của nông dân

Nhiều nghiên cứu đã nêu bật đặc điểm môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn; vai trò của nông dân thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khẳng định trong lịch sử hàng nghìn năm qua cũng như trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội đều thể hiện lịch sử tính tích cực chính trị của nông dân; chỉ rõ xu thế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở các quốc gia, đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, hướng tới nông nghiệp công nghệ cao, việc chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành khác là một tất yếu, làm cho số lượng nông dân giảm, vai trò, vị trí của nông dân sẽ có những thay đổi đáng kể, xuất hiện thêm nhiều vấn đề xã hội như: Di cư, thiếu việc làm, phân hóa thu nhập, ô nhiễm môi trường,

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới ở nước ta đạt được nhiều kết quả quan trọng, thu hút sự tham gia của toàn xã hội, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn có nhiều tiến bộ, tư duy sản xuất và đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được cải thiện đáng kể, Đồng thời các nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều khó khăn, hạn chế đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trang 36

cần tập trung tháo gỡ, nhất là những tác động của kinh tế thị trường, những yêu cầu gay gắt của hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn, nghịch lý về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay như: Mâu thuẫn giữa yêu cầu rất cao và cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với sự trì trệ, thờ ơ của nông dân đang chiếm tỷ lệ cao trong lao động xã hội hiện nay; mâu thuẫn giữa tình trạng ruộng đất manh mún, sản xuất nhỏ lẻ của hộ tiểu nông với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của kinh tế nông nghiệp hiện nay; mâu thuẫn giữa yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn với những bất cập của những thiết chế xã hội bảo đảm tăng cường năng lực chủ thể của nông dân; xây dựng nông thôn mới đang đối diện với nhiều thách thức, nhất là phát huy vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn con người của nông dân, cải tạo những hủ tục lạc hậu ở nông thôn [126] Từ những kết quả nghiên cứu trên đã tạo

cơ sở lý luận và thực tiễn để Luận án tiếp tục nghiên cứu sâu về tính tích cực chính trị của nông dân trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế,

1.3.2 Những vấn đề cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu

Bên cạnh những thành tựu nghiên cứu đạt được, cho ta thấy có rất ít những nghiên cứu về nông dân và tính tích cực chính trị của nông dân, còn thiếu các nghiên cứu sâu về nông dân nói chung và nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ nói riêng, nhất là chưa làm rõ được khái niệm tính tích cực chính trị của nông dân

Thực tiễn đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, cần tiếp tục có các nghiên cứu nhận diện rõ hơn các biến đổi của nông dân Việt Nam hiện nay và tương lai; nông dân với số lượng ngày càng giảm, nhưng chất lượng tăng chưa kịp thời,

đã làm ảnh hưởng đến liên minh giai cấp công nhân - nông dân và đội ngũ trí thức, ảnh hưởng đến quá trình thực thi quyền lực nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân, Cần nghiên cứu sâu sắc hơn về tính tích cực chính trị của nông dân, làm cơ sở để

Trang 37

xây dựng các giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân, phục vụ kịp thời sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế:

- Xây dựng khái niệm tính tích cực chính trị của nông dân; làm rõ đặc điểm, vai trò, hình thức thể hiện tính tích cực chính trị của nông dân

- Xác định những yếu tố chủ yếu tác động đến tính tích cực chính trị của nông dân, lấy đó làm cơ sở phân tích nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay

- Xây dựng tiêu chí cơ bản để đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân

- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng tính tích cực chính trị của nông

dân trong đời sống chính trị vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chủ đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được nhiều quốc gia quan tâm, nhất là các quốc gia đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhờ đó đã có nhiều nghiên cứu đa dạng về nông dân, vai trò của nông dân, xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân, Thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến nông dân bằng nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chúng ta chưa thực sự nâng cao được tính tích cực chính trị của nông dân,

vì vậy chưa khai thác và phát huy hết các tiềm năng, nguồn lực của xã hội, nhất

là nguồn lực con người cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Vấn đề phát huy tính tích cực chính trị là yêu cầu đặt ra đối với toàn xã hội và nông dân là một trong những trọng tâm, nhất là trong điều kiện đất nước ta đang hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện và nông dân đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số và lao động xã hội

Có nhiều công trình nghiên cứu về nông dân Việt Nam, song chủ yếu đề cập ở khía cạnh văn hóa truyền thống của nông dân, đời sống của nông dân, nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới và những khó khăn đặt ra đối với

Trang 38

nông dân, còn thiếu nghiên cứu khung lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân, vì vậy chưa có đầy đủ cơ sở khoa học để xây dựng và thực hiện các giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân hiện nay Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu về nông dân, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tích cực chính trị của nông dân Trong đó: Chương 2 của luận án trình bày lý luận chung về tính tích cực chính trị của nông dân; Chương 3, đánh giá thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ; Chương 4, nêu quan điểm, giải pháp chủ yếu để nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ

Trang 39

Chương 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ

CỦA NÔNG DÂN

2.1 KHÁI NIỆM TÍNH TÍCH CỰC CHÍNH TRỊ CỦA NÔNG DÂN

2.1.1 Các khái niệm

2.1.1.1 Nông dân

Nông dân là ngư i cư trú ở nông thôn, tham gia lao động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp) trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản gắn với đất, rừng và biển để sản xuất ra sản

ph m nông nghiệp Nông nghiệp là một trong các ngành sản xuất vật chất cơ bản

của xã hội, tạo ra lương thực, thực phẩm cho xã hội và một số nguyên liệu cho công nghiệp Ngày nay, ở các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới thường chia thành 2 vùng nông thôn và thành thị Việc xác định nông thôn hay thành thị được xác định bằng nhiều tiêu chí khác nhau như thành phần xã hội, thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế, Nhưng tiêu chí quan trọng nhất của nông thôn

là cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, cư dân sinh sống chủ yếu là nông dân; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã Trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, nhiều khu vực ven phường, thị trấn (thuộc đô thị nhưng thực chất vẫn là nông thôn với các điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Nông thôn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu cho xã hội; nơi cung cấp nhân lực chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ và chế biến; là thị trường lớn trong tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp và các ngành khác; là nơi trọng yếu củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

Gắn bó với nông dân là đất đai và nông nghiệp Đất đai là tư liệu sản xuất

cơ bản của nông dân để sản xuất nông nghiệp, tạo nên cơ sở kinh tế của nông dân, là không gian sinh tồn của nông dân, cùng với văn hóa làng xã được duy trì

Trang 40

và phát triển qua nhiều đời đã gắn kết người nông dân với cộng đồng thôn xóm, làng xã, tạo nên tư tưởng, tình cảm, đặc điểm của người nông dân

2.1.1.2 Tính tích cực

Về mặt thuật ngữ, trong tiếng Latinh, tích cực là “actives”, trong tiếng Anh là “activity”, dùng để chỉ trạng thái hoạt động, khi tính tích cực gắn liền với hoạt động, tính tích cực bao hàm tính chủ động, tính chủ định có ý thức của chủ thể Theo từ điển Tiếng Việt, tích cực là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định và thúc đẩy sự phát triển Người tích cực là người tỏ ra chủ động có những hành động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển

Theo tác giả Thái Duy Tiên, tính tích cực nhận thức là biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm

lý (như hứng thú, chú ý, ý chí… nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao Nằm trong trạng thái hoạt động và biểu hiện trong những hành động, tính tích cực chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hành động Tính tích cực có mặt

tự phát và tự giác, mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, linh hoạt trong đời sống hằng ngày; mặt tự giác của tính tích cực là ở trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó, thể hiện ở cách quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính sáng tạo, [195]

Như vậy, tính tích cực là trạng thái chủ động và có ý thức trong hoạt động của chủ thể nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển

2.1.1.3 Chính trị

Chính trị là một phạm trù rộng lớn, có tính bao quát của một loại hoạt động phổ biến trong xã hội loài người, ra đời gắn liền với sự ra đời của giai cấp

và Nhà nước Sự xuất hiện của chính trị phản ánh quá trình phát triển phong phú

và phức tạp của đời sống xã hội, được chế định bởi các nhu cầu cũng như năng lực của con người và sự phân công lao động xã hội từ khi xã hội phân chia giai cấp Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính trị, chính trị là nghệ thuật hay

Ngày đăng: 23/05/2021, 00:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm