1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx

6 744 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Robot di động tự định vị không dùng cột mốc
Tác giả Đoàn Hiệp, TS. Nguyễn Văn Giáp
Trường học Trường Đại học Bách Khoa TPHCM
Chuyên ngành Kỹ thuật Cơ Điện Tử
Thể loại Bài báo
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 306,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý tưởng chính của giải thuật này là xác định những vị trí khả thi của robot trong không gian làm việc, sử dụng tín hiệu của cảm biến siêu âm như là một thiết bị xác định khoảng cách v

Trang 1

ROBOT DI ĐỘNG TỰ ĐỊNH VỊ KHÔNG DÙNG CỘT MỐC

Đoàn Hiệp (+)

TS Nguyễn Văn Giáp (++)

(+) Sinh viên thuộc Chương trình Đào tạo Kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam (++) Bộ môn Cơ Điện Tử , Khoa Cơ Khí, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM

TÓM TẮT

Công việc khó khăn nhất trong điều khiển một

robot di động tự trị, đó là việc robot tự định vị chính

xác vị trí và hướng của nó trong không gian làm

việc Bài báo này nhằm giới thiệu một phương pháp

định vị robot bằng giải thuật định vị không dùng cột

mốc hiện Ý tưởng chính của giải thuật này là xác

định những vị trí khả thi của robot trong không gian

làm việc, sử dụng tín hiệu của cảm biến siêu âm như

là một thiết bị xác định khoảng cách và hướng của

robot đối với các chướng ngại vật cố định, để từ đó

suy ra vị trí của robot bằng cách so sánh bản đồ

toàn cục và bản đồ cục bộ quanh robot.

Từ khóa: Định vị, Dò đường, Cột mốc hiện, Robot di động

tự trị

ABSTRACT

An important challenge of an autonomous mobile

robot is finding its current pose (position and

orientation) within working environment This paper

represents a method for self-localization without

explicit landmarks The main idea of this algorithm

comes from finding feasible poses using ultrasonic

sensors as a point-and-shoot ranging device These

poses are then computed to estimate robot’s pose by

correlating the global and local maps

Keyword: Localization, Navigation, Explicit landmark,

Autonomous mobile robot

1 GIỚI THIỆU

Bài báo này giới thiệu một phương pháp định vị

và thăm dò bản đồ dựa trên hệ thống thuật toán

chồng chất cảm biến, được đề xuất bởi Hans P

Moravec [Moravec89]

Bài báo gồm 4 phần chính: phần đầu tiên sẽ trình

bày các khái niệm cơ sở được sử dụng, phần thứ hai

trình bày nội dung các thuật toán, phần thứ ba sẽ

trình bày các kết quả mô phỏng đạt được, và phần

kết luận là những đánh giá về khả năng thực hiện

cũng như đề xuất thực hiện một robot thí nghiệm

phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu

2 ĐẶT VẤN ĐỀ

Môi trường hoạt động của robot là một căn phòng

có mặt sàn phẳng, được giới hạn bởi các bức tường

đã biết Các chướng ngại vật được xem là chướng

ngại vật hai chiều [Latombe91] Mặt sàn được chia

thành các vùng rời rạc, gọi là các ô lưới Robot sử dụng các cảm biến siêu âm, được đặt trên một vòng

tròn bao quanh robot, sẽ cập nhật các xác suất bị chiếm (occupied) hoặc còn trống (empty) của các ô

lưới Từ những đánh giá này robot vẽ lại bản đồ chướng ngại vật Dựa vào bản đồ tìm được, robot sẽ xác định vị trí của nó bằng việc đi tìm những vị trí khả thi

3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ SỞ 3.1 Robot di động tự trị và cột mốc

Robot di động tự trị là robot có tất cả những gì cần thiết tích hợp bên trong robot. [Marsland02]

Nghĩa là robot có các pin, cảm biến, máy tính và chương trình điều khiển để nó không được kết nối với bất kỳ sự hỗ trợ bên ngoài nào Chương trình điều khiển cũng phải có khả năng điều khiển robot mà không cần sự trợ giúp của con người Như vậy,

cột mốc (landmark) [Borenstein96] cũng là một hình thức hỗ trợ thông tin từ bên ngoài, được sử dụng khá phổ biến trong nhiều ứng dụng khác Trong đề tài này, cột mốc không được sử dụng

3.2 Vectơ định vị

Sóng siêu âm truyền đi trong không khí với vận tốc khoảng 343 m/s Cảm biến siêu âm phát ra và thu về các mặt sóng siêu âm, sau đó khuếch đại cường độ của sóng với hàm mũ theo thời gian Cảm biến xác định thời gian sóng di chuyển trong không gian, để suy ra khoảng cách từ nó đến chướng ngại vật gần nhất, nằm trong vùng quét của cảm biến

[Thuan03]. Vectơ định vị đối với một cảm biến đo khoảng cách khi nó ghi nhận một thông số s là một vectơ có độ lớn bằng s và có chiều là chiều của cảm biến đó (xem hình 1) [Brown00]

3.3 Vị trí khả thi

Ý tưởng cơ bản nhất của thuật toán định vị với nhiều cảm biến trong bài báo này được thể hiện dưới dạng đi tìm vị trí khả thi của robot, là những vị trí mà robot có thể đứng tại đó và ghi nhận được thông số đã nhận được từ cảm biến (xem hình 1)

Vị trí khả thi của robot đối với môi trường có chướng ngại vật M và vectơ định vị z là vị trí mà tại đó ta có thể đặt gốc của vectơ định vị, sao cho ngọn của vectơ nằm trên chướng ngại vật M, mà thân của

Trang 2

vectơ không cắt qua bất kỳ chướng ngại vật

nào.[Brown00]

Hình 1: (a) là vị trí khả thi,

(b) và (c) không phải là vị trí khả thi

3.4 Vùng quét của cảm biến siêu âm

Trong không gian hai chiều, búp hướng (beam

patern) của cảm biến siêu âm có thể được đơn giản

hoá thành một hình quạt với góc mở từ 15 đến 45

độ, tuỳ loại Các búp bên (side lobe) sẽ được loại

bỏ nhờ các thiết bị hỗ trợ phần cứng, hoặc không

được tính toán trong phần mềm

Hình 2: Búp hướng của cảm biến Polaroid 6500

Phạm vi trong góc mở và khoảng cách xa nhất mà

cảm biến có thể xác định được chướng ngại vật,

chúng ta gọi đó là vùng quét của cảm biến (xem

hình 3)

4 CÁC THUẬT TOÁN

4.1 Thuật toán thăm dò bản đồ

Hình 3: Vùng quét của cảm biến siêu âm

Vùng quét của cảm biến siêu âm được chia thành

3 vùng chính Vùng I, là vùng mà cảm biến ghi

nhận có vật cản, vùng II là vùng từ vùng I đến cảm

biến, dường như không có vật cản nào, vùng III là

vùng phía sau vật cản, là vùng chưa biết, trong

thuật toán không quan tâm đến vùng này (xem hình

3)

Gọi s là khoảng cách đo được của cảm biến, H là sự kiện ô lưới đã bị chiếm và –H là sự kiện ô lưới còn trống Phân bố xác suất trên vùng quét của cảm biến siêu âm là một phân bố Gauss theo phương hướng kính, phân bố này sẽ được đơn giản hoá thành một cung tròn trong thuật toán Vì vậy, nếu cho trước một thông số cảm biến, chúng ta có thể tính được xác suất cảm biến ghi nhận được vật cản nằm tại một ô lưới, nếu đã thực sự có một vật cản nào đó nằm trong vùng quét của cảm biến siêu âm,

[Murphy00],[Moravec89] theo công thức sau:

r R H s

2

) ( ) ( )

| ( = − + ββ−α (1)

Vùng II:

2

) ( ) ( 1 )

|

α

β− +

r R H

s

Vùng III: P(s|H) không quan tâm

Nhưng ở đây yếu tố cần xác định là xác suất đã

bị chiếm của một ô lưới khi cảm biến ghi nhận được thông số s, có nghĩa là cần tính P(H|s) Aùp dụng công thức toàn phần Bayes [Diep99], như sau:

) ( )

| ( ) ( )

| (

) ( )

| ( )

| (

H P H s P H P H s P

H P H s P s

H P

trong đó, P(H) là xác suất của sự kiện H, đây là thời điểm lần đầu tiên ô lưới được quét, giá trị khởi tạo là xác suất ngẫu nhiên:

5 0 ) ( 1 ) ( ) (H =PH = −P H =

Một vấn đề khác lại được đặt ra là nếu có nhiều cảm biến cùng quét qua một ô lưới, hay là sau một thời gian di chuyển, robot lại quét qua ô lưới đó

Như vậy, việc cập nhật cho các ô lưới phải dựa vào thông tin có trước của ô lưới đó, như sau:

)

| ( )

| ( )

| ( )

| (

)

| ( )

| ( )

| (

1 1

1

− +

=

n n

n n

n n

n

s H P H s P s H P H s P

s H P H s P s

H

Hình 4 dưới dây mô tả quá trình thăm dò bản đồ của robot Vùng đen đậm là vùng không gian trống, vùng màu xám là vùng chưa biết Các vùng màu còn lại là vùng có các giá trị xác suất thay đổi

Hình 4: Bản đồ đang được vẽ lại

22.5 độ

Búp bên

z

a b

c

M

Trang 3

Vấn đề kỹ thuật khó khăn nhất trong phần này là

việc dùng cảm biến siêu âm để xác định khoảng

cách từ robot đến các chướng ngại vật Bài toán đặt

ra là làm cách nào để giải quyết hiện tượng đọc

chéo (crosstalk) của các cảm biến siêu âm Hiện

tượng đọc chéo là hiện tượng mà cảm biến này ghi

nhận sóng siêu âm được phát ra từ cảm biến khác

sau một hay nhiều lần phản xạ trên các chướng ngại

vật Hiện tượng này đã được J Borenstein giải

quyết bằng việc đặt lệch các thời gian phát của mỗi

cảm biến, và sử dụng một chu kỳ phát phù hợp với

số lượng cảm biến được sử dụng [Borenstein95] Do

giới hạn của bài báo, chúng tôi không trình bày nội

dung chi tiết của phương pháp này

4.2 Thuật toán định vị

Thay vì sử dụng khái niệm vị trí khả thi bằng hình

học như phần trên đã trình bày, để đưa vào chương

trình tính toán, hình ảnh vị trí khả thi có thể được rút

ra từ bản đồ được chia lưới theo công thức toán học

sau:

)) , 0 ( ( ) (

)

,

Trong đó, FP thay cho chữ feasible poses có

nghĩa là vị trí khả thi, M là tập hợp các điểm nằm

trên biên chướng ngại vật, và z là vectơ định vị mà

robot xác định được, ∂ ( X ) là ký hiệu cho tập hợp

các điểm biên của tập hợp X, Θlà ký hiệu của

phép trừ Minkowskii và l(x,y) là ký hiệu của một

đoạn thẳng hở nối hai điểm x và y, nhưng không kể

hai điểm x và y [Brown00]

Tổng Minkowskii là tổng của một tập hợp với

một vectơ, kết quả của phép cộng này là một tập

hợp được xác định bằng việc cộng tất cả các phần

tử của tập hợp với vectơ đó Hình ảnh sau đây mô

tả phép trừ Minkowskii (hình 7) và các vị trí khả thi

tìm được dùng công thức (6) (hình 8)

Hình 7: Hiệu Minkowskii

Ở đây có thể nhận thấy rằng, phần nằm trong của

tập hợp M Θ zcũng sẽ nằm trong tập hợp

)

,

0

( z

l

M Θ , do đó, chúng ta có thể đơn giản công

thức (6) thành dạng

)) , 0 ( ( ) (

)

,

Hình 8: Tìm vị trí khả thi ứng với chướng ngại vật M và vectơ định vị z

Cho rằng trong không gian chướng ngại vật M, robot ghi nhận được nhiều vectơ định vị và gọi tập hợp các vectơ định vị là Z Bằng cách giao tất cả những vị trí khả thi, vị trí hiện tại của robot sẽ có thể được tìm thấy bằng công thức sau:

) , ( )

,

FP

Z

z

Hình 9 mô tả vị trí khả thi ứng với các vectơ định

vị x, y, và z, đồng thời tìm ra vị trí thực của robot, nếu robot ghi nhận được 3 vectơ định vị x, y, z đó

Hình 9: Tìm vị trí khả thi bằng vectơ định vị

Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là cảm biến siêu âm luôn trả về các giá trị với một sai số nhất định Chính vì vậy, thay vì tính toán vị trí khả thi với vectơ định vị lý tưởng như trên, robot sẽ phải tính toán vị trí khả thi với một sai số ε nào đó Sai số

ε này được xác định dựa trên phân bố của cảm biến siêu âm Bán kính ε là bán kính sao cho xác suất xuất hiện chướng ngại vật trong phạm vi bán kính đó là 90% Vì vậy, công thức (7) sẽ được viết lại như sau:

))) 1 ( , 0 ( ( ) B (z ( ) , (

z z l M M

z M

ε

o

o

Q

o

-Q

P

Q

PΘ

o

Trang 4

Trong đó, Bε là quả cầu bán kính ε Hình 10 mô

tả vị trí khả thi của robot với 3 vectơ định vị có sai

số

Hình 10: Định vị có tính đến sai số

Như vậy, sai số ε này vào khoảng bao nhiêu, và

làm cách nào để hạn chế sai số? Xem cảm biến

siêu âm với búp hướng được thu gọn lại trong một

hình quạt bán kính bằng tầm quét xa nhất của cảm

biến (khoảng 10m đối với cảm biến Polaroid 6500

và 6m đối với SRF08); đồng thời, phân bố Gauss

của cảm biến cũng được xem như phân phố là một

đường tròn theo góc mở (hình 3) Như vậy, độ dài

cung tròn ở khoảng cách 10m, với góc mở 25 độ là

) ( 36 4 180

25 10

)

10

Bán kính ε sẽ có độ lớn lên đến vài mét Sai số

này là sai số không thể chấp nhận được Một giải

pháp đặt ra là dùng nhiều cảm biến cho việc ghi

nhận một vectơ định vị như hình 11 [Elfes85]

Hình 11: Dùng nhiều cảm biến

để ghi nhận một vectơ định vị

Góc θ1 giới hạn ở đây bằng bao nhiêu thì tốt

nhất, vì góc này càng lớn thì càng ổn định, nhưng

nó phụ thuộc vào khoảng cách từ cảm biến đến

chướng ngại vật chưa biết Ở đây chúng tôi chọn

o

30

θ Điều đó có nghĩa là, trong quá trình di

chuyển, robot sẽ lưu lại các “vệt quét” của cảm

biến siêu âm trước đó, nếu “vệt quét” cũ giao với

vệt quét mới tại một điểm hợp với vị trí mới và cũ

của cảm biến một góc lớn hơn 30o thì ta xác nhận

điểm đó là chướng ngại vật, và chọn vectơ định vị

đi qua điểm đó Trong trường hợp góc ghi nhận không tốt, ta sẽ phải dùng phương pháp ATM (Arc Transversal Median) [CNL03] để tìm ra điểm trọng tâm trong các điểm nghi ngờ và chọn vectơ định vị

đi qua điểm đó

Hình 12: Tìm góc giao hai cảm biến

Xét chướng ngại vật nằm ở khoảng cách 6 mét cách cảm biến như hình 12 trên, đồng thời, sai số vùng I là 10 cm:

cm cm

cm Len

cm cm

Arc

o

3 37 ) 30 tan(

10 ) 30 sin(

10 ) 30 (

314 180

30 600 ) 600 (

= +

=

=

(10)

Trong đó, Arc ký hiệu cho cung tròn là những vị trí mà cảm biến ghi nhận có thể có vật cản và Len

là chiều dài đoạn giao của hai cảm biến Kết quả cho thấy độ chính xác của cảm biến sẽ tăng lên

3 37

314≈ lần Với kết quả này, bán kính sai số ε sẽ vào khoảng 15 cm đến 20 cm Đây là một kết quả lý tưởng

Cuối cùng, cho dù có hạn chế được sai số của cảm biến, trong một môi trường chưa biết, không có một sự khẳng định nào rằng robot sẽ ghi nhận các vectơ định vị như khi thăm dò bản đồ (hình 13) Hay nói cách khác, tập hợp vị trí khả thi của robot như trong công thức (8) sẽ có thể là một tập rỗng, hoặc một tập hợp mà các phần tử không liên thông (có nhiều vị trí khả thi của robot nằm nhiều nơi cách xa nhau trên bản đồ)

Hình 13: Chướng ngại vật di động

Bằng cách đưa vào một hàm đặc trưng như sau, việc tìm ra vị trí khả thi có thể được thực hiện dễ dàng

1 θ

θ

) sin(

10

θ

) tan(

10 θ

θ

10

600

10

Trang 5

=

FP p

FP p p

z

M

FP

: 0

: 1 )

(

)

,

(

Lại tiếp tục đưa vào hàm rnk() là tổng giá trị các

hàm đặc trưng của p như sau:

=

Z z

z M

FP p p

Z

M

Vậy, vị trí của robot là vị trí phù hợp với nhiều

vectơ định vị được robot ghi nhận nhất:

=

∈ ( ( , , )) sup

) , , (

|

)

,

(M Z p rnk M Z p rnk M Z q

Loc

C q

(13)

Trong đó, C là tập hợp tất cả các ô lưới trong bản

đồ Mặc dù vậy, Loc(M,Z) có thể sẽ là một tập hợp

các điểm liên thông Để tìm ra một điểm duy nhất,

ta sẽ tính tổng của các hàm rnk() của các điểm lân

cận, điểm có giá trị cao nhất sẽ là vị trí tức thời của

robot Nếu lấy tổng các điểm lân cận gần nhất vẫn

không tìm ra được điểm duy nhất, chúng ta sẽ lấy

tổng các điểm lân cận tiếp theo

Ngoài ra, để hạn chế vùng tính toán vị trí của

robot và nâng cao độ chính xác, robot có thể được

hỗ trợ thuật toán dead reckoning dựa vào việc tính

toán vị trí theo sự điều khiển mong muốn và đưa

vào một sai số tích luỹ theo quãng đường di chuyển

của robot Sai số của phương pháp dead reckoning

sẽ được kiểm tra và sửa lỗi bằng phương pháp

UMBmark [Borenstein94] Chúng tôi đã viết một

chương trình tính toán UMBmark Calculator giúp

người thí nghiệm mô tả lại kết quả thí nghiệm với

UMBmark, và tính toán nhanh các sai số để hiệu

chỉnh

5 CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG

Nhiệm vụ của chương trình mô phỏng là kiểm tra

các kết quả của thuật toán, đồng thời cũng là một

chương trình nhằm giới thiệu về hệ thống thuật toán

này cho sinh viên

Chương trình được viết theo lập trình hướng đối

tượng bằng ngôn ngữ Visual C++ NET

Ngoài ra, trong phần Help (giúp đỡ), chúng tôi

trình bày tất cả các lý thuyết về thuật toán, cũng

như các lý thuyết về bài toán động học cho robot di

động mô hình NEWT, các lý thuyết cảm biến siêu

âm, hồng ngoại, la bàn,… sẽ hỗ trợ cho việc giảng

dạy và nghiên cứu về sau

Dưới đây là giao diện chương trình mô phỏng

CabSim và chương trình tính toán UMBmark

Calculator (hình 14, 15, 16)

Hình 14: Chương trình UMBmark Calculator

Hình 15: Bản đồ chướng ngại vật

(a)

(b)

© Hình 16: (a) Robot bắt đầu quét bản đo (b) Robot đang thăm dò bản đồ (c)Robot hoàn thành việc quét bản đồ

Trang 6

6 KẾT LUẬN

Một cách sơ lược, bài báo đã phân tích các vấn

đề giải thuật, tạo cơ sở cho việc thiết kế và chế tạo

một robot thực có khả năng tự trị trong một môi

trường chưa biết Chúng tôi đã tiến hành việc mô

phỏng thuật toán thăm dò bản đồ, và đang tiến hành

phần thuật toán định vị

Hiện nay, việc sử dụng hệ thống giải thuật chồng

chất cảm biến này đã và đang được phát triển rất

mạnh tại các phòng thí nghiệm ở các nước trên thế

giới Sản phẩm được sản xuất hàng loạt đầu tiên sử

dụng hệ thống giải thuật này là robot hút bụi

Trilobite của hãng Electrolux 2003 Những sản

phẩm đơn chiếc nổi tiếng khác như robot thăm dò

sao Hoả, và robot dẫn đường cho người mù…

Những ứng dụng từ công nghiệp, đến những ứng

dụng đơn giản hay vô cùng phức tạp kể trên cho

thấy rằng đây là một hướng đi cần được quan tâm

Hơn thế, việc sử dụng cảm biến rẻ tiền như cảm

biến siêu âm luôn là hướng nghiên cứu phát triển

rất mạnh

Khó khăn lớn nhất hiện nay cho việc chế tạo thử

nghiệm một robot là kinh phí Để thử nghiệm một

robot di động, các phòng thí nghiệm trên thế giới

thường phải bỏ ra từ 5000 USD đến hàng trăm

nghìn USD hoặc lớn hơn nhiều Trong khi đó, ở

Việt Nam, con số này là một con số không tưởng

Trước mắt, chúng tôi đã thực hiện đề tài này ở

mức độ chương trình mô phỏng, như trình bày ở

trên, nhằm mục đích phục vụ cho việc học tập,

giảng dạy và nghiên cứu Ngoài ra, sau khi phân

tích sơ bộ kinh phí thực hiện đề tài, chúng tôi mong

muốn có được một khoản tài trợ 2000 USD cho việc

thực hiện một mô hình robot hoàn chỉnh để có thể

tiếp tục thí nghiệm và phát triển đề tài

Hướng phát triển của đề tài sẽ là việc phát triển

các thuật toán thăm dò bản đồ, định vị và tìm đường

đi cho robot thông qua chương trình mô phỏng

Nâng cấp thuật toán để robot có thể hoạt động

trong không gian ba chiều

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[Brown00] R.G.BROWN and B.R.DONALD,

“Mobile Robot Self Localization without Explicit

Landmarks”, p 515- 559, Algorithmica 2000

[Borenstein94] J BORENSTEIN and L FENG,

“UMBmark – A Method for Measuring, Comparing,

and Correcting Dead Reckoning Errors in Mobile

Robots”, Technical Report, University of Michigan,

Dec 1994

[Borenstein95] J BORENSTEIN and Y KOREN,

“Error Eliminating Rapid Ultrasonic Firing for

Mobile Robot Obastacle Avoidance”, IEEE Transactions on Robotics and Automation, 1995

[Borenstein96] J BORENSTEIN, L FENG and H

R EVERETT, “Where Am I? – Sensors and Methods for Mobile Robot Positioning”, Technical Report, University of Michigan, Apr 1996

[CNL03] HOWIE CHOSET, KEIJI NAGATANI, NICOLE A LAZAR, “The Arc Transversal Algorithm: Approach to Increasing Ultrasonic Sensor Azimuth Accuracy”, IEEE Transaction on Robotics and Automation, Vol 19,

No 3, June 2004

[Diep99] TRẦN TUẤN ĐIỆP, LÝ HOÀNG TÚ, “Lý thuyết xác suất và thông kê toán học”, In lần thứ 2, NXB Thống kê, 1999

[Elfes85] ALBERTO ELFES, “Ultrasonic Sensors”, Carnegie Mellon University, 1985

[Latombe91] JEANS CLAUDE LATOMBE,

“Robot Motion Planning”, Kluwer Academic Publisher, 1991

[Marsland02] STEPHEN MARSLAND,

“CS3451 Laboratory Exercises: Guide to the Robots”, 2002

[Moravec85] HANS P MORAVEC and ALBERTO ELFES, “High Resolution Maps from Wide Angle Sonar”, In Proc 1985 IEEE

International Conference on Robotics and Automation, p 116 – 121, St Louis, MO, 1985

[Moravec89] HANS P MORAVEC, “Sensor Fusion in Certainty Grid for Mobile Robots”, Carnegie Mellon University, Sensor Devices and Systems for Robotics, Springer Verlag, NY,1989

[Murphy00] ROBIN R MURPHY,

“Introduction to AI Robotics”, Massachusetts Institute of Technology, 2000

[Muir88] PATRICK FRED MUIR,

“Modeling and Control of Wheeled Mobile Robot”, PhD thesis at Carnegie Mellon University, 1988

[Thuan03] NGUYỄN ĐỨC THUẬN, NGUYỄN VŨ SƠN, TRẦN ANH VŨ, “Cơ sở kỹ thuật siêu âm”, NXB Khoa học và Kỹ Thuật, 2003

Ngày đăng: 10/12/2013, 14:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4 dưới dây mô tả quá trình thăm dò bản đồ  của robot. Vùng đen đậm là vùng không gian trống,  vùng màu xám là vùng chưa biết - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 4 dưới dây mô tả quá trình thăm dò bản đồ của robot. Vùng đen đậm là vùng không gian trống, vùng màu xám là vùng chưa biết (Trang 2)
Hình 3: Vùng quét của cảm biến siêu âm - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 3 Vùng quét của cảm biến siêu âm (Trang 2)
Hình 1: (a) là vị trí khả thi, - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 1 (a) là vị trí khả thi, (Trang 2)
Hình 2: Búp hướng của cảm biến Polaroid 6500 - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 2 Búp hướng của cảm biến Polaroid 6500 (Trang 2)
Hỡnh 7: Hieọu Minkowskii - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
nh 7: Hieọu Minkowskii (Trang 3)
Hình 8: Tìm vị trí khả thi ứng với   chướng ngại vật M và vectơ định vị z - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 8 Tìm vị trí khả thi ứng với chướng ngại vật M và vectơ định vị z (Trang 3)
Hình 9 mô tả vị trí khả thi ứng với các vectơ định - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 9 mô tả vị trí khả thi ứng với các vectơ định (Trang 3)
Hình 10: Định vị có tính đến sai số - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 10 Định vị có tính đến sai số (Trang 4)
Hình 12: Tìm góc giao hai cảm biến - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 12 Tìm góc giao hai cảm biến (Trang 4)
Hình quạt bán kính bằng tầm quét xa nhất của cảm - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình qu ạt bán kính bằng tầm quét xa nhất của cảm (Trang 4)
Hình 11: Dùng nhiều cảm biến - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
Hình 11 Dùng nhiều cảm biến (Trang 4)
Hỡnh 14: Chửụng trỡnh UMBmark Calculator - Tài liệu Robot di động tự định vị không dùng cột mốc docx
nh 14: Chửụng trỡnh UMBmark Calculator (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w