1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC “TIỂU SÀI HỒ THANG GIA VỊ” TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG MEN GAN HUYẾT THANH DO RƯỢU LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

97 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1 Tăng men gan huyết thanh do rượu theo Y học hiện đại (13)
      • 1.1.1 Rượu và ảnh hưởng của rượu đến men gan (13)
      • 1.1.2 Chẩn đoán tăng men gan huyết thanh do rượu (24)
      • 1.1.3 Điều trị tăng men gan huyết thanh do rượu (26)
    • 1.2 Tăng men gan huyết thanh do rượu theo Y học cổ truyền (28)
      • 1.2.1 Bệnh danh (28)
      • 1.2.2 Bệnh nguyên bệnh cơ (28)
      • 1.2.3 Thể bệnh và điều trị (30)
    • 1.3 Tổng quan về bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” sử dụng trong nghiên cứu (32)
      • 1.3.1 Xuất xứ (32)
      • 1.3.2 Thành phần bài thuốc (32)
      • 1.3.3 Cách dùng (32)
      • 1.3.4 Công năng (32)
      • 1.3.5 Chủ trị (32)
      • 1.3.6 Phân tích bài thuốc (33)
    • 1.4 Các nghiên cứu có liên quan (33)
  • CHƯƠNG 2: CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Chất liệu nghiên cứu (35)
      • 2.1.1. Thành phần bài thuốc (35)
      • 2.1.2. Quy trình bào chế (35)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (36)
      • 2.2.1. Xác định độc tính cấp (36)
      • 2.2.2. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (36)
      • 2.2.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân (36)
      • 2.2.4. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân (37)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (37)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (37)
      • 2.3.2. Công thức cỡ mẫu (37)
      • 2.3.3. Sơ đồ nghiên cứu (38)
      • 2.3.4. Biến số và chỉ số trong nghiên cứu (40)
      • 2.3.5. Công cụ và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu (40)
      • 2.3.6. Các bước tiến hành nghiên cứu (41)
      • 2.3.7. Phương pháp đánh giá kết quả (42)
    • 2.4. Phương pháp xử lý số liệu (42)
    • 2.5. Thời gian và địa điểm (42)
      • 2.5.1. Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” . 32 2.5.2. Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng (42)
    • 2.6. Đạo đức nghiên cứu (43)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (44)
    • 3.1. Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” (44)
    • 3.2. Tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu (45)
      • 3.2.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu (45)
      • 3.2.2. Tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu (49)
      • 3.2.3. Tác dụng không mong muốn của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu (57)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Độc tính cấpLD 50 của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” (59)
    • 4.2. Hiệu quả của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu (60)
    • 4.3. Hiệu quả điều trị của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu (62)
      • 4.3.1. Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị (62)
      • 4.3.2. Sự thay đổi điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và (69)
      • 4.3.3. Sự cải thiện triệu chứng lâm sàng trước và sau sử dụng bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” (70)
    • 4.4. Tác dụng không mong muốn của bài thuốc (71)
  • KẾT LUẬN (0)
  • PHỤ LỤC (80)

Nội dung

Hiệu quả điều trị của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu .... ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng men gan huyết thanh do rượu là tình trạng các chỉ số chức

CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chất liệu nghiên cứu

Thành phần, liều lượng dược liệu cho mỗi thang thuốc sắc của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” gồm:

Sài hồ 12g Nhân trần 12g Đẳng sâm 12g Diệp hạ châu 12g

Bán hạ chế 08g Củ móp 12g

Sinh khương 08g Chi tử 10g Đại táo 10g Hoàng cầm 10g

Tất cả các vị thuốc nghiên cứu đều được bào chế theo tiêu chuẩn cơ sở và hướng dẫn của Dược điển Việt Nam IV

Thuốc được sắc và đóng túi bằng máy sắc của Hàn Quốc (nhập khẩu bởi công ty cổ phần thương mại sản xuất thiết bị kĩ thuật y tế - Medtech) thành dạng cao lỏng 1:1, theo quy trình thường quy tại khoa Dược – Bệnh viện YHCT Bộ Công an Mỗi thang thuốc được đóng thành 2 túi thuốc nước, mỗi túi chứa 150ml, sai số khác biệt giữa hai túi không quá 2ml

Bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh từ 2-8 0 C, làm ấm đến nhiệt độ môi trường trước khi uống

Cách dùng: Uống ngày 02 túi, chia hai lần sau ăn 30 phút, uống liên tục trong 30 ngày.

Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Xác định độc tính cấp

Chuột nhắt trắng Musmuscullus chủng Swiss có trọng lượng từ 18 – 22gram do viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương cung cấp, uống nước tự do

2.2.2 Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

2.2.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân nam trên 18 tuổi, không phân biệt nghề nghiệp, tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Có tiền sử sử dụng rượu > 1 năm tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu và hiện vẫn đang dùng Bệnh nhân sử dụng rượu với lượng uống > 160ml rượu/ngày

- Được chẩn đoán xác định tăng men gan do rượu theo các tiêu chuẩn của YHHĐvà thuộc 3 thể bệnh (Thấp nhiệt, Can uất tỳ hư, Can âm hư) của YHCT

Y học hiện đại Y học cổ truyền

- Chỉ số men gan AST, ALT, GGT tăng > 2 lần mức bình thường, cụ thể

- Chỉ số De Ritis AST/ALT > 2

- Bệnh nhân có thể có hoặc không xuất hiện một trong các biểu hiện lâm sàng: chán ăn, buồn nôn, nôn, sụt cân, đau hạ sườn, vàng da, đầy trướng bụng trong 6 tháng gần nhất tính từ thời điểm tham gia nghiên cứu

- Thấp nhiệt: Miệng đắng khô nhớt, chán ăn, bụng đầy trướng, đau nhiều vùng gan, da vàng xạm, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền

- Can uất tỳ hư: Đau tức nặng vùng hông sườn phải, miệng đắng, ăn kém, người mệt mỏi, đại tiện phân nhão, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền

- Can âm hư: Hồi hộp, ngủ ít, lòng bàn tay bàn chân nóng, khát nước, họng khô, hay gắt gỏng, lưỡi đỏ, táo bón, nước tiểu vàng, mạch huyền tế sác

2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Thất ngôn, hôn mê, rối loạn tri giác, bệnh lý tâm thần kinh, Alzheimer, điếc trắng, suy thận, ung thư gan;

- Bệnh nhân không hợp tác/không thể thăm khám

- Đang sử dụng các loại thuốc/thực phẩm chức năng có tác dụng cải thiện chức năng gan hoặc điều trị bệnh lý khác trong thời gian 10 ngày trước khi tham gia nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

Nghiên cứu được thiết kê theo phương pháp Litchfield-Wilcoxon

2.3.1.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước và sau điều trị, không có nhóm chứng

2.3.2.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

Chuột nhắt trắng Musmuscullus chủng Swiss gồm 100 con, chia làm 10 lô, mỗi lô 10 con

2.3.2.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

Trong đó: n: Là cỡ mẫu nghiên cứu α: Là mức ý nghĩa thống kê, nghiên cứu này lấy là 5% (0,05)

1-β: Là lực mẫu, nghiên cứu lấy là 90

Po: Là tỷ lệ bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu trong số bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu đang điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an trước can thiệp (nghiên cứu thử, ước lượng p = 0,25)

Pa: Là tỷ lệ bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu trong số bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu đang điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công An sau can thiệp (ước lượng p = 0,05)

Kiểm định 2 phía, thay số liệu được n = 36 Vậy cỡ mẫu cần thiết cho thử nghiệm lâm sàng là 36 bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu thực nghiệm

Cho ăn từ 16h ngày hôm trước

Chuột nhắt trắng chủng Swiss trọng lượng 18 – 22gram

8h sáng hôm sau uống” Tiểu sài hồ thang gia vị” Đánh giá tình trạng chung Đánh giá tổn thương LD50 Tất cả chuột chết mổ

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ nghiên cứu lâm sàng

Bệnh nhân có tiền sử sử dụng rượu > 1 năm và hiện đang dùng, lượng uống >160ml/ngày

Khám lâm sàng Chỉ định cận lâm sàng

Chẩn đoán xác định tăng men gan huyết thanh do rượu theo YHHĐ và YHCT

Uống “Tiểu sài hồ thang gia vị” ngày 2 lần, mỗi lần 1 gói sau ăn 30 phút, liệu trình 30 ngày liên tục

Theo dõi lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng ngày D0 và D30

2.3.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

2.3.4.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

- Số chuột chết trong suốt 7 ngày và tỉ lệ chết trong vòng 72 giờ sau khi uống thuốc

- Các chỉ số liên quan đế tình trạng chung của chuột: ăn, ngủ, vận động, bài tiết

- Các chỉ số liên quan đến dầu hiệu nhiễm độc: nôn, co giật, kích động, bài tiết

2.3.4.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

- Chỉ số chức năng gan: AST, ALT, GGT

- Chỉ số sinh hóa máu: Ure, creatinin, glucose

- Chỉ số công thức máu: Hồng cầu, bạch cầu, huyết sắc tố, hematocrit, tiểu cầu

2.3.5 Công cụ và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.3.5.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

- Cân điện tử của Nhật, độ chính xác 0,001 gam

- Kim đầu tù cho chuột uống

2.3.5.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

- Cân điện tử Tanita của Nhật, độ chính xác 100gram

- Máy đo huyết áp AL-PK2 của Nhật, độ chính xác 10mmHg

- Máy xét nghiệm sinh hóa

- Máy xét nghiệm huyết học

2.3.6 Các bước tiến hành nghiên cứu

2.3.6.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

Bước 1.Chuột được cho ăn vào 16 giờ ngày hôm trước

Bước 2 Tám giờ sáng ngày hôm sau cho uống thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” bằng kim đầu tù với các liều khác nhau từ liều cao nhất không gây chết chuột (gây chết 0% chuột) (g/kg) đến liều thấp nhất gây chết 100% chuột, trong cùng một thể tích là 0,25 ml dung dịch thuốc/10g trọng lượng cơ thể chuột, 3 lần trong 24 giờ, chuột được cho ăn sau khi uống thuốc lần cuối

Bước 3 Theo dõi tình trạng chung của chuột, quá trình diễn biến bắt đầu có dấu hiệu nhiễm độc (nôn, co giật, kích động, bài tiết…) và số lượng chuột chết trong suốt 7 ngày và tỉ lệ chết trong vòng 72 giờ sau khi uống thuốc

Bước 4.Tất cả chuột chết được mổ để đánh giá tổn thương đại thể Từ đó xây dựng đồ thị tuyến tính để xác định LD50 của thuốc thử

Bước 5 Tiếp tục theo dõi tình trạng của chuột đến hết ngày thứ 7 sau khi uống thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

2.3.6.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

Bước 1.Bệnh nhân có tiền sử sử dụng rượu > 1 năm và hiện đang dùng được lựa chọn vào nghiên cứu

Bước 2 Bệnh nhân được khám lâm sàng, chỉ định cận lâm sàng kiểm tra chức năng gan

Bước 3 Chẩn đoán xác định tăng men gan huyết thanh do rượu

Bước 4 Uống “Tiểu sài hồ thang” liều 300ml chia 2 lần sau ăn 30 phút trong 30 ngày liên tục

Bước 5 Đánh giá sự cải thiện chức năng gan, sự thay đổi chỉ số cận lâm sàng (công thức máu, chức năng thận, glucose máu) và các tác dụng không mong muốn xuất hiện trong quá trình điều trị

Bước 6 Đánh giá kết quả điều trị

2.3.7 Phương pháp đánh giá kết quả

2.3.7.1 Xác định độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

- Mổ chuột chết đánh giá tổn thương đại thể

- Trong thời gian 7 ngày uống thuốc, chuột được theo dõi tình trạng chung, quá trình diễn biến bình thường hàng ngày hay những biểu hiện của việc bắt đầu có dấu hiệu nhiễm độc (nôn, co giật, kích động, bài tiết…)

- Xây dựng đồ thị tuyến tính để xác định LD50 của thuốc thử

2.3.7.2 Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên lâm sàng

- Sự thay đổi chỉ số chức năng gan AST, ALT, GGT trước điều trị (D0) và sau 30 ngày điều trị (D30)

- Sự thay đổi điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm WHOQOL – Brief gồm các câu hỏi thuộc 4 lĩnh vực thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường (Phụ lục 4)

- Sự thay đổi chỉ số công thức máu và chức năng thận (ure, creatinin), glucose máu trước và sau 30 ngày điều trị

- Tác dụng không mong muốn xuất hiện trong quá trình sử dụng thuốc: nôn, buồn nôn, sẩn ngứa, đi ngoài phân lỏng, đau bụng, đầy hơi

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 của Tổ chức

Y tế Thế giới Test thống kê được sử dụng gồm: Tính tỷ lệ %, khi bình phương, T – test Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p 10 – 20 năm chiếm tỷ lệ 38,9%; số bệnh nhân có thời gian sử dụng rượu < 5 năm và > 20 năm chiế tỷ lệ thấp nhất với 2,8% bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm số năm sử dụng rượu của bệnh nhân nghiên cứu

3.2.1.4 Đặc điểm lượng rượu bệnh nhân sử dụng trung bình trong ngày

Bảng 3.5 Đặc điểm lượng rượu bệnh nhân sử dụng trung bình/ngày

Lượng rượu/ngày Số lượng Tỷ lệ (%)

Lượng rượu trung bình (ml)

Nhận xét : Lượng rượu trung bình bệnh nhân uống là 920 (ml), trong đó tỷ lệ cao nhất nằm ở nhóm bệnh nhân uống 500 – 1000 (ml) rượu/ngày chiếm

63,9%; số bệnh nhân uống trên 1000 (ml) rượu/ngày chiếm tỷ lệ 33,3% và thấp nhất ở nhóm uống < 500 (ml) ngày chiếm tỷ lệ 2,8% bệnh nhân nghiên cứu

3.2.1.5 Đặc điểm bệnh nhân theo thể bệnh Y học cổ truyền

Biểu đồ 3.3 Đặc điểm thể bệnh YHCT bệnh nhân nghiên cứu

Nhận xét: Kết quả biểu đồ 3.3 cho thấy, thể bệnh YHCT thường gặp nhất của bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu là Can uất tỳ hư chiếm tỷ lệ 56%; tiếp theo là nhóm bệnh nhân thể thấp nhiệt chiếm tỷ lệ 33% và 11% bệnh nhân có tăng men gan huyết thanh do rượu thuộc thể Can âm hư

3.2.2 Tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu

3.2.2.1 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị

Bảng 3.6 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị Chỉ số

(UI/l) D0 (𝑿̅± SD) D30 (𝑿̅± SD) Hiệu số giảm

Nhận xét : Sau liệu trình 30 ngày điều trị, chỉ số chức năng gan của bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt, AST trước điều trị từ mức 185,53 ± 30,95

(U/l) giảm xuống còn 92,01 ± 44,06(U/l); ALT trước điều trị ở mức 76,59 ± 19,48 (U/l) giảm xuống còn 57,15 ± 15,86 (U/l); Chỉ số GGT trước điều trị ở mức 527,11 ± 147,13 (U/l) giảm xuống còn 253,49 ± 137,54 (U/l) Kết quả sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p< 0,001

3.2.2.2 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị theo thể bệnh Y học cổ truyền

Bảng 3.7 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị ở bệnh nhân thể Can uất tỳ hư

Nhận xét: Kết quả bảng 3.7 cho thấy, đối với nhóm bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu thể Can uất tỳ hư, sự thay đổi của chỉ số GGT giảm rõ nhất với hiệu số giảm điểm là 244,25 ± 124,52 (UI/l) sau 30 ngày điều trị, hiệu số giảm của AST là 115,26 ± 26,43 (UI/l) và của ALT là 25,75 ± 18,83 (UI/l) Kết quả sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.8 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị ở bệnh nhân thể Can âm hư Chỉ số

(UI/l) D0 (𝑿̅± SD) D30 (𝑿̅± SD) Hiệu số giảm

Nhận xét: Kết quả bảng 3.8 cho thấy, đối với nhóm bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu thể Can âm hư, sự thay đổi của chỉ số GGT giảm rõ nhất với hiệu số giảm điểm là 299,45 ± 68,27 (UI/l) sau 30 ngày điều trị, hiệu số giảm của AST là 68,77 ± 29,52 (UI/l) và của ALT là 20,43 ± 11,21 (UI/l) Kết quả sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p 3 lần giá trị bình thường; 16,7% bệnh nhân có men gan tăng từ 2 – 3 lần giá trị sinh lý và 8,3% bệnh nhân có mức tăng AST trên 4 lần giá trị cho phép

Sự thay đổi chỉ số ALT trước và sau điều trị

Bảng 3.11 Sự thay đổi chỉ số ALT trước và sau điều trị

Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %

Nhận xét: Kết quả bảng 3.11 cho thấy, trước điều trị, số bệnh nhân có chỉ số ALT tăng từ 1 – 2 lần mức bình thường cao nhất với 50%; tiếp đó là nhóm bệnh nhân có mức tăng ALT từ 2 – 3 lần giá trị sinh lý chiếm tỷ lệ 47,2%; số bệnh nhân có chỉ số này tăng cao hơn 3 – 4 lần giá trị bình thường chiếm tỷ lệ 2,8% Sau điều trị, có 1 bệnh nhân ALT về bình thường (chiếm tỷ lệ 2.8%), 80,6% bệnh nhân có mức ALT tăng cao hơn 1 – 2 lần so với giá trị sinh lý và chỉ còn 6 trường hợp bệnh nhân có mức tăng ALT từ 2 – 3 lần giá trị bình thường, không có bệnh nhân nào có ALT tăng trên 3 lần mức bình thường sau nghiên cứu

Sự thay đổi chỉ số GGT trước và sau điều trị

Bảng 3.12 Sự thay đổi chỉ số GGT trước và sau điều trị

Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %

Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy, số bệnh nhân có mức tăng GGT từ 5 – 7 lần chiếm tỷ lệ lớn nhất với 16,7% bệnh nhân nghiên cứu, tiếp theo là nhóm bệnh nhân có GGT tăng 8 – 12 mức bình thường chiếm tỳ lệ 13,9%, có 5,6% bệnh nhân có GGT tăng cao hơn mức sinh lý 12 – 14 lần; không có bệnh nhân nào trước điều trị có chỉ số GGT tăng ở mức < 6 lần mức sinh lý Tuy nhiên, sau điều trị 30 ngày bằng bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”, sự cải thiện chỉ số GGT có sự khác biệt khá rõ với 61,1% bệnh nhân có chỉ số

GGT tăng < 6 lần giá trị sinh lý Không còn bệnh nhân nào có chỉ số GGT tăng cao hơn 10 lần

Sự thay đổi điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau điều trị

Bảng 3.13 Sự thay đổi điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau điều trị Mục D0 (𝑿̅± SD) D30 (𝑿̅± SD) p

Nhận xét: Kết quả bảng 3.13 cho thấy, điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo thang điểm rút gọn WHOQOL – Brief có sự cải thiện rõ nhất ở điểm môi trường, từ mức 5,03 ± 0,85 (điểm) tăng lên 30,50 ± 5,30 (điểm); điểm thể chất tăng từ 18,40 ± 1,07 (điểm) lên 23,23 ± 3,30 (điểm); điểm tâm lý tăng từ 15,97 ± 0,89 (điểm) lên 19,47 ± 2,78 (điểm); điểm xã hội tăng từ 5,03 ± 0,85 (điểm) lên 10,47 ± 2,95 (điểm) Kết quả sự thay đổi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị

Bảng 3.14 Sự thay đổi các triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị

Lòng bàn chân, tay lạnh 7 19,4 4 11,1

Ngũ tâm phiền nhiệt 1 2,8 0 0 Ăn uống kém 19 52,8 1 2,8

Ngủ kém 11 30,6 1 2,8 Đại tiện lỏng 2 5,6 0 0

Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy, trước điều trị, hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu có biểu hiện mệt mỏi (80,6%); đau đầu (33,3%); ù tai (25%); tê bì chân tay (47,2%); gân co rút (61,1%); ăn uống kém (52,8%); ngủ kém (30,6%); tiểu đêm (50%); miệng đắng (52,8%) Sau 30 ngày điều trị, các triệu chứng giảm rõ rệt, không còn bệnh nhân nào có biểu hiện đau đầu, bốc hỏa, hồi hộp trống ngực, bệnh nhân cải thiện ăn ngủ tốt hơn

3.2.3 Tác dụng không mong muốn của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu

Sự thay đổi chức năng sinh tồn ở bệnh nhân trước và sau điều trị

Bảng 3.15 Sự thay đổi chỉ số dấu hiệu sinh tồn ở bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu trước và sau điều trị Chỉ số D0 (𝑿̅± SD) D30 (𝑿̅± SD) p

Huyết áp trung bình (mmHg) 100,01 ± 16,67 99,89 ± 17,89 >0,05

Nhận xét: Sự thay đổi các chỉ số dấu hiệu sinh tồn trước và sau điều trị không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Sự thay đổi các chỉ số cận lâm sàng trước và sau điều trị

Bảng 3.16 Sự thay đổi các chỉ số công thức máu trước và sau điều trị Chỉ số D0 (𝑿̅± SD) D30 (𝑿̅± SD) p Hồng cầu (T/l) 4,31 ±0,47 4,81 ±0,46 >0,05

Nhận xét: Kết quả bảng 3.16 cho thấy sự thay đổi các chỉ số công thức máu trước và sau điều trị thay đổi không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Bảng 3.17 Sự thay đổi các chỉ số sinh hóa máu trước và sau điều trị

Nhận xét: Kết quả bảng 3.17 cho thấy sự thay đổi các chỉ số chức năng thận và glucose máu trước và sau điều trị thay đổi không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Bảng 3.18 Tác dụng không mong muốn xuất hiện trên lâm sàng trước và sau điều trị Tác dụng không mong muốn

Sẩn ngứa 0 0 0 0 0 0 Đại tiện phân lỏng 0 0 0 0 0 0 Ăn kém 0 0 0 0 0 0

BÀN LUẬN

Độc tính cấpLD 50 của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

Bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” là bài thuốc nghiệm phương được phát triển dựa trên bài thuốc cổ phương gốc Tiểu sài hồ thang gia thêm 4 vị là Diệp hạ châu, Nhân trần, Chi tử, Củ móp Với mục tiêu hạ men gan do rượu cho bệnh nhân, điều chúng tôi quan tâm hàng đầu đó chính là tính an toàn của thuốc Xét về phương diện lý thuyết, sự phối ngũ về tính vị quy kinh, công năng chủ trị giữa các vị thuốc là hoàn toàn hợp lý, tạo ra một chỉnh thể thống nhất phù hợp với nguyên tắc điều trị của YHCT Tuy nhiên, với mục tiêu sử dụng an toàn lâu dài, đồng thời phù hợp với “Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc y học cổ truyền” của Bộ Y tế cũng như những quy định nghiêm ngặt về sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược của Tổ chức Y tế thế giới, với khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu độc tính cấp của bài thuốc này trên động vật thực nghiệm tại Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh, Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam

Với mục tiêu nghiên cứu độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”, mục tiêu 1 của đề tài này được thực hiện trên chuột nhắt trắng với xuất phát điểm sinh lý bình thường và đồng đều trong toàn bộ đối tượng nghiên cứu, theo phương pháp Litchfield – Wilcoxon, liều bắt đầu 30ml/kg trọng lượng cơ thể tương đương 114g/kg trọng lượng cơ thể Chuột được chia làm 4 lô, mỗi lô 10 con, chuột được uống với các liều khác nhau

Theo bảng 3.1 ở liều 30ml/kg, 45ml/kg và 60ml/kg trọng lượng cơ thể, theo dõi chuột sau khi cho uống thuốc không phát hiện bất cứ thay đổi nào liên quan đến tập tính sinh hoạt, không xuất hiện các triệu chứng bất thường Toàn bộ chuột ở cả bốn lô sống hoàn toàn bình thường qua 24 giờ, 48 giờ và

Với liều 75ml/kg trọng lượng cơ thể, là nồng độ đặc nhất, thể tích uống tối đa, khó cho uống, nhưng vẫn cho uống được bằng bơm tiêm có kim đầu tù Sau khi uống thuốc, quan sát kỹ toàn bộ số chuột, nhóm nghiên cứu không thấy xuất hiện bất cứ dấu hiệu bất thường nào Theo dõi liên tục trong vòng

72 giờ và theo dõi 7 ngày sau đó không có chuột nào chết

Nếu tính liều tương đương trên người thì liều 75ml/kg (285g/kg trọng lượng cơ thể) gấp 13 lần liều tối đa có thể dùng trên người Nhóm nghiên cứu tạm dừng ở liều này với hai lý do Thứ nhất, trên thực tế không bao giờ dùng tới liều này Thứ hai, chuột không thể uống với khối lượng thuốc cao hơn 0,5 ml thuốc mỗi lần và liều lượng thuốc cô đặc 75ml/kg tương đương 285g/kg thể trọng cơ thể là tối đa Chính vì vậy, chúng tôi không xác định được liều LD50

Như vậy không xác định được liều gây chết 50% của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”, bài thuốc không có độc tính cấp đúng như dự đoán của nhóm nghiên cứu Như vậy, bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” được chứng minh an toàn trên cả phương diện lý thuyết về kết cấu bài thuốc, phương diện thực nghiệm liên quan đến độc tính cấp và phương diện thực tiễn là bài thuốc đã được sử dụng hiệu quả trong nhiều năm qua.

Hiệu quả của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu

4.2.1 Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu Đặc điểm tuổi bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 cho thấy tuổi trung bình bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là 46,4 ± 11,1 (tuổi) Tuổi nhỏ nhất là 20, tuổi lớn nhất là 69 tuổi Đa số tập trung ở độ tuổi trung niên: nhóm bệnh nhân 40-60 tuổi chiếm 63,9%; nhóm bệnh nhân 30-39 chiếm 19,4% Nhóm tuổi 20-29 và trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 8,3% bệnh nhân nghiên cứu.Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả Hoàng Trọng Thảng (47,4 ± 9,8 tuổi) [7], Nguyễn Thị Dụ (47 ± 11 tuổi) [15], nhưng thấp hơn nghiên cứu của A Jacque Lopez (52,65 ± 13,23 tuổi)

[43] Điều này có thể là do sự khác biệt về đặc điểm địa lý, văn hóa, đặc điểm sinh lý cơ thể con người giữa các nước Đặc biệt là sự khác biệt về văn hóa uống rượu giữa các nước Đặc điểm giới bệnh nhân nghiên cứu

Do tiêu chuẩn lựa chọn ban đầu, nghiên cứu của chúng tôi 100% bệnh nhân là nam giới Kết quả này tương tự nghiên cứu của các tác giả trong nước như Hoàng Trọng Thảng [7], Nguyễn Thị Dụ [15] Khác với các tác giả nước ngoài như Jack Lopez phân bố giới là 90,69% là nam, 9,31 % là nữ [43] Có thể do ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu mạn tính ở nữ so với nam giới còn ít, vì vậy trong nghiên cứu hầu hết bệnh nhân là nam giới Đặc điểm nghề nghiệp bệnh nhân nghiên cứu

Kết quả bảng 3.3 cho thấy bệnh nhân tham gia nghiên cứu chủ yếu làm nghề tự do (chiếm tỷ lệ 58,3% bệnh nhân nghiên cứu), 25% là lao động trí óc và 16,7% làm lao động chân tay Đặc điểm thời gian sử dụng rượu của bệnh nhân nghiên cứu

Thời gian uống rượu trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là là 10,69±4,82 năm, trong đó bệnh nhân có tiền sử uống rượu lâu nhất là 21 năm, tiền sử sử dụng rượu thấp nhất là 2 năm Bệnh nhân có thời gian sử dụng rượu từ 5 – 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,5% bệnh nhân nghiên cứu, tiếp theo là nhóm bệnh nhân sử dụng rượu trong thời gian từ > 10 – 20 năm chiếm tỷ lệ 38,9%; số bệnh nhân có thời gian sử dụng rượu < 5 năm và > 20 năm chiế tỷ lệ thấp nhất với 2,8% bệnh nhân nghiên cứu Thời gian uống rượu trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dụ trên những bệnh nhân có bệnh cấp tính do nghiện rượu

(15,7± 7,7 năm), của Phạm Thị Minh Hiền (16,78 ± 7,19) [1], [15] Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng trẻ hóa ở bệnh nhân viêm gan do rượu Đây là hệ quả của việc tuổi sử dụng rượu, bia của người Việt đang có xu hướng trẻ hóa Thống kê từ một số tỉnh thành cho thấy, trẻ em từ 10 tuổi đã bắt đầu biết uống rượu Bên cạnh đó, lối sống sinh hoạt của giới trẻ hiện nay cũng cho thấy việc sử dụng rượu bia là rất phổ biến Đặc điểm lượng rượu uống trung bình bệnh nhân nghiên cứu

Lượng rượu trung bình bệnh nhân uống là 920 (ml), trong đó tỷ lệ cao nhất nằm ở nhóm bệnh nhân uống 500 – 1000 (ml) rượu/ngày chiếm 63,9%; số bệnh nhân uống trên 1000 (ml) rượu/ngày chiếm tỷ lệ 33,3% và thấp nhất ở nhóm uống < 500 (ml) ngày chiếm tỷ lệ 2,8% bệnh nhân nghiên cứu Đặc điểm thể bệnh y học cổ truyền bệnh nhân nghiên cứu

Kết quả biểu đồ 3.3 cho thấy, thể bệnh YHCT thường gặp nhất của bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu là Can uất tỳ hư chiếm tỷ lệ 56%; tiếp theo là nhóm bệnh nhân thể thấp nhiệt chiếm tỷ lệ 33% và 11% bệnh nhân có tăng men gan huyết thanh do rượu thuộc thể Can âm hư.

Hiệu quả điều trị của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu

4.3.1 Sự thay đổi chỉ số chức năng gan trước và sau điều trị

Sau liệu trình 30 ngày điều trị, chỉ số chức năng gan của bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt, AST trước điều trị từ mức 185,53 ± 30,95 (U/l) giảm xuống còn 92,01 ± 44,06 (U/l); ALT trước điều trị ở mức 76,59 ± 19,48 (U/l) giảm xuống còn 57,15 ± 15,86 (U/l); Chỉ số GGT trước điều trị ở mức 527,11 ± 147,13 (U/l) giảm xuống còn 253,49 ± 137,54 (U/l) Kết quả sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p< 0,001

Kết quả bảng 3.7 cho thấy, đối với nhóm bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu thể Can uất tỳ hư, sự thay đổi của chỉ số GGT giảm rõ nhất với hiệu số giảm điểm là 244,25 ± 124,52 (UI/l) sau 30 ngày điều trị, hiệu số giảm của AST là 115,26 ± 26,43 (UI/l) và của ALT là 25,75 ± 18,83 (UI/l) Kết quả sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p 0,05

Kết quả bảng 3.15 cho thấy sự thay đổi các chỉ số chức năng thận và glucose máu trước và sau điều trị thay đổi không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Kết quả bảng 3.18 cho thấy bệnh nhân không xuất hiện các tác dụng không mong muốn trong thời gian sử dụng bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” điều trị tăng men gan huyết thanh do rượu

Qua nghiên cứu tác dụng của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” trên

36 bệnh nhân tăng men gan huyết thanh do rượu chúng tôi rút ra các kết luận sau:

1 Kết quả thử độc tính cấp của bài thuốc

Không xác định được độc tính cấp của bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị”

2 Hiệu quả điều trị của bài thuốc

- Bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” có hiệu quả rõ rệt trên lâm sàng: Sau 1 tháng điều trị, các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đau tức hạ sườn phải, rối loạn đại tiện, gan to giảm hoặc hết

- Bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” có tác dụng cải thiện chức năng gan trên các chỉ số cận lâm sàng AST, ALT, GGT

- Không thấy tác dụng không mong muốn khi điều trị bệnh nhân trong khoảng thời gian nghiên cứu

1 Có thể tiếp tục nghiên cứu bài thuốc “Tiểu sài hồ thang gia vị” rộng rãi trên các nhóm tuổi và nghề nghiệp khác nhau

2 Cần tuyên truyền cho người dân hiểu được tác hại của rượu với gan, để nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe và hạn chế các bệnh lý do rượu gây ra

3 Chuyển dạng thuốc để thuận tiện trong quá trình sử dụng

1 Phạm Thị Minh Hiền (2013), Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Sài hồ sơ can thang” trên bệnh nhân viêm gan mạn tính do rượu thể nhẹ, Đại học Y Hà Nội

2 Bộ Y tế (2009), Dược điển Việt Nam Vol 4, NXB Y học Tr.150 - 340

3 Đào Văn Phan (2000), Silymarin (Legalon)- Đặc điểm dược lý và các ứng dụng trong lâm sàng Hội thảo khoa học Legalon và ứng dụng, Hà Nội

4 Đỗ Tất Lợi và (2001), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr 79,105, 261, 67 - 203, 98, 487

5 Hoàng Bảo Châu (2006), Nội khoa Y học cổ truyền, NXB Y học

6 Hoàng Trọng Thảng (2006), Bệnh tiêu hoá gan mật, Đại học Y dược

7 Hoàng Trọng Thảng và Nguyễn Thị Hiền (2006), "Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, sự biến đổi men transaminase và Gamma transpeptidase ở bệnh gan do rượu", Tạp chí Y học Việt Nam, 329(Số đặc biệt), tr 160-167

8 Hy LãnHoàng VănVinh(2003), Phát hiện và chữa trị bệnh gan bằng Đông y, NXB Hà Nội, tr 45 - 67

9 Khổng Thị Hồng (2005), Gốc tự do và chống oxy hoá ở bệnh nhân ung thư, Chuyên đề Nghiên cứu sinh, Đại học Y Hà Nội

10 Ngô Chí Hiếu (2002), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hồi sức bệnh nhân có hội chứng cai rượu, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Hà Nội

11 Ngô Thị Thanh Quýt, Nguyễn Phương, Lê Thành Lý và các cộng sự (2010), "Chẩn đoán mức độ xơ hóa gan bằng phương pháp đo độ đàn hồi gan trên bệnh nhân bệnh gan mạn", Tạp chí Y Học Thành phố

12 Nguyễn Nhược Kim và (2009), Phuơng tễ học, NXB Y học, tr 52 - 67

13 Nguyễn Nhược Kim và Mai Thị Kim Loan (1999), "Góp phần đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm gan mạn tính và xơ gan giai đoạn còn bù bằng bài thuốc nghiệm phương YHCT", Y học cổ truyền Việt Nam,

14 Nguyễn Phước Bảo Quân (2006), Siêu âm bụng tổng quát, NXB Y học, tr 76

15 Nguyễn Thị Dụ và Nguyễn Trung Cấp (2005), "Các bệnh lý cấp tính ở người nghiện rượu tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai",

Tạp chí Y học Việt Nam, 306, tr 18-25

16 Nguyễn Thị Minh Hồng (2014), Đánh giá độc tính và tác dụng của viên XG1 điều trị xơ gan do rượu giai đoạn Child Pugh B, Luận văn

Bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội

17 Nguyễn Thị Song Thao (2008), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số xét nghiệm cận lâm sàng ở bệnh nhân xơ gan có nghiện rượu, Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội

18 Nguyễn Xuân Khu (2011), "Nghiên cứu tác dụng điều trị viêm gan mạn tính của chè tan Anganic", Tạp chí Dược học, 424, tr 18-22

19 Phạm Đức Dương (2001), Đánh giá tác dụng điều trị của thuốc VG99 đối với một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính, Luận văn Bác sĩ nội trú, Đại học Y Hà Nội

20 Thiên Gia Diệu Phương (1989), "Viện thông tin thư viện Y học trung ương", tr 148-153

21 Trần Thuý (2006), Nội khoa Y học cổ truyền, NXB Y học, Đại học Y

22 Trần Thúy, Phạm Duy Nhạc và Hoàng Bảo Châu (2005), Bài giảng

Y học cổ truyền, Vol 2, NXB Y học, tr 56 - 109

23 Trần Thúy, Phạm Duy Nhạc và Hoàng Bảo Châu (2005), Bài giảng

Y học cổ truyền, Vol 1, NXB Y học, tr 34 - 75

24 Trần Thuý, Trương Việt Bình và Hồ Hải Nam (1997), Nghiên cứu tác dụng bài thuốc Nhân trần cao thang gia vị vào điều trị viêm gan, Kỷ yếu công trình nghiên cứu y học, tr 27-34

25 Trịnh Quỳnh Giang, Bùi Đức Trình và Trương Anh Tú (2011),

"Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân sảng rượu điều trị tại khoa tâm thần bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên", Khoa học và công nghệ, 89(1/2), tr 47-52

26 Viện nghiên cứu y học dân tộc Thượng Hải (1993), Chữa bệnh nội khoa bằng YHCT Trung Quốc, NXB Thanh Hoá, tr 78 - 98

27 Viện Trung Y học Bắc Kinh và (1994), Phương tễ học giảng nghĩa,

28 Vũ Bằng Đình, Đặng Kim Thanh và (2005), Viêm gan virus và những hậu quả, NXB Y học, tr 67

29 WHO (1992), Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi, chủ biên, Gưneva, tr 34-49

30 Anastasios A (2007), "Alcoholic hepatitis", Gastroenterology, eMedicine Specialties, 102(4), tr 761-766

31 Anthony S Fauci, Dennis L Kasper, Dan L Longo và các cộng sự

(2008), "Alcoholic Liver Disease", Harrison's Principles of Internal Medicine

32 Bao En Wands (2000), "Treatment of chronic liver disease with traditional chinese medicine", Journal of gastroenterology and Hepatology, 15, tr 67-70

33 Brunt EM và Tiniakos DG (2010), "Histopathology of nonalcoholic fatty liver disease", World J.Gastroenterol, 16(42), tr 5286-5296

34 Carwford I.M (2002), "Liver cinrrhosis", Pathology of liver, tr 575-577

35 Castera L (2014), "Hepatitis B: are non-invasive markers of liver fibrosis reliable", Liver International, tr 91-96

36 Dunford L, Carr M.J và Linh Thuy Nguyen (2012), "A Multicentre

Molecular Analysis of Hepatitis B and Blood-Borne Virus Coinfections in Viet Nam, 3 Laboratory for Molecular Diagnostics, National Institute of Hygiene and Epidemiology, Ha Noi, Viet Nam", PLoS ONE, 7(6)

37 Edouaed B.J và Legros L (2013), "Effect of alcohol consumption on liver stiffness measured by transient elastography", World J Gastroenterol, 19(4), tr 516-522

38 European Association for the Study of the Liver (2012), "EASL

Clinical Practice Guidelines: Management of Alcoholic Liver Disease",

39 Faisal M.S và Keeffe E.B (2010), "Liver Biopsy for Histological

Assessment - The Case Against", Saudi J Gastroenterol, 16(2), tr 124-

40 Harold H (1998), "Ethanol", Toxicologic Emergencies, tr 1023-1048

41 Harrison (2015), Principles of Internal Medicine, 19

42 Hietala J, Koivisto H, Anttila P và các cộng sự (2005), "Comparison of the marker GGT-CDT and the conversional laboratory marker of Alcohol abuse in heavy drinkers, moderate drinkers and abstainer",

43 Jack Lopez (2001), "Prevalence and mortality of heavy drinker in a general medical hospital unit", Alcohol and alcoholism, 36(4), tr 335-338

44 Jacquelin J (2003), "Alcoholic liver disease", Current Diagnosis and treatment of Gastroenterology, tr 603-615

45 Kurt C và Kathleen A (1998), "Ethanol, Clinical Management of

Poisoning and Drug Overdose", 34, tr 475-490

46 Mundle G, Ackermann K, Steinle D và các cộng sự (1999),

"Influence of age, alcohol consumption and abstinence on the sentivity of CDT, GGT and MCV", Alcohol and Alcoholism, 34(5), tr 760-766

47 Robert S O’S, Arthur J Srinivasan D và The Practice Guideline

Committee of the American Association for the study of liver diseases and the practice Parameters Committee of the American College of Gastroenterology (2010), AASLD Pratice guidelines-

Alcoholic Liver Diease, chủ biên

48 Rublo M, Caballarria J và Deulofeu R (1997), Alcohol clinical

49 Sheth M, Riggs M, Patel T và các cộng sự (2002), "Utility of the

Mayo end-stage liver disease (MELD) score in assessing prognosis of patients with alcoholic hepatitis", BMC Gastroenterol, 2(2)

50 Ivan Danjanov và James Linder (1996), Andersons pathology, 10

51 Mark E Mailiard và Micheal F Sorrel (2001), "Alcoholic liver disease", Harrison’s principles of internal medicine, 15, tr 1752-1754

52 Robert L Carithers Jr và Craig J Macclain (2010), "Sleisenger and

Fordtran’s Gastrountestinal and Liver disease", tr 1383-1399

53 Scott L (2007), "Clinical mainifestation and diagnosis of alcohol liver disease"

54 Sherlock S và Dooley J (2002), "Disease of liver and biliary tract",

Alcohol and the liver, Blackwell Publishing, tr 381-395

55 Shiff’s (2003), Disease of the liver, 902

56 Srinivasan D, Arthur J Mccullough và (2012), "Disease of the liver", Alcoholic and drug induced liver disease, tr 657-688

57 Zhu M., Lin K.F, Yeung R.Y và các cộng sự (2005), "Evalutation of the protective effects of Schizandra chinensis on Phase I drug metabolism using a CCl4 intoxication model", Entez PubMed, tr 3-7

58 Rosbert S., Srinivansan D, ArthurJ., “Treatment of Alcoholic

Phụ lục 1 CÁC VỊ THUỐC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

Tên khoa học:Radix Bupleuri

Bộ phận dùng: Rễ cây sài hồ Bupleurum chinense DC Họ Hoa tán Apiaceae.Tại Việt Nam hiện nay một số nơi dùng rễ cây lức hoặc rễ cây cúc tần, họ Cúc - Asteraceae làm sài hồ nam, cần chú ý tránh nhầm lẫn

Tính vị: Khổ, tân, vi, hàn

Quy kinh: Can, đởm, tâm bào, tam tiêu

Công năng: Hoà giải biểu lý, sơ can, thăng dương

Chủ trị: Hàn nhiệt vãng lai, ngực sườn đau trướng, miệng đắng, không muốn ăn, buồn nôn (như sốt rét); đau đầu, chóng mặt, dễ cáu gắt, rối loạn kinh nguyệt, sa dạ con, sa trực tràng

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3 – 9 g, phối hợp trong các bài thuốc Kiêng kỵ: Không dùng cho người can dương thượng thăng, âm hư hoả vượng

Tên khoa học: Radix Codonopsis pilosulae

Bộ phận dùng: Rễ phơi khô của cây Đảng sâm (Codonopsis pilosula (Franch.) Nannf.), họ Hoa chuông Campanulaceae

Tính vị: Cam, bình

Công năng: Bổ trung ích khí, kiện tỳ ích phế

Chủ trị: Tỳ phế hư nhược, thở dồn, tim đập mạnh, ăn yếu, phân lỏng, ho suyễn, hư tính, nội nhiệt, tiêu khát (đái tháo đường)

Ngày dùng 9 – 30 g, dạng thuốc sắc, viên hoàn hay bột

Kiêng kỵ: Không dùng chung với Lê lô

Tên khoa học: Rhizoma Pinelliae

Bộ phận dùng: Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Bán hạ (Pinellia ternata (Thunb.) Breit., họ Ráy (Araceae)

Tính vị: Tân, ôn, có độc

Ngày đăng: 23/05/2021, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w