ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KIỆN NK603 ĐỐI VỚI MÔI V.2 Xác định nguy cơ cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn 14 V.3 Nguy cơ ảnh hưởng của sinh vật biến đổi gen
Trang 2i
© Bản quyền thuộc về tập đoàn Monsanto, năm 2014
Tài liệu này được bảo vệ theo luật và các điều khoản của luật bản quyền quốc gia tha quốc
tế Các tổ chức, cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành có quyền sử dụng tài liệu này Ngoài ra, mọi hình thức sử dụng, sao chép, lưu hành hoặc đăng tải thông tin trong tài liệu này và bất kỳ tài liệu nào kèm theo nếu không có
sự đồng ý trước của Tập đoàn Monsanto và các chi nhánh của Tập đoàn đều bị nghiêm
cấm
Trang 3i
MỤC LỤC
I.1 Tổ chức đăng ký cấp Giấy chứng nhận An toàn sinh học 1
II.3 Việt Nam có phải là nguồn gốc phát sinh của sinh vật nhận không? 3 II.4 Có phải lần đầu tiên sinh vật nhận được canh tác ở Việt Nam không? 4
III THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN NẠP GEN 6
III.1 Cây trồng biến đổi gen được tạo ra bằng phương pháp chuyển gen nào? 6
V ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KIỆN NK603 ĐỐI VỚI MÔI
V.2 Xác định nguy cơ cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn 14 V.3 Nguy cơ ảnh hưởng của sinh vật biến đổi gen đối với với các sinh vật không chủ
V.4 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác mới đến môi trường và đa dạng sinh học 18
VI THÔNG TIN VỀ RỦI RO CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC
VI.1 So sánh thành phần dinh dưỡng của sự kiện NK603 với ngô truyền thống 20
Trang 51
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA SỰ KIỆN NK603, NGÔ CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ ROUNDUP GỐC GLYPHOSATE ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
(Theo Phụ lục 3, Thông tư số 08/2013 /TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2013
của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)
I THÔNG TIN CHUNG
I.1 Tổ chức đăng ký cấp Giấy chứng nhận An toàn sinh học
Tên Tổ chức đăng ký: Công ty TNHH DEKALB Việt Nam
Người đại diện của tổ chức: Aruna Rachakonda
Tổng Giám đốc Đầu mối liên lạc của tổ chức: Nguyễn Thúy Hà
Giám đốc Pháp chế, Việt Nam Địa chỉ: Phòng 1303, Tầng 13, Tòa nhà Centec
72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3
Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
I.2 Cây trồng biến đổi gen
Tên thông thường tiếng Việt Cây ngô
Tên thông thường tiếng Anh Maize/Corn
Tên khoa học Zea mays L
Sự kiện chuyển gen Sự kiện NK603, ngô chống chịu thuốc trừ cỏ
Roundup gốc glyphosate
Mã nhận diện duy nhất (nếu có): MON-ØØ6Ø3-6
Tính trạng biểu hiện liên quan
đến gen chuyển
Sự kiện NK603 với sự biểu hiện của protein CP4 EPSPS mang đặc tính chống chịu thuốc trừ cỏ Roundup gốc glyphosate
Nêu mục đích sử dụng cây
trồng biến đổi gen Làm th?c ph?m Làm th?c ăn chăn nuôi
M?c đích khácNếu cây trồng biến đổi gen sử dụng vào mục đích khác, cần phải nêu rõ mục đích sử dụng dưới đây:
Trang 62
Sử dụng để trồng trọt tại Việt nam
Nêu phương pháp phát hiện
cây trồng biến đổi gen
Có thể nhận ra sự kiện NK603 bằng mắt thường nhờ vào sự biểu hiện tính chống chịu với thuốc trừ cỏ Roundup trên đồng ruộng hay bằng các phương pháp sinh học phân tử sau: 1) ELISA, 2) PCR 3) lai Southern và 4) Chẩn đoán nhanh bằng que thử
(Quickstick)
Trang 73
II THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN SINH VẬT NHẬN
II.1 Nêu tên
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào công bố về ảnh hưởng bất lợi của ngô đối với
sức khỏe con người, động vật và thực vật Ngô không mang tính độc hoặc tạo ra các
chất gây độc hoặc các chất chống dinh dưỡng gây hại cho con người [156,160] Ngô
không phải là thực phẩm gây dị ứng cho người mặc dù đã có một vài báo cáo về dị
ứng khi sử dụng ngô làm thức ăn [108, 111,112] Có hai trường hợp báo cáo về dị ứng
khi ăn ngô ở Hoa Kỳ và Italia [113,143], tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu độc lập cho
thấy rằng những người bị dị ứng với ngô này cũng có tiền sử dị ứng với các loại phấn
hoa và hạt ngũ cốc khác chứ không riêng gì với ngô [73, 111,112 ] Điều này cho thấy
nguy cơ gây ngộ độc hoặc gây dị ứng của ngô khi sử dụng làm thực phẩm và thức ăn
chăn nuôi là không có hoặc rất thấp [111,112]
II.3 Việt Nam có phải là nguồn gốc
phát sinh của sinh vật nhận không? Có Không
Từ những bằng chứng về hóa thạch, những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, tế
bào học, di truyền học, Jones cùng các cộng sự tại đại học bang Washington – Pullman
cho rằng ngô có nguồn gốc phát sinh từ Trung Mỹ Quá trình thuần hóa ngô diễn ra
vào khoảng năm 7.000 trước công nguyên tại miền trung Mexico và tổ tiên của nó là
loại cỏ teosinte hoang dại gần giống nhất với ngô ngày nay vẫn còn tìm thấy ở khu vực
sông Balsas, Mexico [47,52] Với nguồn gốc Trung Mỹ, cây ngô được di nhập đến
phần còn lại của thế giới, cụ thể là đến châu Âu và châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu
thế kỷ 16 và được phát hiện ở Trung Quốc vào khoảng năm 1575 Trong khi các giả
định về nguồn gốc di truyền của ngô chưa được chứng minh, các nhà khoa học đều
cho rằng ngô hoang dại teosinte đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiến hóa
của cây ngô
Ngô được gieo trồng rộng khắp thế giới với sản lượng hàng năm cao hơn bất kỳ
cây lương thực nào Trong khi Hoa Kỳ sản xuất gần một nửa sản lượng ngô của thế
giới thì các nước sản xuất hàng đầu khác còn có Trung Quốc, Brazil, Mexico,
Argentina, Ấn Độ, Pháp, Indonesia, Nam Phi và Italia Chỉ tính riêng trong năm 2008,
tổng diện tích trồng ngô trên toàn cầu là hơn 160 triệu ha, đạt sản lượng 822,7 triệu tấn
[44] Ngô được trồng rộng rãi ở hầu hết các bang của Hoa Kỳ với sản lượng 307,14
triệu tấn vào năm 2009 đạt giá trị kim ngạch 48,6 tỷ USD [152,153]
Trang 84
Ở Việt Nam, cây ngô được đưa vào canh tác khoảng 300 năm trước đây [103] Ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau cây lúa và được trồng rộng rãi ở các tỉnh trong cả nước, điển hình là các tỉnh Sơn La, Đăk Lăk, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nghệ An, An Giang và Đồng Tháp Diện tích trồng ngô trong giai đoạn
1990 – 2011 cũng tăng lên rõ rệt; nếu như vào năm 1990, diện tích đạt 432.000 ha với năng suất đạt 1,55 tấn/ha thì đến năm 2011 diện tích trồng ngô cả nước đạt 1.117.000
ha, với năng suất đạt 4,6 tấn/ha [164] Số liệu phân tích nhiều năm cho thấy năng suất ngô ở Việt Nam vẫn thấp; sản lượng ngô sản xuất trong nước vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Những năm gần đây, nước ta phải nhập khẩu ngô với kim ngạch nhập khẩu khoảng 500 triệu USD/năm để phục vụ chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi
II.4 Có phải lần đầu tiên sinh vật nhận
được canh tác ở Việt Nam không? Nếu
không tiếp tục trả lời câu II.5
II.5 Mô tả phân bố địa lý, môi trường sống bao gồm thông tin về các loài có mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái, lịch sử canh tác và sử dụng sinh vật nhận ở Việt Nam.
Phân bố địa lý và lịch sử canh tác
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau lúa và được trồng rộng rãi trên cả nước vào tất cả các mùa vụ và luân canh với các cây trồng khác Ngô được trồng trên vùng cao (khu vực phía Đông Bắc, Tây Bắc), Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Ngô được trồng ở vùng đồng bằng rộng lớn thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, dọc bờ biển Bắc Trung Bộ và một khu vực nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long
Ở vùng đồng bằng phía Bắc, ngô được trồng trong vụ đông-xuân hoặc vụ
xuân-hè Ngô vụ đông-xuân thường được trồng vào tháng 9-10 và thu hoạch vào tháng 1-2 Ngô vụ xuân-hè thường được trồng từ tháng 1 đến tháng 4-5 và ngô vụ hè-thu được trồng từ tháng 5 đến tháng 8-9 Ngô cũng có thể được trồng vào vụ ngô hè-thu được trồng sau 2 vụ đậu hoặc sau 1 vụ thuốc lá, đậu hoặc lạc
Tại vùng cao nguyên trung du, ngô được trồng chủ yếu vào vụ hè-thu và đông, trong đó vụ hè-thu được trồng vào tháng 4-5 và thu hoạch vào tháng 7-8; trong khi vụ thu-đông được trồng vào tháng 7-8 và thu hoạch vào tháng 10-11 Vụ ngô đông-xuân được trồng vào tháng 12-1 và thu hoạch vào tháng 4, tuy nhiên tại một số khu vực thì vụ ngô xuân-hè được trồng vào tháng 1-2 và thu hoạch vào tháng 5
Vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, hai vụ ngô hè-thu và đông được trồng phổ biến, chiếm khoảng 70% tổng diện tích trồng ngô trong cả nước
thu-Vụ ngô hè-thu được trồng vào tháng 4 đến đầu tháng 5 và thu hoạch vào tháng 7 đến đầu tháng 8, và vụ thu-đông được trồng vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 và thu hoạch vào cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 [143]
Mối quan hệ giữa ngô và môi trường sống xung quanh
Trang 95
Tương tự như những loại cây trồng khác, ngoài sự tương tác với các loại cây trồng ở các ruộng xung quanh, cây ngô còn tương tác với các loài sinh vật trong hệ sinh thái nơi mà cây ngô sinh sống Hệ sinh thái liên quan đến cây ngô bao gồm:
Hệ sinh thái trên mặt đất: Các nhóm sinh vật trên mặt đất có sự tương tác với cây ngô bao gồm nhóm sinh vật có ích (loài thụ phấn, thiên địch, ), loài côn trùng ăn thực vật (rệp ngô, sâu ăn lá, ăn thân, ), loài ký sinh (ong ký sinh, ruồi
Sản phẩm từ nghiền ướt: Đa số các giống ngô được sử dụng cho mục đích công nghiệp thực phẩm được chế biến theo phương pháp nghiền ướt để sản xuất ra sản phẩm tinh bột và chất ngọt Tinh bột ngô được sử dụng là một thành phần thực phẩm trong sữa và kem, bột làm bánh; đồ nướng, cháo, nước sốt và nước thịt; salad, sản phẩm hỗn hợp thịt gia cầm, bánh kẹo và đồ uống Tinh bột ngô cũng được chuyển hóa thành nhiều sản phẩm làm ngọt và lên men như nước ngọt hàm lượng fructoza cao và ethanol [158]
Sản phẩm từ nghiền khô: Các sản phẩm sơ cấp có nguồn gốc từ quá trình nghiền khô ngô bao gồm mầm bắp, bột ngô xay thô và bột ngô xay kĩ Mầm bắp có nguồn gốc từ nội nhũ của hạt ngô chứa 1% thành phần dầu Bột ngô xay thô có kích thước lớn hơn mầm bắp và giàu thành phần thiamine, riboflavin và sắt dùng để làm đồ nướng như bánh mì và bánh nướng xốp Bột ngô xay kĩ có chứa các hạt nội nhũ mịn, thường được sử dụng làm chất kết dính trong chế biến thịt, cũng như sản xuất một số loại thức ăn nhanh [122]
Các sản phẩm từ quá trình lên men: tinh bột ngô thu được từ quá trình nghiền ướt được sử dụng để sản xuất ethanol và chưng cất đồ uống [122]
Những năm gần đây ngô bao tử còn được xem là loại rau cao cấp được người dân ưa chuộng Đây là loại rau có hàm lượng chất dinh dưỡng cao Ngoài ra các loại ngô nếp, ngô đường được dùng để luộc, nướng hoặc chế biến làm đồ hộp
Sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
Ngô là nguyên liệu phổ biến để sản xuất thức ăn chăn nuôi vì giá trị dinh dưỡng cao và chi phí thấp [108] Bắp ngô được nghiền và trộn với một hỗn hợp thành phần
chăn nuôi giàu protein, vitamin và khoáng chất [84]
Ở Việt Nam, hạt ngô được sử dụng làm nguồn dinh dưỡng chính trong thành phần thức ăn chăn nuôi và thực phẩm Cây ngô là thức ăn xanh và thức ăn ủ chua rất tốt cho gia súc lớn, đặc biệt là bò sữa
Trang 106
Sử dụng trong công nghiệp
Ngoài mục đích sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, ngô còn là nguyên liệu của nhà máy sản xuất rượu, cồn và dược phẩm Theo kết quả tổng hợp, ngô được sử dụng để sản xuất khoảng 670 mặt hàng khác nhau trong các ngành công nghiệp lương thực, thực phẩm, dược và công nghiệp nhẹ
III THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN NẠP GEN
III.1 Cây trồng biến đổi gen được tạo ra bằng phương pháp chuyển gen nào?
Sự kiện NK603 được tạo ra bằng phương pháp bắn đạn gia tốc (particle
acceleration): Sử dụng enzyme cắt giới hạn MluI cắt giới hạn plasmid vector
PV-ZMGT32 (Hình 1), phân tách sản phẩm cắt giới hạn bằng gel agarose và thu nhận được vector PV-ZMGT32L (Hình 2) có kích thước khoảng 6,7 kb Vector dạng thẳng này được sử dụng để chuyển gen tạo ra dòng NK603 nhờ phương pháp bắn đạn gia tốc (particle acceleration) Sự kiện NK603 được tạo ra chỉ chứa duy nhất 2 cassettes biểu
hiện gen cp4 epsps trong hệ gen cây trồng mà không có gen chọn lọc nptII và gốc tái bản ori
Đoạn gen chèn vào có chứa 2 cấu trúc biểu hiện gen cp4 epsps có khả năng chống chịu glyphosate, cho phép chọn lọc được các tế bào mang gen chuyển nạp trong môi trường nuôi cấy có bổ sung glyphosate, hoạt chất của thuốc trừ cỏ Roundup Quy trình chuyển gen, chọn lọc, tái sinh và chọn dòng NK603 được mô tả trong Hình 3
Quy trình chuyển gen có thể được mô tả tóm tắt như sau:
Trước tiên, vector PV-ZMGT32L mang 2 cấu trúc biểu hiện gen cp4 epsps
được gắn vào hạt vàng có đường kính rất nhỏ nhờ CaCl2 và spermidine Các hạt vàng này sau đó được đặt trên đĩa, gắn thêm bằng chất dẻo để tăng tốc độ khi đi qua nòng súng Với áp lực khí Helium cao ở 1000-1100 psi làm cho đĩa bắn về phía trước, gặp màng kim loại, hạt vàng bị giữ lại tại màng kim loại, chỉ cho phép các phân tử nhỏ hơn (đoạn vector PV-ZMGT32L) đi qua, tiếp xúc và tổ hợp vào nhiễm sắc thể của tế bào
cây chủ Đoạn gen được đưa vào tế bào cây chủ mang gen cp4 epsps quy định tính
trạng chống chịu glyphosate vì vậy cho phép các tế bào chuyển nạp được tái sinh và nhân dòng trong môi trường nuôi cấy có bổ sung glyphosate Chi tiết sơ đồ quy trình với các bước chính trong quá trình biến nạp, chọn lọc, tái sinh và đánh giá sự kiện NK603 (Hình 3)
III.2 Véc tơ sử dụng (nếu có): Các đặc tính của véc tơ, trong đó có đặc điểm nhận
dạng, nguồn gốc, phổ vật chủ của véc tơ
Plasmid vector sử dụng trong chuyển gen tạo sự kiện NK603 là plasmid ZMGT32 do công ty Monsanto (Hoa Kỳ) thiết kế, mang 2 cấu trúc biểu hiện gen liền
PV-kề nhau (2 cassettes), mỗi cassette có chứa 01 bản copy duy nhất của gen cp4 epsps Ngoài 2 cassettes đó, plasmid này cũng mang gen chọn lọc nptII (kháng kanamycine)-
cho phép chọn lọc các vi khuẩn mang plasmid, và gốc tái bản (ori) cần thiết cho sự
nhân lên của plasmid trong vi khuẩn Escherichia coli (Hình 1)
Chi tiết các nguyên tố di truyền trên plasmid vector PV-ZMIR245 đã được mô
tả chi tiết ở Bảng 1
Trang 11CP4 EPSPS
NOS 3'
e35S
Zm HSP70
intron CTP2
CP4 EPSPS NOS 3'
or
nptII
Nco I 1607 Sac I 1098 Eco RI 579 Eco RV 169 Mlu
Sac I 3210 Eco RI 3212
Eco RV 4010 Xba I 4232
Mlu I 6856
Eco RI 6838 Eco RV 6828
Nco I 4957 Sca I 4704
Nco
Restriction fragment used in transformation
Xba I
Hình 1 Bản đồ Plasmid vector PV-ZMGT32
MluI 0
MluI 6707
EcoRV 3861 ScaI 4555 SacI 6411
Hình 2 Bản đồ vector PV-ZMGT32L (dạng thẳng) sử dụng trong chuyển gen tạo
sự kiện NK603
Trang 128
Hình 3 Quy trình tạo sự kiện NK603
Trang 13Đầu cuối 5’ của gen actin1 ở lúa chứa promoter, điểm bắt đầu phiên mã và intron đầu tiên [94]
Trình tự ADN mã hoá protein CP4 EPSPS,
phân lập từ chủng vi khuẩn Agrobacterium sp
CP4 [59,109], có khả năng chống chịu glyphosate
Đầu cuối 3’ không dịch mã của gen tổng hợp
Nopaline trên T-DNA của vi khuẩn A
mosaic virus 0,6 Promoter của virus khảm súp lơ (CaMV) có chứa vùng tăng cường sao mã [75, 104]
nhiệt), tăng cường quá trình phiên mã [121]
Trình tự ADN mã hoá protein CP4 EPSPS,
phân lập từ chủng vi khuẩn Agrobacterium sp
CP4 [59,109], có khả năng chống chịu glyphosate
Trang 1410
Đầu cuối 3’ không dịch mã của gen tổng hợp
Nopaline trên T-DNA của vi khuẩn A
phosphotransferase II Enzyme kháng kháng sinh aminoglycoside, do đó cho phép chọn lọc
vi khuẩn chứa plasmid trên môi trường chọn lọc [10]
IV THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÂY TRỒNG BIẾN ĐỔI GEN - SỰ KIỆN NK603 CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ ROUNDUP GỐC GLYPHOSATE IV.1 Hãy mô tả những khác biệt giữa cây trồng biến đổi gen với sinh vật nhận?
Về đặc điểm nhận dạng, do sự kiện NK603 sản sinh ra protein CP4 EPSPS có khả năng chống chịu đối với thuốc trừ cỏ Roundup gốc glyphosate nên có thể nhận thấy sự khác biệt giữa sự kiện NK603 với ngô truyền thống là khi phun thuốc trừ cỏ Roundup sự kiện NK603 vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường trong khi ngô truyền thống sẽ bị chết do không có khả năng chống chịu với gplyphosate
Sự kiện NK603, ngoài đặc tính chống chịu thuốc trừ cỏ Roundup gốc glyphosate, có các đặc điểm nông sinh học hoàn toàn tương tự giống ngô sử dụng làm giống nền Mặt khác, các số liệu đánh giá an toàn cũng chứng minh rằng thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ sự kiện NK603 là an toàn và có giá trị dinh dưỡng tương tự các giống ngô truyền thống khác
IV.2 Cây trồng biến đổi gen đã được cấp phép ở các quốc gia nào trên thế giới? (Lập bảng liệt kê các quốc gia cấp phép sử dụng cây trồng biến đổi gen với các mục đích giải phóng vào môi trường; tổng hợp các ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền đối với cây trồng biến đổi gen ở các quốc gia đã cấp phép)
Tính đến năm 2014 sự kiện NK603 đã được 23 quốc gia phê chuẩn sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và trồng trọt Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên cấp phép cho
sự kiện NK603 được sử dụng để trồng trọt vào tháng 8 năm 2000 và được trồng rộng rãi dưới dạng tổ hợp của các đặc tính kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ khác nhau Ngoài Hoa Kỳ, các quốc gia khác đã cấp phép cho mục đích trồng trọt bao gồm
Trang 1511
Argentina, Canada, Brazil, Columbia, Honduras, Japan, Philippines, Nam Phi, Uruguay Bảng 2 dưới đây liệt kê danh sách các quốc gia đã cho phép trồng trọt cũng như sử dụng sự kiện ngô chuyển gen NK603 làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi trên toàn cầu
Bảng 2 Hiện trạng phê chuẩn sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và
trồng trọt của sự kiện NK603
(Tính đến thời điểm 2014)
chuẩn làm thực phẩm
Năm phê duyệt làm thức ăn chăn nuôi
Năm cho phép phóng thích vào môi trường
Trang 1612
(Nguồn: Center for Environmental Risk Assessment http://cera-gmc.org và Biosafety Clearing-House http://bch.cbd.int )
Trang 17dung chính sau đây [223]: 1) Xác định vấn đề (bao gồm xác định nguy cơ) (Problem formulation including hazard identification); 2) Mô tả nguy cơ (Hazard characterization) ; 3) Mô tả khả năng xảy ra nguy cơ (điều kiện phơi nhiễm) (Exposure characterization); 4) Mô tả rủi ro (Risk characterization); 5) Đề xuất các chiến lược quản lý rủi ro (Risk management strategies; 6) Đánh giá tổng thể rủi ro và đưa ra kết luận (Overall risk evaluation & conclusions)
Cụ thể, hoạt động đánh giá rủi ro của sự kiện NK603 biến nạp vào cây ngô đối với môi trường và đa dạng sinh học đã thực hiện bao gồm:
1) Xác định nguy cơ trôi gen;
2) Xác định nguy cơ cỏ dại hóa;
3) Nguy cơ ảnh hưởng của sinh vật biến đổi gen đối với các sinh vật không chủ đích trong hệ sinh thái;
4) Ảnh hưởng của biện pháp canh tác mới đến môi trường và đa dạng sinh học; 5) Ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất
V.1 Xác định nguy cơ trôi gen và hậu quả có thể xảy ra, căn cứ trên các kết quả nghiên cứu trên thế giới và kết quả khảo nghiệm tại Việt Nam của cây trồng biến đổi gen chứng minh cho các luận điểm nêu trên Nêu các biện pháp quản lý nguy
cơ và hậu quả trôi gen Cung cấp tài liệu minh chứng kèm theo
Phát tán gen (trôi gen) là hiện tượng sinh học tự nhiên, là sự truyền thông tin di truyền tới các loài mà ngô có thể giao phấn được (sự phát tán gen dọc-vertical gen flow), hoặc là sự di chuyển thông tin di truyền đến các loài mà ngô không thể giao phấn được (sự phát tán gen ngang-horizontal gen flow) Tỷ lệ phát tán gen phụ thuộc vào các yếu tố sinh học và phi sinh học như đặc tính sinh học của cây, đặc tính sinh học của hạt phấn, đặc tính hình thái của cây, sự trùng lặp về thời gian ra hoa, nguồn cho gen và điều kiện phi sinh học khác như nhiệt độ, độ ẩm và kiến trúc đồng ruộng
Trong môi trường tự nhiên ở Việt Nam, khả năng lai chéo giữa sự kiện NK603 với ngô hoang dại ở Việt Nam là rất khó xảy ra vì không có sự tồn tại của họ hàng ngô hoang dại ở nước ta, vì vậy nguy cơ phát tán gen (nếu có) sẽ chỉ xảy ra giữa ngô chuyển gen và ngô truyền thống Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy khả năng phát tán gen của ngô chuyển gen tới ngô truyền thống là rất thấp [22, 71, 72, 90, 93, 187] và không gây nên sự thay đổi bất lợi nào đối với môi trường và đa dạng sinh học (Chi tiết xem mục II.6 Báo cáo đánh giá rủi ro) Kết quả nghiên cứu cũng kết luận không tồn tại nguy cơ trôi gen từ ngô chuyển gen sang các loài sinh vật đất
Với các kết luận trên, việc canh tác ngô chuyển gen NK603 là hoàn toàn tương
tự như canh tác các giống ngô truyền thống khác, và biện pháp quản lý nguy cơ trôi gen đối với sự kiện NK603 cũng tương tự như biện pháp quản lý đối với cây ngô truyền thống:
Trang 1814
- Đối với những ruộng ngô xung quanh canh tác cho mục đích sản xuất ngô thương phẩm: Không yêu cầu biện pháp quản lý nguy cơ bởi lẽ hạt ngô của cả 2 ruộng sau khi thu hoạch đều được đưa ngay vào chuỗi chế biến làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi
- Đối với những ruộng ngô xung quanh canh tác với mục đích sản xuất hạt giống: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã banh hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01–53:2011/BNNPTNT về chất lượng hạt giống ngô lai vào năm 2011 quy định chi tiết về Yêu cầu cách ly giữa ruộng nhân dòng bố, mẹ và sản xuất hạt giống ngô lai F1 so với các ruộng trồng ngô khác là điều kiện bắt buộc Theo yêu cầu này, để sản xuất hạt giống, ruộng trồng ngô phải cách ly không gian (500 m) hoặc thời gian (thời điểm phun râu của cây mẹ trong ruộng giống phải chênh lệch so với thời điểm tung phấn của các ruộng ngô khác ít nhất 20 ngày)
V.2 Xác định nguy cơ cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn và hậu quả có thể xảy ra, căn cứ trên các kết quả nghiên cứu trên thế giới và kết quả khảo nghiệm tại Việt Nam của cây trồng biến đổi gen chứng minh cho các luận điểm nêu trên Nêu các biện pháp quản lý nguy cơ và hậu quả cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn Cung cấp tài liệu minh chứng kèm theo
Cây ngô không có trong danh sách các loài cỏ dại phổ biến cũng như trong danh sách các loài cỏ độc hại [29,102] Ngô được trồng ở nhiều nơi trên thế giới và chưa có bất kỳ một báo cáo nào về việc ngô có thể trở thành cỏ dại
Cây ngô không thể tồn tại như cỏ bởi quá trình chọn lọc trong lịch sử tiến hóa của cây ngô Trong quá trình thuần hoá cây ngô, các tính trạng liên quan đến tính cỏ dại như sự ngủ nghỉ của hạt, cơ chế phát tán, hay khả năng hình thành quần thể sinh sản trong môi trường phi nông nghiệp không có khả năng xảy ra Khác hẳn với các cây trồng hoang dại, bắp ngô mang hạt ngô được bao bọc trong lá bao, bởi vậy khả năng phát tán hạt ngô trong tự nhiên là không xảy ra [9,47,76]
Trong môi trường canh tác, cây ngô trồng không thể tồn tại nếu thiếu sự hỗ trợ của con người sau một quá trình thuần hóa kéo dài từ teosinte Mặc dù ngô từ vụ trước
có thể nảy mầm trong mùa vụ tiếp theo nhưng nó không thể tồn tại như cỏ dại, không
có khả năng duy trì sinh sản nếu không có sự chăm sóc của con người [9,47,76]
Các đánh giá về đặc tính ngủ nghỉ, đặc điểm kiểu hình, nông học và tính mẫn cảm với bệnh hại giữa cây trồng chuyển gen và đối chứng truyền thống không chuyển gen có thể hỗ trợ kết luận có hay không có nguy cơ cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn của cây trồng chuyển gen
Nghiên cứu trên thế giới cho thấy không có sự thay đổi về đặc tính ngủ nghỉ hay nảy mầm của sự kiện đậu tương sản sinh protein CP4 EPSPS so với đối chứng truyền thống không chuyển gen [201] Sự tương đồng hoàn toàn của protein CP4 EPSPS sinh ra từ sự kiện này và NK603 cũng như đặc tính ngủ nghỉ vốn có của hạt ngô, không có lý do gì để nghi ngờ về khả năng thay đổi đặc tính ngủ nghỉ của sự kiện NK603 so với ngô truyền thống
Không có sự khác biệt về tính mẫn cảm với các tác nhân phi sinh học và bệnh hại giữa đối chứng truyền thống và cây trồng chuyển gen sản sinh protein CP4 EPSPS như ở cải dầu, đậu tương và cỏ linh lăng Không có sự khác biệt về tính mẫn cảm đối
Trang 1915
với côn trùng hại và bệnh cây trên các cây trồng như củ cải đường, cải dầu, đậu tương, bông, cỏ linh lăng hay ngô mang gen CP4 EPSPS so đối chứng không chuyển gen [180] Cho đến nay không có tài liệu báo cáo về khả năng tồn tại dai dẳng của sự kiện NK603 so với ngô truyền thống cũng như của các sự kiện chuyển gen đã được phê duyệt cho thương mại hóa so với đối chứng [197, 199, 200]
Ở Việt Nam, được sự cho phép của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Quyết định số 774/QĐ-BNN-KHCN ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quyết định số 402/QĐ-BNN-KHCN ngày 07 tháng 3 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã triển khai khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với môi trường
và đa dạng sinh học của sự kiện NK603 trong hai năm 2010-2011 Khảo nghiệm được tiến hành trên quy mô khảo nghiệm hạn chế hai vụ tại Hưng Yên và Bà Rịa Vũng Tàu
và khảo nghiệm diện rộng tại bốn vùng sinh thái khác nhau là Vĩnh Phúc, Đăk Lăk, Sơn La và Bà Rịa Vũng Tàu
Kết quả khảo nghiệm hạn chế và diện rộng tại Việt Nam, cùng với sự kế thừa các kết quả đánh giá động ruộng trên thế giới cho thấy, sự kiện NK603 chống chịu thuốc trừ cỏ Roundup gốc glyphosate có các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và tính mẫn cảm với bệnh hại ngô tương tự đối chứng không chuyển gen ở mỗi vùng sinh thái
Sự kiện NK603 không biểu hiện sự sinh trưởng vượt trội, lấn át so với giống ngô nền không chuyển gen Cho tới nay, chưa có báo cáo nào cho thấy ngô được coi là cỏ dại gây ảnh hưởng nghiêm trọng và ngô không thể tồn tại trong tự nhiên nếu không có sự can thiệp của con người Các minh chứng này hỗ trợ việc kết luận rằng sự kiện NK603 không tồn tại nguy cơ lan tràn hoặc xâm lấn đối với môi trường và đa dạng sinh học ở Việt Nam
Với các kết luận trên, việc canh tác ngô chuyển gen NK603 là hoàn toàn tương
tự như canh tác các giống ngô truyền thống khác, và biện pháp quản lý nguy cơ cỏ dại hóa, tồn tại dai dẳng hoặc trở thành loài xâm lấn đối với sự kiện Nk603 cũng tương tự
như biện pháp quản lý đối với cây ngô truyền thống
V.3 Nguy cơ ảnh hưởng của sinh vật biến đổi gen đối với với các sinh vật không chủ đích trong hệ sinh thái
(a) Xác định các sinh vật không chủ đích trong hệ sinh thái gồm các nhóm ăn thực vật, thiên địch, ký sinh có khả năng phơi nhiễm với sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam
V.3.1 Kết quả đánh giá tác động của sự kiện NK603 đối với các loài sinh vật không chủ đích trên thế giới
Đánh giá nguy cơ ảnh hưởng của cây trồng biến đổi gen đến các loài sinh vật không chủ đích là một phần quan trọng trong đánh giá rủi ro đối với môi trường và đa
Trang 2016
dạng sinh học Với công thức Rủi ro (risk) = Mối nguy cơ (hazard) x Ngưỡng phơi nhiễm (exposure) cho thấy một rủi ro là có thể xảy ra khi protein chuyển nạp là mối nguy cơ cho các loài sinh vật không chủ đích (NTOs) và đồng thời những NTOs này
có sự phơi nhiễm với protein chuyển nạp trong cây trồng chuyển gen
Đối với cây ngô chuyển gen chống chịu thuốc trừ cỏ nói chung và sự kiện NK603 nói riêng thì đều được coi là không có sinh vật không chủ đích bởi lẽ protein EPSPS tồn tại trong tự nhiên, có mặt trong phần lớn các loài thực vật và vi sinh vật Cho đến nay chưa có tài liệu nào thông báo về khả năng gây độc, gây dị ứng nào đối với con người và động vật [23,149] Tuy nhiên, những nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồng chuyển gen chống chịu thuốc trừ cỏ, và của sự kiện NK603 đến hệ sinh thái, quá trình chuyển hóa trong đất cũng như các tương tác sinh thái khác đã được thực hiện trong nhiều năm qua
Tính đến cuối năm 2008, đã có tổng số trên 360 nghiên cứu về tác động của cây trồng chuyển gen chống chịu thuốc trừ cỏ đối với động vật không xương sống, mà phần lớn là các động vật chân khớp thực hiện trong phòng thí nghiệm cũng như ngoài đồng ruộng Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các loài côn trùng không chủ đích như các loài sâu hại không chủ đích, các loài thiên địch, ký sinh, thụ phấn và loài bọ đuôi bật Collembola Kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm chứng minh rằng protein CP4 EPSPS không gây ảnh hưởng bất lợi nào đến các loài côn trùng thụ phấn (ong mật), bọ đuôi bật Collembola, các loài thiên địch bộ cánh màng và các loài sâu hại [17,50,60,69,98,100] Các kết quả đánh giá trên đồng ruộng về ảnh hưởng của protein CP4 EPSPS đối với các loài sinh vật không chủ đích cũng khẳng định mức độ
an toàn của protein này đối với sự đa dạng quần thể các loài côn trùng [13,20,68,70,95,123,162], đối với quần thể vi sinh vật [36,37,78,134] cũng như đối với quần thể bọ đuôi bật Collembola [98]
V.3.2 Kết quả đánh giá tác động của sự kiện NK603 đối với các loài sinh vật không chủ đích trong khảo nghiệm đánh giá rủi ro tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trong khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với sinh vật không chủ đích, kế thừa quy trình đánh giá rủi ro của sự kiện NK603 đối với sinh vật không chủ đích đã được các quốc gia áp dụng, nội dung khảo nghiệm của hai vụ khảo nghiệm hạn chế và một vụ khảo nghiệm diện rộng tại 4 vùng trồng ngô với quy mô 1.0 – 1.5 ha/vùng tập trung vào nhóm đại diện sinh vật không chủ đích theo chuỗi thức ăn phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp với cây ngô chuyển gen NK603, bao gồm: 1)Nhóm côn
trùng ăn thực vật (phơi nhiễm trực tiếp ngô NK603): Rệp ngô, bọ ăn lá; 2)
Nhóm côn trùng bắt mồi ăn thịt và thiên địch (phơi nhiễm gián tiếp với ngô
NK603): bọ cánh cứng cánh ngắn, bọ rùa bắt mồi ăn thịt, bọ xít bắt mồi, nhện
lớn; 3) Nhóm ký sinh (sinh sống và phát triển trên sâu non ký chủ, phơi nhiễm
gián tiếp với ngô NK603): ong ký sinh, ruồi ký sinh; 4) Nhóm côn trùng thụ
phấn, thăm hoa (ăn phấn hoa, nhóm phơi nhiễm trực tiếp với phấn hoa của ngô):
của ngô NK603 trong đất): bọ đuôi bật Collembola
Kết quả khảo nghiệm hai vụ liên tiếp nhằm đánh giá rủi ro đối với môi trường của sự kiện chuyển gen NK603 trong khuôn khổ khảo nghiệm hạn chế tại 2 địa điểm Văn Giang, Hưng Yên và Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu cho thấy không có sự khác
Trang 2117
biệt có ý nghĩa thống kê giữa ngô chuyển gen NK603 và giống đối chứng C919 trong
cả 2 vụ khảo nghiệm liên tiếp năm 2010 và 2011 về thành phần loài, tần suất xuất hiện, sự phân bố và chỉ số đa dạng của quần thể sinh vật không chủ đích trong chuỗi thức ăn như nhóm ăn thực vật, nhóm bắt mồi ăn thịt/thiên địch, nhóm ký sinh và sinh vật đất Như vậy, có thể kết luận, ngoài đặc tính chống chịu thuốc trừ cỏ glyphosate,
sự kiện NK603 không có nguy cơ ảnh hưởng tới các sinh vật không chủ đích
V.3.3 Kết quả khảo nghiệm đánh giá tác động đến đa dạng quần thể sinh vật không chủ đích của sự kiện NK603 trong khảo nghiệm diện rộng
Tính an toàn của sự kiện NK603 đối với môi trường và đa dạng sinh học một lần nữa được khẳng định trong khảo nghiệm diện rộng tiến hành trong năm 2011 Bốn địa điểm đại diện cho bốn vùng sinh thái trong cả nước đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT chỉ định làm địa điểm triển khai khảo nghiệm diện rộng, đó là Vĩnh Phúc, Đăk Lăk, Sơn La và Bà Rịa-Vũng Tàu Diện tích khảo nghiệm tại mỗi địa điểm khảo nghiệm dao động 1,0 – 1,6 ha cho công thức khảo nghiệm bao gồm sự kiện chuyển gen NK603 chống chịu thuốc trừ cỏ, tổ hợp 2 sự kiện NK603 x MON 89034 và đối chứng C919 không chuyển gen
Sự đa dạng thành phần loài chân khớp trong khảo nghiệm diện rộng ngô chuyển gen NK603 được đánh giá theo nhóm chức năng, kết luận như sau:
Đối với nhóm ăn thực vật: Không có sự sai khác về thành phần loài và số lượng
cá thể các loài thuộc nhóm ăn thực vật thu thập được trên ruộng khảo nghiệm sự kiện NK603 và ruộng đối chứng không chuyển gen C919, bao gồm các loài rệp muội ngô
(Rhopalosiphum maidis), bọ xít 2 vai nhọn (Cletus sp.), bọ xít xanh (Nezara viridula Linnaeus), bọ xít đen (Scotinophara lurida Burmeister) và bọ lá 4 vệt (Monolepta signata Oliver) Các chỉ số đa dạng H’ và chỉ số ưu thế D’ cũng cho thấy sự đồng đều giữa các công thức thí nghiệm, điều đó cho phép kết luận không có sự sai khác về tính
đa dạng và sự đồng đều giữa sự kiện NK603 so với đối chứng không chuyển gen C919
Đối với nhóm bắt mồi ăn thịt: không có sự sai khác giữa sự kiện NK603 và đối chứng không chuyển gen C919 khi so sánh về số lượng cá thể một số loài bắt mồi ăn thịt chính có khả năng tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với sự kiện NK603 qua phấn hoa, dịch nhựa cây hoặc gián tiếp qua các sinh vật mồi của chúng bao gồm các loài Bọ
xít bắt mồi Orius sp và Geocoris sp, Bọ rùa 6 chấm Menochilus sexmaculatus, Bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica và Cánh cứng ngắn Paederus fuscipes Số lượng cá thể,
các chỉ số đa dạng H’ và chỉ số ưu thế D’ cũng cho thấy sự đồng đều về số lượng giữa các công thức thí nghiệm Điều đó cho phép kết luận không có sự sai khác thống kê về tính đa dạng và sự đồng điều giữa sự kiện NK603 so với đối chứng không chuyển gen C919 giống như kết luận trong khảo nghiệm hạn chế Như vậy có thể khẳng định sự đa dạng thành phần loài bắt mồi ăn thịt không phụ thuộc vào đặc tính giống cây trồng và điều kiện địa lý
Các kết quả nghiên cứu này cũng như hàng loạt nghiên cứu độc lập đã tiến hành trên đồng ruộng và trong phòng thí nghiệm tại Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Roumania [116,
123, 170, 171, 184, 221] về ảnh hưởng của sự kiện NK603 và các cây trồng khác có mang protein CP4 EPSPS đối với nhiều loài chân khớp phơi nhiễm trực tiếp (loài ăn thực vật) hay gián tiếp (loài ký sinh bắt mồi) và vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ trên
Trang 2218
đồng ruộng khẳng định protein CP4 EPSPS cũng như sự kiện NK603 không là nguy
cơ gây tác động bất lợi đến các loài sinh vật không chủ đích này Những sự khác biệt rất nhỏ trong thành phần loài và điều kiện khí hậu trong các ruộng ngô tại các vùng khác nhau trên thế giới không làm thay đổi đặc tính chung và nguy cơ đối với các sinh vật không chủ đích là không đáng kể
V.4 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác mới đến môi trường và đa dạng sinh học
a) Tính trạng mới có yêu cầu áp dụng biện pháp canh tác mới để đạt hiệu quả không?
Mô tả biện pháp canh tác mới này
b) Có ảnh hưởng bất lợi khi áp dụng biện pháp canh tác mới trong thời gian dài không? Nếu không, giải thích tại sao?
c) Nếu có, những rủi ro này sẽ được quản lý như thế nào?
Lập luận minh chứng cho câu trả lời và cung cấp tài liệu minh chứng kèm theo
Tại Hoa Kỳ và các nước cấp phép cho sự kiện NK603, các thí nghiệm đã được tiến hành nhằm xác định liệu rằng việc đưa vào các tính trạng chống chịu glyphosate
và sự biểu hiện của protein CP4 EPSPS và CP4 EPSPS L214P có làm thay đổi biện pháp canh tác của sự kiện ngô này so với ngô truyền thống hay không và có chung kết luận rằng ngoài đặc tính chống chịu thuốc trừ cỏ Roundup gốc glyphosate của sự kiện NK603 tạo điều kiện cho người nông dân có thể sử dụng thuốc diệt cỏ Roundup với các ưu điểm về phổ tác dụng rộng, khả năng kiểm soát cỏ dại cao và an toàn Sự kiện NK603 không đòi hỏi kỹ thuật canh tác đặc biệt so với giống truyền thống, không đòi hỏi biện pháp quản lý và thu hoạch đặc biệt Tất cả các biện pháp canh tác truyền thống (bón phân, tưới tiêu, quản lý cơ học, phun thuốc hóa học kiểm soát sâu bệnh và
cỏ dại…) đối với sự kiện NK603 là tương tự như với các giống ngô truyền thống Cho đến nay không có báo cáo chính thức nào về ảnh hưởng bất lợi của glyphosate đối với môi trường và đa dạng sinh học trong thời gian sử dụng lâu dài
Để quản lý sự phát triển tính kháng thuốc của cỏ dại, các biện pháp thực hành nông nghiệp tốt trong Chương trình quản lý tính kháng cỏ dại phải được triển khai Chương trình quản lý tính kháng thuốc của cỏ dại bao gồm việc điều tra thành phần và mức độ phổ biến của các loài cỏ dại tại các vùng trồng ngô chuyển gen; thu thập số liệu về khả năng phát triển tính kháng của cỏ dại; đào tạo, tập huấn phương pháp phòng trừ cỏ dại tổng hợp kết hợp biện pháp cơ giới, vật lý; phương pháp sử dụng hiệu quả, an toàn và bền vững thuốc trừ cỏ Roundup trên cây ngô chuyển gen
Kế hoạch Quản lý tính kháng thuốc của cỏ dại khi sự kiện NK603 được giải phóng ra môi trường được trình bày chi tiết tại Phụ lục I
V.5 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất
(a) Xác định các nhóm động vật đất, quá trình chuyển hóa trong đất có khả năng bị ảnh hưởng bởi cây trồng biến đổi gen Lý do lựa chọn
(b) Xác định các nguy cơ và hậu quả do sinh vật biến đổi gen gây ra cho hệ sinh thái đất gồm: động vật đất và quá trình chuyển hóa vật chất (các bon, Ni-tơ…) Căn cứ trên các kết quả nghiên cứu trên thế giới và kết quả khảo nghiệm tại Việt Nam của sinh vật biến đổi gen chứng minh cho các luận điểm nêu trên Nêu các biện pháp
Trang 23sự kiện NK603, protein chuyển nạp có thể thẩm thấu vào đất thông qua dịch tiết từ rễ hoặc từ lá lẫn vào đất khi thu hoạch [65,66,126,142]
Hội đồng An toàn Thực phẩm Châu Âu [40] đã kết luận rằng sự kiện NK603 không gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển hóa trong đất cũng như đến các loài sinh vật đất Mặc dù vậy, Hội đồng cũng cảnh báo về việc sử dụng duy nhất một loại thuốc trừ cỏ gốc glyphosate trong một thời gian dài có thể gây tác động đến hệ sinh vật đất hoặc các loài nấm cộng sinh tham gia vào quá trình chuyển hóa Carbon và
Ni tơ [96,118,163,164]
Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy sau hơn 10 năm sử dụng cây trồng mang gen kháng glyphosate ở các mùa vụ canh tác khác nhau, tại các vùng sinh thái khác nhau và trên các loại đất trồng khác nhau, không có một bằng chứng nào cho thấy
có sự khác biệt giữa cây trồng mang gen kháng glyphosate so với cây trồng truyền thống về sự thay đổi về cấu trúc di truyền, sự đa dạng và chức năng của các loại vi sinh vật đất [101]
Kết quả khảo nghiệm đánh giá rủi ro tại Việt Nam trong năm 2010-2011 cho thấy sự kiện NK603 không gây ảnh hưởng bất lợi đến mức độ phong phú và tính đa dạng quần thể sinh vật đất mà đại diện là bọ đuôi bật Collembola
VI THÔNG TIN VỀ RỦI RO CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
Tính đến năm 2013, sự kiện NK603 đã được 22 quốc gia phê chuẩn sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và trồng trọt Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên cấp phép cho sự kiện NK603 được sử dụng để trồng trọt vào tháng 8 năm 2000 và được trồng rộng rãi dưới dạng tổ hợp của các đặc tính kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ khác nhau Ngoài Hoa Kỳ, các quốc gia khác đã cấp phép cho mục đích trồng trọt bao gồm Argentina, Canada, Brazil, Columbia, Honduras, Japan, Philippines, Nam Phi, Uruguay Cho đến nay, sự kiện NK603 là một trong ba sự kiện chuyển gen được cấp phép nhiều nhất trên toàn cầu Tháng 8 năm 2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cấp giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm
và thức ăn chăn nuôi theo quyết định số 3497/QĐ-BNN-KHCN cho sự kiện ngô biến đổi gen NK603
Các chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng đối với sức khỏe con người trong quá trình canh tác và sử dụng cây trồng biến đổi gen bao gồm các nội dung đánh giá thành phần hợp chất, khả năng gây dị ứng, gây độc hại đối với con người Các