1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN

31 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 96,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN Chương 1: Cơ sở lí luận và thưc tiễn của vấn đề rèn luyện phát triển tư duy phê phán cho học sinh thong qua hoạt động dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5 Chương 2: Thực trạng rèn luyện phát triển TDPP cho HS trong quá trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5 Chương 3:Một số biện pháp rèn luyện phát riển tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy học giải toán có lời văn Kết luận

Trang 1

Mục lục

Mục lục .1

Phần Mở đầu 2

1.Lí do chọn đề tài

2.Mục đích nghiên cứu

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.Giả thuyết khoa học

6 Phạm vi nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

8 Cấu trúc đề tài

Phần nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề rèn luyện phát triển tư duy phê phán cho học sinh thong qua hoạt động dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

I- Cơ sở lí luận 1.Sơ lược lịch sử phát triển của vấn đề nghiên cứu

2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

2.1 Khái niệm tư duy

2.2 Các thao tác tư duy

3 Hình thức của tư duy phê phán

4.Kĩ năng tư duy phê phán

5 Thái độ tư duy phê phán

6 Một số phẩm chất của những người có tư duy phê phán

7 Tư duy phê phán của học sinh tiểu học

II- Cơ sở thực tiễn 1 Những căn cứ để rèn luyện và phát triển tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

2 Những vấn đề cơ bản về dạy học giải toán có lời văn

2.1 Mục tiêu và vai trò của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

2.2 Nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời văn lớp 5

2.3 Một số phương pháp giải toán lời văn thường được sử dụng nhằm hỗ trợ phát triển năng lực TDPP cho HS lớp 5

Kết luận chương 1

Chương 2: Thực trạng rèn luyện phát triển TDPP cho HS trong quá trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

1 Phương pháp tiến hành

2 Kết quả thực nghiệm

Kết luận chương 2

Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện phát triển TDPP Cho HS thông qua dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

1.Một số vấn đề cụ thể 2 Các biểu hiện TDPP của HS trong quá trình học Giải toán có lời văn

3 Các bước rèn luyện TDPP cho HS thông qua dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

Trang 3

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH LỚP 5

THÔNG QUA DẠY HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN

MỞ ĐẦU1.Lí do chọn đề tài

1.1 Cơ sở lí luận:

Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ tri thức, kỹ năng của con người được

xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Trong xã hội tương lai, nền giáo dục

phải đào tạo ra những con người có trí tuệ, thông minh và sáng tạo Muốn có được điều

này, ngay trong nhà trường từ cấp tiểu học phải trang bị đầy đủ cho học sinh hệ thống

kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và rèn luyện cho họ năng

lực tư duy sáng tạo Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện

nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việc phát

huy tính tích cực của học sinh, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng

tự học không được chú ý rèn luyện đúng mức Từ thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra

là phải đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để

bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sang tạo, năng lực giải quyết vấn đề Và tư

duy sáng tạo chỉ có được trên cơ sở tư duy phê phán để tiếp nhận vấn đề có chọn lọc,

đánh giá đúng mức và vận dụng linh hoạt

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục - đào tạo là chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về

chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng,

bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát

triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu

gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời

Vì vây, phải không ngừng liên tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ

năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập

trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoahọc

Đây chính là tiêu chí, là thước đo đánh giá sự đổi mới PPDH

1.2.Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn đó đã đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với ngành giáo dục Nó đòi hỏi nhà trường phải là nơi đào tạo ra những con người không chỉ làm chủ tri thức khoa học đã tíchlũy mà còn phải có năng lực sáng tạo, biết tiếp nhận vấn đề có chọn lọc, đánh giá dung mức

và vận dụng linh hoạt Theo cách nói của Janet Astington: Trong một xã hội thay đổi nhanh chóng, chúng ta không thể dạy học sinh tất cả các thực tế chúng sẽ cần đến trong cuộc sống của chúng

Nếu các môn học trong trường phổ thông là một cây có hoa, thì môn toán chính là gốc rễ của cây đó Môn toán là môn học xuyên suốt toàn bộ quá trình học tập của học sinh Môn toánrèn luyện cho học sinh khả năng tư duy logic, nhạy bén

Toán là môn học đóng vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục phổ

Trang 4

thông Trong dạy học toán, một nhiệm vụ quan trọng là hình thành và phát triển tưduy phê phán cho học sinh Giải toán có lời văn là một phần rất quan trọng trongchương trình toán Tiểu học Nó giúp học sinh hình thành kĩ năng phân tích,lậpluận,đặc biệt là tư duy phê phán, Thực tế giảng dạy ở trường phổ thông hiện naychưa thể hiện được vị trí, vai trò to lớn.Tư duy phê phán chỉ được phát triển một cách

tự nhiên theo nội dung dạy học chứ chưa đ ư ợ c đ ị n h hướng rõ ràng,cụ thể

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Rènluyện và phát triển tư duy phê phán cho học sinh lớp 5 thông qua dạyhọc giải toán có lời văn ở trường Tiểu học Nguyễn Trãi”

2.Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề rèn luyện và phát triển TDPPcho HS thông qua dạy học giải toán có lời văn lớp 5, từ đó đề xuất một số biện phápnhằm rèn luyện và phát triển TDPP cho HS

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu các thao tác tư duy, các loại hình tư duy nói chung và TDPP nói

riêng

- Tìm hiểu các nội dung và phương pháp giải toán có lời văn ở lớp 5 để rèn

luyện và phát triển kha năng tư duy phê phán cho học sinh

- Đề xuất các biện pháp nhằm rèn luyện TDPP cho HS trong khi dạy học giải toán

b Đối tượng nghiên cứuTDPP của HS tiểu học trong dạy học giải toán có lời văn lớp 5 ở trường Tiểu học.5.Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu vấn đề rèn luyện TDPP cho HS thông qua hoạt động dạy học giảitoán có lời văn ở lớp 5 và đề xuất một số biện pháp rèn luyện và phát triển TDPP một cách có hệ thống, thiết thực, khả thi thì có thể rèn luyện TDPP của HS tiểu học trong quá trình dạy học các nội dung toán tiểu học, giúp HS các kĩ năng TDPP để giải quyết một cách thông minh các vấn đề trong thực tiễn

6.Phạm vi nghiên cứu

Chúngtôi tiến hành khảo sát trên:

- HS lớp 5A, 5D Trường Tiểu học Nguyễn Trãi

- 20 GV của trường Tiểu học Nguyễn Trãi

7.Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Cấu trúc đề tài:

Trang 5

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lí luận và thưc tiễn của vấn đề rèn luyện phát triển tư duy phê phán cho học sinh thong qua hoạt động dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5Chương 2: Thực trạng rèn luyện phát triển TDPP cho HS trong quá trình dạy họcgiải toán có lời văn ở lớp 5

Chương 3:Một số biện pháp rèn luyện phát riển tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy học giải toán có lời văn

1 Sơ lược lịch sử phát triển của vấn đề nghiên cứu

Nguồn gốc trí tuệ của TDPP đã có từ rất lâu.Vào khoảng 2500 năm trước,nhà hiền triết Hy Lạp Socrates đã tìm cách khám phá những chân lý chung trong cuộc đàm thoại tranh luận, tranh luận Ông rất quan tâm việc tìm kiếm các bằng chứng, nghiên cứu tỉ mỉ các lập luận và các giả định, phân tích nội dung cơ bản và phác họa những định hướng cho việc thuyết giải vàthực hành như thế nào Phương pháp của ông đặt câu hỏi bay giờ được gọi là “câu hỏi

Socrates’’ là cốt lõi để phát triển TDPP , để mỗi con người thật sự là chính bản thân mình và

đó là chiến lược giảng dạy TDPP nổi tiếng nhất Thủ pháp nêu những câu hỏi của ông để đạt tới tri thức đúng , loại trừ tri thức sai là phương pháp tối ưu để rèn luyện TDPP Trong mỗi câuhỏi của ông, Socrates đã nhấn mạnh đức tính thiết yếu trong tư duy ấy là: sáng tỏ, độ tin cậy,

sự đúng đắn, độ chính xác, hợp lí, không thiên vị Ông là người đầu tiên đặt nền tảng cho TDPP

Sau đó, Platon phát triển phương pháp của Socates, đưa ra các phương pháp tư duy để đánh giá bản chất của sự vật chứ không chỉ nhìn ở điều cảm nhận từ bề ngoài.Triết học của Platon được ghi nhận và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy lí luận nói chung và TDPP nói riêng

Tiếp đó, Aristotle nêu ra những phương pháp cơ bản của việc xây dựng các khái niệm, phạm

Trang 6

trù, phán đoán Ông là người đầu tiên đưa ra các qui luật cơ bản của môn “ loogic học hình thức’’ với tư cách là qui luật của tư duy.

Tiếp tục có cái nhìn sâu sắc về TDPP, vào thời kỳ Phục Hưng ( thế kỉ XV-XVI ), một số trí thức Châu Âu bắt đầu suy nghĩ phê phán về tôn giáo, nghệ thuật, xã hội, tự nhiên, luật và tự

do Theo họ, hầu hết các lĩnh vực của xã hội loài người đều cần phải nghiên cứu, phân tích và phê phán

Bacon (1561-1626) là người đầu tiên xây dựng phương pháp qui nạp thành một hệ thống có giá trị trong việc nghiên cứu khoa học Đóng góp lớn nhất của ông trong triết học chính là phần lí luận nhận thức Ông là người đặt nền móng và sáng lập ra nền khoa học thực nghiệm hiện đại Trong tác phẩm “ The Advancement of learning ” ( sự tiến bộ trong học tập ), Bacon bàn luận về tầm quan trọng của việc học dựa theo kinh nghiệm thế giới, ông nhấn mạnh về quá trình thu nhận thông tin Những luận điểm ông đưa ra đã chứa đựng những vấn đề trền thống của TDPP Tác phẩm đó được gọi là một trong những cuốn sách sớm nhất về TDPP Khoảng 50 năm sau, Sir Thomas Moore đã phát triển một mô hình của một trật tự xã hội mới, xã hội không tưởng, trong đó mỗi lĩnh vực của thế giới hiện tại đó là đối tượng để phê phán Luận điểm của ông là hệ thống xã hội cần sự phân tích và phê phán triệt để

TDPP thời kì Phục Hưng đã mở đường cho sự phát triển của khoa học, cho sự phát triển chế

độ dân chủ, nhân quyền và tự do tư tưởng

Vào thế kỷ XVII, Hobbes và Locke – hai nhà triết học đã mở ra một triển vọng mới của việc học tập Hobbes chấp nhận quan điểm về thế giới tự nhiên mà trong đó mọi thứ đều phải đượcgiải thích bằng chứng cứ và lập luận Còn Locke thì ủng hộ sự phân thích , phán đoán trong cuộc sống và suy nghĩ hàng ngày Ông đặt cơ sở lý thuyết cho TDPP về quyền cơ bản của con người

Thế kỷ XVIII, các học giả người Pháp như Montesquieu, Volataive, Diderot, đã có những đóng góp có ý nghĩa quan trọng khác cho TDPP Họ bắt đầu giả thuyết rằng trí tuệ loài người khi được rèn luyện bởi lập luận sẽ có khả năng tốt hơn để nhận thức bản chất của thế giới Trong thế kỷ XIX, Comte và Spencer mở rộng suy nghĩ về phê phán hơn trong các lĩnh vực

xã hội loài người Nhờ TDPP, Đác Uyn đã đề ra học thuyết tiến hóa còn Các Mác đã nghiên cứu phê phán kinh tế xã hội của chủ nghĩa tư bản

Đến thế kỷ XX, sự hiểu biết về năng lực và bản chất của TDPP được trình bày một cách

Trang 7

tường minh Năm 1906 Sumer đã công bố công trình nghiên cứu cơ sở về xã hội học và nhân loại học Đồng thời, ông cũng nhận thấy sự cần thiết của TDPP trong cuộc sống và trong giáo dục, đó là cái bảo đảm cho chúng ta chống lại các sự ảo tưởng, lừa dối, mê tín dị đoan, những

sự hiểu sai về bản thân chúng ta và những sự kiện trên trái đất

Sau đó, nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tâm lý học, triết học, giáo dục học đã nghiên cứu

và đề xuất nhiều ý tưởng hay cho việc dạy kỹ năng TDPP với những ứng dụng thực tế vào chương trình giáo dục của nhà trường Chẳng hạn như :

Dương Bích Hằng – “ tư duy phê phán và sáng tạo: Học sinh thiếu hay không được học?”, báo giáo dục và thời đại chủ nhật, số 40

Rober Fisher – Teaching Children to think Simon&Schuter education 1992

2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

2.1 Khái niệm tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con người , phản ánh hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng khái niệm, phán đoán, lý luận, Tư duy là sản phẩm hoạt động xã hội Tư duy bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu như phân tích, tổng họp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề Kết quả của tư duy là một ý nghĩa về sự vật, hiện tượng nào đó, và ở mức độ cao hơn , là một tư tưởng nào đó hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra

2.2 Các thao tác tư duy

c, Thao tác so sánh

Trang 8

So sánh là thao tác tư duy nhằm xác định sự giống nhau hoặc khác nhau, sự thống nhất, sự bằng nhau, hoặc không bằng nhau, giữa các đối tượng toán học hoặc các thuộc tính, quan hệ,các bộ phận của toán học.

d, Thao tác trừu tượng hóa

Trừu tượng hóa là thao tác tư duy mà chủ thể chỉ tập trung vào những tính chất cơ bản nhất, đặc trưng nhất, thuộc và chỉ thuộc lớp nghiên cứu Tách chúng ra khỏi những tính chất không

cơ bản và không quan tâm đến những tính chất không cơ bản đó

e, Thao tác khái quát hóa

Khái quát hóa là thao tác tư duy nhằm bao quát các đối tượng toán học khác nhau thành một nhóm hoặc một lớp trên cơ sở chúng có một thuộc tính chung, bản chất, những mối quan hệ

có tính quy luật sau khi gạt bỏ những thành phần khác Kết quả khái quát hóa cho ra một đặc tính chung của hàng loạt đối tượng toán học cùng loại

 Trong mỗi hoạt động nhận thức của học sinh tiểu học khi học tập toán, các thao tác tư duy được tiến hành một cách đan xen nhau, thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển của chúng, giúp học sinh đạt được mục đích học tập một cách chắc chắn Tuy nhiên, với một nội dung học tập cụ thể, có thể một thao tác tư duy nào đó nổi lên, có tính chất chủ đạo hoặc đặt phương hướng

2.3 Các loại hình tư duy toán học

a, Tư duy thuật toán

Thuật toán là một bản quy định chính xác mà mọi người đều hiểu như nhau về việc hoàn thành các thao tác (hữu hạn) theo một trật tự xác định nhằm giải quyết một loạt các bài toán bất kỳ thuộc một kiểu hay một loại nào đó

b, Tư duy giải toán

Hướng vào quá trình tổng hợp, phân tích theo đó chúng ta sử dụng những điều đã biết để tìm cái chưa biết

Theo nghĩa rộng,tư duy giải toán gồm các bước : Chuẩn bị, ấp ủ, bõng sáng, kiểm chứng Theo Polia (nghĩa hẹp), tư duy giải toán gồm các bước: Tìm hiểu bài toán, lập kế hoạch giải,thực hiện kế hoạch giải, kiểm tra

c, Tư duy đối thoại

Tự chất vấn và tự trả lời, trao đôi với bạn bè trong môi trường đối thoại để giải quyết vấn đề

Trang 9

(thắc mắc), gọi là tư duy đối thoại

Trong dạy học, nếu chúng ta không tạo cho học sinh môi trường hội thoại để giải quyết nhữngvấn đề độc thoại thi ý tưởng của các em không được động viên để hoạt động, các khuynh hướng, khuôn mẫu, sai lệch trong nhận thức sẽ được điều chỉnh Tư duy hội thoại giúp người học nhận thức đúng và sâu sắc hơn các khái niệm, các thuật toán

d, Tư duy sáng tạo

Theo Lecne I.A, tư duy sáng tạo là quá trình con người xây dựng cái mới về chất bằng hành động trí tuệ đặc biệt mà không thể xem như là hệ thông các thao tác hoặc hành động trí tuệ được mô tả thật chính xác và được điều chỉnh nghiêm ngặt

Theo Solso R.l, sáng tạo là một hoạt động nhận thức đem lại cách nhìn nhận, cách giải quyết mơi mẻ đối với một vấn đề hay một tình huống

*Quá trình sáng tạo:

Các bước của quá trình sáng tạo được tổng hợp ở 5 giai đoạn sau: Kích thích, khám phá, lập

kế hoạch, hoạt động, tổng kết

*Các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo:

Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo

e, Tư duy phê phán:

Tư duy phê phán được hình thành và phát triển qua quá trình rèn luyện trí tuệ về các khả năng:Phân tích thực tiễn, tổng quan và tổ chức hệ thống các ý tưởng, đối chiếu so sánh các điểm tương đồng và dị biệt, nhận thức và cân nhắc thận trọng một sự kiện, một hiện tượng, lập lận kết hợp với chứng minh đầy đủ để có sức thuyết phục cao, để đánh giá suy nghĩ, đánh giá lập luận, đưa ra các phán đoán, rút ra một kết luận, quyết định hoặc chấp nhận, hoặc bác bỏ hoặc tạm ngừng

Tất cả những thái độ và hành động trên đề dựa vào cơ sở thu thập có chọn lọc kỹ lưỡng và phêphán nghiêm túc những thông tin, kinh nghiệm, những ý kiến khác nhau để tin tưởng, định hướng việc tìm ra giải pháp tối ưu, thực hiện có hiệu quả mỹ mãn

Với các biểu hiện đã nêu, hệ thống khái niệm tư duy phê phán bao gồm 2 phương diện:

Khuynh hướng, thái độ và kỹ năng

3 Hình thức của tư duy phê phán

Hình thức của tư duy phê phán gồm 2 loại hình ở dạng ý thức và ở dạng năng lực

Trang 10

4 Kỹ năng tư duy phê phán

Theo Robert Ennis (1962 – 1985) là cha đẻ của phong trào tư duy phê phán ở Bắc Mỹ cho rằng, các loại kỹ năng cơ bản là kỹ năng có tầm quan trọng phát triển niềm tin và hành động, kết hợp tư duy có phê phán với việc phất triển tríc tuệ con người Các loại hình này bao gồm:

- Kỹ năng làm sáng tỏ (ý tưởng), lập luận, giải thích tính xác thực của thông tin ( quan sát, giao tiếp)

- Kỹ năng lập luận và suy luận để mở rộng niềm tin và tri thức ( sử dụng chứng cứ và phép diễn dịch )

5 Thái độ tư duy phê phán

Tư duy phê phán bao gồm các thái độ như: nguyện vọng lập luận, đón nhận thử thách, mong muốn sự thật

6 Một số phẩm chất của những người có tư duy phê phán

- Biết đề xuất những câu hỏi và vấn đề quan trọng khi cần thiết, diễn dạt chúng một cách rõ ràng, chính xác

- Biết lắng nghe những ý kiến khác và sẵn sàng đưa ra ý tưởng đối với ý tưởng của người khac( nếu cần )

- Sẵn sàng xem xét các giả định, các ý kiến khác nhau và cân nhắc chúng một cách cẩn thận

- Có khả năng tự lựa chọn lấy giải pháp, không phụ thuộc vào khuôn mẫu có sẵn

- Có khả năng bình luận, đánh giá kiến thức và s tưởng của người khác Sẵn sàng bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình

- Đưa ra những cách giải quyết, những kết luận đúng, hay và kiểm tra xem chúng có mâu thuẫn gì so với chuẩn đã có hay không

- Có khả năng loại bỏ những thông tin chưa chính xác và không có liên quan

- Sẵn sàng ngừng việc đánh giá khi còn thiết chứng cứ và lý do

- Biết điều chỉnh ý kiến của mình khi sự việc mới được tìm ra

7 Tư duy phê phán của học sinh tiểu học

Tư duy phê phán thường biểu lộ xu hướng cá nhân của học sinh, lập trường cá nhân, thái độ đánh giá của các em đối vưới hiện tượng được xem xét Đối với học sinh tiểu học, tư duy phê phán chỉ hình thành, phát triển trong môi trường học tập với điều kiện:

Trang 11

1 Có đủ tri thức cần thiết, học sinh không thể xem xét một cách có phê phán đúng đắn những cái mà các em không có những hiểu biết cần thiết về nó.

2 Có thói quen kiểm tra các kết quả, các quyết định, hành động hay ý kiến phán đoán nào đó trước khi cho là nó đúng

3 Có kỹ năng đối chiếu quá trình và kết quả của quyết định, hoạt động và ý kiến phán đoán với hiện thực, với những quy tắc, định luật, tiêu chuẩn, lý luận tương ứng

4 Có trình độ phát triển tương ứng về trình bày những suy luận logic

5 Có trình độ phát triển khá đầy đủ nhân cách: Quan điểm, niềm tin, lý tưởng và tính độc lập

Khi nào 1 đứa trẻ bắt đầu so sánh cái nó thấy và cái nghe được với điều mà nó biết và tin tưởng thì tư duy phê phán của nó bắt đầu phát triển Sự phát triển tư duy phê phán của học sinh thể hiện trong việc kiểm tra công việc của mình, ở chỗ đánh giá hành vi của bạn và của mình

II- Cơ sở thực tiễn

1 Những căn cứ để rèn luyện và phát triển tư duy phê phán cho HS thông qua dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

a căn cứ vào mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu dạy học nói riêng

Trong chương trình muc tiêu môn Toán ở tiểu học, một mục tiêu đã được đặt ra là” phát triển ngôn ngữ, tư duy và góp phần hình thành nhân cách cho học sinh” Như vậy, một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng được đề cập tới trong chương trình và trong sách giáo viên Toán các lớp là dạy HS tự học, tự giải quyết vấn đề Việc dạy trẻ em tư duy, phát triển các kĩ năng

tư duy và hình thành phẩm chất trí tuệ cho học sinh là nhiệm vụ cần thiết theo định hướng dạyhọc tiếp cận năng lực HS

b.căn cứ vào đặc điểm toán học

- Toán học có tính chất trìu tượng cao độ

- Đặc điểm đầu tiên của trìu tượng là sự trìu tượng hóa trên các trìu tượng hóa

Toán học không phải là khoa học về các đối tượng tồn tại ngoài các đồ vật, hiện tượng cảm tính nên về nguồn gốc toán học có tính thực tiễn

Đặc điểm nổi bật thứ ba của Toán học là gắn với lí tưởng hóa

Đặc điểm nữa của Toán học là sự trìu tượng hóa gắn với khái quát hóa làm cho các khái niệm Toán học bao gồm nhiều sự vật, hiện tượng bề ngoài rất đa dạng

Như vậy, các nội dung toán học ở tiểu học ít nhiều cũng sẽ chịu ảnh hưởng của các điểm cơ bản nêu trên của tri thức Toán học Đây là môi trường thuận lợi giúp GV rèn luyện và phát triển TDPP cho HS trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập giúp HS phân tích, sàng lọc từ cái

cụ thể để từng bước hình thành kiến thức toán học, trìu tượng, khái quát

Trang 12

c căn cứ vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học toán

Đổi mới phương pháp dạy học là áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của học sinh Có thể khái quát quá trình cơ bản của

phương pháp dạy học hiện đại như sau: tổ chức cho người học tiếp cận tài liệu học tập ở trạng thái vận động theo hệ thống và tiếp nhận có phê phán

Việc tổ chức cho người học tiếp cận tài liệu học tập ở trạng thái vận động theo hệ thống và phê phán là các mục tiêu, các bước kế tiếp nhau của một quá trình tư duy logic biện chứng Trong đó, bước này làm cơ sở cho bước kia Ba mặt đó kết hợp với nhau trong mọi hoạt động

sẽ làm nên năng lực sáng tạo cho người học- một yêu cầu quan trọng mà đổi mới PPDH đặt ra

d căn cứ vào nội dung toán 5 ( Phần giải toán có lời văn)

- Các bài toán liên quan đến tỉ số

- Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ

- Các bài toán về tỉ số phần trăm

- Các bài toán về chuyển động đều

- Các bài toán có nội dung hình học…

2 Những vấn đề cơ bản về dạy học giải toán có lời văn:

2.1.Mục tiêu và vai trò của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Việc hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm, quan hệ toán học Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết làm tính thông thạo Chính vì vậy dạy và học tốt về giải bàitoán có lới văn có ý nghĩa quyết định thành công của dạy và học môn toán, do đó người giáo viên phải xác định rõ mục tiêu của việc dạy giải các bài toán có lời văn và cần phải đạt được các tri thức, kĩ năng sau:

- Học sinh nhận biết “ cái đã cho” và “ cái phải tìm” trong mỗi bài toán, mối quan hệ giữa các đại lượng có trong mỗi bài toán, chẳng hạn : khi dạy toán về chuyển động đều thì mối quan hệ

đó thể hiện ở quãng đường đi bằng tích của vận tốc với thời gian đi đường

- Học sinh giải được các bài toán hợp với một số quan hệ thường gặp giữa các đại lượng thông dụng

- Học sinh giải được một số bài toán điển hình được hình thành từ lớp 4 đến lớp 5 như sau : +Tìm số trung bình cộng của hai số hoặc nhiều số

+Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó

+Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số

+ Giải toán về tỉ số phần trăm

+ Bài toán cơ bản về chuyển động đều cùng chiều (hoặc ngược chiều)

+ Giải toán có nội dung hình học

-Học sinh biết trình bày bài giải đúng quy định theo yêu cầu bài toán

2.2 Nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5

2.2.1 Về mức độ yêu cầu của Giải toán có lời văn ở lớp 5

Cũng như các lớp khác, yêu cầu của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5 chủ yếu là rèn kĩ năng về phương pháp giải toán ( cách đặt vấn đề, tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề); rèn khả năng diễn đạt( trình bày vấn đề bằng lời nói, bằng chữ viết) Không yêu cầu học sinh phải làm

Trang 13

những bài toán khó, phức tạp ( mức độ giải toán không quá 4 bước tính) và hó sinh không phải làm quá nhiều bài toán (mỗi tiết học thường chỉ có từ 1,2 bài toán có lời văn)

2.2.2 Dạy học giải toán về quan hệ tỉ lệ

Trong toán 5, các bài toán về quan hệ tỉ lệ được xây dựng từ những bài toán liên quan đến tỉ

số mà cách giải chủ yếu dựa vào phương pháp rút về đơn vị( học ở lớp 3) và phương pháp tìm

tỉ số ( học ở lớp 4)

Ví dụ: Muốn đắp một nền nhà trong 2 ngày, cần có 6 người Hỏi muốn đắp xong nền nhà đó trong 4 ngày thì cần có bao nhiêu người ? (mức làm của mỗi người như nhau)

Cách 1: Rút về đơn vị: Bài giải

Muốn đắp nền nhà xong trong 1 ngày cần số người là:

6 x 2 = 12 ( người)Muốn đắp nền nhà xong trong 2 ngày cần số người là

12 : 4 = 3 (người)

Đáp số : 3 ngườiCách 2: Tìm tỉ số: Bài giải

4 ngày gấp 2 ngày số lần là:

4 : 2 = 2 ( lần )Muốn đắp xong nền nhà đó trong 4 ngày cần số người là:

6 : 2 = 3 ( người)Đáp số: 3 ngườiTrong Toán 5 có xây dựng hai dạng quan hệ tỉ lệ của 2 đại lượng Dạng quan hệ tỉ lệ thứ nhất:’Nếu đại lượng này tăng ( giảm) bao nhiêu lần thì đại lượng kia cũng tăng (giảm) đi bấy nhiêu lần’ Dạng quan hệ tỉ lệ thứ hai:’ Nếu đại lượng này tăng ( giảm) bao nhiêu lần thì đại lượng kia giảm ( tăng ) bấy nhiêu lần’ Thực chất của dạng toán này chính là các bài toán mà các em sẽ được học ở bậc sau, gọi tên là bài toán về tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch nhưng ở toán 5 không dùng thuật ngữ này để gọi tên

Ở mỗi bài toán cụ thể đối với mỗi dạng quan hệ tỉ lệ, SGK Toán 5 đưa ra đồng thời cả cả hai cách giải Khi làm bài, học sinh chọn 1 trong 2 cách giải để làm song phải tùy thuộc vào tình huống củ bài toán đặt ra

70 : 5 = 14 (người) Đáp số : 14 người

2.2.3.Dạy học các bài toán về tỷ số phần trăm

Các bài toán về tỉ số phần trăm thực chất là các bài toán về tỉ số Do đó, trong toán

5, các bài toán về tỉ số phần trăm được bì toán xây dựng theo ba bài toán cơ bản về tỉ số

Các dạng toán này có mấy loại sau :

Bài toán 1: Cho hai số a và b Tìm tỉ số phần trăm của a và b

Trang 14

Ví dụ : Một trường học có 600 học sinh , trong đó có 303 học sinh nữ Hỏi số học sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh toàn trường ?

Bài giải

Tỉ số phần trăm số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là:

303 : 600 = 0,5050,505= 50,5%

Đáp số : 50,5%

Bài toán 2: Cho b và tỉ số phần trăm của a và b Tìm a

Ví dụ: Lãi tiết kiệm là 0,5% một tháng Một người gửi tiết kiệm 5000000 đồng Tính số tiền lãi tiết kiện sau một tháng ?

Bài giải

Số tiền lãi tiết kiệm sau một tháng là:

0.5 x 5000000 : 100 = 25000 (đồng)

Đáp số: 25000 đồng

Bài toán 3: Cho a và tỉ số phần trăm của a và b Tìm b

Ví dụ: Số học sinh nữ của một trường là 420 em và chiếm 52,5% số học sinh toàn trường Hỏi trường đó có bao nhiêu học sinh ?

Bài giải

Số học sinh toàn trường là:

420 : 52,5 x 100 = 800 (học sinh)

Đáp số: 800 học sinh

 Một số loại toán có nội dung phối hợp

Ví dụ : Một bình đựng 120g dung dịch chứa 15% muối Hỏi phải đổ thêm vào bình

đó bao nhiêu gam nước để nhận được một dung dịch chứa 10% muối?

Bài giải

Số muối có trong 120g dung dịch là

15 x 120 : 100 = 18 (g)Lượng dung dịch chứa muối 10% đó là:

18 : 10 x 100 = 180 (g)

Số gam nước cần đổ them vào bình là:

180 – 120 = 60 (g)Đáp số: 60 g2.2.4.Dạy học giải toán về chuyển động đều

Trong Toán 5 có 3 dạng cơ bản về chuyển động đều của một chuyển động

2.2.4.1.Bài toán về tính quãng đường

Ví dụ : Một người đi xe đạp trong 2 giờ 30 phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãng đường điđược của người đó

GiảiĐổi 2 giờ 30 phút = 2,5 (giờ)Quãng đường người đó đi được là:

2,5 x 12,6 = 31,5 (km)Đáp số: 31,5 km2.2.4.2 Bài toán về tính vận tốc:

Trang 15

Ví dụ : Một máy bay bay được 1800km trong 2 giờ 15 phút Tính vận tốc của máy bay.

Giải

Đổi 2 giờ 15 phút = 2,25 (giờ)

Vận tốc của máy bay là:

1800 : 2,25= 800 (km/h)

Đáp số: 800 km/h

2.2.4.3 Bài toán về tính thời gian

Ví dụ: Một ca nô đi với vận tốc 18 km/giờ trên quãng đường sông dài 54 km Tính thời gian đi của ca nô trên quãng đường sông đó

Giải

Thời gian ca nô đi trên quãng sông đó là:

54 : 18 = 3 (giờ)

Đáp số: 3 giờ

2.2.4.4.Bài toán có hai chuyển động ngược chiều

Ví dụ : Hai thành phố A và B cách nhau 150km Một xe máy đi từ thành phố A đến thành phố

B với vận tốc 35 km/giờ, cùng lúc đó một ô tô đi thành phố B đến thành phố A với vận tốc 65 km/giờ Hỏi sau bao lâu ô tô và xe máy gặp nhau ?

2.2.4.5 Bài toán có hai hoặc ba chuyển động cùng chiều

Ví dụ : Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ Sau 3 giờ một xe máy cũng đi

từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ Hỏi từ lúc xe máy bắt đầu đi thì sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp ?

2.2.5.Bài toán có nội dung hình học

Các dạng bài: tính chu vi, diên tích, thêm bớt số đo các chiều của hình, tính diện tích hai cạnh dựa vào dạng toán tổng – hiệu, tổng – tỉ rồi tính diện tích;biết diện tích và tỉ số cạnh, tính chu vi; tìm diện tích bằng cách ghép hình

Ví dụ 1 : Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 120m, đáy bé bằng đáy lớn, đáy bédài hơn chiều cao 5m Trung bình cứ 100m2 thu hoạch được 64,5kg thóc Tính số kí-lô-gam thóc thu hoạch được tren thửa ruộng đó

Ví dụ 2 : Một phòng học dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 6m, chiều rộng 4,5m

và chiều cao 4m Người ta muốn quét vôi trần nhà và bốn bức tường trong phòng Biết rằng diện tích các cửa bằng 8,5m2, hãy tính diện tích cần quét vôi

 Phương pháp dạy học giải toán có lời văn:

Ngày đăng: 22/05/2021, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w