Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc thực hiện nhiệm vụ năm học, lồng ghép nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện vào kế hoạch các hoạt động tron
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
KỂ CHUYỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON
Người thực hiện: Trịnh Thị Lan Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Quảng Ngọc SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 21 Mở đầu 1
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc thực hiện nhiệm vụ
năm học, lồng ghép nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua hoạt động kể chuyện vào kế hoạch các hoạt động trong
năm
5
2.3.2 Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để nâng cao nhận thức
cho giáo viên về yêu cầu, mục tiêu, nội dung, phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt thông qua hoạt động kể chuyện.
6
2.3.3 Giáo viên phải tìm hiểu nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý trẻ
2.3.4 Giáo viên cần luyện giọng kể nhẹ nhàng, diễn cảm phù hợp
nhân vật, luôn tạo cho trẻ vui tươi, thoải mái ở mọi lúc, mọi nơi
trong quá trình học tập, vui chơi.
9
2.3.5 Giáo viên kể chuyện cho trẻ dưới nhiều hình thức, chọn nhiều
2.3.6 Chỉ đạo giáo viên làm đồ dùng dạy học, đồ chơi phù hợp, tạo
môi trường để tổ chức có hiệu quả hoạt động kể chuyện nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
14
2.3.7 Đầu tư cơ sở vật chất, cải tạo môi trường ngoài, mua sắm tài
liệu phục vụ cho hoạt động kể chuyện nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
16
2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng SKKN ngành
GD&ĐT huyện, tỉnh xếp loại.
Trang 3Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tìnhcảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm
sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiếtphù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt
nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [1].
Với chức năng giao tiếp, trao đổi thông tin, ngôn ngữ là phương tiện để
mở rộng nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Ngôn ngữ được coi làphương tiện cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển trẻ em tuổi mầm nonnhư: Phương tiện giáo dục nhận thức, phương tiện phát triển tình cảm, giáo dụcđạo đức, phương tiện giáo dục thẩm mĩ, phương tiện phát triển thể chất Chính
vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng trong
giáo dục phát triển toàn diện về mọi mặt cho trẻ lứa tuổi mầm non [2].
Ngôn ngữ trong giao tiếp ứng xử là một yếu tố rất quan trọng và cần thiếtđối với trẻ,vì nhờ có ngôn ngữ trẻ có thể nói lên những suy nghĩ, mong muốncủa mình, giúp trẻ bày tỏ, trao đổi và giao tiếp với nhau, góp phần mở rộng khảnăng giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi cho trẻ Chính vì vậy việc hìnhthành và phát triển tư duy ngôn ngữ thông qua các hoạt động hàng ngày cho trẻ
là một việc làm hết sức cần thiết và phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giaotiếp ứng xử, thông qua các hoạt động dạy trẻ kể chuyện sẽ giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ và vốn từ ngày càng phong phú hơn [3]
Ngôn ngữ phát triển tốt trẻ dễ dàng tiếp cận được với nhiều môn học khácnhư: Làm quen với toán, khám phá khoa học, âm nhạc,…Và đối với trẻ mầmnon rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn từ, âm điệu, hình tượng của các bài hát,bài thơ, những câu chuyện cổ tích, thần thoại Chính vì vậy cho trẻ tiếp xúc vớivăn học và đặc biệt là hoạt động dạy trẻ kể chuyện là con đường phát triển ngôn
ngữ cho trẻ tốt nhất [6] Thông qua hoạt động kể chuyện trẻ được nghe cô kể,
hay tự mình kể lại chuyện, kể chuyện sáng tạo… sẽ giúp trẻ giúp trẻ phát triển
tư duy, óc tưởng tượng bay bổng, phát triển khả năng mạnh dạn, tự tin vào chínhbản thân, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng hơn Kể chuyện giữ vai tròquyết định sự phát triển của tâm lý trẻ, là phương tiện phát triển năng lực tư duy,sáng tạo, giúp trẻ biết yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp để giáo dục trẻ một cáchtoàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mựchành vi văn hoá
Tuy nhiên thực tế một số giáo viên vẫn chưa nhìn nhận thấy sự cần thiết
và tầm quan trọng trong việc dạy cho trẻ phát triển tư duy ngôn ngữ đặc biệt làqua hoạt động kể chuyện.Giáo viên thường hay dạy trẻ kể những nội dung câuchuyện thường ngày một cách đơn điệu, ít dạy trẻ kể chuyện sáng tạo và nhữngcâu chuyện thần thoại, cổ tích Bên cạnh đó sự chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi chưahấp dẫn trẻ, phương pháp lên lớp của cô chưa linh hoạt sáng tạo, giọng nói chưahay chưa thu hút lôi cuốn hấp dẫn trẻ Bên cạnh đó trẻ còn nhút nhát, lời nói
Trang 4chưa rõ ràng mạch lạc, vốn từ còn hạn chế, trong giờ học trẻ chưa hứng thú tậptrung
Trước tình hình đó, với mong muốn giúp giáo viên nhận thấy được tầmquan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ và với vai trò là người quản lýchuyên môn tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng một số biện pháp giúp giáo viênphát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện được tốt hơn và tôi
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình trong năm học này là: " Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện
ở trường mầm non".
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận, thực tiễn để tìm ra một số biện pháp chỉ đạo giáo viênphát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện ở trường mầm non
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông quahoạt động kể chuyện ở trường mầm non
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng
hợp lý luận, nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết về việc vận dụng các biệnpháp
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, đàm thoại,
thực nghiệm (thực hành, trải nghiệm) … điều tra khảo sát thực tế, thu thập thôngtin Quan sát hoạt động của trẻ, …
* Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu kết quả nghiên cứu Lập
bảng thống kê và xử lý số liệu để đưa ra tỉ lệ % đạt, chưa đạt của giáo viên vàtrẻ
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trẻ được tiếp xúc với tác phẩm văn học chuyện kể từ rất sớm ngay từ khilọt lòng mẹ trẻ đã được nghe những câu ru thấm đượm tình người Lớn hơn mộtchút trẻ được sống trong thế giới kỳ diệu của những câu chuyện thần thoại,truyền thuyết, cổ tích , những ước mơ của trẻ cứ thế chắp cánh bay xa Thôngqua hoạt động kể chuyện giúp trẻ có được vốn hiểu biết, vốn từ nhất định và tạo
cho trẻ tâm thế vững vàng khi bước vào lớp một [3].
Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động học của trẻ rất phongphú, đa dạng với nhiều hoạt động học khác nhau và được tổ chức với nhiều hìnhthức một cách linh hoạt để giúp trẻ lĩnh hội tri thức, phát triển kỹ năng theo nội
dung của chủ đề [3] Trong đó hoạt động làm quen văn học chiếm một vị trí
quan trọng trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ Đặc biệt thông qua hoạtđộng kể chuyện nhằm tạo tiền đề cho việc phát triển ngôn ngữ, phát triển trítưởng tượng, phát triển nhân cách, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội, pháttriển thẩm mỹ cho trẻ; chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào học ở lớp một Mặt khác, đểphù hợp với nhu cầu ngày càng đi lên của xã hội và thực hiện tốt nhiệm vụ giáodục mầm non xóa bỏ phương thức dạy học cũ rập khuôn, thụ động, chú trọng
Trang 5phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ có cơ hội được tìm tòi, khám phá, trảinghiệm trên khả năng và vốn hiểu biết của trẻ.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thuận lợi:
- Trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của phòng GD&ĐTQuảng Xương
- Nhà trường luôn được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng ủy, UBND
xã, sự phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể trong xã
- Trường luôn nhận được sự quan tâm, nhiệt tình ủng hộ của các bậc phụhuynh về CSVS, đội ngũ CBGV, các hoạt động công tác chuyên môn và trẻ
- Trường đạt CQG mức độ I Khuôn viên sân trường, lớp học rộng rãi,thoáng sạch, đủ diện tích cho trẻ hoạt động Đồ dùng, trang thiết bị tương đốiđầy đủ Nhà trường quan tâm, đầu tư mua sắm, bổ sung đồ dùng, trang thiết bịphục vụ chuyên đề giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Đội ngũ CBGV đoàn kết, có trình độ năng lực sư phạm vững vàng, cólòng nhiệt tình, say mê với nghề, có ý thức học tập thường xuyên để nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, luôn được cấp trên đánh giátốt nên thuận lợi trong việc thực hiện các nhiệm vụ năm học của nhà trường
- Bản thân đã được tiếp thu đầy đủ các chuyên đề mới của Sở, Phòng
GD&ĐT Đặc biệt là chuyên đề “Nâng cao năng lực giáo viên trong tổ chức
các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với bối cảnh địa phương”.
- Trẻ ra lớp đảm bảo chỉ tiêu, trẻ đi học chuyên cần đạt từ 85% trở lên, cáccháu đến trường đều ngoan ngoãn, thích học và vui chơi cùng bạn bè
- Trẻ độ tuổi mẫu giáo lớn lời nói mạch lạc đã đạt một trình độ khá cao.Trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả hay kể chuyện theo một chủ đề cho trướcmột cách tương đối tuần tự, rõ ràng do có sự phát triển của các đặc điểm tâm lý:trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm
- Công việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp chiếm nhiều thời gian nên việctìm hiểu, nghiên cứu của giáo viên còn hạn chế Giáo viên không có nhiều thờigian để làm đồ dùng học tập, đồ chơi và có làm thì giá trị sử dụng và độ bền
Trang 6chưa cao trong hoạt động kể chuyện Chưa đầu tư, khai thác các đồ dùng trangthiết bị sẵn có để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện.
- Nhiều trẻ còn nhút nhát, lời nói chưa rõ ràng mạch lạc, vốn từ còn hạnchế, ngại giao tiếp, trong giờ học trẻ chưa hứng thú tập trung Trẻ nhà trẻ mới
ra lớp đầu năm đi học còn khóc nhiều, không hợp tác cùng cô khi được hỏi vàhoạt động, một số cháu chậm phát triển ngôn ngữ
- Trong trường còn có một số trẻ mắc bệnh tăng động hoặc các bệnh khác,
đặc biệt là khuyết tật về ngôn ngữ, trẻ chậm nói có những trẻ được gia đình chođiều trị đặc biệt để cải thiện tình trạng nhưng cũng có gia đình trẻ không điều trị(Tuy nhiên phía gia đình không cung cấp hồ sơ khuyết tật của trẻ)
Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻthông qua hoạt động kể chuyện vào thời điểm đầu năm học (Tuần 4 tháng9/2020) cụ thể như sau:
* Đối với trẻ: Tôi đã khảo sát 240/506 trẻ trong nhà trường Trong đó:+ 30/74 trẻ Nhà trẻ 25-36 tháng tuổi (02 nhóm)
+ 60/121 trẻ Mẫu giáo Bé 3-4 tuổi (04 lớp, mỗi lớp 15 trẻ)
+ 75/147 trẻ Mẫu giáo Nhỡ 4-5 tuổi (05 lớp, mỗi lớp 15 trẻ)
+ 75/164 trẻ Mẫu giáo Lớn 5-6 tuổi (05 lớp, mỗi lớp 15 trẻ)
BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐẦU NĂM (ĐỐI VỚI TRẺ)
T
TS trẻ được khảo sát
KẾT QUẢ
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
1 Trẻ hứng thú tham gia kể chuyện 240 130 54,2% 90 45,8%
2 Lời nói của trẻ rõ ràng, mạch lạc 240 130 54,2% 110 45,8%
3 Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp 240 130 54,2% 110 45,8%4
Ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ biết
sử dụng nhiều từ, nhiều kiểu câu
khác nhau, nói chuẩn tiếng phổ
+ Giáo viên dạy Nhà trẻ 25-36 tháng: 05/27 GV
+ Giáo viên dạy Mẫu giáo Bé 3-4 tuổi: 04/27 GV
+ Giáo viên dạy Mẫu giáo Nhỡ 4-5 tuổi: 08/27 GV
+ Giáo viên dạy Mẫu giáo Lớn 5-6 tuổi: 10/27 GV
Trang 7TS Giáo viên được khảo sát
KẾT QUẢ
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
1
Giáo viên quan tâm đến việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua
hoạt động kể chuyện
2
Lựa chọn nội dung chuyện kể phù
hợp, tổ chức tiết học linh hoạt, thu
hút được trẻ vào hoạt động
3
Kể chuyện diễn cảm, giọng điệu
phù hợp nhân vật, chuẩn tiếng phổ
thông, cuốn hút trẻ
4
Tận dụng môi trường và sử dụng
linh hoạt các hình thức kể chuyện
nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Giáo viên chưa chú ý đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ; ít kể chuyệndiễn cảm cho trẻ nghe; chưa rèn luyện nói chuẩn tiếng phổ thông; tổ chức tiếthọc kể chuyện chưa linh hoạt, sáng tạo; ít tích hợp chuyện kể với các môn họckhác; chưa sáng tạo trong làm đồ dùng dạy kể chuyện cho trẻ, chưa kích thíchđược trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động
Tôi đã nghiên cứu và áp dụng các biện pháp sau:
2.3 Các biện pháp thực hiện.
2.3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc thực hiện nhiệm vụ năm học, lồng ghép nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện vào kế hoạch các hoạt động trong năm.
Xây dựng và triển khai đầy đủ các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấphọc, ngành học như: Công văn số 390/HD-PGDĐT ngày 21/9/2020 của
Trang 8PGD&ĐT Quảng Xương hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2020-2021bậc học mầm non; Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, kế hoạch thực hiệnchương trình GDMN, Kế hoạch thực hiện các chuyên đề trọng tâm năm học2020-2021 của nhà trường; đặc biệt là chuyên đề “Nâng cao năng lực giáo viêntrong tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non phù hợp với
bối cảnh địa phương” [5] để giáo viên thấy được nhiệm vụ giáo dục phát triển
ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo thực hiệntốt nhiệm vụ chuyên môn năm học
Triển khai chuyên đề đến 100% CBGV trong nhà trường ngay từ đầu nămhọc (Tháng 8/2020), cung cấp đầy đủ tài liệu chuyên đề cho giáo viên thuận tiệntrong việc tiếp thu và bồi dưỡng
Tôi đã xây dựng kế hoạch lồng ghép việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua hoạt động kể chuyện vào các chủ đề trong một năm như sau [4]:
+ Tháng 9-10/2020 lên kế hoạch cho giáo viên lựa chọn và tổ chức các bàitập luyện tai nghe cho trẻ nhằm phát triển thính giác, âm vị (Cho trẻ nghe nhữngcâu chuyện phù hợp với chủ đề, tạo điều kiện cho trẻ tập trung chú ý luyện khảnăng thính giác thông qua các bài tập trò chơi (Tai ai thính, ai đoán giỏi) trẻnghe rồi đoán tên nhân vật, tên câu truyện, sửa sai cho trẻ về lỗi phát âm
+ Tháng 11-12/2020 tôi tập trung cho giáo viên tăng vốn từ, nói diễn cảm,
rõ ràng, giải thích nghĩa của từ khó, cho trẻ các bài tập luyện cơ quan phát âmthích hợp, cho trẻ bắt trước lời thoại của các nhân vật, cho trẻ kể chuyện sángtạo, kể lại chuyện đã được nghe
VD: Truyện “Món quà của cô giáo”; “Lớp học của chích bông”; “TíchChu”; “Bông cúc trắng”…
+ Tháng 1-2/2021 tôi giúp trẻ rèn luyện trí nhớ thông qua các câu chuyện
kể lôi cuốn và hấp dẫn theo chủ đề gợi cho trẻ sử dụng câu đơn giản, đủ nghĩa
+ Tháng 3-5/2021: tôi xây dựng những trò chơi giúp cho trẻ nói đúng ngữpháp, nói mạch lạc
Ví dụ: Nói theo mẫu câu như câu truyện “Cây khế” người anh tham lamchiếm hết ruộng vườn, nhà cửa, trâu bòcủa cha mẹ để lại
Ví dụ “Câu truyện Tích chu” Bà biến thành chim vì (trẻ nói bà muốn bà
đi tìm nước uống, hoặc Tích Chu ham chơi không lấy nước cho bà ) khuyếnkhích giáo viên thay đổi mẫu câu khác nhau từ câu đơn giản đến câu phức tạp,
từ câu phức tạp đến câu đơn giản, đặt câu từ kết nối truyện để trẻ có khả năngnói đúng ngữ pháp, phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ
Một khi đã có một số vốn từ phong phú trẻ sẽ tự tin kể chuyện, đóng kịchmột cách hứng thú hơn, giúp ngôn ngữ của trẻ được phát triển hơn
2.3.2 Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để nâng cao nhận thức cho giáo viên về yêu cầu, mục tiêu, nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đặc biệt thông qua hoạt động kể chuyện.
- Tổ chức triển khai chuyên đề về giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ,thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề giáo dụcphát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhà trường đưa ra nội dung sinh hoạt về môn văn
Trang 9học (thể loại truyện kể) cho giáo viên thảo luận, sau đó đi đến thống nhất chung.Chỉ đạo cho tổ khối soạn giáo án và dạy đối chứng chuyên đề môn văn học (kểchuyện) cho giáo viên tham dự.
VD: Trước tiên để gây sự tập trung chú ý cho trẻ hứng thú và thích đượctham gia kể chuyện cùng cô và bạn thì giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng cho tốtnhư: ti vi đa năng, máy tính, con rối, mô hình, các nhân vật trong chuyện, cómàu sắc tươi sáng, sinh động Rồi tích hợp nội dung vào bài dạy sao cho lôgic,lôi cuốn hấp dẫn trẻ Chẳng hạn: Ở truyện “Tích chu”: Cô giả bộ tiếng ho của
bà rồi gọi Tích Chu ơi! Tích Chu Lấy cho bà ngụm nước Sau đó cô dẫn dắt vàonội dung câu chuyện và kể với giọng nhẹ nhàng diễn cảm, thể hiện giọng điệunhân vật thay đổi sao cho hấp dẫn Biết phối hợp cách sử dụng đồ dùng trongkhi kể đúng lúc, khoa học và đạt hiệu quả cao
Để tìm hiểu về nội dung câu chuyện cô trò chuyện cùng trẻ Qua đó cungcấp các từ mới cho trẻ, làm phong phú vốn từ và giúp trẻ mở rộng sự hiểu biết
về ý nghĩa của các từ trong câu chuyện Lúc này trẻ có khả năng diễn đạt bằngnhiều cách khác nhau: thể hiện qua nét mặt, cử chỉ lời nói điệu bộ, hành động.Như vậy sẽ giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn, rõ ràng hơn, vốn từ của trẻcàng thêm phong phú hơn khi trẻ được tham gia vào hoạt động kể chuyện, đóngkịch cùng cô và các bạn
Các buổi sinh hoạt chuyên môn - Triển khai chuyên đề tại trường
Bên cạnh các buổi sinh hoạt chuyên môn, xây dựng các hoạt động dạy đốichứng chuyên đề cho giáo viên dự và rút kinh nghiệm tôi còn chỉ đạo xây dựnggiáo viên điểm và lớp điểm về giáo dục phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động
Trang 10kể chuyện cho toàn trường học tập (Cô Phạm Thị Ninh - Lớp Nhà trẻ D2; Cô ĐỗThị Hồng - Lớp MGB C1; Cô Đỗ Thị Oanh - Lớp MGN B2; Cô Hoàng Thị Hội
- Lớp MGL A3) và bồi dưỡng cho giáo viên qua thao giảng và hội thi giáo viêndạy giỏi cấp trường, cấp huyện Thông qua các hình thức bồi dưỡng này để giúpcho giáo viên nhận thức đúng đắn về : Yêu cầu - Nội dung - Hình thức cũng nhưphương pháp cho giáo viên phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kểchuyện ở nhóm/lớp mình phụ trách
Hình ảnh các tiết thao giảng, đối chứng CĐ GDPTNN thông qua HĐ kể chuyện tại trường
2.3.3 Giáo viên phải tìm hiểu nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý trẻ trong nhóm/lớp mình phụ trách.
Trang 11Giáo viên cần nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong độ tuổi màmình phụ trách, những cá tính riêng của trẻ, động viên thu hút trẻ tham gia vàocác nhóm bạn Phát hiện ra trẻ rất hiếu động, thích khám phá, tìm tòi Phần lớntrẻ mầm non dễ nhớ chóng quên, sự chú ý có chủ định phụ thuộc vào sự hứngthú và điều kiện mới lạ, trẻ thích nghe động viên, thích nghe đọc thơ, kể chuyện,thích chơi các trò chơi Nếu trẻ có khả năng về ghi nhớ, kể chuyện tốt thì có kếhoạch bồi dưỡng cho trẻ để trẻ phát triển năng khiếu của mình và ngược lại trẻphát âm chưa chuẩn, nói ngọng, nói lắp nhiều thì cần có kế hoạch bồi dưỡng bốtrí cho những trẻ đó tiếp xúc nhiều hơn với những bạn có năng khiếu nhằm giúptrẻ mạnh dạn, tự tin và phát triển toàn diện hơn về mọi mặt
2.3.4 Giáo viên cần luyện giọng kể nhẹ nhàng, diễn cảm phù hợp nhân vật, luôn tạo cho trẻ vui tươi, thoải mái ở mọi lúc, mọi nơi trong quá trình học tập, vui chơi.
Hoạt động kể chuyện là một môn dạy hay và hấp dẫn nhất đối với trẻ thơ,
vì trẻ rất hiếu kì, chú ý, tò mò xem chuyện gì đang xảy ra Các câu chuyệnthường khiến trẻ dễ nhớ về hình tượng, lời thoại nhân vật, nó có ảnh hưởng sâu,mạnh đến trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và nhân cách của trẻ Chính vì vậythông qua văn học đặt biệt là thông qua hoạt động kể chuyện ngôn ngữ của trẻ
sẽ phát triển nhanh hơn Để thu hút được trẻ trong các hoạt động kể chuyện giáoviên cần phải có nhiều hình thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo và thu hút được trẻ
Vì vậy giáo viên cần luyện giọng kể nhẹ nhàng, diễn cảm Muốn có được mộtgiọng kể chuyện nhẹ nhàng diễn cảm, thì đòi hỏi các cô phải thường xuyênluyện kể chuyện diễn cảm, thể hiện giọng điệu các nhân vật phù hợp, truyền cảmkhác nhau
VD: Giọng bà già: Chậm rãi, yếu ớt, khi ốm thì ho – rên
Giọng Dê trắng: Run rẩy - sợ sệt
Giọng Dê đen: To - dứt khoát - rõ ràng
Giọng Thỏ mẹ: Ân cần - dịu dàng - ấm áp
Giọng Thỏ em: Nhanh - nhí nhảnh - hồn nhiên
Giọng Thỏ anh: Chậm - khoan thai…
Đối với trẻ vui chơi là hoạt động chủ đạo vì thế cô cần tạo một bầu khôngkhí vui tươi, cho trẻ có cảm giác vui vẻ, thoải mái trong học tập cũng như vuichơi với nhau
Ví dụ: Tiết dạy kể chuyện “Nhổ củ cải” Cô cho trẻ đóng vai ông già, bàgià… cùng nhau nhổ củ cải và hát “Nhổ cải lên, nhổ cải lên, ái chà chà, nhổ mãi,nhổ mãi lên được rồi!” trẻ cùng nhau ngã lăn ra sàn và vui cười với sự sungsướng khi đã nhổ được củ cải bung lên khỏi mặt đất
2.3.5 Giáo viên kể chuyện cho trẻ dưới nhiều hình thức, chọn nhiều thể loại truyện để dạy cho trẻ.
* Kể chuyện cho trẻ nghe:
Giáo viên cần lựa chọn nhiều thể loại truyện cho trẻ như: Truyện Cổ tích,truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn, truyện lịch sử… những câu chuyện thầnthoại trẻ rất thích bởi vì trong nội dung câu chuyện thường hay có màu sắc thần
Trang 12thoại, khiến cho trẻ khi nghe qua đã có ấn tượng sâu sắc với những nhân vật màtrẻ yêu thích Kể chuyện về thần thoại, truyền thuyết cho trẻ nghe nhằm cungcấp kiến thức và vốn từ cho trẻ, để trẻ biết được về cha ông ta ngày xưa rất tàigiỏi, oai hùng trong việc đánh giặc cứu nước nhà như Truyện “Sự tích HồGươm” Trẻ được nghe cô kể chuyện và biết được ngày xưa vua Lê Lợi đã đánhthắng giặc Minh sang xâm lược nước ta và đã trả thanh gươm thần ở hồ TảVọng, còn gọi là hồ Hoàn Kiếm….
Ví dụ: Truyện “Thần sắt”, “Thần trụ trời”, “Truyền thuyết hạt lúaThần”…Trẻ nhỏ thường hay tò mò gợi hỏi những điều bí ẩn trong câu chuyện
mà trẻ muốn tìm hiểu khi nghe cô vừa kể xong Sau đó cô trò chuyện khai thác
sự hiểu biết của trẻ để phát triển thêm vốn từ, ngôn ngữ cho trẻ
Truyện cổ tích hay mang đậm dấu ấn từ ngày xửa, ngày xưa, làm cho trẻkhi nghe qua hay say mê chú ý lắng nghe cô kể chuyện
Ví dụ: Truyện “Tấm cám”, “Sự tích bánh chưng bánh dày”, “Sự tích câykhoai lang”, “Sự tích hồ Ba Bể”…Nội dung trong chuyện đã mô tả về bản chấtcủa những người tốt bụng, qua đó cô liên hệ giáo dục trẻ, nên học tập theonhững tấm gương tốt
* Dạy trẻ kể lại truyện:
Để trẻ tái hiện lại một cách mạch lạc, diễn cảm tác phẩm văn học mà trẻđược nghe, Trẻ sử dụng nội dung, hình thức ngôn ngữ đã có sẵn của các tác giả
và của giáo viên tuy nhiên yêu cầu trẻ không học thuộc lòng câu chuyện, trẻphải kể bằng ngôn ngữ của chính mình, truyền đạt nội dung câu chuyện mộtcách tự do thoải mái nhưng phải đảm bảo nội dung cốt truyện
- Yêu cầu đối với trẻ:
+ Kể nội dung chính của câu chuyện không yêu cầu trẻ kể chi tiết lời kểphải có cấu trúc ngữ pháp, giọng kể diễn cảm to, rõ ràng, không ê a, ấp úng cốgắng thể hiện đúng ngôn ngữ đối thoại hay độc thoại
+ Chuẩn bị: Tiến hành trước giờ học, kể chuyện cho trẻ nghe trước khi kể
cô giao nhiệm vụ ghi nhớ và kể lại
+ Tiến hành: Đàm thoại với trẻ về nội dung câu chuyện Đàm thoại nhằm
mục đích giúp trẻ nhớ lại nội dung câu chuyện, giúp trẻ xây dựng dàn ý câuchuyện kể, lựa chọn hình thức ngôn ngữ, cách dùng từ đặt câu
Ví dụ Truyện “Cây khế”: Theo con tính cách của người anh như thế nào?+ Yêu cầu với câu hỏi: Đặt câu hỏi về tên nhân vật, thời gian, không gian,hành động chính, lời nói, cá tính nhân vật (Dê mẹ dặn dê con như thế nào?) Câuhỏi phải phù hợp với trẻ cả về hình thức và ngữ pháp
Khi đàm thoại cô cần lưu ý giới thiệu cho trẻ biết thêm các từ đồng nghĩanhững cụm từ thay thế để tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn từ để kể Giáo viên sửdụng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của trẻ kể lại nội dungtác phẩm: Cô kể diễn cảm, lời kể có các mẫu câu cần luyện cho trẻ (mới), đặcbiệt lưu ý khi trẻ kể: Trẻ phải quay mặt xuống các bạn, kể với tốc độ vừa phải,giọng rõ ràng, tư thế tự nhiên Trong quá trình kể, trẻ đứng sai tư thế, phát âmsai cô nên để trẻ kể xong mới sửa sai cho trẻ
Trang 13Khi cô gọi trẻ lên, trẻ không kể, cô nên đặt câu hỏi gợi ý để trẻ trả lời giúptrẻ mạnh dạn, có thói quen giao tiếp tốt.
Nếu trẻ quên, cô có thể nhắc hoặc đặt câu hỏi cho trẻ nhớ Trẻ kể xong, cônhận xét, đánh giá truyện kể của trẻ, không nên để đến cuối giờ trẻ sẽ quên mấtnhững ưu nhược điểm của mình hay của bạn Cô cần nhận xét đúng, chính xác
để có tác dụng khuyến khích, động viên trẻ; nhận xét cả về nội dung, ngôn ngữ
và tác phong của trẻ
* Dạy trẻ đóng kịch: Chỉ đạo giáo viên thường xuyên tổ chức cho trẻ
đóng kịch, đóng kịch là một phương pháp tốt để phát triển ngôn ngữ đối thoạicho trẻ Nội dung kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn học mà trẻ đã được làmquen Trẻ làm quen với các mẫu câu văn học đã được gọt giũa chọn lọc Khiđóng trẻ cố gắng thể hiện đúng ngữ điệu, tính cách nhân vật mà trẻ đóng, giúpcho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái biểu cảm rõ rệt
Cần chú ý sửa sai cho những trẻ nói nhanh - nói lắp - nói ngọng Trongquá trình các nhân vật đối thoại với nhau mà mắc những lỗi nào sẽ làm chongười xem không hiểu được nội dung đoạn hội thoại làm cho vở kịch nên kémhấp dẫn
Trong khi hướng dẫn trẻ đóng kịch giáo viên cần chú ý luyện cho trẻ cáchthể hiện ngữ điệu, giọng của nhân vật Xác định rõ đặc điểm - tính cách của từngnhân vật mà giúp trẻ thể hiện sao cho phù hợp
Ví dụ: Câu nói của Lão địa chủ trong câu chuyện "Quả bầu tiên" trongđoạn thả én con lên trời
Bay đi én con - mau bay đi kiếm hạt bầu tiên về đây cho ta (thể hiện sự
độc ác tham lam của lão địa chủ)
Hay Câu nói của Chó sói trong câu chuyện "chú Dê đen"
"À ta nhớ ra rồi - ha ha - ở đoạn đường này họ hàng nhà Dê thường hay
qua lại Đi liền với ngôn ngữ là cử chỉ - điệu bộ - nét mặt nó đóng vai trò hết sức
quan trọng làm nổi bật tính cách nhân vật tạo nên sự sinh động - hấp dẫn của vởkịch
Ví dụ: Đoạn Dê đen đi tìm Dê trắng: Mặt lo âu, hốt hoảng - điệu bộ vừa đi
vừa chạy - ngó nghiêng tìm kiếm - giọng nói to - nhanh thể hiện sự lo lắng: "Dê
trắng ơi! bạn ở đâu - các bạn ơi, các bạn có thấy bạn Dê trắng của tôi không?"
Ví dụ: Đoạn lão địa chủ trong câu chuyện: "Cây tre trăm đốt" bị dính vàocây tre: Mặt méo xệch, thở hổn hển, hai tay chắp vái - chân quỳ gối - giọng hốthoảng van xin
Đối với cách di chuyển của các nhân vật trên sân khấu, giáo viên cũng cầnchú ý để hướng dẫn trẻ - các nhân vật khi xuất hiện thì không nên đứng lâu mộtchỗ phải phối hợp với ngôn ngữ - cử chỉ điệu bộ sao cho hợp lý, các nhân vậtkhi giao tiếp với nhau phải luôn vận động - đổi chỗ cho nhau hoặc chuyển vị tríkhác Khi giao tiếp phải nhìn vào mặt nhau có người nói người nghe - khôngcướp lời nhau - thường xuyên giao lưu với khán giả
Ví dụ Truyện “Tích chu”