1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện kĩ năng, tư duy cho học sinh giỏi lớp 9 thông qua cách nhận dạng và giải các bài toán khó về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng của qui luật phân li độc lập

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 83,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN ĐỊNHTRƯỜNG THCS LÊ ĐÌNH KIÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI “RÈN LUYỆN KĨ NĂNG, TƯ DUY CHO HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÔNG QUA CÁCH NHẬN DẠNG VÀ GIẢI CÁC BÀI T

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN ĐỊNH

TRƯỜNG THCS LÊ ĐÌNH KIÊN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

“RÈN LUYỆN KĨ NĂNG, TƯ DUY CHO HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÔNG QUA CÁCH NHẬN DẠNG VÀ GIẢI CÁC BÀI TOÁN KHÓ VỀ TỰ PHÂN

2 CẶP TÍNH TRẠNG CỦA QUI LUẬT PHÂN LI ĐÔC LẬP ”

Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhung

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Đình Kiên, huyện Yên Định, Tỉnh Thanh Hóa.

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh học

YÊN ĐỊNH NĂM HỌC 2020 - 2021

Trang 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

1.5 Điểm mới của sáng kiến

111222

2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

163

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

3.1 Kết luận

3.2 Đề xuất

171717

1 MỞ ĐẦU

Trang 3

1.1 Lí do chọn đề tài

Môn Sinh học trong trường THCS là môn khoa học tự nhiên có ý nghĩa và vịtrí quan trọng đối với việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục đã được Nhànước xác định, giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản cần thiết về thếgiới thực vật, động vật và về con người làm cơ sở bước đầu cho sự hình thành thếgiới quan khoa học, giáo dục lòng yêu thiên nhiên, đất nước và có niềm tin vàokhoa học tự nhiên

Trong chương trình Sinh học lớp 9, đề cập tới một phần kiến thức mới, đó làphần “Di truyền và Biến dị” Di truyền học là một lĩnh vực mũi nhọn của thời đạiphát triển khoa học kĩ thuật hiện nay, được phát huy mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vựccủa sản xuất và đời sống Nhiều học sinh lớp 9 sau khi đã tốt nghiệp THCS và họclên THPT không thể không nắm được những kiến thức cơ bản nhất về di truyềnhọc Đây là một vấn đề khó và tương đối trừu tượng, đòi hỏi kiến thức của thầyphải sâu rộng và có nhiều kinh nghiệm truyền thụ về lí thuyết cũng như bài tập thìkhả năng tiếp thu kiến thức và vận dụng của học sinh mới có kết quả Việc giảiquyết các bài tập di truyền là một yêu cầu rất quan trọng, không thể thiếu đượctrong chương trình Sinh học lớp 9 nhất là trong nội dung ôn thi hóc sinh giỏikhông thể thiếu được mảng kiến thức này cũng như nội dung liên quan đến việchọc môn Sinh học lớp 11, 12 cấp THPT

Trong quá trình dạy học môn Sinh học lớp 9, tôi nhận thấy một trong số cácdạng bài tập khó đối với học sinh là dạng bài tập phần Di truyền, cụ thể là về laihai cặp tính trạng của Menđen và nhất là những dạng bài tập về tự thụ phấn vàgiao phấn Mặc dù thời gian dành cho chương “ Các thí nghiệm của Menđen” có 6tiết nhưng chủ yếu là cung cấp kiến thức về lý thuyết, và chỉ có một tiết bài tậpchương Do đó, học sinh vẫn chưa nắm rõ được hết các dạng bài tập và còn gặpkhó khăn khi gặp phải các dạng bài tập này Nhằm giúp học sinh có cơ hội hiểusâu hơn và nâng cao kỹ năng làm bài tập phần Di truyền học và chinh phục đượcđiểm tối đa trong đề thi học sinh giỏi, đồng thời rèn thói quen tự học và thái độyêu thích môn Sinh học Vì vậy tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài:

“Rèn luyện kĩ năng, tư duy cho học sinh giỏi lớp 9 thông qua cách nhận dạng và giải các bài toán khó về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng của qui luật phân li độc lập”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Để giảng dạy bộ môn Sinh học phần Di truyền học đạt kết quả tốt hơn, giúp

học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, có cơ sở để giải bài tập từ đơn giản đến phứctạp một cách nhanh chóng và chính xác từ đó phát huy được vai trò tích cực, chủđộng, sáng tạo của mình Ngoài ra giúp học sinh tư duy nhanh các bài toán Sinh

Trang 4

học, các bài tập quy luật di truyền nói chung cũng như các bài tập tự thụ phấn 2cặp tính trạng nói riêng.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Các bài toán khó về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng của qui luật di truyền phân

li độc lập ở nội dung sinh học lớp 9 THCS

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu, giáo trình về phương pháp dạy học Sinh học, các tàiliệu có liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm

Nghiên cứu và hệ thống các kiến thức cơ bản trong giải toán hình học ở bậcTHCS Cụ thể là các tài liệu rất thiết thực đối với học sinh phổ thông cơ sở như:

- Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 9

- Sách bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên

- Sách bồi dưỡng chuyên sinh vào lớp 10

1.4.2 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến các đồng nghiệp có chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong quátrình xây dựng, hoàn thiện sáng kiến kinh nghiệm

1.4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệp sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của sáng kiếnkinh nghiệm

1.5 Điểm mới của sáng kiến

So với những sáng kiến tôi đã từng nghiên cứu thì đề tài vẫn xoay quanh vềnội dung qui luật di truyền một cặp tính trạng và 2 cặp tính trạng, nhưng chỉ dừnglại ở những dạng bài đơn giản Nhưng lượng kiến thức trong đề thi học sinh giỏihuyện, tỉnh những năm gần đây thì những đề tài tôi đã nghiên cứu chỉ là nền tảngcho những dạng khó.Vì vậy trong đề tài này tôi chỉ tập trung vào dạng bài khó tựthụ phấn 2 cặp tính trạng

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trong quá trình dạy học trên cơ sở các nội dung lí thuyết đã học và cácbài tập cụ thể giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng được các nội dungcủa lí thuyết vào các dạng bài tập khác nhau có sử dụng phần lí thuyết đã họcđồng thời suy luận ngược để tìm ra các bước cần thiết để giải bài toán khó.Trong chương trình chính khóa thì hầu như sách giáo khoa, sách bài tập sinhlớp 9 không đưa các bài tập khó vì gây cho học sinh rất nhiều khó khăn khi tiếpcận Nhưng loại bài tập này lại giúp phát triển rất tốt về tư duy, khả năng tổngquát hóa, trừu tượng cho học sinh khá - giỏi, các em sẽ có cách học sâu hơn,cách nhìn rộng hơn và bao quát hơn

Trang 5

Trong đề tài này tôi đã nghiên cứu, tổng hợp và chọn ra một số bài tập tiêubiểu để làm ví dụ, đưa ra những phương pháp, gợi ý, cách giải và đưa ra các bàitập để học sinh rễ hiểu, có thể làm được và có định hướng và phát triển cho việcgiải các loại bài tập khó hơn ở 2, 3 cặp tính trạng.

Mặt khác khi học sinh tiếp cận xong các dạng khó này thì đối với tất cả cácdạng về bài tập thuộc qui luật di truyền học sinh có thể chinh phục được gần nhưtuyệt đối và có thể đó sẽ là mảng mà các em kiến thức làm các em tự tin nhất trong

đề thi học sinh giỏi

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.

2.2.1 Đối với học sinh

Đây là phần kiến thức khó tiếp cận với đa số học sinh nói chung và học sinhkhá giỏi nói riêng vì thế các em thấy ngại học khi các thầy cô đề cập tới những bàitập loại này, nhiều học sinh không biết phải bắt đầu từ đâu để tìm lời giải và đềuthấy khó khăn không có phương pháp giải cụ thể và nhiều khi không giải đượctrọn vẹn các bài tập này trong các đề thi

2.2.2 Đối với giáo viên

Đây là vấn đề gây nhiều khó khăn cho các thầy cô vì không biết nói thế nàocho học sinh hiểu các yêu cầu có tính trừu tượng, không thể hướng dẫn học sinh tưduy để tìm lời giải cũng không biết nên xuất phát từ đâu Nhiều thầy cô cũng chưachú trọng đến việc hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo chohọc sinh khá giỏi mà chỉ dạy một cách dập khuôn, chưa thực sự đào sâu suy nghĩ

về cách làm mà còn dạy theo kiểu chỉ ra đáp số đúng, nhưng chưa thực sự kíchthích được khả năng tư duy sáng tạo của học sinh, chưa tạo động lực để các em cócảm giác chinh phục được các bài tập khó Một số thầy cô năng lực còn hạn chếnhưng chưa chịu khó tìm tòi học hỏi, ngại thay đổi bản thân và chưa thực sự tâmhuyết với nghề, áp lực về thời gian và lượng kiến thức cần dạy cũng là mộtnguyên nhân khiến thầy cô không thể thực hiện được

2.3 CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

Trước tình hình thực tế như trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu cùng với kinhnghiệm giảng dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn sinh cấp huyện, cấp tỉnhnhiều năm của mình để hệ thống lại một số bài tập tiêu biểu làm ví dụ nhằm giúphọc sinh có định hướng tốt đồng thời tiếp cận dễ dàng hơn với loại bài tập này Dophần kiến thức này chủ yếu dành cho học sinh giỏi nên tôi đã hướng dẫn học sinhhọc ở chuyên đề các qui luật di truyền trong một mục phần bài tập khó chỉ dànhcho đối tượng học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh

Thực tế dạng tự thụ phấn 2 cặp học sinh đã làm quen từ sau khi học xongbài lai 2 cặp tính trạng nhưng học sinh chỉ mới làm quen với dạng dễ khi cho P tự

Trang 6

thụ phấn nhưng kiểu gen của P chỉ có một loại kiểu gen (tỉ lện kiểu gen của P là100%) Vì vậy kết quả thu được ở thế hệ sau sẽ là 100%; 3:1; 9:3:3:1 Khi bài toáncho P tự thụ phấn nếu có nhiều kiểu gen với tỉ lệ khác nhau thì học sinh thườngchưa có kĩ năng tư duy để giải quyết dạng bài toán này.

Vì vậy để đơn giản hóa cho học sinh dễ hiểu khi dạy dạng này tôi vẫn phândạng thành các dạng bài toán thuận, bài toán nghịch rồi đưa ra phương pháp giảiriêng cho từng dạng Sau khi học sinh có hướng giải quyết thuần thục cho từngdạng tôi sẽ hướng dẫn để học sinh rèn thêm kĩ năng, tư duy sáng tạo nhằm giảinhanh các bài toán một cách chính xác nhất trong thời gian ngắn nhất có thể

Do đó đề tài nghiên cứu của tôi sẽ lần lượt giải quyết các yêu cầu trêngiúp hình thành và rèn luyện cho học sinh đầy đủ các kỹ năng giải bài tập, giúp các em

tư duy sáng tạo và hoàn thành bài thi một cách nhanh và hiệu quả nhất

* Các bước giải quyết lần lượt là:

- Nhận dạng và phương pháp giải các bài toán thuận về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng

- Nhận dạng và phương pháp giải các bài toán nghịch về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng

- Áp dụng các thủ thuật để tư duy và giải nhanh các bài toán khó

- Một số bài tập tham khảo

* Cách tiến hành từng bước giải quyết để rèn kĩ năng tư duy của học sinh hiệuquả bên cạnh đưa ra cách nhận dạng, phương pháp giải chung, bài tập giải mẫutôi thường hướng học sinh rút ra những kết luận để rèn luyện kĩ năng tư duynhằm xử lí nhanh các bài toán Vì vậy trong quá trình dạy tôi làm theo từngmục cụ thể như sau:

2.3.1 Nhận dạng và phương pháp giải các bài toán thuận về tự thụ phấn 2 cặp tính trạng khi P có nhiều kiểu gen

a Đặc điểm nhận dạng bài toán thuận

Từ kiểu gen hoặc kiểu hình của P khi cho cơ thể có 2 cặp gen tự thụ phấntìm kiểu gen, kiểu hình của F1

Nhưng dạng bài tâp khó về 2 cặp gen thì P không phải có một kiểu gen mà

P thường có từ 2 kiểu gen trở lên đồng nghĩa với việc tỉ lệ kiểu gen của P sẽ kháctỉ lệ 100%

b Phương pháp giải:

* Bước 1: Xác định được tỉ lệ kiểu gen của P (nhiều bài không cần bước này)

* Bước 2: Từ tỉ lệ kiểu gen của P viết các phép lai tự thụ phấn.

* Bước 3: Xác định tỉ lệ kiểu gen, tỉ lệ kiểu hình ở F1, hoặc giải quyết các yêu cầu

khác của bài toán

c Bài tập giải mẫu

Bài tập 1: Đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa năm 2020-2021

Trang 7

Thế hệ xuất phát (P) của một loài thực vật có tỉ lệ các kiểu gen: 0,2AAbb:0,5AaBb: 0,3aaBB tự thụ phấn Cho biết mỗi gen quy định một tính trạng, alentrội là trội hoàn toàn Ở thế hệ F1, số cá thể có kiểu hình trội ít nhất về một tínhtrạng chiếm tỉ lệ bao nhiêu?

Hướng dẫn giải

* Bước 1: Xác định được tỉ lệ kiểu gen của P (nhiều đề không cần bước này)

-Theo bài ra:Tỉ lệ kiểu gen của P là:

0,2AAbb: 0,5AaBb: 0,3aaBB

-Như đã nói ở phương pháp giải chung bài này đề bài đã cho sẵn tỉ lệ kiểu gen của

P nên không cần tìm tỉ lệ kiểu gen của P mà chỉ cần viết lại tỉ lệ kiểu gen của P

* Bước 2: Từ tỉ lệ kiểu gen của P viết các phép lai tự thụ phấn.

Khi P tự thụ phấn có các trường hợp sau:

+ P: 0,2 (AAbb x AAbb) → F1: 0,2 AAbb

+ P: 0,3 (aaBB x aaBB) → F1: 0,3 aaBB

+ P: 0,5 (AaBb x AaBb) → F1: 0,5 [(0,75A-: 0,25 aa) (0,75B-: 0,25 bb)]

= 0,28125 A-B- : 0,09375 A-bb: 0,09375 aaB-: 0,03125 aabb

* Bước 3: Xác định tỉ lệ kiểu gen, tỉ lệ kiểu hình ở thế hệ F1của các phép lai, hoặc

giải quyết các yêu cầu khác của bài toán

Số cá thể có kiểu hình trội ít nhất về một tính trạng chiếm tỉ lệ:

A-bb + aaB- + A-B- + A-bb = 0,2+0.3+0,2812 +0,09375 + 0,09375 + 0,9687

Bài tập 2: (Đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa năm 2020-2021)

Ở một loài thực vật, alen A qui định thân cao trội hoàn toàn so với alen aqui định thân thấp, alen B qui định hoa màu đỏ trội hoàn toàn so với alen b quiđịnh hoa màu trắng Biết các gen phân li độc lập với nhau và không có đột biếnxảy ra Cho 3 cây thân thấp, hoa đỏ (P) tự thụ phấn, thu được F1 Theo lý thuyết

có thể xác định được những tỉ lệ kiểu hình ở F1 như thế nào?

Hướng dẫn giải

* Bước 1: Xác định được tỉ lệ kiểu gen của P

- Ở bài này đề bài chưa cho tỉ lệ kiểu gen của P mà chỉ mới cho kiểu hình của P,dựa vào kiểu hình có thể suy ra tỉ lệ kiểu gen của P

- Cho 3 cây P tự thụ phấn xảy ra các trường hợp sau:

+TH1: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBB

+TH2: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBb

+TH3: 1 cây có kiểu gen aaBB, 2 cây có kiểu gen aaBb

+TH4: 2 cây có kiểu gen aaBB, 1 cây có kiểu gen aaBb

* Bước 2: Từ tỉ lệ kiểu gen ở P viết các phép lai tự thụ phấn

- Khi P tự thụ phấn có các trường hợp sau:

+TH1: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBB → P: aaBBx aaBB (có một phép lai)+TH2: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBb → P: aaBbx aaBb(có một phép lai)

Trang 8

+TH3: 1 cây có kiểu gen aaBB, 2 cây có kiểu gen aaBb → có 2 phép lai

+TH1: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBB

=>F1:100% aaBB (thân thấp, hoa đỏ)

+ TH2: Cả 3 cây P đều có kiểu gen: aaBb

=> F1: 3/4aaB-(thân thấp, hoa đỏ): 1/4 aabb (thân thấp, hoa trắng)

+TH3: 1 cây có kiểu gen aaBB, 2 cây có kiểu gen aaBb

=> F1: 10/12aaB- (thân thấp, hoa đỏ): 2/12 aabb (thân thấp, hoa trắng)

+ TH4: 2 cây có kiểu gen aaBB, 1 cây có kiểu gen aaBb

=>F1: 11/12aaB- (thân thấp, hoa đỏ): 1/12 aabb (thân thấp, hoa trắng)

* Chú ý:

Để học hình định hình được các bước giải nên trong đề tài tôi trình bày chitiết từng bước nhưng trong thực tế khi giải dạng bài tập này để không mất thờigian nhiều thì trong khi trình bày bài không cần tách riêng từng bước như trên Mà

có thể làm gộp bước1, 2 và 3 làm đồng thời, vì dạng bài này không thiên về viết

sơ đồ lai mà chỉ yêu cầu tìm ra các phép lai và kết quả của phép lai

d Rèn kĩ năng, tư duy thông qua dạng bài toán thuận

Kĩ năng để giải các bài toán nói chung cũng như các bài toán về sinh họcnói riêng ở mức độ dưới khá thì chưa yêu cầu cao về cách tư duy Nhưng đối vớinhững bài tập khó sau nhiều bài giải học sinh có thể tìm ra được qui luật giải đểgiải nhanh và không bị nhầm thì cần phải có sự hướng dẫn của các thầy, cô giáo

có nhiều kinh nghiệm Trải qua nhiều năm ôn luyện học sinh giỏi tỉnh tôi nhậnthấy rằng có những dạng cơ bản giáo viên có thể hướng dẫn học sinh rút ra nộidung cốt lõi của từng dạng để từ đó có thể phát triển các dạng bài toán khó với 2mục tiêu vừa rèn luyện kĩ năng để các em giải thuần thục vừa giúp các em tư duynhanh để các em có thể làm chủ được kiến thức khó để vào phòng thi các em sẽvận dụng được hết các kĩ năng đã rèn luyện để tư duy một bài toán mới và khóhơn những bài toán đã được học Sự thành công không nhất thiết cứ phải đượcđiểm và giải cao mà theo tôi sự thành công trong quá trình ôn luyện học sinh giỏicủa người giáo viên trong quá trình dạy học là các em sẽ dựa vào những kiến thức

đã được học để làm chủ tư duy xử lí những kiến thức mới và khó hơn khi khôngcần sự hướng dẫn của thầy cô bên cạnh Vì trong phòng thi là lúc các em tư duyđộc lập không còn sự phụ thuộc vào sách vở, bạn bè và thầy cô

Trang 9

d.1 Kĩ năng 1: Xử lí linh hoạt tỉ lệ kiểu gen của P

- Dạng bài tập tự phấn hay giao phấn trước khi thực hiện các phép lai cần phảithực hiện 2 nguyên tắc:

+Nguyên tắc 1: Đổi tỉ lệ kiểu gen của P có tổng kiểu gen = 100% = 1.( Nếu đề bàichưa có tỉ lệ kiểu gen của P bằng 1)

+Nguyên tắc 2: Đổi tỉ lệ kiểu gen của P có thể để ở dạng phân số hay số thậpphân

- Sau đây tôi sẽ phân tích 2 bài tập giải mẫu ở trên để thấy bài toán nào thì để phân

số, bài toán nào thì để số thập phân sao cho phù hợp

*Trượng hợp 1: Để tỉ lệ kiểu gen của P ở dạng số thập phân

Ở bài tập 1 dạng thuận khi biết tỉ lệ kiểu gen của P ở dạng số thập phânnhiều em khi viết lại tỉ lệ kiểu gen của P thường học sinh sẽ vận dụng những kiếnthức về tự thụ phấn ở một cặp tính trạng rất máy móc chuyển thành dạng phân sốP: 0,2AAbb: 0,5AaBb: 0,3aaBB = 2/10Aabb : 3/10AaBb : 5/10aaBB sau đó mớithực hiện phép lai

Học sinh chuyển theo cách này thì vẫn đúng nhưng khi chuyển sang phân số

để thực hiện nhân thì phân số lớn, thời gian viết rất mất thời gian.Vì vậy với mức

độ đề như nhiều năm gần đây nếu học sinh không xử lí nhanh thì sẽ không đủ thờigian làm hết các câu khác trong đề

Do đó khi dạy dạng này ngoài mục tiêu hướng dẫn các em phương pháp giảitôi thường hướng dẫn học sinh các kĩ năng, tư duy nhanh tùy tựng dạng toán Vớibài này học sinh không cần đổi sang phân số mà để nguyên số thập phân và các

em thực hiện các phép nhân bình thường

Vì vậy với bài tập 1 học sinh chỉ cần viết lại tỉ lệ kiểu gen của P là: 0,2AAbb:0,5AaBb: 0,3aaBB và thực hiện các phép lai tự thụ phấn bình thường

Nếu học sinh

không tư duy linh hoạt mà tư duy theo lối mòn các em sẽ

chuyển từ số thập phân sang phân số rồi mới thực hiện phép nhân thì bài toán đangtừ đơn giản lại làm phức tạp hơn Do đó những học sinh có cách tư duy như vậy sẽkhông giải quyết nhanh được nhiều câu hỏi trong vòng một thời gian ngắn

*Trượng hợp 2: Để tỉ lệ kiểu gen của P ở dạng phân số

Ở bài tập 2 dạng thuận khi biết tỉ lệ kiểu gen của P lại là dạng số thập phânvới tỉ số nhỏ có thể nhẩm được và tỉ lệ này tử không chia hết cho mẫu khi chia sẽ

ra số thập phân xấp xỉ vì vậy để phân số sẽ thuận lợi hơn so với đổi sang số thậpphân Ví dụ như trường hợp3,4 ở bài tập 2:

-TH3: 1 cây có kiểu gen aaBB, 2 cây có kiểu gen aaBb → có 2 phép lai

Trang 10

*Trượng hợp 3: Qui tất cả các dạng đều về phân số và số thập phân

Trường hợp đề bài cho dạng số lượng, tỉ lệ % hoặc các số nguyên thì họcsinh cần chuyển đổi các số liệu đó sang tỉ lệ phân số hoặc tỉ lệ số thập phân tùytừng bài Nhưng phải tuân thủ 2 nguyên tắc sau:

+ Nguyên tắc 1: phải chuyển về tổng kiểu gen của P là 100%

+ Nguyên tắc 2: phải đưa kiểu gen về số thập phân hoặc phân số sao cho phù hợpvới từng bài

+Ví dụ 3: Ở một loài thực vật biết A: cao, a: thấp; B: hoa đỏ, b: hoa trắng, tỉ lệ cáccây thuần chủng:1 cây thân thấp, hoa đỏ : 2 cây cao, trắng Khi cho các cây đó tựthụ phấn thì thu được kết quả F1 như thế nào?

- Phân tích 3 ví dụ trên để thấy để làm nhanh dạng tự thụ phấn 2 cặp khó kông chỉbiêt cách làm mà còn phải tư duy nhanh để xử lí các bài chính xác và mất ít thờigian nhất:

+ Ở ví dụ 1: Tổng số cây đem lai có 500 cây trong đó 200 cây thân cao, hoa đỏ(AABb) và 300 cây cao, đỏ(AaBb) đều chia hết cho 500 nên có thể chuyển thànhtỉ lệ sau = 0,4AABb: 0,6 AaBb Bài này có thể tối giản thành tỉ lệ: 0,2AABb: 0,3AaBb nhưng khi tối giản thì sẽ vi phạm nguyên tắc 1tức là tổng kiểu gen khôngphải là 1 Nên khi chuyển sang số thập phân không được rút gọn

+ Ở ví dụ 2: bài toán cho số cây tự thụ phấn là % = 25% aaBB : 75% AAbb =0,25:0,75 Ở bài này chuyển đổi % sang số thập phân luôn và giữ nguyên số thậpphân để tổng kiểu gen luôn bằng 1

+ Ở ví dụ 3: tỉ lệ đang ở số nguyên bài này chỉ chuyển thành phân số vì chuyểnsang số thập phân tỉ lệ sẽ xấp xỉ Nên tỉ lệ kiểu gen của P là: 1/3thấp, đỏ (aaBB):2/3 cao, trắng(AAbb)

*Nhận xét:

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w