1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các tiết luyện nói cho học sinh trong dạy học ngữ văn lớp 6 ở trường THCS kỳ tân, huyện bá thước

23 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 246 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC TIẾT LUYỆN NÓI CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS KỲ TÂN, HUYỆN BÁ THƯỚC Người thực hiện: Nguyễn Thị Thuyế

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC TIẾT LUYỆN NÓI CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 6 Ở

TRƯỜNG THCS KỲ TÂN, HUYỆN BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thuyết Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Kỳ Tân SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HOÁ, NĂM 2021

Trang 2

1 MỞ ĐẦU Trang 1 1.1 Lí do chọn đề tài Trang 1 1.2 Mục đích nghiên cứu Trang 2 1.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu Trang 2-3

2.1 Cơ sở lí luận Trang 3-5 2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN Trang 5-6 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả các tiết

luyện nói cho học sinh trong dạy học Ngữ văn lớp 6 ở trường

THCS Kỳ Tân

Trang 6-16

2.4 Hiệu quả của SKNN Trang 16-18

3.1 Kết luận Trang 18-19 3.2 Kiến nghị Trang 19

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Theo điều 2 Luật giáo dục (14/6/2019) “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [1] Do đó mà trong quá

trình giảng dạy hiện nay, việc sử dụng các phương pháp dạy học đòi hỏi ngườithầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản, hìnhthành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúng đắn

Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học cóvai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho học sinh Trong thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ởtrường THCS Kỳ Tân, tôi nhận thấy rằng học sinh lớp 6 mới chuyển từ môitrường tiểu học lên môi trường THCS đang còn rất bỡ ngỡ về cách học trongmột môi trường mới, chính vì lí do đó, nhiều học sinh chưa biết cách học, cáchđọc, còn mắc lỗi về đọc và nói

Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Có lẽ không phảingẫu nhiên mà “ học nói" được xếp vào vị trí thứ hai của câu nói Ca dao lại cócâu: “Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Điều nàycho thấy nói là một kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp hằng ngày Nói khôngchỉ đơn thuần là hoạt động phát ra thành tiếng, thành lời mà quan trọng là làmthế nào để lời nói đó truyền đạt được lượng thông tin đến với người nghe mộtcách chính xác, dễ hiểu đồng thời phải thể hiện được tư tưởng, tình cảm củangười nói

“Nói là hoạt động phát ra thành tiếng, thành lời để diễn đạt một nội dungnhất định trong giao tiếp” Như vậy nói là hình thức giao tiếp tự nhiên của conngười Kể chuyện bằng ngôn ngữ nói giữa người này với người khác cũng làhình thức giao tiếp tự nhiên hằng ngày, bất cứ ai cũng thực hiện trong đời sốngcủa họ Trong cuộc sống ta vẫn bắt gặp những cuộc trò chuyện rất vui vẻ, cởi

mở, thân tình giữa các em học sinh ta thấy chúng thật sinh động và tự nhiên biếtbao Vậy thì cần gì phải học nói, luyện nói trong nhà trường ?

Luyện nói trong nhà trường là để nói trong một môi trường giao tiếp khác,môi trường xã hội, tập thể công chúng Đứng trước môi trường này nhiều họcsinh thường ngày vốn biết ăn nói sinh động bỗng trở nên lúng túng, ngượngnghịu Luyện nói trong nhà trường là nói theo những chủ đề, vấn đề không quenthuộc trong đời sống hằng ngày, lại yêu cầu nói mạch lạc, liên kết, không đượctuỳ tiện, do đó cần phải luyện tập trong môi trường giao tiếp xã hội Luyện nóitốt sẽ giúp người học có được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống xãhội Qua những tiết luyện nói, những học sinh có khả năng giao tiếp tốt có cơ

Trang 4

hội để rèn luyện thêm khả năng nói năng của mình, đồng thời tạo cơ hội đểnhững học sinh rụt rè, nhút nhát dần làm quen với cách nói, cách trình bày mộtvấn đề trước đám đông giúp các em trở thành một chủ thể tự tin khi giao tiếptrong cuộc sống

Nếu như nghe và đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhậnthông tin thì nói và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyềnđạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường Tuy nhiên cầnphải khẳng định rằng năng lực viết, ngôn ngữ viết cố nhiên là quan trọng, song

đó là ngôn ngữ trừu tượng, vì chỉ có những chữ viết không có các yếu tố khác bổtrợ; còn ngôn ngữ nói là phương tiện giao tiếp có âm thanh, có ngữ điệu sốngđộng, có sức truyền cảm trực tiếp giữa người nói và người nghe Do vậy nóinăng tốt sẽ đem lại những thuận lợi, là một trong những yếu tố tạo nên thànhcông cho con người trong đời sống xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng nói cho họcsinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong quá trình giảng dạy tôi luôntrăn trở làm thế nào để nâng cao hiệu quả của các tiết luyện nói trong các giờNgữ văn, đồng thời hướng đến đích cao hơn là giúp học sinh có khả năng nóitốt, truyền đạt những suy nghĩ của mình trước mọi người một cách rõ ràng,truyền cảm trong cuộc sống hàng ngày để các em thực sự trở thành những chủthể giao tiếp có văn hoá Vì thế năm học 2020-2021 tôi đã tiến hành thực hiện đề

tài "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các tiết luyện nói cho học sinh trong

dạy học Ngữ văn lớp 6 ở trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước" nhằm

nâng cao chất lượng dạy học tiết luyện nói nói riêng và dạy học Ngữ văn 6 nóichung

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của tôi khi viết sáng kiến này là nhằm tìm ra những giải phápchung nhất và hiệu quả nhất trong việc dạy học phân môn văn trong chươngtrình Ngữ văn 6 Đặc biệt chú trọng luyện nói cho học sinh trong dạy học Ngữvăn để rèn luyện khả năng giao tiếp cho học sinh trong cuộc sống hàng ngày mộtcách có hiệu quả và nâng cao chất lượng học sinh mũi nhọn, học sinh đại trà ởmôn phụ trách dạy học

Thông qua sáng kiến này tôi đưa ra một số kinh nghiệm và sáng kiếntrong việc tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp nhằm giúp giáo viên thuận lợitrong việc thực hiện các kiến thức để dạy tiết Luyện nói một cách tốt nhất, giúpcác em giao tiếp tốt hơn Đồng thời tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn trongquá trình công tác ở đơn vị

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến là: Một số giải pháp nâng cao hiệuquả các tiết luyện nói cho học sinh để nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn 6, đápứng được mục tiêu của giáo dục hiện nay

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 5

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiêncứu tài liệu hướng dẫn về phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực Tham khảoSGK, SGV, sách chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Ngữ văn

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát thái độ, mức độ hứng thú họctập của học sinh

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm dạy và học: Tích lũy các giờ dạytrên lớp, dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ góp ý

- Phương pháp thực nghiệm: Lựa chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng;

áp dụng dạy thử nghiệm trên lớp

- Phương pháp phân tích: So sánh chất lượng giờ dạy, lực học, mức độtích cực của học sinh khi chưa áp dụng SKKN với khi đã áp dụng SKKN

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông trong dạy và học” [2]

Để đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay thì yêu cầu về nội dung,phương pháp giáo dục phải được đặt lên hàng đầu Theo điều 7 Luật giáo dục có

nêu: “Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với

sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học” “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[1].

Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tập trung thiết kếcác hoạt động sao cho học sinh có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thứcmới dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy Bởi một đặc điểm cơ bản của hoạtđộng học là người học hướng vào việc cải biến chính mình, nếu người họckhông chủ động, tích cực, tự giác, không có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lựccủa người thầy chỉ đem lại những kết quả hạn chế

Trang 6

Ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mụctiêu của trường THCS Nó có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho học sinh; giúp các em có năng lực thực hành và năng lực sửdụng Tiếng việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp; tạo điều kiện để các emhoà nhập một cách chủ động với xã hội, tự tin trước cuộc sống.

Dạy học Ngữ văn không chỉ cung cấp tri thức cho các em mà còn rèn

luyện cho các em bốn kỹ năng quan trọng, đó là: Nghe, nói, đọc, viết Tuy nhiênthực tế cho thấy kỹ năng này chưa phát triển đồng đều ở học sinh, nhiều em thựchiện kỹ năng nghe, nói rất tốt nhưng kỹ năng đọc, viết lại hạn chế; nhiều emthực hiện kỹ năng nghe, đọc, viết tương đối thành thục nhưng kỹ năng nói lạikhông lưu loát Điều này thật đáng lo ngại, nhất là trong xã hội hội nhập nhưhiện nay thì kỹ năng nói, ứng xử, giao tiếp cần thiết hơn bao giờ hết

Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những chủ trương quantrọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông Hiện naycác nước trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp làmột trong những căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà

cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết cho người học

Chương trình sách giáo khoa hiện hành đặc biệt nhấn mạnh: “Trọng tâmcủa việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năngnghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩnăng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận vàbình giá tác phẩm văn học”

Như vậy, muốn rèn luyện cho học sinh kĩ năng nói thì không có cách nàotốt hơn là thông qua tiết luyện nói Qua tiết luyện nói giáo viên luyện cho họcsinh biết vận dụng từ ngữ và các quy tắc ngữ pháp cơ bản đã học để nói đúng,biết diễn đạt ý tưởng chính xác, rõ ràng, trong sáng Hơn nữa giáo viên còn rènluyện cho học sinh các mặt cụ thể: lời nói phải rõ nghĩa, rõ ý; giọng nói phải vừanghe vừa cố gắng truyền cảm và tư thế nói phải mạnh dạn, tự tin giúp cho bàinói có sức thuyết phục hơn để sau mỗi bài học các em cảm nhận được cái hay,cái đẹp của Tiếng Việt từ đó thêm yêu mến tự hào về tiếng nói của dân tộc Tiết

" Luyện nói" là một tiết học vô cùng quan trọng đối với học sinh THCS, nhất làhọc sinh lớp 6- lớp đầu cấp Rèn luyện kĩ năng nói cho hoc sinh là một việc làmkhó nhưng dù khó đến đâu yêu cầu rèn luyện kĩ năng nói cũng phải luôn luônđược coi trọng

Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng trong chương trình Ngữ văn THCS

là giúp cho học sinh có được kĩ năng nghe, nói, đọc, viết một cách thành thạo.Thực hiện tốt trọng tâm đề ra cũng chính là thay đổi cách dạy học theo xu hướngquốc tế hoá, góp phần làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao

Nhiệm vụ của môn Ngữ văn trong nhà trường là hướng tới rèn luyện cho

học sinh bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết (Theo quan điểm xây dựng chương trình Ngữ văn phổ thông mới vẫn lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự

Trang 7

nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học ) Nền tảng về tiếng Việt và

văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản;phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Huyện Bá Thước là một trong hơn 60 huyện nghèo nhất của cả nước.

Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đóphải kể đến giáo dục mà chất lượng của môn Ngữ văn là điều đáng được quantâm Chất lượng bộ môn Ngữ văn trên địa bàn toàn huyện Bá Thước nói chung

và ở trường THCS Kỳ Tân nói riêng tương đối thấp

Bên cạnh đó, do xu thế lập thân lập nghiệp, rất ít những trường chuyênnghiệp tuyển sinh môn Ngữ văn Không những thế văn học là một môn họcmang tính nghệ thuật nên ngoài việc nắm vững kiến thức đòi hỏi phải có năngkhiếu mới có thể học tốt được Vì vậy không phải ai cũng có thể học tốt mônNgữ văn Những điều đó dẫn đến một hệ quả đáng buồn là ngay từ bậc THCSrất nhiều học sinh có tâm lí ngại học văn và không thích học văn, nhiều phụhuynh cũng đón nhận môn Ngữ văn không mấy mặn mà và họ thường hướngcho con em mình học các môn tự nhiên Tất cả những điều đó vô hình chung họ

đã phủ nhận vai trò rất lớn của môn Ngữ văn trong cuộc sống, đặc biệt là trongviệc rèn luyện kỹ năng nghe, nói

Mặt khác giáo viên dạy Ngữ văn của huyện được tham gia nhiều chuyên

đề để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ nhưng chưa có chuyên đề nào về kỹ năng

tổ chức dạy học tiết luyện nói nên rất nhiều giáo viên còn lúng túng.

Tập làm văn là phân môn mang tính thực hành - tổng hợp nên nó đượcnhận định là phân môn khó so với phần Văn và Tiếng việt Chính vì vậy mà rấtnhiều giáo viên không thực sự hào hứng khi dạy Tập làm văn, đặc biệt là tiết

Luyện nói vì một tiết luyện nói 45 phút giáo viên đã giành thời gian cho việc

thảo luận 15 phút nhưng học sinh vẫn không thể nói được, giáo viên kéo dài thờigian cho việc thảo luận thêm, cuối cùng chỉ có một vài em học khá, giỏi xungphong trình bày, gọi được 2 - 3 em học sinh lên nói trước tập thể thì đã hết thờigian tiết học gây tâm lí chán nản cho giáo viên và tiết dạy không đạt được mụctiêu

Do địa phương là một vùng miền núi khó khăn, phần lớn học sinh thuộc

hộ nghèo nên việc quan tâm đến học hành của con em còn hạn chế, ý thức họccủa các em chưa cao nên việc soạn bài, chuẩn bị bài mới chỉ có ở một số ít họcsinh

Là một vùng miền núi dân cư thưa thớt, xa các khu trung tâm, xa cáctrường bạn, ít có điều kiện giao lưu nên kỹ năng giao tiếp, nói trước đám đôngcủa các em còn hạn chế

100% học sinh là người dân tộc (dân tộc Thái, Mường), các em có thóiquen nói bằng tiếng dân tộc khi đến trường nên việc phát âm tiếng phổ thông ởmột bộ phận học sinh còn chưa chuẩn Vì vậy yêu cầu các em trình bày vấn đề

trong tiết Luyện nói là một điều rất khó khăn Học sinh phần lớn cũng không

Trang 8

thích các tiết học này, các em có tâm lí ngại và sợ các thầy cô gọi lên bảng trìnhbày vấn đề trước tập thể trong khi kỹ năng nói của mình lại rất hạn chế.

Mặt khác do vốn từ vựng ít nên để chuẩn bị cho các tiết luyện nói các em

thường làm sẵn hoặc chép ở các bài văn mẫu ở nhà rồi học thuộc sau đó lênbảng đọc thuộc lòng Vì thế không đáp ứng được yêu cầu của bài luyện nói

Trong thực tế, quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 6 ở trường THCS

Kỳ Tân năm học 2017- 2018, 2018-2019, trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu

Học sinh

ít hứng thú

Học sinh không hứng thú

sự hứng thú, tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh từ đó đem lại hiệu quả caotrong học tập Tổ chức dạy học theo phương thức và phương pháp này sẽ giúphọc sinh chủ động, tích cực sáng tạo trong hoạt động, bước đầu đã đem lại hiệuquả tốt

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả các tiết luyện nói cho học sinh trong dạy học Ngữ văn lớp 6 ở trường THCS Kỳ Tân:

Với những trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng của những giờ luyệnnói bản thân tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn cải tiến phương pháp dạy học Sau đâytôi xin trình bày những giải pháp cụ thể đã thực hiện như sau:

Trang 9

2.3.1 Giải pháp 1: Trước hết giáo viên phải nắm vững hệ thống các

tiết Luyện nói

Nắm vững hệ thống các tiết luyện nói trong phân môn Tập làm văn của

môn Ngữ văn ở THCS có vai trò quan trọng trong việc liên hệ qua lại giữa cáctiết, củng cố thêm kiến thức cho học sinh, hệ thống đó bao gồm:

* Lớp 6:

- Tiết 29: Luyện nói kể chuyện

- Tiết 43: Luyện nói kể chuyện

- Tiết 83, 84: Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xéttrong văn miêu tả

- Tiết 96: Luyện nói về văn miêu tả

* Lớp 7:

- Tiết 40: Luyện nói: Văn biểu cảm về sự vật, con người

- Tiết 55, 56: Luyện nói: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học

- Tiết 112: Luyện nói: Bài văn giải thích một vấn đề

- Tiết 65: Luyện nói: Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm

- Tiết 140: Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

2.3.2 Giải pháp 2: Cần hiểu rõ tầm quan trọng của tiết Luyện nói

Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy, chúng ta phải hiểu rằngđây là tiết giúp học sinh “Luyện nói” thì học sinh phải được nói Phải thực sựluyện trên lớp cho từng em được nói Giáo viên phải nêu thật rõ yêu cầu luyệnnói, nếu cần ghi tóm tắt lên bảng Khi học sinh trình bày, giáo viên phải nắm bắt

để nhận xét đúng khả năng, thành tích đạt được của các em trong quá trình trìnhbày một vấn đề bằng miệng Đồng thời giáo viên hướng cho học sinh đi đúngyêu cầu, nói chứ không phải là đọc Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ nóithể hiện rõ nhất là ngữ điệu trong sử dụng thành văn Ngoài ra, các em còn biếtthể hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc thái tình cảm, thái độ khi trình bày

Giáo viên cần hiểu rõ tiết luyện nói có vai trò cực kỳ quan trọng trong

việc giúp các em học sinh có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng việtnhư một công cụ để tư duy và giao tiếp, tạo điều kiện để các em hoà nhập mộtcách chủ động với xã hội, tự tin trước cuộc sống Bản thân tôi đã rất tâm huyếtvới tiết dạy và có sự chuẩn bị, nghiên cứu kỹ giáo án trước khi dạy Đặc biệt, tôi

đã chuẩn bị bài nói mẫu cho học sinh trước khi các em trình bày trước tập thể vàcho các em xem các đoạn video các bài nói mẫu có chất lượng để các em họctập

Trang 10

2.3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà một cách

cụ thể.

Để một giờ luyện nói đạt kết quả tốt việc đầu tiên giáo viên phải hướngdẫn học sinh chuẩn bị bài một cách cụ thể, chu đáo Thông thường trong một tiếtluyện nói sách giáo khoa thường đưa ra một số vấn đề do vậy ngay từ khi lên kếhoạch bài học giáo viên phải lựa chọn đề nào cho phù hợp với đối tượng họcsinh ở từng vùng, miền Sau khi đã có sự lựa chọn hợp lí giáo viên hướng dẫnhọc sinh chuẩn bị có thể cả lớp cùng chuẩn bị một đề cũng có thể phân côngtheo từng tổ, nhóm chuẩn bị theo từng đề để học sinh chuẩn bị kĩ lưỡng tránhtình trạng ỷ lại, đối phó

Ví dụ:

Trong Tiết 29 - Luyện nói kể chuyện, sách giáo khoa đưa ra bốn đề:

- Tự giới thiệu về bản thân

- Giới thiệu người bạn mà em quý mến

- Kể về gia đình mình

- Kể về một ngày hoạt động của mình

Cả bốn đề này đều yêu cầu học sinh nói về những vấn đề rất gần gũi trongcuộc sống của các em vì thế giáo viên nên chọn cả bốn đề và phân công cụ thểnhư sau:

- Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn

- Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử

- Kể về một chuyến ra thành phố

Với bốn đề này không phải đối tượng học sinh nào cũng có thể trình bàytốt được bởi có những tình huống chưa từng xảy ra với các em do vậy giáo viênphải lựa chọn tuỳ theo điều kiện, đặc điểm của đối tượng học sinh nơi mìnhcông tác để lựa chọn đề bài phù hợp

Sau khi đã giao việc cụ thể cho học sinh, giáo viên yêu cầu các em về nhàchuẩn bị lập dàn ý chi tiết (lưu ý không viết thành bài hoàn chỉnh ) và tập nói ởnhà theo đề cương đã chuẩn bị

2.3.4 Giải pháp 4: Rèn luyện nội dung, hình thức, tác phong nói cho học sinh, nêu yêu cầu của bài luyện nói.

* Rèn luyện nội dung, hình thức, tác phong nói cho học sinh:

Trang 11

- Rèn luyện nội dung nói:

+ Học sinh nói phải có nội dung, nói có suy nghĩ, điều chỉnh kịp thời nộidung để đáp ứng yêu cầu người nghe

+ Nói theo đề cương mà nội dung đã chuẩn bị

+ Nói tập trung vào vấn đề, chọn dẫn chứng tiêu biểu

+ Điều chỉnh nội dung nói: nhấn lại điều người nghe chưa hiểu, lướtnhững điều người nghe đã rõ

+ Kết hợp đúng mực nội dung và ngữ điệu, không để cho ngữ điệu lấn átnội dung

- Rèn luyện hình thức và tác phong nói:

+ Nắm vững đề tài cần nói, huy động nhanh vốn từ đúng, từ hay, đặt câuđúng và hay, cách dựng đoạn

+ Bài nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, tránh dùng từ ngữ địaphương

+ Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói

+ Có thái độ khiêm tốn, chân tình với người nghe, quán xuyến theo dõithái độ người nghe

+Tạo cho các em có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ

Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, giáo viên cần thiết lập tốt mối quan hệ,giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên điều này là cơ sởgiúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ học sau Giáoviên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng là cơ sở đểcác em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ, tên,tuổi, sở thích,…Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vậythì giáo viên đã góp phần nào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phátbiểu miệng

*Phải nêu yêu cầu của bài luyện nói:

Trước khi luyện nói tôi đã nêu những yêu cầu của một bài luyện nói chohọc sinh nắm được để có thể nói một cách tốt nhất Lâu nay nhiều giáo viên chỉ

có thói quen nêu yêu cầu với người nói mà quên mất một đối tượng góp phầnkhông nhỏ cho hiệu quả của bài nói chính là người nghe Vì vậy tôi đã nêu rõyêu cầu cho cả người nói và người nghe, cụ thể là:

- Đối với người nói:

Nói trước tập thể nên ban đầu và khi kết thúc bài nói cần có màn chào hỏi:Chẳng hạn, trước khi trình bày vấn đề tôi đã hướng dẫn các em nên có câu chào

hỏi: Kính thưa thầy giáo(cô giáo) và các bạn! Sau đây em xin trình bày vấn đề Khi kết thúc bài nói cũng cần phải tôn trọng người nghe và có thể kết thúc bài nói bằng những câu sau: Em đã trình bày xong bài nói của mình, cảm ơn thầy (cô) và các bạn đã chú ý lắng nghe! Kính mong thầy (cô) và các bạn góp ý, nhận xét để em có thể rút kinh nghiệm cho bài nói sau Em xin cảm ơn! Theo tác

giả Dale Carnegie trong cuốn “Nghệ thuật nói trước công chúng” thì “Người nói

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w