Với môn Ngữ văn thì về kiến thức văn học không chỉ riêng nội dung ý nghĩa sâu sắc từ mỗi bài học hay một khái niệm phân môn Văn, Tiếng Việt hay Tập làm văn nào đó mà học sinh cần phải có
Trang 1KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý,VIẾT BÀI ,SỬA BÀI
TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH THCS.
1 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với nhịp độ phát triển nhanh chóng trên toàn cầu đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đóng góp tạo ra những con người thông minh, sang tạo, nắm vững tri thức khoa học, có óc thực tiễn, kĩ năng và tư duy hành động Như vậy, yêu cầu của thời đại đòi hỏi quá trình dạy học trong nhà trường phải có chất lượng và hiệu quả thật sự Dạy học có chất lượng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học của nhà trường
Dạy học (dạy và học) là truyền thụ và tiếp thu kiến thức hay, là một quá trình dẫn dắt học sinh tự tìm ra những tri thức mới? Nếu dạy học chỉ là một quá trình truyền thụ và tiếp thụ thì nhân vật trung tâm trong nhà trường Ngược lại, nếu dạy học là một quá trình dẫn dắt để học sinh tự tìm ra tri thức mới thì cả người dạy lẫn người học đều là những nhân vật trung tâm của quá trình, trong đó người học giữ vai trò chủ động và người dạy giữ vai trò chủ đạo
Ở trường phổ thông, học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập của mình dưới sự chỉ đạo của thầy và với những điều kiện trợ giúp đắc lực như sách giáo khoa, phòng thí nghiệm, thư viện, câu lạc bộ…
Khối lượng kiến thức của loài người hiện nay là vô cùng to lớn, vì vậy nếu không có kế hoạch tổ chức và sự điều khiển của thầy thì học sinh sẽ không tự điều khiển được quá trình lĩnh hội của mình Tuy vậy, học sinh vẫn có một khoảng rộng rãi để tự tìm hiểu thêm những vấn đề mà mình quan tâm
Tóm lại, người học không thụ động mà chủ động tiếp nhận tri thức do thầy truyền dạy và tự điều khiển quá trình tiếp thu tri thức từ các nguồn khác theo sự hướng dẫn của thầy và theo ý riêng của mình
Dạy học là một quá trình phức tạp, đòi hỏi người đóng vai trò chủ đạo phải
có kiến thức và kỹ năng về phương pháp
Sau đây chỉ là một số điểm rất cốt yếu có liên quan thường xuyên đến công việc dạy học phân môn Tập làm văn ở trường phổ thông trung học sơ sở
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với môn Ngữ văn thì về kiến thức văn học không chỉ riêng nội dung ý nghĩa sâu sắc từ mỗi bài học hay một khái niệm phân môn Văn, Tiếng Việt hay Tập làm văn nào đó mà học sinh cần phải có được những kĩ năng quý để làm một bài văn một cách thành thạo Mặt khác văn học từ lâu đã là một bộ môn khoa học xã hội hay, song lại là một môn học khiến nhiều học sinh ngại học, ngại viết
Giúp học sinh biết cách xác định đúng yêu cầu của đề bài để xây dựng hướng làm bài
Trang 2Hướng dẫn học sinh cách tìm ý cho bài văn
Rèn kỹ năng diễn đạt cho học sinh
Rèn kỹ năng dựng đoạn trong
Luyện lời văn, liên kết đoạn cho bài văn
Tháo gỡ những vướng mắc, xoá đi mặc cảm ngại học văn của một số học sinh Giúp cho các em học sinh có kỹ năng xây dựng cách làm một bài văn tạo cho các em dần dần có tình yêu với môn văn học
Tạo cho học sinh THCS tự phát huy tính tích cực chủ động, tìm tòi của mình trong khi tìm hiểu tác phẩm văn học nói chung và làm bài văn nói riêng
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Kĩ năng tìm hiểu đề,lập dàn ý,viết bài Tập làm văn
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp khảo sát thống kê
- Phương pháp trao đổi thực nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN.
Khi làm một bài Tập làm văn nói chung, học sinh phải huy động tổng hợp những kiến thức Tiếng Việt để viết đúng chính tả (TLV viết), phát âm đúng (TLV miệng), dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản và phải cấu trúc văn bản cho mạch lạc nhằm đạt được yêu cầu của
đề bài
Những kiến thức và kỹ năng Ngữ văn, khi làm bài Tập làm văn học sinh còn phải huy động năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng tư duy lôgich của mình để nội dung bài làm có được những nét tinh tế, những vẻ sinh động và một phong cách riêng Đối với một bài Tập làm văn có đề tài văn học (như phát biểu cảm nghĩ về nhân vật văn học, phân tích tác phẩm), học sinh phải vận dụng những kiến thức về văn học trong chương trình, không phải để “trả bài”, tức đọc lại bài có tính chất thuộc lòng mà để trình bày bằng ngôn từ những cảm nghĩ, những hiểu biết của mình về vấn đề được nêu ra
Mỗi bài tập làm văn có thể coi là một “Tác phẩm nhỏ” của học sinh Tác phẩm nhỏ ấy phản ánh khá rõ ràng nhận thức, tình cảm của học sinh đối với các vấn đề văn học và cuộc sống Nó cũng phản ánh khá rõ ràng lực tư duy, trình độ ngôn ngữ và một phần cá tính của học sinh
Đổi mới về phương pháp dạy và học, đổi mới cả sách giáo khoa học sinh, tên sách là Ngữ văn, nghĩa là nó gộp lại cả 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn
Trang 3Chúng ta đã biết môn Tập làm văn là một môn khó, khô khan, muôn hình vạn trạng vì các em học sinh không đủ vốn từ để làm một bài Tập làm văn, không biết là nó bắt đầu từ đâu và kết thúc như thế nào, không nắm được đặc trưng của bộ môn và từng thể loại
Phân môn Tập làm văn không phải là một phân môn riêng biệt, mà nó là kết quả của sự học tập của các em qua các giờ Tiếng Việt và Văn học Tiếng Việt dạy cho các em cách sử dụng từ ngữ, cách viết câu, sử dụng biện pháp tu từ Văn học giúp cho các em có đủ khả năng hiểu, phân tích một vấn đề, cảm nhận cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm, rèn cho các em biết cảm xúc rung động trước cái đẹp của ngôn từ Vì vậy, phân môn Tập làm văn có tốt hay không là cách sử dụng từ ngữ, cách viết câu, phân đoạn Nội dung có cảm xúc hay không là kết quả học tập và rèn luyện của hai phân môn Văn học và Tiếng Việt
Lý thuyết làm văn là những cơ sở ý thức của các thao tác thực hành làm văn Nội dung lý thuyết làm văn trong SGK.TLV được ghi lại vắn tắt trong một
số dòng Nhận xét chung và Ghi nhớ Đó là cây gậy“chỉ đường” giúp học sinh đi đúng hướng trong quy trình thao tác làm văn Trong quá trình hướng dẫn thực hành cho học sinh, giáo viên cũng phải thường xuyên nhắc lại những điều ghi nhớ về lý thuyết ấy để củng cố định hướng kỹ năng cho họ
Thực hành là tính chất chủ yếu của phân môn TLV Thực hành ngay từ
những phút đầu của bài học để đi tới những điều ghi nhớ về lý thuyết Thực
hành để hình thành kỹ năng, để luyện thành kỹ xảo làm bài Thực hành TLV để chuẩn bị cho học sinh có thể tự mình tạo được những loại văn bản cần thiết trong cuộc sống Vì những lý do trên, khâu thực hành phải được đặc biệt chú ý trong quy trình dạy học phân môn TLV
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.
Năm 2005 luật giáo dục (điều 5) quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Vì vậy việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo Làm cho “học” là quá trình tìm tòi khám phá phát hiện, khai thác và xử lý thông tin Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh hình thành các năng lực tự học, sáng tạo bổ ích cho bản thân học sinh và sự phát triển của xã hội
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân học" vậy
mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn Thực trạng này lâu nay đã được báo động Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong nhiều năm giảng dạy ở trường THCS Hoằng Hải, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ thể là:
Trang 4- Học sinh thờ ơ với mônVăn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ
ơ với việc học văn ở các trường phổ thông Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn Các em còn phải dành thời gian học các môn khác Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng
ba môn:Toán, Lý, Hóa
- Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các
bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các
bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất
2.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI VẤN ĐỀ.
I LÝ THUYẾT TẬP LÀM VĂN
Các kiến thức lý thuyết TLV đều được hình thành và củng cố qua thực hành tìm hỉểu, giải đáp bài tập, cho nên có thể nói rằng SGK.TLV là sách bài tập có mục đích rèn luyện các thao tác khác nhau của kỹ năng làm văn
Với hệ thống bài tập có gợi ý cách giải, học sinh sẽ được hình thành khái niệm về thể loại, xây dựng được quy trình thao tác tạo văn bản đối với mỗi thể loại khác nhau Sẽ hoàn toàn hợp lý nếu ta đưa ra nguyên tắc chung của việc dạy
lý thuyếtTLV là: từ bài mẫu, qua bài tập phân tích bài mẫu mà hình thành kiến thức TLV, mỗi kiến thức lý thuyết phải được minh hoạ sinh động bằng một bài tập mẫu
1 Lý thuyết từ bài tập phân tích mẫu
Các bài tập phân tích mẫu thuộc loại bài tập quan sát (thao tác quy nạp để hình thành khái niệm), tái nhận và tái hiện (để củng cố khái niệm).
Ví dụ: Ngữ văn 6: Sau khi giới thiệu nguyên văn hai đoạn văn Vượt thác ( Võ
Quảng) và Sông nước Cà Mau ( Đoàn Giỏi), Luỹ làng ( Ngô Văn Phú)
học sinh được yêu cầu trả lời:
a) Trong hai đoạn văn trên, các tác giả đã tả các cảnh gì và tả theo những trình tự nào? Cách dùng từ ngữ có gì đặc biệt?
b) Em có nhận xét gì về cách quan sát tập trung vào nét chủ yếu của cảnh, cách chọn các chi tiết đặc sắc, cách liên tưởng, cảm nghĩ của tác giả?
Trang 5c) Hãy tìm hiểu cách sắp xếp ý của hai đoạn văn tả cảnh trên
Ngữ văn 6: Có một em giới thiệu Sơn Tinh, Thủy Tinh như sau:
“Một hôm có hai chàng trai đến xin cưới Mỵ Nương Một chàng có nhiều tài lạ Anh ta vẫy tay về phía nào thì phía đó nổi cồn bãi Đó là Sơn Tinh Chàng trai thứ hai là Thuỷ Tinh Thuỷ Tinh gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về Vua Hùng không biết nên gả cho ai”
So với văn bản, đoạn giới thiệu nhân vật trên có nhược điểm gì?
Lý thuyết trong kiểu bài mô tả được hình thành sau khi bài tập mẫu trên được phân tích xong Như thế là từ những dấu hiệu quan sát được mà hình thành khái niệm
Quá trình hình thành lý thuyết từ những bài tập phân tích mẫu đòi hỏi thầy phải không nôn nóng diễn giảng mà phải kiên nhẫn gợi ý để trò quan sát, tìm tòi Thực chất cách dạy này vẫn chỉ là suy diễn (vì khái niệm đã có và là cái đích để tiến tới), nhưng một tiết học làm như thể quy nạp như thế, nếu làm khéo sẽ tạo được nhiều hứng thú cho trẻ Một bài ôn tập thì ngược lại, giáo viên có thể trình bày hoặc cho học sinh trình bày theo lối suy diễn, vì các khái niệm đã được học
cả rồi, suy diễn sẽ tiết kiệm thời gian hơn quy nạp
Để giúp học sinh nắm vững các thuật ngữ TLV, giáo viên cần tìm tòi nhiều biện pháp để khắc sâu những dấu hiệu bản chất nhất của các khái niệm
Có thể so sánh những dấu hiệu khác nhau của hai khái niệm gần nhau
Ví dụ:
“thuật” = kể lại
- Thuật lại theo nội dung một truyện
viết hoặc kể
- Người thuật lại là người được đọc,
được nghe kể
- Thuật lại những sự việc có thật trong cuộc sống
- Người thuật lại là người được trực tiếp chứng kiến
Có thể dùng biểu đồ để mô hình hoá, một hệ thống lập luận trong một bài
văn nghị luận chẳng hạn:
Luận đề Dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn
Luận
điểm
Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại
Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước
lòng nồng nàn yêu nước
Khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi nồng nàn yêu nước
2 Lý thuyết từ bài tập tạo mẫu
Trang 6Những bài tập tạo mẫu dùng để củng cố lý thuyết TLV là những bài tập thuộc loại tái tạo và sáng tạo
Bài tập tái tạo văn bản là những bài tập biến đổi hoặc sửa chữa một văn abrn để nó phù hợp với yêu cầu giáo tiếp khác với lúc nó được sản sinh hoặc để hoàn thiện nó
Ví dụ: Ngữ văn 6 Biến đổi để tả tự do sau đây thành đề có giới hạn: Hãy
tả quang cảnh sân trường em
Ngữ văn 7: Xây dựng dàn ý đại cương phần Thân bài cho đề bài
“Giải thích câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” như sau:
Phần II – Thân bài
Nhớ kẻ trồng cây ta phải làm gì?
Câu tục ngữ trên có nghĩa như thế nào?
Tại sao ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây?
Em thấy các đề mục sắp xếp đã hợp lý chưa? Vì sao? Nếu chưa hợp lý, em hãy sắp xếp lại
Qua việc giải quyết TLV lớp 6, học sinh được củng cố lý thuyết thế nào là
“tả một cách tự do” và “tả trong giới hạn” trong lý thuyết về “tập tìm hiểu đề” vừa tiếp nhận từ việc quan sát các đề bài
Bài tập sáng tạo văn bản là những bài tập yêu cầu học sinh phải không dựa vào một văn bản đã có nào mà tự mình tạo một văn bản hay một bước nào đó trong quy trình tạo văn bản (như lập dàn ý cho một đề TLV, khai triển một luận điểm nào đó trong một dàn ý, viết mở bài cho một bài TLV…)
Những bài tập sáng tạo đúng nghĩa là sáng tạo như thế không dễ gì làm được với một ít thời gian ngay trên lớp, nên không mấy khi dùng được để hình thành khái niệm, mà chủ yếu là dùng để thực hành ứng dụng, củng cố lý thuyết Những bài tập sáng tạo văn bản thường được làm ở nhà (để thực hành), ở lớp (để kiểm tra), và trong ghoạt động ngoại khoá (báo tường, nội san, liên hoan văn nghệ …)
Ví dụ: Ngữ văn 6: Cánh đồng lúa quê em hứa hẹn được mùa lớn Hãy tả cánh đồng đó vào một buổi sáng đẹp trời
Ngữ văn 6: Hãy kể một chuyến du lịch trong thế giới cổ tích, gặp gỡ với nhân vật cổ tích mà em yêu mến nhất
II KỸ NĂNG THỰC HÀNH TẬP LÀM VĂN
Trong nền giáo dục hiện nay của nước ta, việc đánh giá kết quả học tập
Văn học và Tiếng Việt ở bậc PTCS (và cả ở THPT) vẫn chủ yếu dựa vào điểm số các bài Tập làm văn viết Vì vậy, dạy thực hành các kỹ năng Tập làm văn chiếm
một vị trí quan trọng và quyết định trong kết quả cuối cùng của việc dạy học
Tập làm văn cho học sinh.
Để viết một văn bản, người viết cần nắm vững các bước:
- Định hướng viết
Trang 7- Lập đề cương (dàn bài).
- Thực hiện đề cương (lấp đầy văn bản)
- Kiểm tra lại văn bản đã hình thành
Ứng với các bước nói trên đối với một văn bản nói chung, các bước phải thực hiện đối với một bài TLV của học sinh là:
- Tìm hiểu đề để xác định yêu cầu của đề.
- Lập dàn ý để có chương trình, kế hoạch viết.
- Viết bài theo dàn ý, thực hiện theo yêu cầu của đề.
- Kiểm tra lại bài viết.
1 Dạy tìm hiểu đề
Kỹ năng tìm hiểu đề là kỹ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài TLV Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi chưa kiên nhẫn, học sinh thường không chú ý đúng mức, không dành thời gian thoả đáng để tìm hiểu đề theo chỉ dẫn của thầy Vì vậy, thao tác này luôn luôn phải lặp lại với từng bài TLV, dù cùng một kiểu bài hay khác kiểu bài
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, giáo viên có thể thực hiện một số biện pháp
sư phạm thông thường: yêu cầu đọc đề nhiều lần (thậm chí có thể yêu cầu đọc thuộc lòng), dùng bút (chì hoặc màu) kẻ dưới những từ ngữ cần chú ý, chép lại
đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu…
Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu phải đáp ứng khi viết bài:
- Kiểu bài: Trần thuật hay tường thuật, chứng minh hay giải thích, biên bản hay báo cáo…?
Kiểu bài yêu cầu là đơn (chỉ yêu cầu một kiểu bài) hay là ghép (yêu cầu tổng hợp hai kiểu bài, như viết thư để tường thuật một sự kiện, phân tích tác phẩm để chứng minh một nhận định về tác phẩm ấy…) ?
Lời yêu cầu về kiểu bài theo lối trực tiếp – nói thẳng (như: hãy giải thích…) hay gián tiếp – nói vòng (như: Em hiểu câu nói trên như thế nào? ) ?
- Đề bài và giới hạn: Học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ của đề để
xác định những giới hạn của đề (giới hạn về phạm vi nội dung đề cập, về phạm
vi các dẫn chứng được sử dụng hạơc về phạm vi ứng dụng cần liên hệ) Chỉ một
sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài có thể dẫn người làm bài từ
tản mạn, xa đề đến lạc đề.
Học sinh thường không có thói quen tìm hiểu đề một cách tỉ mỉ Yêu cầu chính của đề thường được nhận ra, song các em thường không thấy được một số yêu cầu được nêu ra bằng những thành phần phụ ở cuối một câu dài Những yêu cầu được nêu bằng quá ít từ ngữ cũng có khi bị bỏ qua
Cần cho học sinh thấy một cách hết sức nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng
nhất, nghiêm trọng nhất của một bài TLV Một bài văn lạc đề, dù có những đoạn
văn hay đến đâu, cũng có thể được nhận điểm không (0).
Trang 8- Những yêu cầu đặc biệt: Ngoài hai điều chính nói trên cần phải xác định
trong bước Tìm hiểu đề, cần hướng dẫn học sinh phải chú ý xem đề có yêu cầu
đặc biệt gì nữa không Những yêu cầu ấy có thể được ghi trong đề hoặc không, như yêu cầu về thời gian làm bài, về khổ giấy và độ dài của bài làm, về bút mực…
Có đề (TLV viết làm tại lớp) nêu ra những yêu cầu hoàn toàn ngoài khả năng giải quyết của một lớp hay một cá nhân học sinh nào đó, như yêu cầu học sinh thành thị tả cảnh núi, cảnh biển; yêu cầu nói về mẹ mình đối với một học sinh mồ côi mẹ từ nhỏ lại cũng có những đề ra (trong một kỳ thi toàn huyện, toàn tỉnh chẳng hạn) không nằm trong hạn chế chương trình ôn tập…
Đối với những trường hợp như trên, giáo viên giám sát buổi làm bài cần động viên học sinh cố gắng, thà “hư cấu” để thực hiện yêu cầu của đề chứ không nên khước từ việc làm bài, nộp giấy trắng hoặc ghi nộp những câu nói nguyên nhân không làm được bài của mình
2 Dạy kỹ năng lập dàn ý
Dàn ý (còn gọi là dàn bài, đề cương) được lập ra trên cơ sở đã xác định được yêu cầu của đề bài Đó là thao tác và văn bản ghi lại cách sắp xếp các ý trong bài viết Với dàn ý, người viết chủ động thiết kế mạch lạc của bài làm để đạt hiệu quả cao nhất trong việc giải quyết yêu cầu của đề
Vai trò của bước lập dàn ý quan trọng như vậy, nhưng phần lớn học sinh đều ngại làm Một mặt là vì các em chưa được rèn luyện thói quen làm việc có
kế hoạch Mặt khác, nội dung yêu cầu của đề bài thường đã được chuẩn bị kỹ nên các em thuộc bài thì viết ra làu làu, các em không học bài thì thường chỉ ngồi cắn bút, làm hay không làm dàn ý cũng vậy
Giáo viên cần kiên quyết yêu cầu học sinh phải làm dàn ý để cho các em rèn luyện thói quen làm việc có chương trình, có tính kế hoạch và luyện tập các thao tác tư duy và ngôn ngữ thông thường trong giao tiếp văn hoá: miêu tả, trần thuật, kể chuyện, nghị luận…
Ngoài hình thức dàn ý chung nhất với ba phần cổ điển, lại có những hình thức dàn ý riêng phù hợp với mỗi kiểu bài Ở bậc tiểu học, học sinh đã khá quen với ba phần mở bài, thân bài và kết bài nên ở các lớp THCS, việc dạy làm dàn ý được thực hiện ngay với từng kiểu bài
Kỹ năng lập dàn ý cho từng kiểu bài được hình thành và củng cố qua hai thao tác: phân tích bài mẫu để ghi ra dàn ý và tìm hiểu, phân tích đề để lập dàn
ý Thao tác sau (lập dàn ý từ kết quả tìm hiểu đề) phải được luyện nhiều lần Dàn ý lập xong, không nhất thiết là phải làm tiếp bước viết bài Có thể sử dụng những dàn ý đó để tiến hành những tiết TLV nói Trong trường hợp đó, học sinh nên được khuyến khích làm những dàn ý chi tiết Thường thì học sinh không đủ thì giờ làm dàn ý chi tiết để viết bài TLV tại lớp Một dàn ý đại cương cũng có thể làm được chức năng mạch lạc của nó cho bài viết
Trang 9Để củng cố kỹ năng dàn ý, nên cho làm những bài tập biến đổi (lập lại trật
tự của các ý, các đoạn bị xáo trộn) Trong thao tác biến đổi trật tự các ý, có tiền giả định một kỹ năng liên kết câu, liên kết đoạn Phương tiện liên kết và các phép liên kết có thể chưa được ghi rõ trong dàn ý những không thể viết thiếu trong bài TLV Cần chú ý là nhờ các phương tiện và các phép liên kết ấy mà không phải các ý trong bài văn chỉ có một trật tự hợp lý duy nhất
Từ thực tế trong kỷ năng dàn ý nói trên, cũng cần lưu ý rằng trong quá trình thực hiện bài viết, không phải bao giờ dàn ý cũng được giữ nguyên Theo mạch cảm hứng và suy tưởng, bài văn có khi được thêm ý này, bớt ý khác; mạch lạc đôi khi cũng khác đi theo chiều hướng mới Và nếu người viết không dựa vào dàn ý sửa đổi để kiểm tra lại định nghĩa của mạch văn thì cũng rất dễ có nguy cơ lạc đề
Trong kỹ năng lập dàn ý, phải yêu cầu học sinh không được cẩu thả trong việc trình bày Dàn ý là một bước làm nháp trong quá trình làm bài Nhưng phải
cứ là nháp là được phép viết ngoáy, viết tắt vô tội vạ Nếu không đọc được mình
đã viết gì trong dàn ý thì làm sao còn dùng được cái dàn ý ấy để theo dõi và hiệu chỉnh tiến trình của bài làm
3 Dạy viết và kiểm tra lại bài viết
Khâu viết bài là khâu chính trong quy trình làm một bài TLV Học sinh thường làm bài không lập dàn ý hoặc có lập dàn ý nhưng khi làm bài thì lại không bám sát, thoát ly hẳn dàn ý, khiến cho việc lập dàn ý trở thành hình thức, đối phó Vì vậy, kỹ năng đầu tiên phải rèn luyện cho học sinh trong khâu viết bài là kỹ năng viết bài theo đúng dàn ý
Khi viết bài, học sinh buộc phải viết từ đầu, từ phần Mở bài chứ không thể viết phần Thân bài hay phần Kết bài trước (như có thể làm trong khi lập dàn ý), nên việc có một dàn ý hoàn chỉnh là hết sức cần thiết để viết bài
Khi đã lập được một dàn ý phản ánh đầy đủ nội dung và mạch lạc của bài viết thì việc viết bài đúng theo dàn ý sẽ được thực hiện chủ động theo một phân phối thời gian chi tiết cho từng phần Viết bài bám sát dàn ý sẽ tránh được sự thiếu ý, tản mạn, lạc đề hoặc thiếu thòi gian làm bài
Trong quá trình viết bài, học sinh vẫn có thể tuỳ mạch cảm hứng và lập luận mà bổ sung hoặc sửa đổi dàn ý đã có, song cần đảm bảo giữ được mạch lạc
và sát đề Những học sinh có khả năng “ứng biến” như vậy là học sinh khá, giỏi Đối với học sinh trung bình, nên động viên các em bám sát dàn ý mà viết, không nên thêm bớt gì để tránh những đoạn văn rời rạc, những bố cục mất cân đối, những bài văn lạc đề
Để tránh bỏ mất khâu Kiểm tra, học sinh cần được luyện kỹ năng phân phối thời gian làm bài, kiên quyết dành cho khâu kiểm tra lại bài viết ít nhất 5 – 10 phút (tuỳ bài ngắn hay dài) Trong khâu này, bài viết cần được xem lại một cách chậm rãi, thận trọng (càng cố gắng khách quan càng tốt) và sửa chữa các lỗi
Trang 10chính tả, ngữ pháp, các lỗi về dẫn chứng (nguyên văn, tác phẩm, tác giả…) Tất nhiên, nếu ngay từ đầu, bài viết đã được chau chuốt từng câu từng lời thì sẽ không còn bao nhiêu lỗi để chữa Dù sao cũng phải nhắc học sinh không được chủ quan để làm tốt khâu kiểm tra và sửa chữa này
III RA ĐỀ TẬP LÀM VĂN
Khi ra đề Tập làm văn, giáo viên thường sử dụng các đề và đáp án cho sẵn trong SGK hoặc sách bài tp tham khảo Nhưng việc ra đề theo kiểu này có thể không phù hợp với trình độ, năng lực cụ thể của đối tượng học sinh Hơn nữa, không phải lúc nào giáo viên cũng có thể sử dụng được những đề ấy cho những yêu cầu giáo dục, giáo dưỡng cụ thể của mình Trong trường hợp ấy giáo viên phải tự mình ra đề
Các đề bài tập làm văn kiểm tra thường kỳ, thi học kỳ, thi tốt nghiệp, thi tuyển… phải khác nhau về những yêu cầu nhất định Tuy khác nhau trong các yêu cầu về đề tài, kiểu bài, phạm vi giớn hạn, phạm vi ứng dụng… nhưng các đề bài tập làm văn nói chung phải đạt được những tính chất sau:
1 Tính tư tưởng
Đề Tập làm văn phải nhằm giáo dục học sinh một điều gì đó, ra một đề miêu tả không phải chỉ cốt cho học sinh miêu tả một cái gì mà quan trọng hơn là phải nhằm giáo dục học sinh cái gì qua việc miêu tả ấy Mục đích giáo dục phải nằm ngay trong đối tượng được lựa chọn miêu tả Ra đề “Tả cảnh trường em” trong khi ngôi trường đang ở tình trạng xuống cấp thảm hại thì chỉ có thể cho thực hành kỹ thuật tả cảnh chứ làm sao giáo dục được cái đẹp và lòng yêu trường cho các em?
Đối với đề văn kể chuyện, tính giáo dục nằm ngay trong cốt truyện: một em
bé nhặt được của rơi đem trả lại người mất, một bạn học sinh nhỏ giúp một người khiếm thị qua đường… Nếu ra đề yêu cầu kể lại một lần phạm khuyết điểm nghiêm trọng chẳng hạn, thì phải yêu cầu nói rõ sự ăn năn hối lỗi…
Một đề văn nghị luận góp phần nâng cao hoặc củng cố những nhận thức đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh thông qua những vấn đề đặt ra để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận Chẳng hạn, để khắc sâu ý thức tôn sư trọng đạo, nên cho học sinh bình luận câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” hơn
là bình luận câu “Học thầy không tày học bạn” Nếu ra đề bình luận một vấn đề không dễ nhận thức được đúng đắn như câu tục ngữ trên thì phần yêu cầu của đề phải nêu rõ hướng nhận thức để học sinh có định hướng làm bài đúng
2 Tính khoa học
Một bài Tập làm văn là một văn bản có thể kiểm tra được nhiều mặt của học sinh: năng lực tư duy, ngôn ngữ, kiến thức văn học, hiểu biết xã hội, nhân cách, năng lực thẩm mĩ… Tính khoa học của đề càng cao thì khả năng khai thác được những mặt trên càng lớn
a) Về nội dung đề tài