Song trên thực tế, kiến thức môn học rất rộng, cấu trúc đề thi cấp tỉnh môn Địa lí của tỉnh Thanh Hóa có nhiều điểm mới với trước đây, mức độ khó tăng dần, đề thi giảm rõ rệt kiến thức p
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỷ qua Những năm gần đây, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh dưới sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên
làm sao đó để “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý trí vươn lên” (1)
Trước nhiệm vụ đặt ra của ngành giáo dục, là một giáo viên địa lí tôi luôn phấn đấu học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, cung cấp cho học sinh những kiến thức địa lí bổ ích Để làm được điều đó tôi đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học mới, chú ý đến cách khai thác triệt để các phương tiện trực quan như bản đồ, tranh ảnh, tập atlat…để phát huy được khả năng tự học và sáng tạo của học sinh
Như chúng ta đã biết trong những năm gần đây công tác ôn luyện học sinh giỏi đang đón nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, của giáo viên
và học sinh ở tất cả các trường Song trên thực tế, kiến thức môn học rất rộng, cấu trúc đề thi cấp tỉnh môn Địa lí của tỉnh Thanh Hóa có nhiều điểm mới với trước đây, mức độ khó tăng dần, đề thi giảm rõ rệt kiến thức phần học thuộc, thay vào đó là các câu hỏi cần sự tư duy, vận dụng và chú ý nhiều vào phần rèn luyện kĩ năng như biểu đồ, sử dụng atlat để làm bài Vì thế việc rèn luyện kĩ năng sử dụng Atlat cho học sinh là yêu cầu vô cùng cần thiết, có thể xem là bắt buộc Tuy nhiên việc hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat làm sao cho hiệu quả khi làm bài thì cũng gặp không ít khó khăn, bởi vì vẫn có nhiều giáo viên chưa chú ý đến atlat, chưa có tài liệu hướng dẫn cụ thể, cũng không có tiết học riêng
mà chủ yếu lồng ghép vào các bài liên quan Từ thực tế đó và qua nhiều năm làm nhiệm vụ ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí cho trường và cho huyện nhà, tôi có nhiều băn khoăn, trăn trở, tích cực tìm hiểu tài liệu nhằm đưa
ra phương pháp sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam một cách hiệu quả nhất, giúp cho học sinh sử dụng atlat một cách thành thạo nhất, để các em xem quyển Atlat như
là một quyển tài liệu, một vật bảo bối khi đi thi học sinh giỏi, tôi vẫn nói với các
em môn học duy nhất được đem tài liệu vào phòng thi chính là môn Địa lí của
chúng ta.Từ cơ sở đó tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh giỏi cách sử dụng và khai thác Atlat Địa lí Việt Nam - Phần tự nhiên” mong là đóng góp một phần kinh nghiệm cho bộ môn Địa lí của tỉnh ta
ngày càng phát triển hơn nữa
1.2 Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến tập trung vào việc hướng dẫn cách sử dụng và cách khai thác Atlat Địa lí Việt Nam nhằm
Nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dạy học cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí của huyện
Đưa ra một số phương pháp khai thác Atlat để giáo viên trong huyện có thể tham khảo để dạy cho học sinh tại trường mình
Trang 2Sáng kiến cũng hướng dẫn cho học sinh giỏi cách làm quen với Atlat (từ việc xem bảng chú giải, cấu trúc atlat đến việc làm quan với các câu hỏi từ mức
độ dễ đến khó….) như vậy giảm áp lực trong việc ghi chép bài quá nhiều, việc học thuộc số liệu một cách khó khăn, từ đó sẽ tạo hứng thú cho học sinh khi học địa lí
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài này vào thực tế dạy học, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí lớp
9 của trường THCS Hợp Thành và đội tuyển học sinh giỏi của huyện mà tôi đang dạy để hướng dẫn cách học Atlat Địa lí Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này tôi lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, thu thập tài liệu
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thiết kế bài dạy là công việc quan trọng của giáo viên trước khi tổ chức hoạt động học tập của học sinh ở trên lớp, bao gồm việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo để xác định mục tiêu dạy học, lựa chọn các kiến thức cơ bản, dự kiến các cách thức tổ chức dạy học và các phương pháp dạy học, phương tiện dạy học thích hợp, xác định hình thức củng cố, vận dụng tri thức đã học vào việc tiếp nhận kiến thức mới hoặc vận dụng vào thực tế
cuộc sống Mục tiêu của giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuốc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2).
Môn học Địa lí cũng như các môn khác trong nhà trường, nó không những cung cấp cho các em kiến thức bộ môn mà còn giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước, để học sinh hiểu hơn về địa lí, giáo viên cần cho học sinh biết và tìm hiểu thêm nhiều kênh thông tin để nâng cao kiến thức môn học, trong dó Atlat Địa lí Việt Nam là một phương tiện vô cùng cần thiết cho học tập đặc biệt là đội tuyển học sinh giỏi Vậy Atlat Địa lí Việt Nam là gì? Có những
nội dung như thế nào “Atlat Địa lí Việt Nam là một dạng bản đồ giáo khoa, bao gồm một tập hợp có hệ thống các bản đồ địa lí được sắp xếp một cách khoa học, phục vụ cho mục đích dạy học Atlat địa lí Việt Nam có tính thống nhất cao về
cơ sở toán học, nội dung và bố cục bản đồ khá phù hợp với chương trình học tập địa lí” (3).
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Việc sử dụng Atlat trong dạy học địa lí là một phương pháp không xa lạ
nhưng còn nhiều khó khăn Qua việc dự giờ thăm lớp hoặc những lần trao đổi
với đồng nghiệp, tôi nhận thấy có nhiều giáo viên còn ngại đổi mới phương
Trang 3pháp vẫn chủ yếu dạy theo phương pháp cũ, học sinh ít được làm việc Phần sử dụng kênh hình còn qua loa, ngại sử dụng bản đồ và rất ít quan tâm đến quyển Atlat, vì thế ngay cả một số giao viên cũng chưa nắm rõ vai trò của Atlat trong việc giảng dạy địa lí, chưa hướng dẫn cho học sinh cách học, hoặc chỉ nói các
em tham khảo trong Atlat, chứ không nói rõ cho các em cần tham khảo nội dung gì…dẫn đến hiệu quả sử dụng rất thấp Một thực tế cho thấy nhiều em là học sinh giỏi của các trường môn Địa lí khi tham gia đội tuyển ngoài huyện vẫn còn rất mơ hồ về Atlat, chỉ xem Atlat là bộ tranh nhiều màu thấy đẹp mắt, vì thế khi tôi ra các câu hỏi liên quan đến Atlat thì các em loay hoay,tỏ ra lúng túng không biết tìm trang nào trong Atlat, hoặc có tìm được đúng trang thì làm bài cũng sơ sài, thiếu dẫn chứng, trong khi đó Atlat có sẵn nhiều kiến thức, thậm chí có những số liệu mà sách giáo khoa chưa cập nhật được Ngay cả bản thân tôi những năm trước đây khi ôn luyện học sinh giỏi cũng chủ yếu hướng dẫn các
em học thuộc lí thuyết, chưa dạy kĩ cho các em phần kiến thức Atlat nên khi đi thi các em thường bị mất điểm về câu hỏi liên quan đến Atlat, đó là một điều rất đáng tiếc và xem đó là một sự lãng phí tài liệu, vì thế kết quả thi không được như mong muốn, tôi xin đưa ra kết quả học sinh giỏi của tôi một số năm trước
để làm kết quả đối chiếu
Bảng tổng hợp kết quả thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh môn Địa lí
Trường THCS Hợp Thành
Nhất Nhì Ba KK Đồng đội
2016 - 2017 0 0 1 4 toàn huyệnXếp thứ 3 Có 2 học sinh tham gianhưng không đạt giải.
2017 - 2018 1 1 3 Xếp thứ 2toàn huyện Có 2 học sinh tham gianhưng không đạt giải.
2018 - 2019 1 1 3 4 Xếp thứ 2toàn huyện Không có học sinh thamgia.
Như vậy từ kết quả thu được ở trên cho thấy số học sinh giỏi cấp huyện của tôi qua các năm tương đối nhiều nhưng số giải nhất, nhì còn ít, đặc biệt số học sinh tham gia thi tỉnh chưa có kết quả, theo số liệu ghi chép của tôi thì các
em chỉ thiếu 0,5 thậm chí có em chỉ thiếu 0,25 điểm là có giải khuyến khích cấp tỉnh, điều này làm cho cả cô và trò đều tiếc nuối Tôi nhận thấy mình cần phải thay đổi phương pháp, thay đổi cách dạy cũng như cách ôn luyện sao cho phù hợp, tôi nghiên cứu kĩ hơn cấu trúc đề thi cấp tỉnh, chú ý đến phần kĩ năng, phát huy sức mạnh của Atlat
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm và giải pháp thực hiện
Để khai thác atlat một cách hiệu quả nhất, phục vụ tốt cho công tác dạy học cũng như ôn luyện hoạc sinh giỏi, theo tôi giáo viên cần
2.3.1 Giáo viên phải tìm hiểu rõ nội dung, hệ thống kí hiệu của Atlat Địa Lí Việt Nam.
- Nội dung chính của Atlat Địa Lí Việt Nam gồm các phần
+ Phần hành chính
Trang 4+ Phần tự nhiên bao gồm các yếu tố (Địa hình, khí hậu, sông ngòi, đất đai, sinh vật, khoáng sản và ba miền tự nhiên)
+ Phần dân cư ( Dân số, dân tộc)
+ Phần kinh tế (Kinh tế chung, các ngành, vùng kinh tế)
- Nội dung cụ thể các trang Atlat Địa lí Việt Nam
Do đề tài tôi chọn chỉ giới hạn ở phần Địa lí tự nhiên Việt Nam nên tôi chỉ phân tích nội dung từ trang Atlat số 3 đến trang 14
Giáo viên sau khi nghiên cứu nắm rõ cấu trúc cũng như nội dung của Atlat thì cần phải truyền đạt lại cho học sinh bằng cách lập sơ đồ tư duy hoặc lập bảng thống kê để các em dễ dàng hình dung về nội dung kiến thức có trong
cuốn Atlat
2.3.2 Các bước hướng dẫn học sinh khai thác Atlat Địa lí Việt Nam
Để học sinh khai thác Atlat đạt hiệu quả cần tiến hành theo quy trình sau, không nên vội vàng bỏ qua một bước nào
* Dạy cho học sinh phải nắm vững cấu trúc Atlat Địa lí Việt Nam
- Cấu trúc toàn bộ Atlat
+ Địa lí hành chính
+ Địa lí tự nhiên
+ Địa lí kinh tế - xã hội
- Cấu trúc từng trang Atlat (nghiên cứu từ trang 3 - trang 14)
Bảng nội dung cơ bản của Atlat trong phần địa lí tự nhiên
1 Hành chính 4 và 5
- Thể hiện toàn bộ lãnh thổ Việt Nam phần đất liền, vùng biển và vùng trời
- Tiếp giáp trên đất liền với Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia
- Tên 63 tỉnh thành, diện tích và dân số cụ thể
- Hình dạng lãnh thổ
2 Hình thể 6 và 7
- Hình dạng lãnh thổ
- Phạm vi cả nước, biển - đảo và các điểm cực
- Hình ảnh của các miền
3 Địa chất
- Địa chất, địa tầng
- Các mỏ khoáng sản chính
- Địa chất biển Đông và các vùng kế cận
4 Khí hậu 9 Đây là một trang Atlat rất phức tạp, bao gồm 7
bản đồ nhỏ có liên quan đến nhau
- Bản đồ khí hậu chung: Bản đồ này thể hiện hai miền với 7 vùng khí hậu đồng thời thể hiện chế độ gió, bão, nhiệt độ và lượng mưa của một số trạm tiêu biểu
- Bản đồ lượng mưa gồm 3 bản đồ nhỏ
+ Lượng mưa trung bình
+ Tổng lượng mưa từ tháng XI- IV
+ Tổng lượng mưa từ tháng V - X
Trang 5- Bản đồ nhiệt độ gồm 3 bản đồ nhỏ
+ Nhiệt độ trung bình năm
+ Nhiệt độ trung bình tháng 1
+ Nhiệt độ trung bình tháng 7
5 Các hệ
thống sông
lớn
10
- Lưu vực 9 hệ thống sông lớn trên cả nước dùng thang màu thể hiện
- Biểu đồ tỉ lệ diện tích lưu vực các hệ thống sông
- Biểu đồ lưu lượng nước trung bình sông Hồng, sông Đà Rằng và sông Mê Kông
6 Các nhóm
và các loại đất
chính
11
- Thể hiện 3 nhóm
+ Đất Feralit + Đất phù sa + Đất khác
- Một số mẫu diện đất điển hình
7 Thực vật và
- Sự phân bố thảm thực vật, động vật
- Các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển
- Sáu khu địa lí động vật của nước ta
8 Các miền
tự nhiên 13 và 14
- Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ
- Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
- Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Trong mỗi bản đồ thể hiện các miền có chứa các yếu tố như địa hình (hướng, độ cao), mạng lưới sông ngòi Ngoài ra còn có các lát cắt địa hình
* Biết đọc bảng chú giải để nắm rõ các kí hiệu
- Chú giải chung cho cả quyển Atlat: Được thể hiện ở trang số 3 và chia làm 4 nhóm
+ Các yếu tố tự nhiên (sông, kênh, đầm lầy…)
+ Các yếu tố công nghiệp (qui mô, phân bố…)
+ Các yếu tố khác (ranh giới, sân bay, cảng biển…)
- Chú giải riêng của từng trang Atlat
Đây là phần kiến thức rất quan trọng để hiểu được nội dung cần thể hiện trong trang bản đồ đó và có thể liên quan đến các trang khác
Ví dụ: Khi đọc trang 9 - Bản đồ khí hậu chúng ta phải đọc được bảng chú giải của trang 9 để phân biệt được kí hiệu thể hiện trên bản đồ về nhiệt độ, lượng mưa, chế độ gió, hướng gió, tần suất bão
* Biết xem trang mục lục - trang 31 để tìm đối tượng cần nghiên cứu một cách nhanh và chính xác
2.3.3 Kĩ thuật sử dụng các trang Atlat
a Căn cứ vào yêu cầu của câu hỏi để xác định số trang Atlat cần dùng
- Có những câu hỏi chỉ cần sử dụng ở một trang Atlat là đủ
Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam, hãy kể tên 9 hệ thống sông lớn ở nước ta?
Ở câu hỏi này thì chỉ cần sử dụng bản đồ “Các hệ thống sông” ở trang 10
- Có những câu hỏi phải sử dụng kết hợp nhiều trang Atlat
Trang 6Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam hãy nhận xét về lượng mưa trung bình năm của nước ta và giải thích?
Đối với dạng câu hỏi này thì đòi hỏi chúng ta phải kết hợp cả “Bản đồ lượng mưa trung bình năm” - trang 9 và “Bản đồ hình thể” - trang 6
b Kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức từ Atlat và kiến thức đã học trong việc trình bày bài làm
Thông thường các câu hỏi thường có dạng: “Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy…?” nếu chúng ta chỉ sử dụng một trong hai cơ sở trên thì bài làm sẽ không đầy đủ, bởi vì:
- Nếu chỉ dựa kiến thức Atlat thì nhiều kiến thức như các số liệu về diện tích, các nguyên nhân hình thành đất đai…sẽ không được đề cập
- Nếu chỉ dựa vào kiến thức đã học thì nhiều kiến thức trong Atlat bị bỏ sót, ví dụ như:
+ Sự phân bố sông ngòi, các hệ thống sông lớn
+ Hướng các dãy núi chính, độ cao của các đỉnh núi
+ Các vùng, miền khí hậu
+ Tần suất và hướng di chuyển của bão…
Do đó cần phải biết phân biệt các loại kiến thức có thể khai thác từ Atlat hoặc từ sách giáo khoa để làm bài đạt hiệu quả
c Bám sát yêu cầu đề bài để trả lời đúng trọng tâm
Khi làm bài học sinh cần đọc kĩ câu hỏi, xác định rõ kiến thức nào cần trình bày hoặc không cần đi sâu phân tích vì không phải là trọng tâm của đề bài, tránh việc trình bày lan man, không đúng trọng tâm, điều đó ảnh hưởng đến thời gian làm bài của các câu khác
Ví dụ: Đề bài yêu cầu “ So sánh đặc điểm địa hình vùng núi Đông Bắc và vùng núi Tây Bắc”? thì học sinh chỉ đi sâu vào so sánh các yếu tố về địa hình (Độ cao, hướng sơn văn) chứ không cần trả lời về nham thạch, sông ngòi hay phong cảnh đẹp của 2 vùng núi này
d Kết hợp phân tích các lát cắt, biểu đồ, số liệu, hình ảnh
Trong mỗi trang Atlat thường có các yếu tố bổ trợ làm rõ nội dung cho trang Atlat hoặc bổ sung nội dung mới, đó chính là các lát cắt, biểu đồ, số liệu, hình ảnh…
Ví dụ: Trình bày đặc điểm địa hình miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ? Thì ngoài việc quan sát trên bản đồ còn cần đi sâu vào phân tích lát cắt “C - D từ biên giới Việt - Trung qua núi Phan xi păng”- trang 13, vì qua đó biết được hướng nghiêng chung và hình thái địa hình của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
2.3.4 Phân loại các dạng bài tập Atlat Địa lí Việt Nam.
a Phân loại theo nội dung
Nội dung trong Atlat là rất đa dạng, để ôn luyện học sinh giỏi lớp 9 ở phần tự nhiên giáo viên nên tập trung nên ôn theo các chủ điểm sau đây:
* Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ Việt Nam
- Vị trí địa lí: Tiếp giáp với những quốc gia nào trên đất liền, trên biển?
Độ dài đường biên giới trên đất liền với các nước ?
- Diện tích lãnh thổ rộng bao nhiêu? Xếp thứ mấy trên thế giới?
- Hình dạng lãnh thổ có đặc điểm gì?
Trang 7- Ý nghĩa của vị trí địa lí và hình dạng lãnh thổ nước ta về các mặt: Kinh
tế, tự nhiên, giao thông vận tải và an ninh quốc phòng
* Địa hình:
- Những đặc điểm chính của địa hình:Tỉ lệ diện tích; Sự phân bố; Hướng nghiêng; Hướng chủ yếu của địa hình
- Tìm mối quan hệ giữa địa hình với các nhân tố khác
+ Địa hình ảnh hưởng đến khí hậu
+ Địa hình ảnh hưởng đến sông ngòi
+ Địa hình ảnh hưởng đến đất đai
- Các khu vực địa hình: Khu vực đồi núi; Khu vực đồng bằng; Khu vực
bờ biển và thềm lục địa
Trong mỗi khu vực lớn cần nắm rõ đặc điểm các khu vực nhỏ và giá trị kinh tế của từng khu vực
* Khí hậu:
- Xác định được đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu Việt Nam là tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm
+ Tính nhiệt đới: Nắm rõ số giờ nắng; Nhiệt độ trung bình năm; Tổng lượng bức xạ
+ Tính gió mùa: Có 2 mùa gió chính là mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam với đặc trưng thời tiết khác nhau
+ Tính chất ẩm: Nắm được lượng mưa trung bình, sự phân bố mưa trên lãnh thổ và độ ẩm không khí
- Sự phân hóa của khí hậu: Cần trình bày được sự phân hóa (độ cao, theo chiều tây - đông hoặc chiều bắc - nam và giải thích?
- Ảnh hưởng của khí hậu đến các thành phần tự nhiên khác (địa hình, đất đai, sông ngòi, sinh vật) và đời sống con người
* Sông ngòi:
- Đặc điểm chung của mạng lưới sông ngòi: Mạng lưới sông và phân bố sông; Hướng chảy; Chế độ nước; Hàm lượng phù sa
- Giá trị của sông ngòi
* Đất đai
- Đặc điểm chung của đất Việt Nam
- Đặc điểm ba nhóm đất chính và giá trị sử dụng
b Phân loại theo kĩ năng
Khi đọc đề bài học sinh cần phải xác định đúng dạng câu hỏi để biết cách trả lời cho chính xác Đây là một khâu vô cùng quan trọng, bởi vì học sinh có xác định được đúng dạng câu hỏi thì mới biết cách làm bài chính xác, giải quyết đúng yêu cầu của đề bài, theo tôi giáo viên nên hướng dẫn cho các em làm kĩ từng dạng câu hỏi và nên đi từ dạng câu hỏi dễ sau đó tăng cấp độ khó lên, không vội đưa ra câu khó các em không làm được sẽ dễ nản Qua quá trình nghiên cứu tôi thấy thông thường sẽ có các câu dạng câu hỏi về Atlat sau đây
* Dạng câu hỏi nêu hoặc kể tên
Đây là dạng câu hỏi dễ nhất, học sinh chỉ việc quan sát trên bản đồ để kể các đối tượng theo yêu cầu của đề bài
Trang 8Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy kể tên các tỉnh ở nước ta có đường biên giới trên đất liền giáp Trung Quốc?
Đối với câu hỏi này thì trang Atlat cần sử dụng là “Bản đồ hành chính” ở trang 4 và 5
Trả lời: Phía bắc nước ta có 7 tỉnh giáp với Trung Quốc là: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh
Trang 9* Dạng câu hỏi trình bày.
Đây cũng là dạng câu hỏi khá đơn giản, chủ yếu là trình bày lại kiến thức
đã học rồi sắp xếp chúng theo trình tự nhất định, phù hợp với yêu cầu câu hỏi
Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày
sự phân bố ba nhóm đất chính ở nước ta?
Câu hỏi này sử dụng “Bản đồ hành chính” ở trang 4 và 5
Trang 10- Đất Feralit: Hình thành trực tiếp tại các miền đồi núi thấp như:
+ Đất feralit trên đá vôi Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ
+ Đất Feralit trên đá ba dan ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ,
- Đất mùn núi cao: Chủ yếu là đất rừng đầu nguồn cần được bảo vệ như: Khu vực có độ cao trên 2000m (Hoàng Liên Sơn, Chư Yang Sin)
- Đất phù sa: Tập trung ở các đồng bằng và ven biển, nhiều nhất là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các đồng bằng ven biển miền Trung
* Dạng câu hỏi so sánh
Dạng này yêu cầu học sinh phải nêu được sự giống nhau và khác nhau của hai đối tượng trở lên vì thế chúng ta không nên trình bày lại kiến thức, nghĩa là
cứ trình bày lần lượt các đối tượng, hết đối tượng này rồi chuyển sang trình bày đối tượng khác mà phải biết tổng hợp kiến thức đã học sau đó tìm cách phân biệt
để thấy rõ sự khác nhau và giống nhau giữa các đối tượng địa lí cần so sánh
Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học hãy so sánh đặc điểm địa hình vùng núi Đông Bắc với vùng núi Tây Bắc? Phân tích ảnh hưởng của địa hình vùng núi Đông Bắc đến khí hậu?
- Giống nhau:
+ Đều có địa hình đa dạng (núi, đồi, cao nguyên, đồng bằng…)
+ Đều có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (Tây Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn, Pu Đen Đinh…; Đông Bắc có dãy Con Voi, Tam Đảo)
- Khác nhau:
+ Về độ cao: Vùng núi Đông Bắc có độ cao thấp hơn Tây Bắc, độ cao trung bình 600 - 700 m Trong khi đó vùng núi Tây Bắc là vùng núi cao đồ sộ nhất nước ta, cao trung bình trên 1000m
+ Về hướng sơn văn: Vùng núi Đông Bắc có hướng địa hình đa dạng hơn, ngoài 4 cánh cung núi lớn là cánh cung Ngân Sơn, Bắc Sơn, Sông Gâm, Đông Triều thì còn nhiều dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (Con Voi, Tam Đảo) Ở bên Tây Bắc chủ yếu hướng Tây Bắc - Đông Nam (Pu Đen Đinh,
Pu Sam Sao, Hoàng Liên Sơn)
* Phân tích ảnh hưởng của địa hình vùng núi Đông Bắc đến khí hậu
Có 4 cánh cung núi lớn mở rộng ở phía bắc tạo thuận lợi cho gió mùa đông bắc dễ dạng xâm nhập sâu nên vùng có mùa đông lạnh và kéo dài nhất cả nước, thời tiết hay nhiễu động Tuy nhiên vào mùa hạ các dãy núi này lại là bức chắn gió Đông Nam ảnh hưởng đến khu vực Lạng Sơn, Bắc Giang và đón gió gây mưa lớn cho duyên hải Quảng Ninh
* Dạng câu hỏi chứng minh
Dạng này đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã có sẵn trong đầu để chứng minh một hiện tượng địa lí, do đó đòi hỏi học sinh phải nắm chắc kiến thức và cả những số liệu thống kê tiêu biểu để có dẫn chứng thuyết phục
Ví dụ: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học: Chứng minh địa hình vùng đồi núi nước ta đa dạng?