1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp dạy viết văn biểu cảm về sự vật và con người cho học sinh lớp 7 ở trường THCS văn nho

30 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 327,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn, nâng caokhả năng viết văn của học sinh, nhất là khả năng viết văn của đối tượng học sinhtrung bình- yếu là cả một vấn đề đặt ra với cả người họ

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY CÁCH VIẾT VĂN BIỂU CẢM VỀ SỰ VẬT VÀ CON NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS VĂN NHO HUYỆN BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tươi

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Văn Nho

SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2.3.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết

tìm hiểu chung về văn biểu cảm

5

Ghi chú: Các từ viết tắt:

- GV: Giáo viên - HS: Học sinh

- SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm - THCS: Trung học cơ sở

Trang 3

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài

Căn cứ Điều 2 Luật Giáo dục năm 2019 (có hiệu lực từ 01/07/2020) quyđịnh về mục tiêu giáo dục“ nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam cóđạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất,năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thànhvới lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ; phát huy tiềm năng, khả năngsáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhậpquốc tế” [1] Nằm trong mục tiêu chung đó, môn Ngữ văn trong trường phổthông có một vị trí quan trọng, góp phần hình thành những con người có trình độhọc vấn, có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng gia đình, bạn bè; biếthướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải,lòng căm ghét cái xấu cái ác; rèn luyện để tự lập, có tư duy sáng tạo bước đầu cónăng lực cảm thụ các giá trị chân- thiện- mĩ trong nghệ thuật trước hết là trongvăn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một thứcông cụ giao tiếp và tư duy phục vụ cho học tập ở trường và phục vụ cho đờisống trong gia đình và ngoài xã hội

Do nhu cầu phát triển mới của xã hội, môn Ngữ văn không còn bị xem nhẹ sovới các môn tự nhiên như những năm trước Môn Ngữ văn đã có một vị trí xứngđáng, được phụ huynh và học sinh quan tâm hơn Vì thế mà chất lượng của mônNgữ văn trong các kì thi tốt nghiệp, thi vào các trường Đại học, Cao đẳng,Trung học chuyên nghiệp được nâng cao

Hơn nữa, chủ trương của Bộ giáo dục thông tư số 26/2020/TT- BGDĐT sửa

đổi ngày 26/8/2020 thể hiện rõ quan điểm đổi mới “ Đổi mới kiểm tra, đánh giáchất lượng học tập ở tất cả các bộ môn theo hướng phát triển năng lực và phẩmchất của người học” [2] Do đó đề thi đánh giá học sinh ở bốn mức độ : nhậnbiết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao Riêng môn Ngữ văn thì thi theohình thức tự luận Nghĩa là khả năng viết, khả năng thực hành sử dụng tiếng Việtphải được sử dụng triệt để ở mức độ cao nhất Do vậy, việc dạy cách viết văncho học sinh ngay từ các lớp dưới là điều vô cùng cần thiết Bởi phân môn Tậplàm văn vừa là nơi học sinh thể hiện kết quả học tập của hai phân môn: văn học

và tiếng Việt, vừa là nơi để học sinh thực hành kĩ năng nói và viết tiếng Việttheo những yêu cầu gắn các em với môi trường xã hội Nó còn là chìa khóa giúpcác em mở cánh cửa tương lai, giúp các em tiến xa hơn, làm chủ tương lai củamình Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy cách viết văn là một điều vô cùng cầnthiết, phải làm ngay

Là người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi rất băn khoăn vềviệc học tập của các em Làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn, nâng caokhả năng viết văn của học sinh, nhất là khả năng viết văn của đối tượng học sinhtrung bình- yếu là cả một vấn đề đặt ra với cả người học và người dạy Trò phảihứng thú, say mê viết văn mà không sợ khó, không lệ thuộc quá nhiều vào bàivăn mẫu Thầy phải phát huy được tính tích cực, say mê học tập ở trò, đem đếnniềm vui, sự tự tin cho các em nhất là đối tượng học sinh trung bình- yếu Đó làđiều mà tôi luôn luôn trăn trở

Trang 4

Vì những lẽ trên, tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ, thể nghiệm phương

pháp dạy học và chọn đề tài: “ Một số giải pháp dạy cách viết văn biểu cảm về

sự vật và con người cho học sinh lớp 7 ở trường THCS Văn Nho huyện Bá Thước”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích của tôi khi viết sáng kiến này là nhằm tìm ra những giải pháp chung

nhất và hiệu quả nhất trong việc dạy học phân môn tập làm văn trong chươngtrình Ngữ văn 7 Đặc biệt chú trọng rèn luyện cách viết văn biểu cảm về sự vật

và con người cho đối tượng học sinh lớp 7 một cách cụ thể, tỉ mỉ trong từngkhâu, từng bước trong quá trình tạo lập văn bản nhằm nâng cao hiệu quả viếtvăn biểu cảm Tổ chức các giờ thực hành viết văn biểu cảm đơn giản, hiệu quả,nhẹ nhàng, tạo hứng thú cho học sinh mà ở đó giáo viên chỉ là người gợi mở dẫndắt, học sinh là chủ thể của hoạt động

Đánh giá được hiệu quả của hình thức dạy học này và áp dụng vào thực tiễnquá trình giảng dạy trên lớp Đồng thời tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn trongquá trình công tác ở đơn vị

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: “ Một số giải pháp dạy cách viết văn biểu cảm về sự

vật và con người cho học sinh lớp 7 ở trường THCS Văn Nho huyện Bá Thước”.

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: tìm hiểu những thông tin lý luận về thể loại

văn biểu cảm trên các phương tiện: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, mạnginternet

- Phương pháp điều tra:

+ Nghiên cứu qua việc giảng dạy thực tế ở trường THCS Văn Nho huyện

Bá Thước

+ Trò chuyện với học sinh để hiểu được những vướng mắc, trăn trở của họcsinh trong quá trình viết văn biểu cảm từ đó có biện pháp giải quyết kịp thời;Qua trao đổi, dự giờ của các giáo viên giảng dạy Ngữ văn ở đơn vị

+ Qua việc thu thập thông tin và xử lí số liệu, thống kê và đánh giá kết quảhọc tập của học sinh

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp những

kinh nghiệm trong dạy cách viết văn biểu cảm để nâng cao trình độ chuyên môn

- Phương pháp thử nghiệm: Áp dụng các phương pháp đã nghiên cứu vào việc

Trang 5

Vẫn biết rằng, trong cuộc sống, cảm xúc của con người được bộc lộ, được thểhiện muôn hình vạn trạng Và việc viết văn để bộc lộ cảm xúc, bày tỏ thái độ,tình cảm, sự đánh giá của con người đối với thiên nhiên và cuộc sống cũng chỉ

là một trong vô vàn những cách biểu cảm của con người như ca hát, vẽ tranh,đánh đàn hay thổi sáo mà thôi

Mục tiêu của dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông của Bộ giáodục và đào tạo là “ phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh, đòi hỏi học sinhphải tăng cường vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thựctiễn”[2] Dạy cách viết văn biểu cảm cho học sinh cũng được xuất phát từ yêucầu đó Học tập làm văn chính là học nghệ thuật sử dụng ngôn từ để rèn luyệnkhả năng tư duy, khả năng thuyết trình, khả năng lập luận, khả năng lí giải cácvấn đề trong đời sống

Để đạt được điều này, cần phải đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ

chức dạy học đối với phân môn tập văn- một phân môn mà từ trước đến nay cảngười dạy và người học đều thấy khó

Dạy viết văn biểu cảm cho học sinh giáo viên cần sử dụng phương pháp phùhợp, sử dụng tối đa thời gian cho học sinh thực hành, các tiết luyện tập, thời gianhọc bồi dưỡng, các tiết tự chọn để các em vận dụng kiến thức đã học vào bàilàm một cách hiệu quả

Học sinh cần được coi là trung tâm của các hoạt động, phát huy tính tích cực,

chủ động, sáng tạo Đổi mới phương pháp dạy cách viết văn biểu cảm về sự vật,con người cho học sinh là việc làm cần thiết để tạo hiệu quả cho môn học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Năm học 2020- 2021 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới

phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhàtrường phổ thông, với mục tiêu là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lựccho người học Trong các nhà trường THCS việc chú trọng trong việc giảng dạymôn học Ngữ Văn đã được quan tâm và giáo viên cũng đã có sự đầu tư cả về nộidung lẫn phương pháp Tuy nhiên chất lượng dạy và học chưa cao

2.2.1 Đối với giáo viên giảng dạy:

Trường THCS Văn Nho là một trường vùng sâu thuộc huyện miền núi BáThước, điều kiện cơ sở vật chất, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Việcgia đình quan tâm đến các việc học tập của các em học sinh còn nhiều hạn chế

Do vậy, chất lượng học tập của học sinh trong từng môn học chưa cao

Đa số giáo viên tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến họcsinh nhưng vẫn còn có những hạn chế sau:

+ Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏhọc sinh yếu kém dẫn đến chất lượng học tập chưa cao

+ Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháptrực quan vào tiết học còn hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài củahọc sinh

Trang 6

+ Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạchnguồn cảm xúc của người học.

+ Do sĩ số lớp học đông nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát, kèmcặp học sinh trong mỗi tiết dạy

Để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập của học sinh Để đáp ứng yêu cầucủa mục tiêu giáo dục mới, đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ: Làm thế nào

để nâng cao chất lượng môn học, khả năng viết văn cho học sinh Để hoàn thànhnhiệm vụ này người giáo không chỉ có kiến thức vững vàng về phân môn Tậplàm văn mà cần phải tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp phù hợp với từngđối tượng học sinh để các em có thể tiếp thu một cách tốt nhất Từ đó mới khơidậy khả năng, niềm say mê học tập ở học sinh

Viết văn hay là do năng khiếu Tôi không phủ nhận điều này Nhưng khôngphải ai sinh ra cũng có năng khiếu trời cho ấy Bởi, dạy tập làm văn trong trườngphổ thông phần lớn là đối tượng học sinh trung bình khá, trung bình, yếu Vậylàm thế nào để việc viết văn trở nên dễ dàng hơn Làm văn không còn là mối longại ở các em Tôi thiết nghĩ, dạy viết văn cũng giống như dạy toán, nó cũng cónhững “ công thức” chung, có khuôn mẫu chung cho các dạng đề tập làm văn.Nhất là với đối tượng học sinh trung bình –yếu, trong quá trình dạy ta nên đưa ramột công thức chung Để từ công thức đó học sinh nhìn vào mà áp dụng, thì việcviết văn sẽ trở nên dễ dàng hơn

2.2.2 Đối với học sinh học tập:

Trong quá trình giảng dạy ở trường THCS Văn Nho tôi nhận thấy: trong họctập học sinh còn rất thụ động, biểu hiện ngại học, chưa hứng thú với môn Ngữvăn Học sinh chưa biết cảm nhận và tìm ý để viết được bài văn biểu cảm Dovậy, việc viết văn với học sinh đang là một trở ngại khá lớn

Học sinh chưa nhận ra được sự gắn kết của các đơn vị kiến thức trong SGK,chưa biết vận dụng kết hợp các kiến thức Tiếng việt, văn học vào làm văn, dovậy ảnh hưởng đến chất lượng học tập

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là dạy viếtvăn(Tập làm văn) là phân môn khó, các chỉ dẫn về phương pháp chưa nhiều,kiến thức trong sách giáo khoa còn ở dạng hàn lâm, chung chung khó hiểu, giáoviên chưa đi sâu, tìm tòi, sáng tạo để tìm ra một phương pháp phù hợp nhất chocác đối tượng học sinh Những chỉ dẫn trong SGK chỉ phù hợp với đối tượnghọc sinh khá trở lên còn với đối tượng học sinh trung bình- yếu thì còn khó hiểunên các em rất sợ viết, ngại viết Học sinh chỉ viết những bài viết bắt buộc trongchương trình vì thế mà khả năng làm bài tự luận học sinh không được rèn luyệnnhiều

Do vậy, đổi mới phương pháp dạy cách viết văn cho học sinh là điều vôcùng quan trọng và cấp thiết để đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời đại mới,phù hợp với định hướng chung của Bộ giáo dục trong kì thi trung học phổ thôngquốc gia về môn Ngữ văn: Thi theo hình thức tự luận Viết được văn, làm đượcvăn là chìa khóa mở cánh cửa tương lai Làm cho các em thấy được niềm vui, sự

tự tin khi tự mình viết được một bài văn mà trước đây các em rất sợ viết Chỉ khinào viết văn trở thành nhu cầu: muốn học, muốn viết thì khi đó chất lượng mônhọc mới được đảm bảo

Trang 7

Để kiểm tra khả năng viết văn tôi đã cho học sinh lớp 7 trường THCS Văn

quả thu được như sau :

Trước thực trạng đó, tôi đã đổi mới phương pháp để các em dễ tiếp cận, quantâm khích lệ các em mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình Vì thế mà đã cải thiệnđược chất lượng, nâng cao hiệu quả giao tiếp cũng như làm bài văn của các em

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề :

2.3.1 Giải pháp 1 : Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết tìm hiểu chung về văn biểu cảm

2.3.1.1 Biện pháp 1 : Tìm hiểu đặc điểm chung về văn biểu cảm :

Khái niệm: Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm

xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòngđồng cảm nơi người đọc (Sách giáo khoa lớp 7, kì 1, trang 73, nhà xuất bảnGiáo Dục Việt Nam, năm 2010.)[ 3]

Kiến thức cơ bản cần luyện tập: Muốn giúp học sinh lớp 7 rèn luyện kĩ năng

làm bài văn biểu cảm ngày một tốt hơn, người giáo viên cần phải nắm vững kiếnthức, luyện tập có hiệu quả 9 tiết tập làm văn về văn biểu cảm theo phân phốichương trình của học kì I là các tiết:

(1) Tìm hiểu chung về văn biểu cảm

(2) Đặc điểm văn bản biểu cảm.

(3) Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm

(4) Luyện tập cách làm bài văn biểu cảm.

(5) Cách lập ý của bài văn biểu cảm.

(6) Luyện nói: văn biểu cảm về sự vật, con người

(7) Các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm.

(8) Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học

(9) Luyện nói: phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học.

Chú ý: Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một số giải pháp dạy cách viết văn biểu cảm về sự vật và con người

Trang 8

2.3.1.2 Biện pháp 2 : Quy trình các bước làm bài văn biểu cảm :

Trong các tiết thực hành làm bài văn biểu cảm thầy cô vẫn luôn hướng họcsinh làm bài văn biểu cảm theo 5 bước lý thuyết sau:

1 Tìm hiểu đề

2 Tìm ý

3 Lập dàn ý, viết thành đoạn văn

4 Viết thành bài văn, chú ý liên kết, mạch lạc

5 Kiểm tra lại, sửa chữa lỗi sai

Thực tế cho thấy học sinh lớp tôi đang dạy đã rất thuộc bài, thuộc lòng cácbước làm bài văn biểu cảm nhưng lại vẫn rất lúng túng không biết viết làm saocho ra một bài văn biểu cảm hay, thậm chí cá biệt còn có học sinh không biết ápdụng lý thuyết đã học để làm bài, dẫn đến bài làm rất sơ sài về ý, thiếu cảm xúcchân thật cho bài văn

Trên cơ sở thực tế đó, tôi mạnh dạn đưa ra một số kĩ năng nhằm giúp học sinh

có thể làm bài văn biểu cảm được tốt hơn

2.3.2 : Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách tìm ý, lập dàn ý cho bài văn biểu cảm về sự vật và con người.

2.3.2.1 Biện pháp 1 : Tìm ý:

Cũng như bất kì thể loại văn nào, trong văn biểu cảm việc tìm ý rất quantrọng, nó giúp các em xác định được những nội dung chính, ý chính được triểnkhai trong phần thân bài ; giúp làm rõ các đặc điểm trạng thái của tình cảm đượcthể hiện đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Tìm ý góp phần tạo ra tính liên kết, tính mạchlạc trong văn bản vì đề bài là nội dung chính còn các ý tìm được là nội dungđược chia nhỏ ra từ nội dung chính nên làm và thực hiện bước tìm ý bản chấtcủa nó đã làm cho bài văn mạch lạc về ý nghĩa, liên kết về nội dung

Có nhiều cách tìm ý khác nhau Tùy theo từng đề bài cụ thể hoặc đối tượngbiểu cảm mà ta áp dụng cách tìm ý cho phù hợp Ngoài bốn cách tìm ý trongsách giáo khoa, tôi mạnh dạn đưa ra một số cách tìm ý sau:

* Tìm ý dựa vào đặc điểm của đề bài:

Đề bài có hai dạng: Đề mang tính chất cụ thể hóa đối tượng biểu cảm và đềmang nội dung chung Cách tìm ý này áp dụng cho các đề mang tính chất cụ thể.Khi gặp dạng đề này chỉ cần dựa vào đặc điểm của đối tượng biểu cảm đưa ratrong đề bài mà tìm ý

Ví dụ1: Cho đề bài : Cảm xúc của em về bốn mùa của đất nước.

Đề này chỉ ra bốn ý rất rõ ràng: + Tình cảm của em với mùa xuân

+ Tình cảm của em với mùa hạ

+ Tình cảm của em với mùa thu

+ Tình cảm của em với mùa đông

Trang 9

Ví dụ 2: Cho đề bài: Vui buồn tuổi thơ.

Ta dễ dàng tìm được hai ý sau: + Niềm vui tuổi thơ

+ Nỗi buồn tuổi thơ

* Tìm ý dựa vào thời gian:

Cách tìm ý này áp dụng cho các đề bài có tính chất chung, chỉ nêu ra đối

tượng biểu cảm chứ không nêu ra các khía cạnh cụ thể như ở trên Đặc biệt làloại đề bài biểu cảm về cây cối, phong cảnh thiên nhiên, ta tìm ý bằng cách đặtcây cối hoặc phong cảnh thiên nhiên đó vào các mùa trong năm vì mỗi mùaxuân, hạ, thu, đông những đối tượng trên có vẻ đẹp riêng, đặc trưng riêng các

em sẽ dễ dàng thể hiện cảm xúc của mình

Ví dụ: Đề bài: Cảm nghĩ về cây phượng.

Đặt cây phượng vào thời gian bốn mùa ta tìm được các ý sau:

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa xuân

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa hè

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa thu

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa đông

Một số đối tượng biểu cảm khác ta có thể áp dụng cách tìm ý theo thời gianmột ngày : Sáng, trưa, chiếu, tối Tương ứng với mỗi thời gian đó là một ý

*Tìm ý dựa vào đặc điểm của đối tượng biểu cảm.

Cách tìm ý này áp dụng cho đề bài mà đối tượng biểu cảm là con người hoặccon vật Gặp dạng đề này ta tìm ý bằng cách chỉ ra các đặc điểm của đối tượngbiểu cảm: Đặc điểm về ngoại hình, đặc điểm về tính cách, đặc điểm về hoạtđộng (việc làm) Mỗi đặc điểm ấy là một ý và mỗi ý đó triển khai thành mộtđoạn văn

Ví dụ: Cho đề bài: Cảm nghĩ của em về mẹ.

Dựa vào các đặc điểm trên ta tìm được các ý cho phần thân bài như sau:

+ Cảm xúc của em về ngoại hình của mẹ

bố cục bài viết không rõ ràng, không khoa học, thiếu ý, tình cảm không đầy đủ,không sâu sắc Muốn lập được dàn bài một bài văn học sinh cần dựa vào hai cơsở: + Bố cục của bài văn biểu cảm

+ Phần tìm ý đã làm ở trên

Nghĩa là muốn lập được dàn bài cho bài viết của mình học sinh phải biết cáchtìm ý và thuộc lòng bố cục của bài văn biểu cảm

* Bố cục chung của bài văn biểu cảm như sau:

Mở bài: - Giới thiệu chung về đối tượng biểu cảm

- Lí do em yêu thích

Thân bài: Trình bày cảm xúc, tình cảm theo các ý đã tìm được ở phần tìm ý

Trang 10

Kết bài: - Khẳng định lại tình cảm của em về đối tượng biểu cảm.

- Ý nghĩa của đối tượng biểu cảm trong cuộc sống của con người.Khi học sinh biết cách tìm ý và thuộc lòng bố cục chung bài văn biểu cảm, tôiđưa về dạng “mô hình” dàn bài cho các dạng đề văn biểu cảm như sau:

- Dạng bài biểu cảm về cây cối:

Mô hình:

Mở bài: - Giới thiệu chung về loài cây

- Lí do em yêu thích loài cây ấy

Thân bài: - Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa xuân

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa hè

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa thu

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa đông

Kết bài: - Khẳng định lại tình cảm của em về loài cây ấy

- Ý nghĩa của loài cây ấy trong cuộc sống của con người

- Dạng bài biểu cảm về con người hoặc con vật:

Mô hình:

Mở bài: - Giới thiệu chung về con người ( con vật)

- Lí do em yêu thích con người (con vật)

Thân bài:

- Cảm xúc của em về ngoại hình của con người ( con vật)

- Cảm xúc của em về tính nết( đặc điểm) của con người ( con vật)

- Cảm xúc của em về việc làm(hoạt động) của con gười( con vật).Kết bài:

- Khẳng định lại tình cảm của em về con người( con vật)

- Ý nghĩa của con người(con vật) trong cuộc sống Nhớ được mô hình này thì việc lập dàn bài sẽ trở nên dễ dàng với học sinhnhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu

2.3.3: Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách viết phần mở bài.

Mở bài có một vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt Vị trí của nó bao giờcũng nằm ở đầu bài Do vậy một mở bài hấp dẫn sẽ tạo hứng thú cho người đọc,tạo âm hưởng chung cho toàn bài Độ dài của phần mở bài phải cân xứng vớithân bài và kết bài cần viết ngắn gọn, khéo léo có sự thu hút không nên dàidòng, vòng vo không ăn khớp với phần sau hoặc mãi không vào được đề

Có hai cách mở bài: Trực tiếp và gián tiếp

Mở bài trực tiếp: Là cách mở bài giới thiệu thẳng với người đọc cảm nghĩ

về đối tượng biểu cảm Nội dung phần mở bài cần đảm bảo ba yếu tố: Nêu cảm

Mô hình mở bài trực tiếp:

Nêu cảm nghĩ về sự vật, con người………Ở đâu…………Lúc nào………

Trang 11

Ta có mô hình sau: Cây bàng em yêu quý (1)…… Ở đầu làng em(2)

…….Được trồng cách đây đã gần hai mươi năm nay(3)…

Với mô hinh này ta có các cách mở bài sau :

Mở bài 123 : Cây bàng là một loài cây cho bóng mát mà em vô cùng yêuthích Cây bàng này đã được các cụ làng em trồng ở đầu làng, cách đây đã gầnhai mươi năm nay

Mở bài 213 : Ở đầu làng em có trồng một loài cây cho bóng mát mà em

vô cùng yêu thích Đó chính là cây bàng đã được các cụ làng em trồng cách đây

đã gần hai mươi năm

Mở bài 321 : Cách đây gần hai mươi năm, các cụ làng em đã trồng ở đầu

làng một loài cây cho bóng mát mà em vô cùng yêu thích Đó chính là cây bàng

đã được các cụ làng em trồng cách đây đã gần hai mươi năm

Tương tự xếp số khác còn lại các em sẽ viết được cách mở bài trực tiếp rất đơngiản

(Bài làm của em Hà Thị Hà lớp 7B) (2) Không biết tự bao giờ, cây bàng trước cửa lớp đã trở nên vô cùng thân thương đối với tôi Tôi đã ngắm cây bàng ấy trong suốt cả bốn mùa Mùa nào, bàng cũng có một vẻ đẹp riêng Không biết có phải thế không hay do tình yêu tôi dành cho loài cây này mà tôi thấy bàng mùa nào cũng đẹp.

. ( Bài làm của em Hà Thị Nhi lớp 7B) (3) Trước sân nhà em có một cây bàng Trường em cũng rất nhiều bàng Hai bên hè phố nơi em ở lại là những dãy bàng xanh ngút ngát Những cây bàng đứng đó, nhìn em lớn lên và lưu giữ bao kỷ niệm ấu thơ Em yêu cây bàng như yêu một người bạn gần gũi nhất, thân thương nhất và không bao giờ vắng mặt trong cuộc sống của em.

(Bài làm của em Hà Văn Minh lớp 7A)

Mở bài gián tiếp: Là cách mở bài không đi thẳng vào vấn đề mà gợi mở vào

đề bằng cách đưa ra : Một câu thơ, một câu nói, một âm thanh, một lời đốithoại… sau đó mới dẫn dắt vào đề Cách này làm cho mở bài hay hơn hấp dẫn

và gây hứng thú cho người đọc Nhưng cần chú ý không nên dài dòng, lan man

Ta có mô hình sau :

Mô hình mở bài gián tiếp :

tục ngữ), một câu nói, một âm thanh, một lời đối thoại…

2 Nêu cảm nghĩ về sự vật, con người :

Cảm xúc về sự vật, con người + Ở đâu …+ Lúc nào…

Trang 12

Khi viết mở bài gián tiếp thì phần giới thiệu chỉ cần thông tin số 1, cònthông tin số 2 và 3 có hay không cũng được Chú ý cách dẫn dắt để kết nối giữaphần gợi mở với phần giới thiệu cảm xúc chung và đối tượng biểu cảm.

Ví dụ 1 : Đề bài : Cảm nghĩ về mẹ.

Mở bài bằng một câu hát :

(1) ‘‘ Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào, tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào, lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào’’ Mỗi khi giai điệu ngọt ngào, êm ái của bài hát Lòng mẹ vang lên trong lòng em lại trào dâng một tình yêu thương mẹ của em Một người mẹ mà em vô cùng yêu thương và kính trọng.

(Bài làm của em Lò Ngọc Hà lớp 7A)

Mở bài bằng một âm thanh :

(2) Cút…kít….cút ….kít….Âm thanh quen thuộc của chiếc xe đạp vang

lên ngoài cổng Em trai em cười tít mắt, chạy ra ngay mở cửa Một bóng hình gần gũi hiện ra Đó chính là mẹ em, người mẹ mà em vô cùng yêu thương và kính trọng.

(Bài làm của em Lương Tiểu Đàm lớp 7A)

Mở bài bằng một câu nói :

(3) Nam ơi ! Dậy thôi con, ôn lại bài rồi ăn sáng còn đi học chứ! Đó là câu nói quen thuộc, ngập tràn tình yêu thương mà ngày nào tôi cũng được nghe vào mỗi buổi sáng Không ai khác đó chính là người mẹ kính yêu của tôi đấy (Bài làm của em Hà Văn Tính lớp 7B)

2.3.4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh viết phần thân bài.

Phần thân bài là phần trọng tâm có nhiệm vụ triển khai, phát triển ý chính đãđược ghi trong dàn bài đã lập Đề bài là chủ đề lớn, mỗi ý là một chủ đề nhỏ, vìthế mỗi ý sẽ triển khai thành một đoạn văn Do vậy khi viết bài yêu cầu học sinhbám sát vào từng ý trong dàn bài đã lập ở trên

Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng khâu, từng công đoạn trong quytrình viết một đoạn văn Đây là điều kiện tốt nhất để học sinh có thể tự mình viếtđược một đoạn văn mà không cần sử dụng văn mẫu Hướng dẫn học sinh viếtcác đoạn văn trong phần thân bài tôi chú trọng và các bước sau:

+ Hướng dẫn viết câu chủ đề của đoạn

+ Hướng dẫn tìm “Chất liệu” đề viết đoạn

+ Hướng dẫn cách thể hiện cảm xúc, tình cảm

+ Hướng dẫn cách diễn đạt các “chất liệu” thành lời văn

+ Hướng dẫn cách liên kết các đoạn văn, các ý trong đoạn văn

2.3.4.1: Biện pháp 1 : Hướng dẫn viết câu chủ đề.

Câu chủ đề là câu mang nội dung chính của cả đoạn văn Nó bao hàm nộidung của các câu khác trong đoạn Việc xác định chủ đề cho đoạn văn khôngkhó vì đã có mô hình, căn cứ vào đó có thể nhận ra ngay chủ đề của đoạn vănmình đang viết là gì Hướng đẫn học sinh viết câu chủ đề cho đoạn văn biểu cảmtôi có mô hình sau:

Mô hình câu chủ đề trong đoạn văn biểu cảm:

Từ ngữ gọi tên cảm xúc + Đối tượng biểu cảm và thời gian nó xuất hiện (Đối tượng biểu cảm và đặc điểm của đối tượng)

Trang 13

Lưu ý: Có từ ngữ gọi tên những cảm xúc giúp học sinh phân biệt với văn miêutả.

Ví dụ 1: Viết câu chủ đề cho đoạn văn: Cảm xúc của em về cây phượng trongmùa xuân thì câu chủ đề phải có hai yếu tố: Cảm xúc + Cây phượng trong mùaxuân :

Thật thích thú biết bao / khi ngắm nhìn cây phượng trong mùa xuân.

Cảm xúc / đối tượng biểu cảm trong thời gian nó xuất hiện

Ví dụ 2: Viết câu chủ đề cho đoạn văn: Cảm xúc của em về ngoại hình của mẹ

Ta có thể viết các câu chủ đề như sau:

- Em không bao giờ quên được hình ảnh người mẹ yêu quý của em.

- Hình ảnh của mẹ không bao giờ phai mờ trong trái tim em.

2.3.4.2: Biện pháp 1: Hướng dẫn tìm ‘‘chất liệu’’ để viết đoạn văn :

Tôi đặc biệt quan tâm đến công việc này Trước đây tôi đã áp dụng các bướclàm bài như trong chương trình SGK để dạy cách viết văn nhưng hiệu quảkhông cao Trao đổi, trò chuyện với các em hầu hết đều có câu trả lời giốngnhau: Em đã học thuộc lòng 4 bước làm văn, đã tìm ý, lập dàn bài nhưng đếnbước viết bài em vẫn không biết được, không biết viết cái gì Tôi tiếp tục đi sâutìm hiểu, đặt mình vào vị trí của các em Nghĩa là tôi cũng làm văn, cũng viếtnhững bài văn mà mình hướng dẫn các em viết Cuối cùng, tôi nhận thấy để các

em viết văn biểu cảm một cách đơn giản nhất, dễ nhất là : Phải tìm “Chất liệu”

để viết các đoạn văn

Như đã nói ở trên, nếu dàn bài là bộ khung xương thì “Chất liệu” chính làphần da thịt để làm lên một cơ thể sống- một bài văn hoàn chỉnh “ Văn chương

là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng” (Ý nghĩa văn chương, tác giảHoài Thanh- Ngữ văn 7 tập 1) [3] Tác giả Hoài Thanh muốn nói với chúng tarằng: văn chương có công dụng phản ánh sự sống, mỗi một tác phẩm là mộthình ảnh cuộc sống được thu nhỏ Vậy thì, một bài văn nói chung, bài văn biểucảm nói riêng của học sinh cũng không thể viết cái gì xa rời cuộc sống được Do

vậy cách tìm “chất liệu” như sau : ‘‘Quan sát rồi liệt kê tất cả các đặc điểm đặc

trưng nhất, nổi bật nhất của đối tượng biểu cảm trong thực tế cuộc sống, các hoạt động của con người và bản thân liên quan đến đối tượng biểu cảm phù hợp với chủ đề của đoạn văn ’’.[4]

Ví dụ 1: Khi viết đoạn văn: Cảm xúc của em về mùa thu trong đề bài : Cảmnghĩ của em về bốn mùa của đất nước Tôi cho cả lớp tìm chất liệu bằng cáchliệt kê những đặc điểm đặc trưng nhất, nổi bật nhất của mùa thu và những hoạtđộng của con người liên quan đến mùa thu:

+ Trời trong xanh, mát mẻ

+ Gió heo may

+ Đồng lúa chín vàng

+ Lá vàng rụng nhiều

+ Tết trung thu

+ Ngày hội khai trường

Sau đó trình bày những cảm xúc của mình về chất liệu nào mà mình ấntượng, mình yêu thích nhất

Trang 14

Ví dụ 2: Khi viết đoạn văn: Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa hè Họcsinh liệt kê những đặc điểm đặc trưng nhất, nổi bật nhất của cây phượng trongmùa hè và những hoạt động của con người liên quan đến cây phượng trong mùahè: + Lá phượng xanh thẫm, xòe tán xum xuê.

+ Chim chóc kéo đến

+ Tiếng ve kêu râm ran

+ Nụ hoa tròn, xanh biếc

+ Hoa phượng nở đỏ chói:( Màu sắc, hương sắc)

+ Hoa phượng nở là lúc mùa thi đến với những lo âu

+ Phượng nở là lúc học sinh được nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xabạn bè

Ví dụ 3: Viết đoạn văn: Cảm xúc của em về việc làm của mẹ Học sinh kể racác hoạt động của mẹ trong cuộc sống hàng ngày:

+ Việc nhà (nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa…)

+ Việc học của em

+ Việc đồng áng

+ Việc nấu ăn

+ Việc trồng rau

+ Việc chăn nuôi

+ Việc ở cơ quan

Các chất liệu tìm được cần phải sắp xếp theo trình tự hợp lí: Trình tự khônggian, thời gian, tâm lí, chính phụ

2.3.4.3: Biện pháp 3: Hướng dẫn cách thể hiện cảm xúc, tình cảm :

Để giúp các em biết được cách viết văn biểu cảm thì giáo viên phải hướngdẫn cụ thể: Phải dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, câu cảm thán gọi tên những cảmxúc trong lòng mình Ví dụ:

- Từ ngữ biểu cảm: Yêu nhất…, thương lắm…, nhớ nhất…, thích nhất…,thú vị lắm…, tôi yêu nhất là…, thương làm sao… , đẹp nhất là , ngon quá…

- Câu cảm thán: Chao ôi…, Đẹp quá…,Xem kìa…, mới đẹp làm sao…,Quênsao được…,Tuyệt làm sao…,Em không thể nào quên….,Em còn nhớ mãi…

2.3.4.4: Biện pháp 4: Hướng dẫn cách diễn đạt từng ‘‘chất liệu’’ thành lời văn :

Với mỗi một chất liệu, khi diễn đạt thành câu văn tôi yêu cầu học sinh thựchiện theo mô hình sau:

Mô hình: Diễn đạt một “chất liệu” phải có kết cấu hai phần:

+ Thể hiện cảm xúc

+ Đưa yếu tố miêu tả,tự sự để làm rõ cảm xúc giải thích vìsao mình yêu, vì sao mình thích; vì sao mình thấy nhớ, thấy ngon, thấy thích,thấy ngạc nhiên…

Ví dụ 1: Khi biểu cảm về chất liệu: Đôi bàn tay của mẹ, trong đoạn văn Cảmxúc về ngoại hình của mẹ Áp dụng mô hình trên ta diễn đạt như sau:

Thương nhất là đôi bàn tay của mẹ Đôi bàn tay gầy gầy, xương xương hàng ngày đã làm biết bao công việc, chăm sóc cho con cái, chăm lo cho gia đình em.

Trang 15

Ví dụ 2: Khi biểu cảm về chất liệu: Món ăn mẹ nấu, trong đoạn văn Cảm xúc vềviệc làm của mẹ, ta diễn đạt như sau:

Ngon nhất là món sườn xào chua ngọt mẹ nấu Từng miếng sườn đều đặn,

vàng ươm, nước dùng sánh, thịt mềm, đậm, vị chua ngọt hài hòa ăn vào làm em không sao quên được

Chú ý: Yếu tố tự sự, miêu tả chỉ là phương tiện để gửi gắm tình cảm Nhằm

mục đích làm rõ cảm xúc vì sao mình thích, vì sao mình yêu, vì sao mình thấyđẹp

Ví dụ: Viết phần thân bài: Cảm nghĩ về cây bàng.

(1) Cây bàng như nhìn tôi lớn lên, cho dù là ngôi trường nào, cấp một, cấp hai hay cấp ba thì cây bàng vẫn luôn có mặt trên sân trường như để lưu giữ lại những kỉ niệm học trò, kỉ niệm thời trẻ con tinh nghịch của tôi vậy Cây bàng mang trong mình một nét đẹp riêng biệt mà cho dù ở bất cứ mùa nào thì nét đẹp đó vẫn luôn hiện hữu…

(Bài làm của em Hà Vi Ngọc Trâm lớp 7B).

(2)Giã từ những ngày đông giá rét, xuân về, cây bàng khoác lên mình những đốm lửa màu xanh Rồi những đốm lửa màu xanh ấy cứ lớn dần, lớn dần,

… Bàng cựa mình rung rinh hé mắt nhìn bầu trời xanh thẳm Và kì diệu thay, chỉ vài ba hôm không để ý, bàng đã hoàn toàn đổi khác với tấm áo choàng xanh non tươi mới Cây xoè rộng tán, đung đưa lá cành vẫy gọi chim chóc trở về tụ họp hót ríu ran Lũ trẻ con chúng tôi lại nô đùa vui vẻ dưới gốc bàng, ngước lên nhìn cây bàng đổi thay sắc áo và mong đợi một mùa hè với bao kỉ niệm tuyệt vời… (Bài làm của em Hà Ngọc Khuê lớp 7A).

2.3.5 Giải pháp 5: Hướng dẫn viết phần kết bài.

Kết bài là phần cuối cùng Vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở phần cuối bàivăn, để lại dư âm, gợi suy nghĩ cho người đọc Độ dài phải cân xứng với mở bài

và kết bài, không nên viết dài dòng không ăn khớp với các phần trên

Có hai kiểu kết bài: Kết bài đóng ý và kết bài mở rộng

2.3.5.1 Biện pháp 1: Kết bài đóng ý.

Là phần cuối cùng trong bài văn kết thúc ý chính của cả bài (kết bài không

mở rộng) Hướng dẫn học sinh viết kết bài tôi đưa về dạng mô hình như sau:

Mô hình kết bài đóng ý:

- Nêu suy nghĩ: hiểu… (1)

- Nêu tình cảm, cảm xúc: yêu , ghét ,tự hào…(2)

- Nêu hành động: Cố gắng học tập…, noi gương…(3)

*Lưu ý: Với ba số 1, 2, 3 học sinh có thể viết 6 kiểu kết bài đóng ý: 123, 132,

231, 213, 312, 321 như ở phần mở bài

Ví dụ: Đề bài: Cảm nghĩ về cô giáo em.

Kết bài: - Nêu suy nghĩ: hiểu tấm lòng của cô giáo (1)

- Nêu tình cảm: yêu quý cô giáo (2)

- Nêu hành động: cố gắng học tập (3)

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w