Trong quá trình đó các nhà giáo dục, các thầy cô giáo không ngừngtrăn trở, tìm tòi những cách dạy mới, hay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.Vậy mỗi thầy, cô giáo phải đặc biết chú trọ
Trang 12.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 42.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng
để giải quyết
5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, thế kỷ tri thức, kỹ năng của con người được xem là yếu tốquyết định sự phát triển của xã hội Trong xã hội tương lai, nền giáo dục phải
đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển thông minh và sáng tạo Muốn
có được điều này, ngay từ bây giờ các trường phổ thông phải trang bị đầy đủ cho
HS hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và pháttriển năng lực tư duy sáng tạo Do vậy vấn đề tiếp tục đổi mới dạy học là nhiệm
vụ cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và đổi mới dạy học môn Vật Línói riêng, đã và đang trở thành một yêu cầu bắt buộc và hết sức cấp thiết đối vớicác cấp học Trong quá trình đó các nhà giáo dục, các thầy cô giáo không ngừngtrăn trở, tìm tòi những cách dạy mới, hay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.Vậy mỗi thầy, cô giáo phải đặc biết chú trọng đến việc đổi mới phương phápdạy và học, áp dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực phẩm chấtngười học vào giảng dạy để thực hiện mục tiêu chung là đổi mới căn bản toàndiện giáo dục, chương trình giáo dục phổ thông mới
Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp cho học sinh những tri thức,kinh nghiệm của loài người đã tích luỹ được mà còn phải góp phần tích cực vàoviệc hình thành và phát triển năng lực thực tiễn và nhân cách cho học sinh theomục tiêu đào tạo
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Vật lí tôi ý thức được tầm quantrọng đó nên tôi đã luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu các phương pháp trong giờVật lí sao cho vừa phát huy được tính tích cực, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng củahọc sinh vừa phát huy được tính tò mò sáng tạo các hiện tượng Vật lí trong đờisống, trong tự nhiên
Qua nhiều năm giảng dạy bản thân tôi tâm đắc đã và đang áp dụng cácphương pháp để phát triển năng lực người học vào thực tế giảng dạy ở trườngTHCS nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy, luôn trăn trở làm sao để nâng cao chấtlượng bộ môn mình phụ trách, làm thế nào để phát huy tư duy logic để từ kiếnthức lí thuyết học sinh có thể ứng dụng vào thực tế Vì vậy tôi đã mạnh dạn đã
lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực học sinh bằng cách sử dụng các câu hỏi ứng dụng thực tiễn khi dạy học phần cơ nhiệt trong môn vật lí lớp 8” Sáng
kiến này tôi đã áp dụng và khá thành công tại trường THCS nơi tôi công tác,cũng là đề tài mà tôi lựa chọn và đưa ra để cùng trao đổi, với mong muốn sẽ gópphần giúp giáo viên dạy học một giờ Vật lí có hiệu quả hơn, học sinh hứng thútrong mỗi giờ học
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích giúp các em tìm rađược phương pháp học tập hiêu quả, đặc biệt là các em có thể áp dụng những
Trang 3kiến thực tế đã học vận dụng và thực tế cuộc sống Từ đó giúp các em hứng thúhơn trong việc học tập bộ môn, góp phần hình thành nhân cách tốt cho các em
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Do điều kiện và thời gian có hạn nên trong phạm vi và đối tượng đề tàinày tôi chỉ đi vào nghiên cứu vấn đề “ Phát triển năng lực học sinh băng các câuhỏi ứng dụng thực tế trong dạy học vật lí ở trường THCS”
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này đạt hiệu quả, tôi đã sử dụng một số pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và xử lý thông tin: Phương pháp này
nhằm giúp tôi tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu có liên quan Qua đó xử lý cácthông tin để lựa chọn những tài liệu cơ bản và chính xác nhất
- Phương pháp thực nghiệm: Thông qua phương pháp này giúp giáo viên
và học sinh có thể thực hành kiểm chứng nhiều hiện tượng vật lí
- Phương pháp thực hành giảng dạy: Thông qua phương pháp này nhằm
giúp tôi truyền tải đến các em lượng kiến thức cơ bản trong các bài học và ápdụng vào thực tế lao đọng sản xuất
- Phương pháp kiểm tra đánh giá: Thông qua phương pháp này tôi sẽ
đánh giá được khả năng nắm bắt và tiếp thu kiến thức của học sinh ở mức độnào qua phương pháp này Từ đó phân loại năng lực học sinh…
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận :
Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội
và chính bản thân của người lao động trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đạihoá, hội nhập với thế giới Mục tiêu của đổi mới phương pháp được quy định rõtrong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (Văn kiện Đại hội IX,
tr 201, 203 – 204) và Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam (Điều 4, chương I) và nghị quyết 29/NQ-TW ngày 14 tháng 11 năm
2013 của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diệngiáo dục và đào tạo
Cũng như các môn học khác ở các trường trung học sơ sở (THCS), mônVật lí cũng nằm trong quỹ đạo chung của xu thế đổi mới phương pháp dạy học.Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và đặc trưng của bộ môn,phương pháp dạy học Vật lí phát triển năng lực học sinh có các đặc điểm chungnhư sau:
Các khái niệm năng lực: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:
“Năng lực là đặc điểm của cá nhân, thể hiện mức độ thông thạo– tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn mộthay một số dạng hoạt động nào đó”
Trang 4Theo Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý
và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạtđộng nào đó với chất lượng cao
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là
tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với nhữngyêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động
đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả củahoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quảnhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạtđộng ấy
Như vậy các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất
tự nhiên của cá nhân nơi đóng vai trò quan trọng Năng lực củacon người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn docông tác, do tập luyện mà có
Dạy học phát triển năng lực học sinh sẽ giúp cho các emluôn luôn có nhu cầu tìm tòi khám phá và sáng tạo để thỏa mãnnhu cầu lĩnh hội kiến thức của nhân loại cho bản thân
Dạy học định hướng phát triển năng lực:
Với cách hiểu như trên về năng lực, việc dạy học định hướng phát triểnnăng lực về bản chất là coi trọng thực hiện mục tiêu dạy học hiện tại ở các mức
độ cao hơn, thực tiễn hơn thông qua việc giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng
Trang 5những kiến thức, kĩ năng một cách tự tin, hiệu quả và phù hợp trong hoàn cảnhphức hợp và có biến đổi, trong học tập cả trong nhà trường, ngoài nhà trường vàtrong đời sống.
Dạy học định hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thế màchỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường,bối cảnh cụ thể để học sinh được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sửdụng kĩ năng của mình Như vậy việc dạy học định hướng phát triển năng lựcđược thể hiện ở các trong các thành tố quá trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Về kiến thức: ngoài các yêu cầu về mức độ như
nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiếnthức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức
cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thựctiễn Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ được hình thành
và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng thời nhiềunăng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần tách biệt từng thành tố trongquá trình dạy học
- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa
dạng gắn với thực tiễn
- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất đánh giá năng lực cũng phải thông qua đánh giá
khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tìnhhuống phức tạp khác nhau
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Với bộ môn Vật lí tính thực tiễn được gắn với từng bài giảng thì việc “học đi đôi với hành” mới phát huy được tính chủ động tích cực ở học sinh vàhọc sinh trường THCS A là trường trung tâm của huyện miền núi, đa số họcsinh là con em gia đình có điều kiện, phụ huynh rất quan tâm đến vấn đề học tậpcủa học sinh Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị tốt, rất thuận lợi choviệc học tập của học sinh Vì vậy việc đầu tư chuyên môn thay đổi phương phápdạy học theo hướng phát triển năng lực người học là việc làm không thiếu thiếucủa giáo viên
Theo khảo sát thực tế ở khối lớp 8 của nhà trường về việc học sinh có thểvận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn như sau:
Trang 615,2%; Số học sinh có vận dụng nhưng không thường xuyên có 55/99 họcsinh,chiếm tới hơn 50% Và số học sinh không vận dụng là 29/99 học sinhchiếm 29,3%
Vì vậy việc tìm ra được những phương pháp học tập mới, hay tao sự hứngthú cho học sinh ứng dụng kiến thức thực tế vào thực tiễn, lôi cuốn học sinh đam
mê môn học của mình là điểu trăn trở đối với bản thân tôi
Thực trạng trên chứng tỏ đang còn phần lớn học sinh, học không đi đôivới hành ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục nói chung đến mục tiêu giáo dục bộmôn Vật lí nói riêng
Từ kết quả thực trạng trên, để việc dạy - học môn Vật lí đạt kết quả cao và
hiệu quả hơn tôi mạnh dạn cải tiến phương pháp dạy - học “Phát triển năng lực học sinh bằng cách sử dụng các câu hỏi ứng dụng thực tiễn khi dạy học phần
cơ, nhiệt trong môn vật lí lớp 8”
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Qua thực tế giảng dạy, nghiên cứu và thực nghiệm, tôi đã thay đổi thứ tựcâu hỏi trong bài giảng như sau:
Nếu trước đây các loại câu hỏi sẽ được thực hiện trong bài học theo thứ tự là:Phần I
Thứ nhất là loại câu hỏi tái hiện kiến thức cũ
Thứ hai là loại câu hỏi đặt vấn đề
Thứ ba là loại câu hỏi giải quyết vấn đề
Sang phần II, III tương tự
Phần cuối của bài mới sử dụng loại câu hỏi vận dụng tức là tiến trình nhưSGK nhưng như vậy một số bài câu hỏi sẽ bị không liền mạch, không tạo đượchứng thú học tập và tính khám phá thế giới tự nhiên ở người học Nên tôi đã đưacâu hỏi vận dụng riêng lên từng phần của bài học Đó là loại câu hỏi vận dụngthực tiễn, có thể khác SGK nhưng rất gần gũi trong cuộc sống lao động và sảnxuất Vì vậy thứ tự các loại câu hỏi sẽ là:
Phần I:
Thứ nhất là loại câu hỏi tái hiện kiến thức cũ
Thứ hai là loại câu hỏi đặt vấn đề
Thứ ba là loại câu hỏi giải quyết vấn đề
Thứ tư là câu hỏi vận dụng kiến thức vừa lĩnh hội vào thực tiễn
Sang phần II, III tương tự
Phần cuối câu hỏi dùng để củng cố bài học
* Giải pháp thứ nhất giáo viên đặt câu hỏi ứng dụng yêu câu học sinh trả lời.
Trang 7Hệ thống câu hỏi ứng dụng phải phù hợp với từng nội dung, yêu câu củatừng bài học và không tham sa đà vào nhiều câu hỏi làm lan man và mất thờigian của bài học Thông qua nội dung câu trả lời giáo viên giáo dục tuyên tuyênnhững việc nên làm và không nên làm cho học sinh
* Giải pháp thứ hai là khuyến khích học sinh đặt câu hỏi ứng dụng phản hồi.
Khi khuyến khích học sinh đặt câu hỏi thắc mắc về thế giới tự nhiên hoặccác hiện tượng các em gặp trong đời sống sẽ giúp các em phát triển khả năng tựhọc, tự tìm tòi và có thể sáng tạo
Các ví dụ cho giải pháp một và giải pháp hai:
Ví dụ 1: Khi dạy phần I “Làm thế nào để biết một vật chuyển động
hay đứng yên” (Bài 1 chuyển động cơ học SGK Vật lí 8 trang 4) học sinh đã biếtđược: một vật được vật chuyển động là vật có vị trí thay đổi so với vật mốc theothời gian thì vật chuyển động so với vật mốc Dựa vào kiến thức vừa học ta cóthể đặt câu hỏi:
Chúng ta đều biết trái đất chuyển động quanh mặt trời nhưng tại sao chúng ta không cảm thấy Trái đất chuyển động?
Sự vận động của Trái Đất quanh Mặt Trời Câu trả lời: Mỗi giây, Trái đất của chúng ta chuyển đông khoảng 30 km
quanh Mặt trời Đó là chưa kể tới việc Trái đất tự quay quanh mình với tốc độ ởđường xích đạo là 465 m/s Nhưng ta lại cảm thấy có vẻ như Trái đất đang đứngyên, trong khi chỉ cẩn ngồi trên xe chuyển động chỉ khoảng 15 km/h ta đã cảmnhận được xe đang chuyển động
Trái đất như một chiếc tàu khổng lồ trong không gian Nếu bên cạnh quỹđạo của nó cũng có những vật mốc như cây cối bên bờ sông, chúng ta sẽ dễ dàngnhận thấy Trái đất đang chuyển động Nhưng vì không có vật gì gần có thể làmmốc Chỉ có những vì sao xa tít không thể giúp ta cảm nhận thấy Trái đất đangchuyển dịch trong thời gian ngắn vài phút vài giây mà chỉ có thể giúp ta thấyđược Trái đất thay đổi vị trí theo ngày, tháng
Trang 8Không những thế Trái đất còn tự quay quanh nó với tốc độ khá nhanh,chúng ta và mọi vật ở trên đó cũng đang quay với cùng một tốc độ, bởi vậychúng ta không cảm nhận được chuyển động này Nhưng nhờ việc hàng ngày,chúng ta nhìn thấy Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao mọc đằng Đông và lặn đằngTây, đó chính là kết quả của việc Trái đất tự quay quanh mình nó.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Áp suất khí quyển (Bài 9 SGK Vật lí 8 trang 32)
Sau khi hướng dẫn học sinh tự học phần II học sinh biết được ở trên cao
áp suất khí quyển càng giảm ta có thể đưa ra câu hỏi áp dụng:
Tại sao khi đi máy bay lúc cất cánh và lúc hạ cánh ta lại nên ngậm kẹo?
Câu hỏi khích lệ sẽ giúp học sinh tìm cách giải đáp thắc mắc trên có thểnhiều em chưa đi máy bay nhưng câu hỏi cũng sẽ cho các em có kinh nghiệmkhi đi may bay
Câu trả lời: Áp suất khí quyển phụ thuộc vào độ cao so với mặt biển.
Lúc độ cao có sự thay đổi đột ngột: trong quá trình bay lên của máy bay, áp suấtkhí quyển nhanh chóng giảm xuống và màng nhĩ bị ép ra ngoài; khi máy bay hạcánh, áp suất khí quyển tăng lên và màng nhĩ bị đẩy vào trong Sự thay đổinhanh chóng về áp suất gây đau đầu Mà khi ta nuốt, tai giữa thông với khoangmiệng qua ống Ơxtasơ Ngậm kẹo làm tăng sự tiết nước bọt và miệng phải nuốtluôn, nhờ đó mà áp suất trong tai giữa nhanh chóng cân bằng với áp suất khíquyển Do đó có thể giảm bớt sự đau tức trong tai
Ví dụ 3: Trong bài Sự nổi (Bài 12 SGK Vật lí 8 trang 43)
Khi dạy phần I có thể đặt câu hỏi ứng dung Đối với cá, bong bóng có vai trò gì ?
Câu hỏi này còn có tác dụng liên môn với môn sinh học
Trang 9Câu trả lời: Bong bóng là một loại thiết bị dùng điều chỉnh khối lượng
riêng của cá khi di chuyển ở các độ sâu khác nhau Nhờ có bong bóng mà cá giữđược thăng bằng ở trong nước Khi xuống sâu, cá giữ cho thể tích bong bóngkhông đổi và áp suất trong bong bóng cân bằng với áp suất của nước, bằng cáchkhông ngừng bổ sung vào bong bóng oxi lấy từ máu Ngược lại, khi nổi lên trênmặt nước, máu lại hút lấy oxi trong bong bóng Sự bổ sung và hút đó diễn ratương đối chậm Vì thế, khi cá nổi từ dưới sâu lên nhanh quá, oxi không kịp hoàtan vào trong máu và bong bóng căng phồng sẽ làm cá chết Nhằm ngăn ngừatác hại này, ở cá chình biển có một van an toàn: khi nổi lên nhanh quá, cá tự mởvan và xả bớt hơi ở bong bóng ra
Hiện tượng này có thể giúp học sinh nảy ra những ý tưởng khoa học kĩthuật như nghiên cứu về các loại tàu biển
Ví dụ 4: Bài lực đẩy Acsimet (Bài 10 SGK Vật lí 8 trang 36)
Khi dạy phần I học sinh đã được cung cấp kiến thức về chất lỏng tác dụngmột lực đẩy hướng từ dưới lên vật nhúng chìm trong nó (thực tế thì chất khícũng có tác khả năng này)
Ta đặt câu hỏi ứng dụng cho chất khí: Tại sao ngọn lửa không tự tắt nếu còn nhiên liệu?
Trang 10Hình ảnh cháy rừng
Giáo viên đặt ra vấn đề cho học sinh: Ngọn lửa trong môi trường hấp dẫn
bình thường Như ta đẫ biết quá trình cháy tạo ra khí CO2 và hơi nước, đều lànhững chất không có khả năng duy trì sự cháy Những chất này sẽ bao bọc lấyngọn lửa, ngăn không cho nó tiếp xúc với không khí Như vậy, ngọn lửa phải tắtngay từ lúc nó mới bắt đầu hình thành chứ ? tại sao việc đó lại không xảy ra?Tại sao khi dự trữ nhiên liệu chưa cháy hết thì quá trình cháy vẫn kéo dàikhông ngừng?
Từ vấn đề được đặt ra học sinh sẽ đi tìm câu trả lời:
Câu trả lời :Nguyên nhân duy nhất là, chất khí sau khi nóng lên thì sẽ nở
ra và trở nên nhẹ hơn Chính vì thế, các sản phẩm nóng của sự cháy không ở lạinơi chúng được hình thành là bao quanh ngọn lửa mà bị không khí mới lạnh hơn
và nặng hơn tràn xuống rồi đẩy chúng lên trên lên phía trên một cách nhanh chóng( hiện tượng này cũng có thể giải thích như một hiện đối lưu của chất khí)
Trong trường hợp này nếu như định luật Acsimet không được áp dụngcho chất khí (hoặc, nếu như không có trọng lực), thì bất kỳ ngọn lửa nào cũngchỉ cháy được trong chốc lát rồi sẽ tự tắt ngay
Chúng ta dễ dàng thấy rõ tác dụng tai hại của những sản phẩm cháy đốivới ngọn lửa Chúng ta cũng thường vô tình lợi dụng nó để làm tắt ngọn lửatrong đèn Ta thường làm tắt ngọn đèn dầu hỏa như thế nào nhỉ? Chính là phảithường thổi từ phía trên xuống, tức là đã dồn xuống dưới, về phía ngọn lửa,những sản phẩm không cháy được (do sự cháy sinh ra), và ngọn lửa tắt vì không
có đủ không khí (theo Vật lí vui)
Trang 11Lửa rất quan trọng trong cuộc sống nhưng nếu xảy ra hỏa hoạn thì rấtthiệt hại cả người và của nên qua đây giáo viên có thể tuyên truyền về ý thứcphòng cháy chữa cháy cho học sinh.
Một số hình ảnh về các ngọn lửa bất diệt
Ngọn lửa bất diệt cháy trong hơn 2000 năm ở Thổ Nhĩ Kì
Những ngọn lửa ở cánh đồng than Jharia, Ấn Độ
Trang 12Núi lửa Mount Wingen, Australia
Những hình ảnh này cũng sẽ thôi thúc lòng mong muốn khám phá và giảithích các hiện tượng tự nhiên từ đó phát trển năng lực về khoa học tự nhiên
Ví dụ 5: Bài lực đẩy Acsimet Khi dạy phần I ta cũng có thể đặt ra tình hương
sau:
Trên đĩa cân đặt một thùng nước đầy tới miệng Trên đĩa cân bên kia cũng có một thùng nước giống như thế, cũng đầy nước tới miệng,
nhưng có một khúc gỗ nổi lên trên Hỏi thùng nào nặng hơn? (Theo 10
vạn câu hỏi vì sao)
Câu đố này được đặt ra cho học sinh, và có nhiều câu trả lời khác nhau
Em thì nói thùng nước có khúc gỗ nổi lên mặt phải nặng hơn, vì “ngoài nước ra,trong thùng còn cả gỗ” Em lại cho rằng ngược lại, thùng nước kia nặng hơn vì
“nước nặng hơn gỗ’
Câu trả lời: Cả hai thùng nặng như nhau Trong thùng thứ hai đúng là có
ít nước hơn thùng thứ nhất, vì khúc gỗ nổi có đẩy bớt một ít nước ra ngoài.Nhưng theo định luật về sự nổi thì với mọi vật nổi, phần chìm của nó sẽ chiếmchỗ của một phần nước có trọng lượng đúng bằng trọng lượng của vật đó Vì thế
mà cân giữ nguyên thế thăng bằng
Ví dụ 6: Khi dạy mục “I Nguyên lí truyền nhiệt” bài 25 Phương trình cân
bằng nhiệt học sinh biết có ba nguyên lí truyền nhiệt Theo nguyên lí thứ hai là:
Sự truyền nhiệt xảy ra cho tới khi nhiệt độ của hai vật bằng nhau thì dừng lại
Dựa vào kiến thức này ta yêu cầu học sinh vận dụng Tại sao nước có thể nấu mãi không sôi ?
Giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành thí nghiệm: Cho nước vào chiếc cốc nhỏ, và chiếc cốc to, sau đó đặt chiếc cốc nhỏ vàochiếc cốc to, và dùng đèn cồn để nung nóng phía đáy của chiếc cốc lớn Một lát saunước trong chiếc cốc to sôi bùng lên Nhưng thật lạ là nước trong cốc nhỏ lại khôngsôi bùng lên, dù có tiếp tục đun lâu hơn nữa ở đáy chiếc cốc to Dùng nhiệt kế để