1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề giúp học sinh lớp 8 trường THCS đông hải tích cực trong tìm hiểu bộ môn sinh học 8

15 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 463,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm; Trong quá trình giảng dạy giáo viên thường sử dụng các phương pháp: quan sát, thí nghiệm, vấn đáp…để giúp học sinh tìm ra kiến th

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.

Với bất cứ quan điểm dạy học nào, khi học sinh tích cực chủ động trong học tập thì kết quả đạt được sẽ là cao nhất Nhưng làm sao để phát huy tính tích cực của học sinh đang là vấn đề cần quan tâm của mỗi bộ môn, mỗi giờ học

Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm; Trong quá trình giảng dạy giáo viên thường sử dụng các phương pháp: quan sát, thí nghiệm, vấn đáp…để giúp học sinh tìm ra kiến thức Sinh học lớp 8 chủ yếu nghiên cứu về cơ thể người, có nhiều đơn vị kiến thức liên quan thực tế, đôi khi những kiến thức đó là những thắc mắc của người học Nếu sử dụng phương pháp dạy học thiên về thực nghiệm để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì hiệu quả giảng dạy đôi khi chưa cao Vậy giáo viên phải kết hợp sử dụng phương pháp như thế nào để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng và cảm thấy thích thú học tập bộ môn? Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp

dạy học “đặt và giải quyết vấn đề” vào bài giảng Sinh học 8 sẽ giúp học sinh

tích cực hơn, thích thú hơn khi tiếp thu kiến thức vì nó kích thích tính tò mò muốn hiểu biết, khám phá những vấn đề có liên quan đến chính bản thân mình

Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học “Đặt và giải quyết vấn đề” giúp học sinh lớp 8 trường THCS Đông Hải tích cực trong tìm hiểu bộ môn Sinh học 8”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Sử dụng phương pháp dạy học “Đặt và giải quyết vấn đề” giúp học sinh lớp 8 trường THCS Đông Hải tích cực trong tìm hiểu môn Sinh học 8

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu đề tài này là phương pháp dạy học “Đặt và giải quyết

vấn đề” trong tìm hiểu bộ môn Sinh học 8

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

1 4.1 Nghiên cứu lí thuyết:

Để thực hiện tốt và có cơ sở cho việc nghiên cứu, điều tra tình hình học tập của học sinh, bản thân tôi đã đọc và nghiên cứu rất nhiều tài liệu : sách giáo khoa, sách tham khảo, tài liệu chuyên môn, sách bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ cho giáo viên …Đặc biệt là những tài liệu liên quan đến việc giúp học sinh tích cực, hứng thú hơn trong học tập bộ môn Sinh học

1.4.2 Điều tra quan sát sư phạm: thông qua việc:

- Dự giờ: Bản thân tôi đã dự giờ rất nhiều tiết ở tất cả các khối lớp, đặc biệt là

giáo viên dạy cùng bộ môn Trong đó chú trọng dự giờ khối 8 để tự học hỏi và rút kinh nghiệm qua từng thao tác, phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên,

Trang 2

đặc biệt là những phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong phương pháp đặt và giải quyết vấn đề để áp dụng vào tiết dạy của mình tốt hơn

-Đàm thoại:Trong công tác, tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp, tổ

chuyên môn để cùng nhau giải quyết, khắc phục những khó khăn trong giảng dạy, cách thức phối hợp các phương pháp dạy học thích hợp với từng bài (đặc biệt là những bài có kiến thức khó) Ở đây mỗi giáo viên phải tự đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm giúp học sinh hứng thú trong tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức.Trong quá trình giảng dạy, tôi thường đàm thoại trực tiếp với học sinh để thăm dò tình hình học tập của lớp, những khó khăn mà học sinh gặp phải trong phương pháp đặt và giải quyết vần đề

-Thực nghiệm:Tôi đã sử dụng phương pháp thực nghiệm bằng cách cùng một

bài dạy nhưng ở lớp 8C tôi áp dụng “phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn

đề nhằm giúp học sinh tích cực trong tìm hiểu bộ môn” được nghiên cứu trong

đề tài vào tiết dạy Còn lớp 8A, 8B là lớp đối chứng Từ đó tôi đối chiếu kết quả học tập của lớp 8C so với lớp 8A, 8B để biết việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này có hiệu quả hay không

- Kiểm tra: Sử dụng các hình thức kiểm tra miệng, mười lăm phút, một tiết, thi

học kì theo qui định Ngoài ra, tôi thường xuyên theo dõi việc học tập, ghi chép bài, việc sử dụng vở bài tập của học sinh trong từng tiết học, để kiểm tra việc ghi chép và việc soạn bài trước ở nhà của học sinh Từ đó giúp học sinh có cơ sở thuận lợi để thích nghi với phương pháp phát huy tính tích cực trong phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

- So sánh kết quả: Thông qua kết quả giảng dạy, kết quả các bài kiểm tra, thi

học kì I tôi đã so sánh kết quả học tập của học sinh (học giỏi, khá, trung bình, yếu) đối với phương pháp “đặt và giải quyết vấn đề” Từ việc so sánh kết quả qua các giai đoạn giúp cho giáo viên biết được những ưu điểm, những chuyển biến tích cực để điều chỉnh kịp thời Từ đó giáo viên đề ra hướng giải quyết khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay, có như vậy học sinh mới chủ động tiếp thu kiến thức nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất Để phát huy sự tích cực của học sinh trong học tập một phần phải xuất phát từ chính bản thân học sinh Do vậy yêu cầu đặt ra là phải làm sao để học sinh tích cực, hứng thú với học tập bộ môn?

Trang 3

Học sinh Trung học cơ sở, đặc biệt là học sinh khối 8 phần lớn các em chưa tự

ý thức được việc học tập của mình mà các em thường học theo cảm tính Nghĩa

là các em học theo sở thích của mình, những môn học nào các em cảm thấy hứng thú, gần gũi với bản thân thì khả năng tiếp thu ở các em rất tốt Nắm được đặc điểm đó, đòi hỏi người giáo viên phải có biện pháp, phương pháp, thủ thuật dạy học phù hợp nhằm thu hút học sinh học tập, qua đó phát huy sự tích cực trong học tập của các em

Trong phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, những bài toán, câu hỏi đặt ra để tạo tình huống có vấn đề là thành tố chính kết hợp các phương pháp khác như thí nghiệm, quan sát, thảo luận, thuyết trình, nghiên cứu sách giáo khoa Phương pháp này có thể thâm nhập vào các phương pháp khác để đẩy các phương pháp đó lên tầm cao hơn kích thích tính tích cực, tìm tòi của học sinh

Trước đây, tuy có rất nhiều người đã nghiên cứu về đề tài này, nhưng ở đây bản thân tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này nhằm phát huy sự tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong tiếp thu kiến thức với mong muốn đưa phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề lên một tầm cao hơn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trong thực tế giảng dạy ở trường học, học sinh thường quan niệm rằng môn sinh học là môn phụ không quan trọng nên các em thường không đầu tư nhiều cho nghiên cứu bộ môn thậm chí còn lơ là không hứng thú khi tìm hiểu kiến thức

Qua thực tế giảng dạy môn Sinh học ở trường Trung học cơ sở, tôi nhận thấy rằng : học sinh thường thụ động, vẫn còn thói quen học tập rập khuôn, máy móc khi tiếp thu kiến thức, các em chưa tích cực trong tìm hiểu bộ môn Hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau:

+ Khó khăn:

-Giáo viên: Gặp rất nhiều khó khăn trong phương pháp dạy học đặt và giải

quyết vần đề nhằm phát huy sự tích cực của học sinh trong học tập.Từ nhiều năm trước giáo viên chúng ta đã quen với thuật ngữ “dạy học nêu và giải quyết vấn đề” nhưng đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo Một số giáo viên chưa khéo léo trong việc đưa ra các tình huống có vấn đề hoặc chưa giúp học sinh giải quyết vấn đề một cách hợp lí nhất hoặc những tình huống giáo viên đưa ra xa vời thực tế không gây hứng thú ở học sinh nên các em không hứng thú để tìm hiểu và giải quyết vần đế

Trang 4

Trong giảng dạy, vì sợ mất nhiều thời gian nên giáo viên có thói quen chỉ dựa vào ý kiến phát biểu của học sinh khá giỏi để đi đến kết luận Giáo viên thường

đi thẳng vào vấn đề, giải thích minh họa những điều cần nói, không tạo tình huống có vấn đề cho học sinh suy nghĩ, giải thích những điều mà các em muốn tìm tòi, thắc mắc

-Học sinh :

Thiếu tinh thần tự giác trong học tập

Chưa tích cực chủ động trong tiếp thu kiến thức

Chưa có kĩ năng giải quyết vấn đề có liên quan đến chính bản thân các em

Chưa có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề

có liên quan đến thực tiễn cuộc sống

Chưa có kĩ năng vận dụng hài hòa giữa lí thuyết và thực tiễn cuộc sống

Học sinh thường chỉ nghe thầy cô thông báo kiến thức dưới dạng có sẵn thì dễ

có cảm giác nhàm chán và như vậy không kích thích hoạt động trí tuệ của học sinh, dẫn đến học sinh lười tư duy

Một số em nhận thức chưa đúng về môn học, xem nhẹ bộ môn Các em cho rằng đây là môn phụ nên ít đầu tư cho việc chuẩn bị bài học, không chú ý lắng nghe vấn đề đặt ra và không suy nghĩ điều cần giải quyết

Phương pháp này đòi hỏi vốn kiến thức của học sinh phải nhiều Kiến thức mới có liên quan với kiến thức cũ, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức để biết liên hệ giữa những điều đã biết và những điều chưa biết, từ đó sẽ tiếp thu tri thức mới một cách dễ dàng

Sự không đồng đều về trình độ kiến thức của học sinh trong lớp cũng gây rất nhiều khó khăn khi áp dụng phương pháp này

-Thực trạng trường lớp, đồ dùng dạy học: Bộ tranh sinh 8 chưa đủ cung cấp

cho tất cả các hình như sách giáo khoa, nhất là đối với những bài kiến thức sinh

lí và vệ sinh … Một số tranh ảnh, trang thiết bị chưa đủ cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu rõ vấn đề Vì vậy giáo viên phải tự đưa ra tình huống có vấn đề để học sinh tự giải quyết vấn đề, qua đó học sinh tự lĩnh hội kiến thức

Hầu hết các mô hình đều đã hỏng (mô hình cấu tạo mắt, mô hình cấu tạo tai,

mô hình não, mô hình tủy sống) nên một số tiết dạy khô khan thiếu sự thu hút đối với học sinh

Một số dụng cụ thí nghiệm khó làm, mất nhiều về thời gian như thí nghiệm về hoạt động hô hấp, tìm hiểu hoạt động của enzim trong nước bọt, tìm hiểu chức năng của tủy sống giáo viên kết hợp biểu diễn thí nghiệm hoặc cho học sinh làm thí nghiệm theo nhóm, đồng thời phải tạo tình huống có vấn đề khác nhau

để kích thích cho học sinh tìm tòi, phát huy tính tự học của học sinh

Trang 5

Xuất phát từ tình hình thực tế của trường và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học “phát huy tính tích cực của học sinh” Tôi thấy việc nghiên cứu: “ Giải pháp giúp học sinh phát huy tính tích cực trong phương pháp đặt và giải quyết vấn đề” ở mỗi tiết dạy là rất cần thiết Bởi vì đây là một trong những phương pháp học tập tích cực, phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo, năng lực tự học của học sinh Phương pháp này không chỉ dừng lại ở khối 6, 7, 8, 9 mà còn xuyên suốt trong quá trình học tập của các em sau này

Và sau đây là kết quả thống kê tình hình học tập môn Sinh học của học sinh lớp 8C đầu năm học 2020 – 2021, cụ thể như sau:

50 TS4 TL%8 TS14 TL%28 TS24 TL%48 TS8 TL%16 Bên cạnh những khó khăn đã nêu trên, trong thực tế giảng dạy bản thân tôi cũng nhận thấy rõ một số thuận lợi như sau:

+Thuận lợi

- Giáo viên:

Phương pháp dạy học Sinh học ở trường THCS hiện nay so với trước đã có những chuyển biến đáng kể nhất là các phương pháp dạy học tích cực Đây không phải là vấn đề mới, điều đáng chú ý là việc tập luyện cho học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ thuộc phạm trù phương pháp dạy học mà đã trở thành mục tiêu giáo dục, đảm bảo cho con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội Trong giảng dạy, giáo viên phải chú ý đến tính khoa học, chính xác, tính thực tiễn của kiến thức, nhất là đảm bảo tính hệ thống và khối lượng kiến thức mà chương trình sách giáo khoa đã quy định

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên cũng ngày một nâng cao qua những khóa học chuyên môn nghiệp vụ hè Do vậy việc áp dụng phương pháp dạy học “đặt và giải quyết vấn đề” cũng đơn giản hơn nhiều

- Học sinh:

Dạy theo phương pháp này tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh, hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Học sinh yêu thích bộ môn Sinh học, trong giờ học các em chú ý lắng nghe giảng bài, tích cực đưa ra các tình huống có vấn đề để cùng nhau giải quyết các tình huống đó

- Thực trạng trường- lớp, đồ dùng dạy học:

Trường học gồm 13 lớp , có 4 phòng học có máy chiếu mới lắp và chỉ học một buổi nên thuận lợi cho học tập của các em

Trang 6

Có phòng thư viện, thiết bị , phòng thực hành thí nghiệm và có giáo viên trực đầy đủ nên thuận lợi cho việc mượn trả thiết bị phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy và tận dụng các phòng phục vụ cho công tác phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Các bước của phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:

2.3.1.1 Đặt vấn đề:

Nêu ra các hiện tượng, sự kiện mâu thuẫn với tri thức đã có bằng lời giảng của thầy, bằng kinh nghiệm, biểu diễn mẫu vật, bài toán chủ thể nhận thức va chạm với mâu thuẫn khách quan, kết quả chủ thể biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan

2.3.1.2 Giải quyết vấn đề:

Lôgic của các bước giải quyết vấn đề được thể hiện qua việc nêu giả thuyết,

vạch kế hoạch giả thuyết, chứng minh giả thuyết Đây là khâu quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề Bước này huy động được tối đa tính tìm tòi, sáng tạo của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề, bộ phận có thể do từng cá nhân thực hiện hoặc thảo luận theo nhóm Giáo viên theo dõi tiến trình giải quyết vấn

đề của học sinh để khi cần thiết có hướng dẫn, gợi ý và cuối cùng tổng hợp lại toàn bộ kết quả xung quanh khu vực giải quyết vấn đề chính

2.3.1.3 Kiểm tra cách giải quyết, kết luận vấn đề:

Sau khi giải quyết vấn đề, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh kết quả đạt được với giả thuyết, nếu phù hợp học sinh đi đến kết luận vấn đề, nếu không phù hợp phải đặt giả thuyết khác và giải quyết bằng một cách khác Khi vấn đề đã được kết luận, tri thức mới mà học sinh lĩnh hội được từ việc giải quyết vấn đề

sẽ được vận dụng để giải quyết vấn đề có liên quan

2.3.2 Các cấp độ của dạy học giải quyết vấn đề:

Dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thực hiện ở các mức độ cao thấp khác nhau, tùy theo trình độ tham gia của học sinh vào việc giải quyết các vấn đề nhận thức

+ Mức độ thứ nhất: giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, học sinh thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên

+ Mức độ thứ hai: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết + Mức độ thứ ba: Giáo viên cung cấp thông tin, tạo tình huống, học sinh phát hiện nhận dạng và tự lực đề ra cách giải quyết

+ Mức độ bốn: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng lựa chọn vấn đề phải giải quyết, tự đề xuất ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải

Trang 7

Trong thực tế giảng dạy để áp dụng phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề hiệu quả nhất ta thường áp dụng ở mức hai và ba Bởi vì ở hai mức độ này phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

2.3.3 Áp dụng giải pháp:

Nội dung những vấn đề, những tình huống giáo viên đưa ra phải phù hợp với nội dung bài học, phải gần gũi với thực tế cuộc sống từ mức độ dễ đến khó, có như vậy mới phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, mới kích thích sự sáng tạo, lòng say mê học tập ở học sinh Những vấn đề đưa ra phải có hướng giải quyết phù hợp, tránh những vấn đề giải quyết theo kiểu đúng sai

Nội dung những vấn đề, những hiện tượng đặt ra cần phải kết thúc bằng các câu hỏi : Em giải thích vấn đề đó như thế nào? Tại sao lại như vậy? Tại sao lại

có vấn đề đó? … Đó là hàng loạt những vấn đề, những hiện tượng đưa ra mà học sinh cần phải giải quyết để các em đi sâu tìm hiểu Cuối cùng nếu như học sinh chưa giải quyết được vấn đề thì giáo viên cần định hướng cụ thể, rõ ràng cho học sinh tự giải quyết Tránh tình trạnhg giáo viên trình bày sẵn cho học sinh ngồi tiếp thu

Để giúp học sinh tích cực hứng thú hơn khi đi sâu tìm hiểu hay giải quyết vấn

đề nào đó, giáo viên cần phải huy động vai trò, khả năng chủ động của học sinh trước vấn đề, tình huống đã đặt ra

+ Những tình huống giáo viên đưa ra phải được giải thích trên cơ sở khoa học + Những vấn đề đưa ra phải thực tế và có liên quan đến chính đời sống hay bản thân học sinh mà các em có nhu cầu giải quyết

+ Giáo viên phải có nhận xét đánh giá cụ thể những ý kiến, những giải thích của học sinh

2.3.4 Các bài dạy cụ thể :

2.3.4.1.Đối với bài dạy kiến thức giải phẩu hình thái:

Bài 13: “MÁU VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ THỂ”

* Vấn đề 1: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu

+ Đặt vấn đề: Chúng ta ai cũng đã biết về máu Máu có đặc điểm cấu tạo như

thế nào? Để biết được điều này Ta đi vào phần 1 “Tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu”:

+ Giải quyết vấn đề:

-GV: Cho học sinh quan sát Hình 13.1 và mẫu máu GV đã chuẩn bị:

Trang 8

*HS: Quan sát hình

-GV: Yêu cầu học sinh mô tả thí nghiệm Nếu học sinh nêu chưa rõ thì giáo

viên có thể gợi ý, bổ sung như sau: Cho máu vào trong ống nghiệm 5ml, cho vào chất dung dịch xitrat natri , là chất chống đông để lắng động tự nhiên 3-4 giờ

-GV: Hướng dẫn học sinh quan sát kỹ ống nghiệm sau khi để lắng 3-4 giờ +Quan sát thấy có hiện tượng gì?

*HS: Máu phân tách thành 2 phần, phần trên: lỏng, vàng nhạt, chiếm 55% thể

tích, phần dưới: đặc quánh, đỏ thẫm, chiếm 45% thể tích

+Tại sao lại có những màu sắc khác nhau? Tại sao phần dưới lại đặc quánh, có chứa yếu tố nào?

Để biết được chúng ta cùng quan sát mẫu

-GV: Lấy giọt máu ở phần dưới lên tiêu bản đặt dưới kính hiển vi Cho HS

quan sát rồi đối chiếu kết quả ở H13.1SGK

+ Trong tế bào máu gồm có những loại tế bào nào?

*HS: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu

- Quan sát và nhận xét màu sắc các thành phần của máu trong mẫu và trên hình?

*HS: Quan sát mẫu kết hợp hình 13.1 trả lời được: phần trên tiếp giáp với huyết

tương là lớp bạch cầu màu trắng đục, phần dưới mới là lớp hồng cầu màu đỏ và

Để lắng động tự nhiên 3-4giờ

H13.1:Thí nghiệm tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu

5ml

Phần trên:lỏng, vàng nhạt, chiếm 55% thể tích

Phần dưới:đặc quách,

đỏ thẫm, chiếm 45% thể

Màu hồng, hình đĩa, lõm 2 mặt, không nhân

Trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân

Mảnh chất tế bào của tế bào sinh tiểu cầu

Trang 9

có các tiểu cầu Màu của bạch cầu và tiểu cầu ở mẫu vật thật với hình không giống nhau

+Tại sao trên hình, bạch cầu và tiểu cầu có màu xanh tím, còn ở mẫu vật không màu?

-GV: có thể gợi ý cho HS: Màu sắc trong hình chỉ có hồng cầu giống màu thực

của nó, bạch cầu và tiểu cầu được nhuộm màu bằng các loại thuốc khác nhau, bạch cầu ưa kiềm bắt màu xanh tím khi được nhuộm bằng thuốc nhuộm kiềm tính, khi chưa nhuộm, bạch cầu và tiểu cầu gần như trong suốt

-GV: Cho HS làm bài tập điền từ vào chỗ trống

Gọi một vài học sinh trình bày, nêu rõ đặc điểm của từng loại tế bào Như vậy học sinh tìm ra được thành phần cấu tạo của máu

+ Kết luận vấn đề: Thành phần cấu tạo của máu gồm:

- Huyết tương: Lỏng, trong suốt, màu vàng chiếm 55% thể tích máu

- Các tế bào máu: Đặc, đỏ thẫm, chiếm 45 % thể tích, gồm: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu

* Vấn đề 2: Tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu

+ Đặt vấn đề: Máu có những thành phần như thế Vậy chức năng các thành phần

đó là gì? Sang phần 2 “ Tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu” + Giải quyết vấn đề:

-GV: Kiểm tra lại kiến thức cũ có liên quan đến bài học

+ Máu thuộc loại mô nào?

*HS: Mô liên kết

+ Máu có ở đâu trong cơ thể?

*HS: Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể

- GV: Yêu cầu HS đọc nội dung ở bảng 13

Các chất dinh dưỡng: prôtêin, lipit, gluxit, vitamin

Các chất cần thiết khác: hoocmôn, kháng thể,…Các muối khoáng

Các chất thải của tế bào: urê, axit uric,…

10%

Cho biết: +Trong huyết tương chất nào chiếm nhiều nhất?

*HS: Nước chiếm 90%

-GV: Yêu cầu HS thảo luận nhóm 3 câu hỏi SGK/43 trong 4 phút

Có thể dẫn dắt cho HS từng câu hỏi 1

Câu 1:+Khi máu bị mất nước (từ 90%-80%-70%) thì trạng thái máu sẽ như thế nào? *HS: Máu sẽ đặc lại

+ Khi máu bị đặc lại thì sự vận chuyển máu trong mạch sẽ như thế nào?

Trang 10

*HS: Sẽ khó khăn hơn

+ Vậy chức năng đầu tiên của huyết tương là gì?

*HS: Duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch Câu 2 : +Thành phần chất trong huyết tương (bảng 13) có gợi ý gì về chức năng của nó?

*HS: Là môi trường để hòa tan chất dinh dưỡng, vận chuyển chất dinh

dưỡng đến tế bào

Câu 3: + Vì sao máu từ phổi về tim rồi tới các tế bào có màu đỏ tươi, còn máu

từ các tế bào về tim rồi tới phổi có màu đỏ thẫm?

*HS: -Máu từ phổi về tim đến tế bào có màu đỏ tươi, vì máu mang nhiều

O2 nên hồng cầu có Hb (huyết sắc tố) kết hợp với oxi  màu đỏ tươi

-Máu từ tế bào về tim đến phổi: đỏ thẩm, vì máu mang nhiều CO2 nên hồng cầu

có Hb (huyết sắc tố) kết hợp với CO2  màu đỏ thẩm

-GV: Cho các nhóm báo cáo, nhận xét ý kiến của các nhóm.

+Cấu tạo hồng cầu có ý nghĩa gì trong sự vận chuyển O 2 và CO 2 ?

*HS: Lõm 2 mặt tăng diện tích tiếp xúc O2 và CO2, tăng khả năng vận chuyển, không có nhân nhằm tận dụng tối đa Oxi cung cấp cho tế bào cơ thể + Kết luận vấn đề:Chức năng của huyết tương và hồng cầu là:

-Huyết tương: Duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch; vận chuyển các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết và các chất thải trong cơ thể

- Hồng cầu có Hêmôlôbin có khả năng kết hợp với O2 và CO2 để vận chuyển từ phổi về tim, tới các tế bào và ngược lại

-GV: +Chúng ta vừa tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu, còn chức năng của Bạch cầu là gì? Bài 14 sẽ tìm hiểu tiếp

2.3.4.2 Đối với bài dạy kiến thức sinh lí:

Bài 14 “ Bạch cầu- miễn dịch” Chọn mục I “ Các hoạt động chủ yếu cảu bạch cầu”

+ Đặt vấn đề:

Khi em bị một vết thương nhẹ ở tay, ở vết thương đó sưng lên sau vài ngày thì lành Vậy nguyên nhân do đâu mà vết thương đó lại lành?

Tìm hiểu phần I : “Các hoạt động chủ yếu của bạch cầu”.

+ Giải quyết vấn đề: -GV: Gọi HS nhắc lại đặc điểm của tế bào bạch cầu ? *HS: Trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân, không có hình dạnh nhất định + Có mấy loại tế bào bạch cầu?

*HS: Có 5 loại: Bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axit,

bạch cầu limphô, bạch cầu mônô

-GV: Hướng dẫn HS QS H 14.1đọc TT SGK/45

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w