1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp sử dụng hình thức đánh giá chéo nhằm tăng tính tích cực cho học sinh trong dạy học ngữ văn 9 ở trường trung học cơ sở lương nội, bá thước

34 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ CHÉO NHẰM TĂNG TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH TRONG DẠ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HÌNH THỨC

ĐÁNH GIÁ CHÉO NHẰM TĂNG TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9

Ở TRƯỜNG TRƯỜNG THCS LƯƠNG NỘI - BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Nguyễn Văn Nguyên Chức vụ: Giáo viên.

Đơn vị công tác: Trường THCS Lương Nội SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

Nội dung Trang

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 42.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 62.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc thứ XI, đất nước ta xác định tập trung vàoviệc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân nhằm đào tạo conngười lao động mới, phục vụ mục tiêu xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa

và con người Việt Nam trong thời đại mới Để thực hiện mục tiêu đổi mới căn

Trang 3

bản bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, trong những năm học gần đây,ngành giáo dục đang từng bước đổi mới mục tiêu, chương trình, phương pháp,

kỹ thuật dạy học hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh Trongbối cảnh toàn ngành giáo dục đang hướng tới thay đổi chương trình, sách giáokhoa nhằm phát huy năng lực, phẩm chất học sinh thì việc áp dụng các biệnpháp, phương pháp giáo dục, kích thích tính tích cực chủ động cho học sinhtrong mỗi tiết học là một việc làm cụ thể, thiết yếu

Trong những năm học vừa qua, cùng với việc thực hiện đổi mới phươngpháp dạy học, kĩ thuật dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá của toàn ngànhgiáo dục, thầy và trò trường Trung học cơ sở Lương Nội, Bá Thước cũng tíchcực tham gia áp dụng các phương pháp dạy học mới với mục tiêu phát triểnphẩm chất năng lực cho học sinh Song, đây là một trường vùng sâu, vùng xa,vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, xuất phát điểm của học sinhthấp nên phần đa học sinh còn hạn chế về lượng kiến thức, nhút nhát về tínhcách, vì vậy trong một số tiết học Ngữ văn, các em vẫn chưa phát huy hết tínhtích cực chủ động như mong muốn của thầy cô, kể cả học sinh đã lên lớp 9 Tìnhtrạng học sinh học và làm bài tập một cách thụ động, thậm chí đối phó vẫn còntồn tại

Với mong muốn khắc phục, giải quyết vấn đề trên, bản thân tôi và cácđồng nghiệp trong nhà trường đã không ngừng học hỏi, tìm tòi các biện phápdạy học học nhằm khắc phục, cải thiện nhưng thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc.Trong điều kiện của địa phương, việc làm thế nào để lôi cuốn các em cùng thamgia tích cực trong một tiết học, đặc biệt đối với các tiết luyện tập thực hành làmột câu hỏi lớn, một bài toán lâu dài Hơn nữa, chưa có nhiều tài liệu, ý kiếnbàn sâu vào vấn đề sử dụng hình thức đánh giá chéo trong dạy học

Từ thực tế đã nêu trên, trong những năm học gần đây, trên cơ sở nghiêncứu, áp dụng, sáng tạo các phương pháp, kĩ thuật dạy học, kỹ thuật kiểm trađánh giá tôi đã mạnh dạn áp dụng hình thức đánh giá chéo trong quá trình dạyhọc Ngữ văn và thu được những kết quả khả quan, đáng mừng Nhận thấy đây là

mô hình hiệu quả, có thể áp dụng rộng rãi hơn nên tôi xin được giới thiệu đề tài

“Một số giải pháp sử dụng hình thức đánh giá chéo nhằm tăng tính tích cực cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn 9 ở trường trung học cơ sở Lương Nội,

Bá Thước”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Với đề tài “Một số giải pháp sử dụng hình thức đánh giá chéo nhằm tăngtính tích cực cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn 9 ở trường trung học cơ sởLương Nội, Bá Thước”, tôi xác định mục đích chính là kích thích khả năng tư

Trang 4

duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập bộ môn Ngữ Văn 9, từ đó cóthể áp dụng rộng rãi hơn đối với việc học tập của các em nói chung.

Do thực tế có nhiều em còn nhút nhát, thụ động nên đề tài này hướng tớimục tiêu chính là tăng cường sự tích cực, chủ động cho học sinh trong học tậprèn luyện nói chung

Đồng thời với mục tiêu tăng cường tính tích cực chủ động, đề tài này cònnhằm rèn luyện khả năng đánh giá, tự đánh giá cho học sinh trong học tập vàcuộc sống Hình thành thói quen tự học, tự đánh giá mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnhvực,

Song song với các mục tiêu trên, việc áp dụng đề tài này còn nhằm tạohứng thú học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng của việc dạy và học bộ mônNgữ Văn 9 Từ việc tham gia đánh giá chéo, các em sẽ thấy việc học không còn

là học từ thầy mà còn học từ bạn, học từ chính bản thân mình, học mà chơi

-chơi mà học.

Từ những điều trình bày trên có thể thấy rằng mục tiêu của đề tài nàynhằm vào việc phát huy những phẩm chất, năng lực mà học sinh cần có, đúngnhư định hướng mục tiêu dạy học mới mà chúng ta đang thực hiện

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp sử dụng hình thức đánh giá chéo nhằm tăng tính tích cực

cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn 9 ở trường trung học cơ sở Lương Nội, BáThước

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng đề tài, tôi sử dụng các phươngpháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: trên cơ sở nghiêncứu về quan điểm dạy học tích cực, các phương pháp dạy học và kĩ thuật kiểmtra đánh giá theo hướng tích cực, tôi đã xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài này

- Phương pháp điều tra thực tế, thu thập thông tin: thông qua quan sát thực

tế, thu thập thông tin về hứng thú học tập trước và sau khi áp dụng đề tài đểđánh giá hiệu quả của đề tài

- Phương pháp thống kê xử lý số liệu: tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê

số liệu, đối sánh để thấy được hiệu quả sau khi áp dụng đề tài

- Phương pháp thử nghiệm: sau khi nghiên cứu hướng đi, tôi đã áp dụngcác giải pháp vào quá trình dạy học Ngữ Văn cho khối 9 trong toàn trường đểđánh giá hiệu quả của cách làm

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 5

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Nghị quyết Trung ương 29 ban hành ngày 4 tháng 11 năm 2013 đã chỉ rõ

những tồn tại yếu kém của phương thức giáo dục cũ: Đào tạo thiếu gắn kết với

nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất [1] Đồng thời định hướng cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân

lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội [1]

Thực hiện nghị quyết 29, ngày 24 tháng 8 năm 2020 Bộ Giáo dục ra chỉthị 666/CT-BGDĐT về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2020 - 2021 của ngành

giáo dục nêu rõ: Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển

phẩm chất, năng lực của học sinh; tích hợp, lồng ghép tinh giản nội dung dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; đổi mới kiểm tra, đánh giá gắn với lộ trình, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới [2]

Thực hiện việc kiểm tra đánh giá học sinh phải căn cứ vào thông tư số:26/TT-BGDĐT ngày tháng năm 2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều củaQuy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổthông ban hành kèm theo Thông tư số58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12năm 2011 của Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường trung học, căn

cứ vào hướng dẫn của Sở GD&ĐT Thanh Hóa, phân phối chương trình, chuẩnkiến thức kĩ năng…

Để chuẩn bị cho việc tiếp cận chương trình sách giáo khoa giáo dục phổthông mới, giáo viên đã được tham gia các khóa học thuộc chương trình Eteptrong đó có việc tiếp cận module 2 (sử dụng phương pháp dạy học tích cực đểphát triển phẩm chất năng lực) và module 3 (sử dụng phương pháp, kỹ thuậtkiểm tra đánh giá để phát triển phẩm chất năng lực học sinh) Khi tiếp cận haimodule này, chúng ta thấy rằng đánh giá chéo là cách để người học phản hồi vềbài làm của nhau Người học nộp bài làm của mình - đó có thể là bài luận, bàithơ, video rồi mỗi người học sẽ nhận được bài làm của bạn học khác và chophản hồi về bài đó Sau cùng, từng người học sẽ nhận lại lời phản hồi về bài làmcủa mình Với cách làm như vậy, tôi thấy rằng người học được rèn luyện cáchhọc bậc cao và tư duy phản biện; người học được phản hồi nhanh hơn mà khôngcần giáo viên phải mất thêm công sức; người học tự xem xét lại việc học của

Trang 6

mình; người học được rèn luyện cách cho và nhận phản hồi; người học đượctham gia vào một hoạt động mang tính hợp tác và hòa nhập Trong phương phápdạy học Ngữ văn mới, đây chính là một hình thức học tập tích cực góp phầnphát triển phẩm chất năng lực người học Giáo viên tăng cường phối hợp học tập

cá thể với học tập hợp tác: “Giáo viên đầu tư vào việc kết hợp giữa hoạt động

cá nhân với hoạt động nhóm, phát huy nỗ lực của chính cá nhân trong hoạt động nhóm Điều này giúp học sinh có điều kiện để hình thành thành và phát triển cả về năng lực tự chủ và tự học lẫn năng lực giao tiếp và hợp tác” [3]

Như vậy giáo viên có thể sử dụng hình thức đánh giá chéo như một cách

để phát huy năng lực phẩm chất của học sinh Thông qua hình thức này, học sinhđánh giá và tự đánh giá bản thân, đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập, thúcđẩy tư duy tích cực cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trong những năm học gần đây cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ củatoàn ngành giáo dục, thầy và trò trường trung học cơ sở Lương Nội, Bá Thướccũng tích cực đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hướng đến mục tiêu chung là thay đổi theo hướng từ dạy học tiếp cận nội dung(Chú trọng hình thành kiến thức kỹ năng thái độ; học để thi, để hiểu biết) sangdạy học phát triển phẩm chất năng lực (Chú trọng hình thành phẩm chất, nănglực; học để làm người, để cùng chung sống) Hướng đi này bước đầu đã manglại những hiệu quả khả quan (chất lượng học sinh đại trà, chất lượng học sinhmũi nhọn ngày càng nâng cao; các phẩm chất, năng lực của học sinh ngày ngàyđược rèn rũa) song, vẫn còn đó những khó khăn trước mắt

Thực trạng về chương trình giáo dục:

Chúng ta đang thực hiện mục tiêu mới bằng nội dung của chương trình cũnên vẫn còn những bất cập như nặng về kiến thức, thời lượng eo hẹp cho việc tổchức các hoạt động dạy học Việc thực hiện giảm tải trong những năm gần đâytuy giải quyết phần nào gánh nặng trên song cũng gây xáo trộn không ít trongquá trình triển khai các nội dung giáo dục

Thực trạng nhận thức của giáo viên:

Do quen với phương pháp dạy học cũ trong nhiều năm nên tâm lý vẫnmuốn truyền thụ một chiều, nhất là với đối tượng học sinh yếu kém Dù đã đượclàm quen với các phương pháp dạy học mới nhưng ngại áp dụng nên việc sửdụng, nhất là sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học mới chưa thành thạo,nhuần nhuyễn

Trang 7

Từ việc sử dụng phương pháp dạy học mới chưa thường xuyên, thuầnthục dẫn tới hệ quả tất yếu là giáo viên ngại sáng tạo trong sử dụng các phươngpháp dạy học, phương tiện dạy học.

Từ những lý do trên dẫn tới hiệu quả giảng dạy của giáo viên chưa cao;học sinh chưa phát triển mạnh về phẩm chất, năng lực đặc biệt là những em yếukém

Thực trạng nhận thức của học sinh:

Do giáo viên còn áp dụng phương pháp truyền thụ một chiều nên bản thânhọc sinh cũng làm việc thụ động, đối phó; học sinh chưa năng động tìm tòi, sángtạo; kỹ năng đánh giá và tự đánh giá rút kinh nghiệm còn thấp

Thói quen học tập đó dẫn đến hiệu quả học tập của các em chưa cao:thường bó hẹp trong phạm vi suy nghĩ của bản thân hoặc phụ thuộc vào tài liệu,không có ý niệm về việc học bạn, không biết mình đang ở điểm nào trong thangtiêu chí đánh giá Nếu để lâu dài sẽ hình thành con người thiếu tích cực, tự giác,lười suy nghĩ trong học tập, lao động; thiếu năng động trong cuộc sống sau này

Làm thế nào để các em có thể vui vẻ, hứng thú tham gia các hoạt độnghọc tập; thu nhận kiến thức một cách tự nhiên, tự giác là một trong những vấn đềtôi băn khoăn, tìm nhiều cách tháo gỡ trong những năm học vừa qua Với mụctiêu như vậy, tôi đã tiến hành những khảo sát ban đầu nhằm vào các tiết áp dụnghình thức đánh giá chéo trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu này và có kết quả

Trang 8

Kết quả khảo sát trên cho thấy tỉ lệ học sinh hứng thú và có hứng thú vớibài học ít (5,5% - 12,1%) trong khi tỉ lệ học sinh không hứng thú lại cao (16,4%

- 19,0%) Quá trình tham gia các hoạt động học tập mang tính rập khuôn, thiên

về lí thuyết một chiều dẫn đến kết quả nhận thức không cao: số lượng HS đạtđiểm giỏi ít (5,2% - 7,3%), điểm dưới trung bình cao (13,8% - 16,4%)

Tôi nhận thấy rằng số lượng học sinh tham gia học tập đầy đủ lớn.Nguyên nhân chính là do tâm lý phải học, phải thực hiện nội quy, việc học phụthuộc chủ yếu vào một vài tài liệu nhất định, ít học được từ bạn, không tự thấyđược ưu nhược điểm của bản thân Các em khác dù tham gia tích cực, song thiênhướng dẫn là thụ động, chưa có nhiều sáng tạo trong việc học

Từ việc khảo sát, phân tích thực trạng trên, trong năm học vừa qua, tôi đãmạnh dạn áp dụng các giải pháp để thực hiện hình thức đánh giá chéo trong quátrình dạy học Ngữ Văn 9 và bước đầu đạt hiệu quả đáng mừng

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Giải pháp 1: Giáo viên nắm vững và sử dụng thành thạo các phương pháp dạy học tích cực, các hình thức và phương tiện đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

2.3.1.1 Biện pháp 1: Giáo viên tăng cường học tập, tìm hiểu các phương pháp dạy học tích cực, các hình thức và phương tiện đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Trong những năm học gần đây, giáo viên đã được tiếp cận với các phươngpháp dạy học tích cực dưới hình thức học tập chuyên đề Năm học 2019-2020 và

2020 - 2021, chúng ta có cái nhìn cụ thể, sâu sắc hơn nữa về các phương phápdạy học tích cực thông qua lớp bồi dưỡng module 1, module 2, module 3 củachương trình Etep:

Phương pháp dạy học dựa trên dự án: học sinh thực hiện một nhiệm vụhọc tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm

có thể giới thiệu, trình bày

Phương pháp dạy học hợp tác: học sinh làm việc theo nhóm để cùngnghiên cứu trao đổi ý tưởng và giải quyết vấn đề đặt ra

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề: học sinh được đặt trong mộttình huống có vấn đề mà bản thân học sinh chưa biết cách thức, phương tiện,…cần phải nỗ lực tư duy để giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy học khám phá: học sinh tự tìm tòi, khám phá phát hiện

ra tri thức mới thông qua các hoạt động dưới định hướng của giáo viên

Trang 9

Ngoài ra còn nhiều phương pháp dạy học khác có tác dụng phát triểnphẩm chất, năng lực học sinh như: phương pháp đàm thoại gợi mở, phương phápđóng vai, phương pháp dạy viết dựa trên tiến trình, phương pháp dạy học theomẫu Để phục vụ các phương pháp dạy học này, chúng ta cần nắm vững các kỹthuật dạy học tích cực: kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật sơ đồ tư duy, kỹ thuậtphòng tranh, kỹ thuật KWL, kỹ thuật 4 ô vuông,

Trong quá trình sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học, giáo viên cóthể tiến hành các hình thức đánh giá nhằm phát hiện sự tiến bộ của học sinh đểđiều chỉnh quá trình dạy và học Vì vậy, song song với việc nắm vững cácphương pháp, kỹ thuật dạy học, giáo viên cần nắm vững các hình thức vàphương tiện đánh giá học sinh Điều này được thể hiện ở module 3:

Các phương pháp kỹ thuật kiểm tra đánh giá: phương pháp kiểm tra viết,phương pháp quan sát, phương pháp hỏi - đáp, phương pháp đánh giá hồ sơ họctập, phương pháp đánh giá sản phẩm học tập,

Các công cụ kiểm tra đánh giá: Câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra, sản phẩmhọc tập, hồ sơ học tập, bảng kiểm, thang đánh giá, phiếu đánh giá theo tiêuchí,

2.3.1.2 Biện pháp 2: Giáo viên thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, các hình thức và phương tiện đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Quá trình dạy học là quá trình giáo viên cần áp dụng thường xuyên, hợp

lý các phương pháp dạy học, các phương pháp và công cụ kiểm tra đánh giá đểbản thân người dạy kết hợp được thành thạo trong chuỗi hoạt động dạy học củamình; đồng thời học sinh cũng quen thuộc với các cách tổ chức dạy học đó

Trong quá trình sử dụng các phương pháp, hình thức học tập, hình thứcđánh giá, giáo viên cần chú ý khâu đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt độngdạy học của bản thân; sự tích cực, tiến bộ của học sinh

2.3.2 Giải pháp 2: Tăng cường hiểu biết của học sinh về đánh giá chéo bằng cách cung cấp cho học sinh kiến thức về đánh giá chéo, tập trung làm rõ mục đích và cách thức tiến hành đánh giá chéo.

2.3.2.1 Biện pháp 1: Giáo viên phổ biến cho học sinh biết được mục đích của việc đánh giá chéo:

Giáo viên chỉ rõ mục đích của việc đánh giá chéo là giúp học sinh thấyđược ưu điểm và hạn chế của bản thân đồng thời thấy được ưu điểm và hạn chếcủa bạn; từ đó phát huy những ưu điểm của mình, của bạn và khắc phục nhữnghạn chế chung Học sinh sẽ thấy đánh giá chéo là một quá trình học tập, các em

có cơ hội được mở mang, học hỏi lẫn nhau Thấy được điều đó, học sinh sẽ

Trang 10

không bị áp lực vì điểm số, sẽ tích cực, chủ động, khách quan hơn trong hoạtđộng đánh giá chéo, nhất là khi giáo viên biết khéo léo đưa các em vào nhữngtình huống mang tính chất của trò chơi như: tập làm nghề giáo, đôi bạn cùngtiến, cặp lá yêu thương,

2.3.2.2 Biện pháp 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thức tiến hành đánh giá chéo:

Thông thường, các em có thể đánh giá chéo theo cặp trong bàn, trong lớpnhưng để thu hút hứng thú và để mở mang nhiều chiều kiến thức hơn, giáo viên

có thể tổ chức theo nhóm, theo tổ trong lớp, giữa các lớp trong khối, theo cáchình thức tự nguyện, chỉ định của giáo viên, bốc thăm ngẫu nhiên,

2.3.2.3 Biện pháp 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng đa dạng các phương tiện đánh giá chéo:

Phương tiện để thực hiện cũng rất đa dạng: Có thể là một bài viết, một sản

phẩm học tập được trình bày 2-3 trang giấy, cũng có thể là một bài tập nhỏ đượctrình bày trong trong phiếu học tập cá nhân Như vậy, chúng ta thấy việc thamgia vào quá trình đánh giá chéo của học sinh rất dễ dàng và có thể tiến hành ởmọi thời điểm khác nhau của bài học

2.3.3 Giải pháp 3: Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc tổ chức tiến hành đánh giá chéo.

2.3.3.1 Biện pháp 1: Giáo viên xác định nội dung phù hợp để đánh giá chéo:

Việc tổ chức đánh giá chéo rất thu hút hứng thú của học sinh, nhưngkhông phải nội dung nào cũng có thể tổ chức đánh giá chéo Việc tổ chức cũngkhông nên liên tục trong một bài, dễ gây lắt nhắt, mất thời gian, nhàm chán chohọc sinh Giáo viên cần lựa chọn bài học hoặc nội dung của bài học đủ lớn để cóthể tổ chức hoạt động này

Ví dụ: Khi dạy tiết 16;17 – Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn

Dữ), tôi đã linh hoạt vận dụng kĩ thuật KWL như sau:

Phần chuẩn bị ở nhà, mỗi học sinh ghi vào phiếu học tập cá nhân (theohàng ngang):

- Liệt kê những điều em đã biết

- Liệt kê những điều em muốn biết

Phần học tập trên lớp (tổng hợp vào cuối tiết học):

- Liệt kê những điều em đã học được

- Em sẽ tiếp tục tìm hiểu như thế nào?

Trang 11

Sau khi học sinh hoàn thành xong, tôi thu bài theo nhóm và tổ chức cácnhóm đánh giá chéo lẫn nhau về quá trình học ở nhà, học trên lớp, mức độ sángtạo của các thành viên Tôi thấy các em tham gia tích cực, chủ động; bài họckhông rơi vào lắt nhắt, vỡ vụn, tốn kém thời gian mà vẫn đem lại hiệu quả nhậnthức cao

Trải qua quá trình sử dụng hình thức đánh giá chéo trong dạy học Ngữvăn 9 nói riêng, Ngữ văn nói chung, tôi thấy rằng: việc tổ chức đánh giá chéođặc biệt phù hợp với các tiết luyện tập, thực hành

Ví dụ:

Với tiết 37 - Tổng kết từ vựng: cuối tiết 36, giáo viên dặn dò kỹ lưỡng

học sinh ôn tập kiến thức và làm bài tập trước khi lên lớp Bước vào tiết 37 giáoviên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh, ra đáp án, hướng dẫn học sinh góp ý và

tổ chức các nhóm góp ý chéo nhau Sau khi các nhóm thực hiện xong nhiệm vụ, giáo viên là người hướng dẫn học sinh rút ra kết luận cuối cùng của hoạt độngluyện tập

Với tiết 59; 60 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị

luận: sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu yếu tố nghị luận trong đoạn văn tự

sự, giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài tập thực hành độc lập, sau đó thôngqua các tiêu chí đánh giá về mặt nội dung hình thức trước lớp, giáo viên tổ chứccho học sinh đánh giá chéo và định hướng kết luận cuối cùng

Như vậy, trong hoạt động đánh giá chéo phải trải qua các bước: Giáo viên

ra nhiệm vụ - học sinh thực hiện nhiệm vụ - giáo viên ra đáp án (hướng dẫnđánh giá) - học sinh đánh giá lẫn nhau - kết luận chung Vì vậy, để tránh mấtnhiều thời gian chuyển giao giữa các hoạt động học tập, giáo viên cần giaonhững nhiệm vụ đủ lớn hoặc nhiệm vụ phức hợp đối với học sinh

2.3.3.2 Biện pháp 2: Giáo viên xây dựng các tiêu chí đánh giá chéo:

Dựa vào yêu cầu của bài tập hoặc nhóm bài tập, giáo viên xác định cáctiêu chí đánh giá chéo, chú trọng vào nội dung, hình thức trình bày, thông quacác phương tiện như bảng kiểm, thang đánh giá, phiếu đánh giá theo tiêu chí(Rubric),

Ví dụ 1: Ở tiết 111; 112, sau khi học xong bài Mùa xuân nho nhỏ (Thanh

Hải), học sinh trình bày cảm nhận về đoạn thơ sau:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến Một mùa xuân nho nhỏ

Trang 12

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc

Giáo viên đưa ra bảng kiểm, học sinh dựa vào tiêu chí trong bảng để đánhgiá chéo

1 Cấu trúc - Đảm bảo 3 phần: Mở bài, thân bài,

kết bài (2đ)

2 Nội dung - Nêu được vị trí đoạn trích (1đ)

- Phát hiện được những đặc sắc trongnghệ thuật diễn đạt: Điệp ngữ, đối ngữ,liệt kê, hoán dụ, (2đ)

- Chỉ ra được khát vọng cống hiến, hòanhập khiêm tốn, lặng lẽ của nhân vậttrữ tình (2đ)

- Thể hiện thái độ đồng cảm, trân trọngvới nhân vật (1đ)

3 Diễn đạt - Liền mạch, chặt chẽ, sáng tạo, hấp

dẫn (1đ)

4 Trình bày - Sạch sẽ, khoa học, ít sai chính tả (1đ)

Ví dụ 2: Sau khi học xong phần lí thuyết của bài Nghĩa tường minh và

hàm ý (Tiết 122), giáo viên dặn học sinh về làm các bài tập vào phiếu học tập cá

nhân Tiết 129, giáo viên đưa ra đáp án và các tiêu chí đánh giá Giáo viên chianhóm, phân công nhiệm vụ để học sinh đánh giá chéo

2.3.3.3 Biện pháp 3: Tập trung thực hiện nhiệm vụ đánh giá chéo:

Như trên đã nói, đánh giá chéo là hình thức thu hút học sinh cả lớp cùngtham gia Giáo viên muốn việc tổ chức hoạt động đánh giá chéo của mình gâyhứng thú, lôi cuốn sự tích cực tham gia của học sinh thì cần phải đa dạng hóa,mới lạ hóa Sự đa dạng, mới lạ này có thể được thể hiện qua cách đặt tên nhưmột trò chơi trong học tập hoặc có thể được thể hiện qua cách phân chia nhiệm

vụ đánh giá: giữa cá nhân với cá nhân, nhóm với nhóm, tổ với tổ, giới tính vớigiới tính, lớp với lớp,

Sau đây là ví dụ cụ thể về cách tổ chức đánh giá chéo đối với tiết 118-119:

“Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích” Ngữ văn 9,

tập 2, trang 68)

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.

Trang 13

Bước 1: Cuối tiết 117, giáo viên dặn dò học sinh chuẩn bị ở nhà (ôn kiến

thức văn nghị luận, đọc lại thật kĩ tác phẩm Chiếc lược ngà, viết bài hoàn

chỉnh) Lưu ý, không ghi tên hoặc thông tin cá nhân vào bài viết Để tiết sau ta

Tập làm nghề giáo.

Bước 2: Tiết 118, học sinh thu bài theo nhóm 1;2;3;4 giáo viên đánh sốcho bài làm của học sinh mỗi nhóm Giáo viên hướng dẫn học sinh thống nhấtnội dung đánh giá:

Mở bài Từ tác giả (hoặc đề tài) giới thiệu đoạn trích Chiếc lược

+ Trình bày cảm nhận về tình cha con trong đoạn trích

- Tấm lòng người con đối với cha:

Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết sẹo dài trên mặt,

bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và cónhững lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng Tất cảnhững hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ vàtình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé

Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sángcuối cùng trước khi ông Sáu lên đường, thái độ, hànhđộng của bé Thu đột ngột thay đổi Tình yêu thương bađược bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìmnén nổi Em yêu ba, nhớ ba, mong ba Nay tình cảm ấymới có dịp vỡ oà nên vô cùng mạnh mẽ hối hả cuốngquýt

- Tấm lòng người cha đối với con:

Khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng,đau khổ, cáu giận, không thể kiềm chế nổi Ông đã đánhcon vì nó không chịu nhận mình Đây là biểu hiện đau khổtột cùng của người cha khi bị con khước từ

Trước khi trở lại chiến trường, con gái ông bất ngờgọi tiếng “Ba” và nhảy thót lên ôm chặt ba, bộc lộ tìnhcảm thắm thiết với ông Ông Sáu đã vô cùng xúc động lấykhăn lau nước mắt Thương con, ông muốn ở nhà nhưng

Trang 14

Phần Nội dung cần đạt Điểm

vì nhiệm vụ của người lính, ông tiếp tục lên đường đemtheo lời hứa khi trở về sẽ cho con cây lược

Ở khu căn cứ, ông day dứt ân hận vì trong lúc nónggiận đã đánh con Ông dùng hết tâm lực làm cây lược ngà

Chiếc lược đã trở thành vật báu thiêng liêng đối với ôngSáu

Trước lúc khi sinh, ông nhờ bác Ba trao cây lượccho bé Thu như trao cho con mình sự sống

+ Khái quát, mở rộng: Đoạn trích truyện Chiếc lược ngà

đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và caođẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh

Mức 2: Khá (6,5 –7,4 đ)

Mức 3: TB (4,5 – 6,4đ)

Mức 4:Yếu (Dưới 4,4đ)

Nội dung Nội dung đầy

đủ, chính xác,hợp lý, sángtạo, hấp dẫn

Nội dung, đầy

đủ, chính xác,hợp lí

tương đối đầy

đủ, sắp xếptương đối hợp

Nội dungchưa đầy đủ,chưa chínhxác, cách sắpxếp khônghợp lí

Hình thức

trình bày

Chữ viết đẹp,trình bày sạch

sẽ, khoa học

Chữ viết rõ ràng,

ít tẩy xóa, trìnhbày khoa học

Chữ viết chưathật rõ ràng,còn hay tẩyxóa, lỗi chính

tả, diễn đạt

Chữ viết khóđọc, tẩy xóanhiều, lỗichính tả,diễn đạtnhiều

Trang 15

- Phát bài chéo: bài nhóm 1 cho nhóm 3; bài nhóm 2 cho nhóm 4; bàinhóm 3 cho nhóm 2; và bài nhóm 4 cho nhóm 1

- Các thành viên trong nhóm dùng bút mực đỏ (hoặc mực khác màu) tiếnhành đọc, thảo luận đi đến thống nhất và ghi nhận xét vào bài làm của bạn Khighi nhận xét vào bài bạn cần chú ý tìm những điểm tốt để khen ngợi nhiều hơn,định hướng cách sửa lỗi nếu có thể Giáo viên theo dõi các nhóm làm việc, nhắcnhở, giải đáp khi cần thiết

Bước 4:

- Giáo viên kiểm tra kết quả thảo luận, nhận xét của các nhóm, nhắc nhởđối với những nhận xét sai lệch; biểu dương với những nhận xét tốt Nhận xét vềquá trình thực hiện nhiệm vụ của học sinh, trao đổi sở thích, khó khăn vướngmắc, đề xuất,…

- Trả bài cho các cá nhân và đọc bài mẫu để cả lớp cùng đối chiếu với cáctiêu chí xây dựng chung (chiếu lên màn hình để học sinh tiện theo dõi)

2.3.3.4 Biện pháp 4: Xử lý kết quả đánh giá chéo sao cho có tính khích lệ, động viên đối với học sinh.

Trong quá trình đánh giá chéo, học sinh nên chỉ ra ưu điểm và hạn chếtrong bài làm của bạn, có thể cho điểm theo thang đánh giá nhưng điểm chỉ làmột kênh tham khảo, giáo viên không đưa vào để đánh giá xếp loại học sinh,tránh gây tâm lý căng thẳng, hơn thua vì mục tiêu của đánh giá chéo là thu hútmọi học sinh tham gia chủ động tích cực trong hoạt động học tập Giáo viên cầnkiểm tra một lượt những nhận xét của các nhóm để có biện pháp điều chỉnh,nhắc nhở kịp thời,

2.3.4 Giải pháp 4: Xác định vai trò, chức năng và nguyên tắc của kiểm tra – đánh giá tới từng học sinh

2.3.4.1 Biện pháp 1: Phổ biến cho học sinh hiểu được vai trò, chức năng của việc thực hiện đánh giá chéo.

Trong quá trình đánh giá chéo, giáo viên cần chú ý theo dõi, nhắc nhở đếncác cá nhân, các nhóm, về nhiều mặt Nhưng cần chú ý giám sát nhắc nhở các

em cách nhận xét: trước khi rút ra nhận xét chung phải chỉ ra những biểu hiện cụthể trong bài làm của bạn để nhận xét có tính thuyết phục đặc biệt là với nhữnghạn chế Cần tăng cường những lời nhận xét mang tính tích cực khen ngợi.Muốn vậy, học sinh phải tìm được những điểm đúng, điểm tốt, điểm đặc sắctrong bài làm của bạn Thông qua đó, tự bản thân người đánh giá cũng họcđược cách làm tốt của bạn

Xác định vai trò, chức năng và nguyên tắc của kiểm tra – đánh giá tớitừng học sinh và nêu rõ tầm quan trọng của thông tin phản hồi từ kiểm tra –

Trang 16

đánh giá đối với hoạt động học tập để các em nhìn nhận nghiêm túc hơn đối vớihoạt động kiểm tra – đánh giá, coi kiểm tra – đánh giá là hoạt động bổ ích, làphương tiện giúp các emđạt được mục tiêu trong học tập.

2.3.4.2 Biện pháp 2: Phổ biến cho học sinh hiểu được những nguyên tắc của việc thực hiện đánh giá chéo.

Mục tiêu, tiêu chí, hình thức và nội dung kiểm tra – đánh giá phải đượcthông báo tới học sinh ngay từ đầu năm học để học sinh có định hướng và chủđộng hơn trong học tập

Khuyến khích học sinh chủ động phát hiện và tìm cách lấp chỗ hổng trongkiến thức bằng cách: cho phép học sinh trao đổi, tranh luận để bảo vệ ý tưởng,bày tỏ cảm xúc trong quá trình học tập và qua nhận xét của giáo viên về các bàikiểm tra giúp học sinh nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của bản thân

Hướng dẫn học sinh tự học, tự kiểm tra – đánh giá để học sinh phát triểnkhả năng tự học theo mục tiêu môn học, tiêu chí đánh giá và quan trọng nhất làkhả năng tự học suốt đời, đây là quyền lợi sát thực đối với học sinh và cũng làtrách nhiệm gắn liền với các em, chẳng hạn:

+ Giới thiệu các tài liệu tham khảo của các môn học, hướng dẫn về nhàchu đáo, giao việc vừa sức và yêu cầu học sinh tự chuẩn bị bài trước khi đến lớp

+ Tìm mọi biện pháp khuyến khích học sinh sưu tầm các loại tài liệu cóliên quan để mở rộng thông tin

+ Hướng dẫn cách đọc và sử dụng tài liệu thích hợp để học sinh có khảnăng tự tra cứu, tự học hiệu quả

+ Thông qua những thông tin phản hồi từ các bài kiểm tra giúp học sinh tựđánh giá kiến thức, kỹ năng đạt được và chưa đạt được của bản thân để từ đóđiều chỉnh hoạt động học tập của mình

Khuyến khích và tổ chức cho học sinh cam kết chống tiêu cực trong thựchiện kiểm tra – đánh giá, nghiêm túc để có thành tích thật, kết quả thật Đồngthời nhà trường phải xử lí nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế kiểm trabằng các hình thức trừ điểm, hạ hạnh kiểm…và tuyên dương, khen thưởng đốivới những học sinh nghiêm túc trong kiểm tra – đánh giá

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

2.4.1 Đối với hoạt động giáo dục.

- Trước khi áp dụng đề tài:

Bảng số 1: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khối 9 với tiết học Ngữ văn chưa sử dụng hình thức đánh giá chéo:

Trang 17

- Sau khi áp dụng đề tài:

Bảng số 1: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khối 9 với tiết học Ngữ văn có sử dụng hình thức đánh giá chéo

Năm học Sĩ

số

Rất hứng thú Hứng thú Ít hứngthú

Không hứng thú

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w