1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 ở trường THCS triệu thành

20 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 149,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn nghiên cứu là kiểu bài làm văn nghị luận giải thích; với đối tượng áp dụng sáng kiến là học sinh lớ

Trang 1

I MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn sáng kiến 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 4

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến 4

2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

3 Các giải pháp 6

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17

1 Kết luận 17

2 Kiến nghị 17

Tài liệu tham khảo 19 Danh mục các sáng kiến kinh nghiệm đã được đánh giá, xếp loại

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn sáng kiến

Mục tiêu của dạy học Ngữ văn hiện đại là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp dưới cả hai dạng văn bản và ngôn bản; hướng các em đến cái cái Chân, Thiện, Mĩ của cuộc sống Ngữ văn có ba phân môn: Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn Mỗi phân môn có nhiệm vụ riêng, do

đó có cái khó riêng Tuy nhiên, học cái gì thì cuối cùng vẫn là hướng đến kĩ năng thực hành giao tiếp Sứ mệnh này chủ yếu thuộc về hai phân môn, trong đó

có phân môn Tập làm văn

Ở trường THCS, làm văn là phân môn khó, là một phân môn thực hành tổng hợp và sáng tạo, đòi hỏi học sinh phải huy động, vận dụng tất cả những gì

mà các em đã biết từ môn khác chứ không chỉ mình môn Ngữ văn Vì thế, các

em luôn cảm thấy bài làm văn là một gánh nặng chứ không phải là một niềm vui sáng tạo, một sự đam mê văn chương Chương trình Tập làm văn lớp 7 đặt trọng tâm ở thực hành, nhận biết, làm văn bản Làm văn nghị luận là một kỹ năng cơ bản, cần thiết và quan trọng ảnh hưởng đến việc học văn của các em sau này Đây còn là khâu quan trọng để học sinh có nền tảng về vốn sống, vốn hiểu biết

và khả năng tư duy, cảm thụ văn học Trong hệ thống kỹ năng làm văn nghị luận, có thể nói hành văn là khâu then chốt của bài làm văn Tuy vậy, khi trực tiếp nghiên cứu và thực hiện các đơn vị bài học trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn theo quy định của Bộ giáo dục, đôi khi người dạy gặp không ít khó khăn, trong đó có việc hướng dẫn cách làm và rèn kỹ năng hành văn nghị luận cho học sinh THCS Điều đó cho thấy, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu các biện pháp hình thức nhằm rèn luyện và phát triển kỹ năng hành văn nghị luận cho học sinh đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, tạo cho học sinh tâm thế chủ động, tâm lí học mà vui, dạy học hiện đại tập trung hướng đến kĩ năng thực hành, kết nối kiến thức sách vở mà học sinh tiếp thu được với vốn sống thực tế, tăng khả năng liên hệ và vận dụng thực tế cho học sinh Từ đó, rèn luyện cho các em kĩ năng sống Một trong những nhiệm vụ của môn học Ngữ văn là rèn luyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp Cuộc sống hiện đại đòi hỏi con người ngoài năng lực cảm thụ, cảm nhận còn phải có năng lực tư duy, lập luận khi đối mặt với các vấn đề xã hội, vấn đề văn học Nhiệm vụ này thuộc về văn nghị luận

Tạo lập một văn bản nghị luận thật sự khó đối với học sinh THCS nói chung, học sinh lớp 7 nói riêng Phân môn Tập làm văn là môn học sáng tạo chứ không phải sao chép, là môn học tích hợp kiến thức của các môn học khác và kiến thức của cuộc sống, là môn tổng hợp các kĩ năng (kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng trình bày và tạo lập văn bản) [4]

Để học sinh tạo lập một văn bản nghị luận nói chung và nghị luận giải thích nói riêng tốt thì theo tôi nghĩ càng khó hơn với các em Đây có lẽ là một trong

những cụm bài khó nhất của chương trình ngữ văn 7 Thử thách này đòi hỏi cả thầy và trò phải cố gắng hơn nhiều và tự tìm những giải pháp nhất định, đem lại

Trang 3

hiệu quả cao trong việc dạy và học Trường THCS Triệu Thành hiện vẫn nằm trong vùng kinh tế khó khăn của huyện Triệu Sơn Điều kiện học tập của học sinh còn thiếu thốn so với các vùng lân cận Vì vậy, nền tảng kiến thức, kĩ năng của các em ngay từ những lớp dưới đã có sự thiếu hụt, non yếu so với các bạn đồng cấp trong khu vực bởi nhiều nguyên nhân Việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 7 cũng theo đó gặp nhiều khó khăn đối với cả giáo viên và học sinh

Chọn sáng kiến Kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 ở trường THCS Triệu Thành, tôi mong muốn đóng góp một

phần nhỏ hiểu biết và công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng làm văn của học sinh, tiến tới nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THCS

2 Mục đích nghiên cứu

Với sáng kiến Kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 ở trường THCS Triệu Thành, tôi mong muốn nâng cao kết

quả học tập, chất lượng làm văn nghị luận của học sinh ở trường THCS Triệu Thành Đồng thời đóng góp chút kinh nghiệm dạy học phần làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 ở cấp THCS Khi áp dụng sáng kiến này vào trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường THCS, bản thân tôi thiết nghĩ, học sinh sẽ hứng thú hơn, từ đó hiệu quả giáo dục của bộ môn sẽ được cải thiện

và nâng cao hơn Vì chỉ khi học sinh thực sự hiểu được bản chất của vấn đề, nội dung bài học, nắm được phương pháp làm bài thì các em mới có hứng thú học tập

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn

nghiên cứu là kiểu bài làm văn nghị luận giải thích; với đối tượng áp dụng sáng

kiến là học sinh lớp 7 trường THCS Triệu Thành; sáng kiến tổng kết kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Giáo viên đọc tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, biên soạn đề cương, sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học Đồng thời kết hợp một số phương pháp đặc trưng bộ môn:

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp giải thích, chứng minh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu

Trang 4

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc dạy và học trong nhiều trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, “chạy theo thành tích”, học để thi, dạy để thi Tuy nhiên, đòi hỏi của xã hội hiện đại không chỉ là con người với những lí thuyết nhồi nhét trong đầu, với lối học thuật cứng nhắc, khô khan, giáo điều nữa Ngày nay, xã hội đòi hỏi những con người lao động có đầy đủ kiến thức và kĩ năng (kĩ năng thực hành, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, ) Vì vậy mục tiêu giáo dục cũng đã được cụ thể hóa và bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới

Rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 7 rất cần thiết bởi đây là bước khởi đầu Thế nhưng, người dạy mới đưa ra các giải pháp chung để hướng dẫn học sinh làm kiểu văn này mà chưa thật chú trọng, quan tâm nhiều đến kiểu bài làm văn giải thích ở lớp 7 Đặc biệt, việc định hướng, rèn dũa cho học sinh trong giờ dạy, giờ ôn tập về yêu cầu phương pháp làm bài văn nghị luận giải thích trong giờ Tập làm văn là vấn đề ít được áp dụng trong thực tiễn, chưa được quan tâm nhiều Xét từ thực tế cho thấy nghị luận đưa vào chương trình Ngữ văn

7 là khó đối với học sinh Nhưng do đòi hỏi của xã hội hiện đại nên việc tiếp cận với văn nghị luận giải thích đối với học sinh lớp 7 là điều không thể trì hoãn Bài

mở đầu về nghị luận giúp các em tìm hiểu chung về văn bản nghị luận với những đặc điểm và cách thức trình bày Vì vậy giáo viên phải giảng giải rõ cho các em hiểu về nghị luận theo cách giản đơn nhất

Với sáng kiến này, người viết tập trung đưa ra các giải pháp cụ thể trong những giờ dạy Tập làm văn về kiểu bài nghị luận giải thích Mục tiêu là hướng dẫn học sinh nắm vững bản chất, yêu cầu, phương pháp của bài văn nghị luận giải thích Người dạy rèn một số kĩ năng cơ bản cho học sinh làm tốt kiểu bài nghị luận giải thích Bước đầu nâng cao chất lượng môn học, dần dần cải thiện những hạn chế trong cách làm bài văn nghị luận của học sinh

2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Sau một quá trình giảng dạy môn Ngữ văn 7 năm học 2018-2019, qua việc kiểm tra học sinh dưới hình thức bài viết tập làm văn với kiểu bài nghị luận, dạng văn nghị luận giải thích, kết quả chấm bài thu được như sau:

Năm học

Số học sinh

Từ kết quả trên cho thấy tình trạng học và tạo lập văn bản nghị luận, đặc biệt là kiểu bài nghị luận giải thích của học sinh lớp 7 còn nhiều hạn chế Thực

Trang 5

tế giảng dạy tôi thấy chưa đến 40% học sinh biết giải thích, triển khai, lập luận vấn đề nghị luận; thực hiện đúng yêu cầu về nội dung và hình thức bài nghị luận Số còn lại, các em viết sơ sài, lủng củng, bài viết dài thì sa vào lan man, nhớ gì viết nấy, không theo một hệ thống lập luận nhất định nào Nội dung giải thích còn rất mơ hồ Kiến thức sử dụng để giải thích vấn đề còn rất hạn chế Các

em lúng túng trong quá trình sử dụng lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề Và phần đông học sinh chua phân biệt được bài nghị luận giải thích với nghị luận chứng minh

mà các em được trước đó Nguyên nhân của hiện trạng trên:

- Về phía giáo viên:

+ Ở các tiết học tập làm văn, giáo viên thường tiến hành các hoạt động một cách dập khuôn: kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố, dặn dò Cách lên lớp này đôi khi gây sự căng thẳng cho học sinh, chưa tạo được tâm thế chủ động, vận dụng kiến thức thực tế của các em

+ Thông thường giáo viên cho rằng phần làm văn nghị luận là khó nên chỉ cần dạy theo kiểu khai thác câu hỏi trong sách giáo khoa là xong Giáo viên còn nặng về dạy lí thuyết, ít quan tâm đến thực hành Cách nghĩ, cách dạy như vậy khiến tiết học nặng nề, nhàm chán

- Về phía học sinh:

+ Nhiều năm trở lại đây, do nhận thức lệch lạc, thực dụng của một số không nhỏ phụ huynh và học sinh về vị trí, tầm quan trọng của môn Ngữ văn nên tâm lí phổ biến của học sinh là lười học, học qua loa, đối phó

+ Do sự phát triển của xã hội, ảnh hưởng việc lựa chọn nghề nghiệp sau này nên học sinh không chú trọng, không quan tâm đến các môn học xã hội, đặc biệt

là môn Ngữ văn Học sinh thường có tâm lí ngại học giờ Tập làm văn vì vừa khô khan vừa phải viết bài

+ Do năng lực tư duy, trình độ ngôn ngữ còn hạn chế Thiếu kiến thức thực tế, lười đọc nên câu chữ diễn đạt còn ngô nghê, vụng về, thiếu cảm xúc, không biết lựa chọn dẫn chứng và sử dụng lí lẽ

Thực tế bài làm của học sinh cho thấy, đối với những bài chưa đạt yêu cầu, các em thường mắc những lỗi cơ bản sau: Bài văn chưa sát với đề bài; lập luận chưa chặt chẽ; giải thích vấn đề còn sơ sài; bài làm lan man, chưa đủ ý; hành văn còn lủng củng, chưa có sức thuyết phục; tập trung nêu và phân tích dẫn chứng nên sa vào kiểu bài nghị luận chứng minh; sau giải thích, học sinh chưa biết liên hệ, đánh giá Trong số những hạn chế đó, hạn chế về khả năng sử dụng ngôn ngữ và kiến thức để giải thích khái niệm, phân tích vấn đề của học sinh là lớn nhất và cũng nan giải nhất

Từ thực tế giảng dạy và học tập như trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số phương pháp cụ thể và áp dụng trong quá trình dạy học để rèn kỹ năng làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7

3 Các giải pháp

3.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm chung của văn nghị luận.

Trang 6

Trước hết, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm sau của

văn nghị luận:

Nghị luận là loại văn bản viết ra nhằm phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức,

đánh giá thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến, bày tỏ thái độ đối với cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm thì văn nghị luận diễn đạt bằng những mệnh đề, phán đoán, những khái niệm có lôgic thuyết phục [2]

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải thích bài ca dao sau:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Bài ca dao trên đưa ra những hình ảnh: Núi Thái Sơn, nước trong nguồn

để nói về công ơn to lớn của cha mẹ, nhưng không hề nêu luận điểm nào Ý kiến, tư tưởng của bài ca tiềm ẩn trong tác phẩm Nếu phải viết một bài nghị luận về công lao của cha mẹ và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, thì phải

có luận điểm Vậy, tôi hướng dẫn học sinh lập luận theo hệ thống luận điểm:

- Giải thích hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn (từ nghĩa đen – đặc

điểm của hai đối tượng) Phép so sánh ngang bằng đã gợi ra công lao to lớn vô cùng của cha mẹ đối với con cái Ý nghĩa: Ca ngợi công lao của cha mẹ đối với con cái [6]

- Đạo làm con: Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Đạo là hướng phải theo cho phù hợp với luân lí xã hội Hiếu là lòng kính yêu của con cái đối với cha mẹ Thờ, kính là sự yêu mến, coi trọng, là chăm lo một

cách tôn kính Hai câu ca dao nhắc nhở con người: Làm con phải có hiếu với cha mẹ Đó vừa là bổn phận, vừa là đạo lí làm người [6]

- Khẳng định vấn đề, bày tỏ thái độ: Bài ca dao khẳng định công lao trời bể không gì sánh được của cha mẹ đối với con cái Đồng thời nêu ra một lời khuyên sâu sắc, thấm thía: Làm con phải hiếu kính với cha mẹ - đấng sinh thành dưỡng dục – đó là đạo lí làm người đầu tiên ai cũng cần phải có.[6]

Qua ví dụ trên ta thấy rằng, muốn phát biểu ý kiến nghị luận về vấn đề gì

để người đọc, người nghe hiểu, tin, tán đồng với ý kiến của mình thì ta phải giải thích để người đọc, người nghe thấu tỏ vấn đề Hướng dẫn cho học sinh hiểu thế nào là nghị luận giải thích, làm cách nào để có thể tạo lập một văn bản nghị luận giải thích, đó là việc làm thiết thực của giáo viên mà ngay từ khi các em học lớp

7 cần được cung cấp và rèn dũa

3.2 Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm, yêu cầu, phương pháp, bố cục của bài văn nghị luận giải thích.

Nắm rõ đặc điểm, yêu cầu, bố cục, phương pháp của bài văn nghị luận giải thích áp dụng cho cả người dạy và người học

Trang 7

a Đặc điểm của văn nghị luận giải thích: Lập luận giải thích cần hiểu ở các khía

cạnh: giải thích là dùng các lí lẽ có sức thuyết phục để làm cho người đọc, người nghe hiểu rõ những những điều chưa biết trong mọi lĩnh vực Trong đời sống, khi gặp một hiện tượng mới lạ: một hiện tượng, một từ ngữ, một câu tục ngữ, ca dao, một khái niệm, một thuật ngữ, chưa hiểu thì con người ta cần đến sự giải thích Mục đích của văn giải thích là làm rõ những vấn đề còn gây thắc mắc, giúp người đọc, người nghe nâng cao nhận thức, trí tuệ, hiểu một cách thấu đáo những vấn đề ấy; từ đó bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người, định hướng hành động phù hợp với quy luật [7]

Trong chương trình Ngữ văn 7, tuy có nêu lí thuyết chung về nghị luận giải thích nhưng còn rất đơn giản, chung chung Ngoài những điều sách giáo khoa trình bày về nghị luận giải thích như: Nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện,

so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi, hại của vấn đề… làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng đạo lí, phẩm chất, quan hệ…, giáo viên nên giới thiệu thêm một số điều cần lưu ý khi làm văn nghị luận giải thích (nên dạy ở những buổi học ôn) để các em nắm rõ hơn vấn đề, trước khi thực hành tạo lập văn bản

b Yêu cầu khi làm bài văn nghị luận giải thích:

Trước khi làm bài văn nghị luận giải thích, học sinh cần phải nắm vững những yêu cầu sau:

- Xác định đúng vấn đề cần giải thích, tránh tình trạng nói lan man quanh đề bài Đây là khâu cực kì quan trọng, là yếu tố tiên quyết đối với sự sống còn của bài làm

- Phát hiện những khía cạnh cần giải thích (hoặc có những từ ngữ, khái niệm nào cần giảng giải) của vấn đề; mối quan hệ giữa các khía cạnh đó

- Nắm vững nguyên tắc giải thích từ ngữ (đã học ở bài “Nghĩa của từ” trong

chương trình Ngữ văn 6): dùng khái niệm hoặc dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa để giải thích, tránh tình trạng dùng ngay từ ngữ, khái niệm cần giải thích để giải thích; các phương pháp có thể sử dụng để giải thích (nêu định nghĩa, dựa vào quy luật của vấn đề, nêu biểu hiện, lấy dẫn chứng, ) và sử dụng một cách hợp

lí Trong một bài văn giải thích, có thể sử dụng kết hợp linh hoạt các cách giải thích

- Có một hệ thống lí lẽ kèm theo dẫn chứng cần thiết để giảng giải cho cặn kẽ vấn đề cần giải thích Bài văn giải thích phải mạch lạc, lớp lang, ngôn từ trong sáng, dễ hiểu Trong phép lập luận giải thích, dẫn chứng khác với lập luận chứng minh ở chỗ: Về mục đích và mức độ, dẫn chứng chỉ đóng vai trò phụ trợ, bổ sung, làm nổi bật một số lí lẽ; về số lượng, nó ít hơn hẳn và không cần liên tục, thường xuyên, liền mạch Đây là điểm phân biệt giữa văn giải thích và văn chứng minh mà cả người dạy lẫn người học cần nắm rõ [2]

Người dạy cần tìm hiểu kĩ vấn đề giải thích, phải đi từ cái sâu xa, trừu tượng đến cái cụ thể, rõ ràng Nắm được bản chất của vấn đề cần giải thích thì mới có thể trình bày rõ ràng, mạch lạc, thấu đáo

Trang 8

Ví dụ: Giải thích thế nào là Liêm (Trong “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công,

Vô tư”): Liêm là trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, tiền tài, danh

tiếng Tuy nhiên, nếu giáo viên chỉ dừng ở đây thì học sinh mới chỉ hiểu cái ngọn, còn mơ hồ cái gốc của vấn đề Để khắc phục điều đó, giáo viên phải giảng giải cặn kẽ hơn ở các khía cạnh sau: Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những

người làm quan không đục khoét của nhân dân gọi là liêm (Nghĩa hẹp) Còn ngày nay, liêm được hiểu rộng nghĩa hơn nhiều: liêm còn có nghĩa là không

buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, chèn ép người cùng đường tuyệt lộ, không vì ăn ngon mặc đẹp mà bán rẻ lương tâm, làm việc trái đạo

Liêm phải đi đôi với kiệm, cũng như kiệm phải đi đôi với cần Có kiệm mới liêm

được vì sự xa xỉ sẽ nảy sinh tham lam Tham tiền của, địa vị, danh tiếng, sẵn

sàng bất chấp đạo lí và pháp luật… nghĩa là bất liêm [8]

c Các phương pháp giải thích: Có nhiều cách để giải thích vấn đề nghị luận:

- Nêu định nghĩa bằng cách chiết tự, nêu ý nghĩa của từ ngữ, câu chữ (ví dụ: giải thích “cần, kiệm, liêm chính ”), kể cả cách giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng;

- Kể ra các biểu hiện;

- Phương pháp so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác;

- Chỉ ra mặt lợi, mặt hại, nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng hoặc vấn đề

Ví dụ 1: Giải thích về lòng khiêm tốn:

+ Dùng phương pháp nêu khái niệm: “Khiêm tốn” là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời

+ Nêu biểu hiện: Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu, trau dồi thêm; không bao giờ chiu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại; luôn tìm cách học hỏi thêm nữa,

+ Chỉ ra các mặt lợi, hại của vấn đề: Người khiêm tốn sẽ luôn được mọi người yêu mến, quý trọng Khiêm tốn là cách đề cao bản thân khéo léo nhất Khiêm tốn giúp con người không ngừng vươn lên để hoàn thiện bản thân và sớm đạt được thành công, Trái với khiêm tốn là tự cao tự đại, tự mãn, là thói khoe khoang, tự đề cao bản thân -> chỉ khiến bản thân ngày càng tụt hậu, tài năng ngày càng bị thui chột đi và mọi người coi thường; là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại

Ví dụ 2: Giải thích câu tục ngữ “Có chí thì nên”:

+ “Có chí” tức là có ý chí quyết tâm, bền lòng “nên” là đạt được kết quả, thành công, mục tiêu như ý muốn Cả câu tục ngữ nêu ra một quy luật: nếu có ý chí, nghị lực và lòng quyết tâm vượt khó, có lý tưởng, hoài bão thì con người sẽ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống cũng như trong công việc -> phương pháp dùng khái niệm

Trang 9

+ Xưa, Mạc Đĩnh Chi nhà nghèo, phải học nhờ ánh sáng của đom đóm, vì

có lòng quyết tâm mà sau này đỗ trạng nguyên, ghi danh bảng vàng Thầy Nguyễn Ngọc Ký, bị liệt bẩm sinh cả hai tay nhưng vì có lòng ham học và ý chí, nghị lực vươn lên mà thầy đã tập viết thành công bằng chân Nhờ đó thầy đã thành công, trở thành thầy giáo danh tiếng cho người đời noi theo -> phương pháp nêu ví dụ

+ Ý chí, nghị lực, lòng kiên nhẫn tạo cho con người sức mạnh để vượt qua khó khăn, trở ngại Người có ý chí ắt sẽ thành công và được người đời nể trọng Ngược lại với “có chí” là những kẻ “thấy sóng cả mà ngả tay chèo”, dễ dàng thoái chí bỏ cuộc, đầu hàng gian nan Những người ấy cả đời sẽ không bao giờ chạm tới thành công -> chỉ ra các mặt lợi, hại

[8]

d Bố cục của bài văn nghị luận giải thích: Học sinh nắm vững bố cục của một

bài văn nghị luận giải thích: Gồm 3 phần: :

- Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần giải thích, định hướng vấn đề Bất luận theo cách nào (trực tiếp hay gián tiếp), mở bài cũng phải nêu rõ ràng, chính xác vấn đề cần giải thích và hướng giải quyết vấn đề đó Có thể định hướng bằng một lời khẳng định hoặc một câu hỏi nhưng phải có vai trò chuyển ý cho thân bài [1,2,7]

- Thân bài: sử dụng các phương pháp lập luận giải thích phù hợp để trình bày các nội dung giải thích: Phần thân bài lần lượt trả lời các câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Tại sao? Để làm gì? Làm như thế nào? [1,2,7]

- Kết bài: Khẳng định lại vấn đề Ngoài ra có thể nêu ý nghĩa của điều giải thích đối với đời sống hoặc con người) [1,2]

Như vậy, chúng ta có thể đưa ra kết luận về yêu cầu của giải thích: Người

ta có thể giải thích bằng nhiều cách: trực tiếp, gián tiếp Có những vấn đề có thể dùng tư liệu có sẵn để giải thích, nhưng cũng có những vấn đề trừu tượng thì cần vận dụng linh hoạt và khéo léo, đưa ra lí lẽ phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề Và đặc biệt cần lưu ý: Trong văn lập luận, giải thích cần có dẫn chứng nhưng ít hơn, không liên tục như trong lập luận chứng minh

3.3 Định hướng cho học sinh các phương pháp, kĩ năng làm bài văn giải thích.

Muốn tạo lập được một văn bản nghị luận giải thích, cần đảm bảo được:

a Xây dựng hệ thống câu hỏi để tìm ý cho bài văn nghị luận giải thích:

Hệ thống câu hỏi đặt ra khi làm văn lập luận giải thích là: Nghĩa là gì? Bao gồm những gì? Như thế nào? Tại sao? Để làm gì? Làm như thế nào? Và

chỉ khi giải đáp được những câu hỏi đó thì mới có thể tìm hiểu được đối tượng

Vì vậy, nhiệm vụ và mục tiêu của người làm văn là giúp người đọc, người nghe thỏa mãn những câu hỏi ấy Với một bài tập làm văn, người làm văn cần thực hiện cả hai nhiệm vụ của người hỏi và người trả lời Ở cương vị người cần tìm hiểu, phải biết đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu cho phù hợp, đầy đủ Còn ở

Trang 10

cương vị người giải thích, cần phải tìm hiểu mọi lí lẽ để giảng giải, trả lời đầy

đủ, rõ ràng những câu hỏi ấy

Câu hỏi trong bài nghị luận giải thích có ba nhóm, mỗi nhóm sẽ có ý nghĩa nhất định (Minh hoạ trong 4 tiết: 98,99,103,104 - Ngữ văn 7- kì II, Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành)

Ví dụ: Đề bài: Giải thích thế nào là lòng khiêm tốn (mục 3- I) và Giải thích

câu tục ngữ “ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.” (Mục I)

- Nhóm 1: Câu hỏi được đặt ra

nhằm giảng giải nghĩa của từ

ngữ, hình ảnh nằm trong

những câu nói, câu tục ngữ Vì

vậy, nội dung hỏi phải căn cứ

vào câu nói, nhận định, Với

vấn đề cần giải thích là khái

niệm, từ ngữ, câu hỏi sẽ là:

Là gì hoặc nghĩa là gì?

- “Khiêm tốn” nghĩa là gì?

(Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, không ngừng học hỏi…)

- “Đi một ngày đàng” có nghĩa là gì?

- “Học một sàng khôn” là gì? (Giải thích từ đi,

học, đàng, sàng khôn, một ngày đàng, một sàng khôn).

- Nhóm 2: Nhóm câu hỏi giải

thích tầm quan trọng của vấn

đề với cuộc sống Thường là

nhóm câu hỏi Vì sao? Có tác

dụng gì, ý nghĩa gì đối với

cuộc sống?.

Đây là câu hỏi quan trọng

nhất, tìm ra lí lẽ để giải thích

đựơc nguyên nhân để tìm ra

bản chất của vấn đề

- Vì sao cần phải có lòng khiêm tốn?

(Cuộc đời là cuộc đấu tranh bất tận, mỗi cá nhân chỉ như một hạt cát bé nhỏ giữa đại dương bao la.

Sự hiểu biết của mỗi người không thể so sánh với

cả xã hội Vì thế cần học nữa, học mãi, và đặc biệt, cần phải khiêm tốn học hỏi)

- Lòng khiêm tốn có ý nghĩa gì trong cuộc sống ?

- Vì sao cần phải “Đi một ngày đàng”? Hoặc “đi một ngày đàng” như vậy có lợi ích gì?

(Đi nhiều sẽ học hỏi được nhiều điều bổ ích, tích luỹ được nhiều kiến thức để trưởng thành, là dịp để khắc sâu những điều được học trong sách vở, tích lũy thêm kiến thức, hiểu biết mới, ứng dụng những tri thức vào đời sống…)

- Nhóm 3: Đây là câu hỏi

hướng người đọc suy nghĩ và

hành động đúng theo vấn đề

đã đưa ra nhằm liên hệ, mở

rộng và nâng cao vấn đề.

Thường là câu hỏi : Phải làm

gì? Làm như thế nào? Đối

lập với hiện tượng, vấn đề

nêu ra là gì?

- Chúng ta phải làm gì/làm như thế nào để luôn giữ được lòng khiêm tốn?

(Luôn luôn tự hoàn thiện mình, biết mình, hiểu người, không tự ti hay ghen tị trước những thành công của người khác…)

- Đối lập với “khiêm tốn” là gì?

(Đối lập với lòng khiêm tốn là tính tự cao, tự đại, luôn cho mình là hơn người, hơn đời, khác đời…)

Ngày đăng: 22/05/2021, 20:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w