Vì vậy, công việc dạy học đối với giáo viên Ngữ văn và Tiếng anh nhằm nâng cao hứng thú học tập của HS đòi hỏi làm sao phải lôi cuốn được học sinh ham thích tiết học để từ đó đọc và viết
Trang 1I – MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân đang dần được cải thiện Điều đó tác động không nhỏ đến công tác giáo dục, tạo động lực cho việc chúng ta tìm ra nhân tài cho đất nước thông qua việc các em hứng thú học và cảm thụ các giờ Văn và Tiếng anh Nhưng trước sự mở cửa của đất nước trong xu thế hội nhập về kinh tế thì vị trí môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng bị xem nhẹ, đặc biệt là đối với học sinh, học văn các em xem như là một
sự ép buộc, còn với môn Tiếng anh như một môn học rất “hot” , được PHHS
đề cao, chú trọng Cũng vì thế mà hiện nay chúng ta có thể thấy có một số em rất giỏi về làm kinh tế nhưng không thể hiểu nổi ý nghĩa của một câu ca dao, tục ngữ đơn giản; không biết cách viết một câu đơn theo đúng nghĩa của nó còn khi nói câu Tiếng anh khiến người nước ngoài không hiểu ta nói gì? Là một Hiệu trưởng đã nhiều năm kinh qua vai trò Phó Hiệu trưởng - Chỉ đạo công tác chuyên môn, tôi nhận thấy: giáo viên dạy môn Ngữ văn, hẳn mỗi lần chấm bài làm của học sinh chúng ta phải bật cười vì những câu không có nghĩa, hay trên lớp khi Giáo viên Tiếng anh dạy học xong từ mới cho học sinh đọc lại thì khi âm điệu của các em vừa dứt cũng là tràng cười của cả lớp
ngả nghiêng, không hiểu vì sao học sinh “ giỏi dị bản” Tiếng anh đến thế! Thế
nhưng cũng đằng sau tiếng cười ấy lại là một nỗi chua xót đắng cay và những giọt nước mắt cảm thấy hổ thẹn thay vì sản phẩm ấy là của mình Vì vậy, công việc dạy học đối với giáo viên Ngữ văn và Tiếng anh nhằm nâng cao
hứng thú học tập của HS đòi hỏi làm sao phải lôi cuốn được học sinh ham thích tiết học để từ đó đọc và viết, có những hành động thiết thực sau khi học
xong bài Đây là một công việc mà người dạy học có thể đánh giá mức độ thành thạo về kĩ năng, mức độ tiếp thu kiến thức và tâm thế sau tiết học của học sinh, qua đó mà chúng ta có thể phần nào tự đánh giá công việc dạy học của mình và có biện pháp điều chỉnh sao cho hợp lí, phù hợp với tình hình học tập của học sinh
Tuy nhiên, không phải lúc nào bộ môn Ngữ văn và Tiếng anh cũng lôi cuốn hứng thú đối với học sinh và tất cả học sinh cũng được giáo viên quan tâm đúng mức Trong thời gian tham gia chỉ đạo công tác chuyên môn cũng như thực tế đã đứng lớp giảng dạy nhiều năm, tôi thấy nhiều thầy cô giáo chưa quan tâm đến vấn đề này vì khi đến sự đổi mới tiết dạy học văn bản hay
Tiếng anh (phần từ vựng) giáo viên thường cung cấp kiến thức phần lớn đủ
theo hệ thống câu hỏi ở sách giáo khoa, ít tìm tòi bổ sung, mở rộng kiến thức
Trang 2ở các bộ môn khác và không kích thích khả năng khám phá, sáng tạo của học
sinh; “phớt lờ” cần biết thái độ học sinh đối với bài dạy, tiết dạy của mình vì
“ lương” của mình cứ đến kì thì tăng, cứ đến ngày là được lấy
Có thể thấy, đây không phải là vấn đề mới, tuy nhiên xuất phát từ tình hình thực tế mỗi giáo viên có quan điểm khác nhau , cách tổ chức khác nhau, giáo án khác nhau trong tiết dạy nhằm gây hứng thú cho học sinh đối với môn Ngữ văn và Tiếng anh, bằng đúc rút kinh nghiệm thực tiễn tôi chọn
viết về: Kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên đổi mới hình thức tổ chức hoạt
động học cho học sinh trong môn Ngữ văn 8 - Tiết 15,16 ( Hình thức : Tóm tắt văn bản và Hoạt động vận dụng qua văn bản Cô bé bán diêm ) và Tiếng anh 6 - Tiết 10 (Ghi nhớ từ vựng thông qua việc đọc “RAP” ở Unit 2 : My Home – Lesson 2: A closer look 1) nhằm nâng cao hứng thú học tập
cho học sinh lớp 6, 8 tại Trường THCS Trường Lâm.
2 Mục đích nghiên cứu
Chỉ đạo giáo viên thực hiện dạy học tiết cụ thể, tìm tòi hình thức dạy học đổi mới để :
- Giáo viên: Tăng khả năng tự học, tự bồi dưỡng kiến thức cho bộ môn
của mình đồng thời nắm bắt được tâm lí học sinh khơi dậy niềm yêu thích môn học và lan tỏa yêu thương
- Học sinh: Tăng khả năng sáng tạo, yêu thích học bộ môn Ngữ văn- Anh
văn
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối với GV: nắm được phương pháp, cách thức cách truyền giảng tới HS.
- Đối với HS: nắm bắt tâm tư, nguyện vọng đối với bộ môn và giáo viên
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: chỉ đạo tổ bộ môn cứ
các công văn hướng dẫn của Ngành, căn cứ tình hình thực tiễn của giáo viên
bộ môn họp bàn để xây dựng tiết dạy cho đồng nghiệp của mình
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin : bằng phiếu
nhằm thu thập thông tin về thực trạng học sinh thụ động và ít hứng thú với việc học môn Ngữ văn qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng làm cơ sở cho việc xác lập các biện pháp nhằm gây hứng thú cho HS
- Phương pháp thống kê, so sánh và đối chiếu: nhằm nổi bật kết quả đạt được
trước và sau khi áp dụng bài dạy
- Phương pháp quan sát : nhằm thu thập các biểu hiện sinh động, khách quan
về thái độ, hứng thú cũng như mức độ tham gia hoạt động trong giờ học của học sinh
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm nhằm mục đích
kiểm tra kết quả của việc sử dụng các kiến thức liên môn theo qui trình thiết
kế trong bài giảng để điều chỉnh sao cho phù hợp
Trang 3II – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1/ Cơ sở lí luận của Sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết TW 4 khoá VII, Nghị quyết TW 2 khoá VIII và được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục ( sửa đổi) như sau:
Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học.” Điều 24.2 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc diểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ- TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính
phủ), ở mục 5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và
có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, ”
Nhằm hỗ trợ việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá chất lượng giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã ban hành Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua
mạng Công văn này là sợi chỉ đỏ, làm cơ sở để các các nhà trường trong cả nước chỉ đạo, tổ chức triển khai phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong
dạy và học”.
Tuy nhiên, để tạo động lực cho cán bộ quản lý, giáo viên sẵn sàng sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh, rất cần thiết phải có bộ công cụ phù hợp để đánh giá giờ dạy, thay thế cho Công văn 10227/THPT ngày 11/9/2001 của Bộ GDĐT
Nhằm giải quyết bất cập trên, Sở GDĐT Thanh Hóa đã ban hành Công
văn số 572/HD-SGDĐT ngày 29/3/2017 về hướng dẫn đánh giá xếp loại giờ
dạy giáo viên trung học Đây là một trong các giải pháp đổi mới sáng tạo trong chỉ đạo dạy và học của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015- 2020 Trong đó:
Tổ chức hoạt động học cho học sinh và Hoạt động học của học sinh được
Trang 4chú trọng đề cao, về việc đề cao vai trò tích cực của HS với 8/12 tiêu chí theo
phiếu đánh giá sau
1 Tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy
1.1 Tiêu chí đánh giá
Nội dung
tối đa
Điểm đánh giá
Kế hoạch và
tài liệu dạy
học
1 Mức độ phù hợp của các hoạt động học với mục tiêu, nội dung và phương
2 Mức độ rõ ràng, chính xác của mục tiêu, nội dung, sản phẩm, cách thức
tổ chức thực hiện mỗi hoạt động học của học sinh. 2,00
3 Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng để tổ chức
4 Mức độ phù hợp của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ
Tổ chức
hoạt động
học cho học
sinh
5 Mức độ chính xác, phù hợp, sinh động, hấp dẫn của nội dung, phương pháp và hình thức chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh. 2,00
6 Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học
7 Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích học sinh hợp tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập. 2,00
8 Mức độ chính xác, hiệu quả trong việc tổng hợp, phân tích, đánh giá quá trình và kết quả học tập của học sinh (làm rõ nghững nội dung/yêu cầu về kiến thức, kĩ năng học sinh cần ghi nhận được).
2,00
Hoạt động
học của học
sinh
9 Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học
10 Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học sinh trong việc
11 Mức độ tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. 2,00
12 Mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả thực hiện nhiệm
1.2 Cách xếp loại
- Giỏi: tổng điểm đạt từ 18 điểm đến 20 điểm;
- Khá: tổng điểm đạt từ 13,5 điểm đến dưới 18 điểm;
-Trung bình: tổng điểm đạt từ 10 điểm đến dưới 13,5 điểm;
- Không đạt: tổng điểm dưới 10 điểm
Cho điểm đánh giá thành phần là bội số của 0,25
* Đánh giá và cho điểm :
Các tiêu chí được nhận xét, đánh giá theo 3 mức1: Đạt mức 1 cho khoảng 50-65% điểm tối đa; Đạt mức 2 cho khoảng 65-80% điểm tối đa; Đạt mức 3 cho khoảng 80-100% điểm tối đa
Giải pháp đổi mới sáng tạo trong Công văn số 572/HD-SGDĐT của Sở
GDĐT Thanh Hóa mà nhiều tỉnh thành trong cả nước chưa có đó là: Xây
Trang 5dựng được 12 tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy theo thang điểm 20, đánh giá
theo 3 mức độ của từng tiêu chí, thay thế Công văn 10227/THPT ngày
11/9/2001 về hướng dẫn đánh giá, xếp loại giờ dạy (theo 10 tiêu chí) của Bộ
GDĐT
Hướng dẫn đánh giá, xếp loại giờ dạy theo quy định tại Hướng dẫn số
572/HD-SGDĐT của Sở GDĐT đã tạo điều kiện cho giáo viên sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để tổ chức hoạt động học cho học sinh; đồng thời tạo động lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm
tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, chuẩn bị điều kiện
để triền khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới nhằm: Giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu biết chủ động lựa chọn nội dung để xây
dựng các chuyên đề dạy học trong mỗi năm học và các chuyên đề với việc tổ chức hoạt động dạy học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh; sử dụng các
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng tiến trình dạy học theo
chuyên đề nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh;
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Môn Ngữ văn
2.1.1.Về phía giáo viên:
Từ thực trạng trong công tác dạy học ở trường THCS Trường Lâm , tôi
nhận thấy từ phía giáo viên khi tiến hành dạy văn bản “ Cô bé bán diêm” vẫn
đang áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu là giáo viên phát vấn học sinh trả lời, sau đó giáo viên chốt các đơn vị kiến thức Việc làm đó
đã diễn ra thường xuyên, không khí giờ học chưa hứng thú còn gượng ép
2.1.2.Về phía học sinh :
Khi dạy văn bản “Cô bé bán diêm” theo phương pháp cũ, học sinh tiếp
thu kiến thức một cách thụ động, không có hứng thú Đặc biệt với văn bản nước ngoài còn xem nhẹ, tinh thần học tập chưa cao, chất lượng thấp qua các bài kiểm tra, ghi nhớ bài học còn non yếu, hệ thống kiến thức còn rời rạc
Trong năm học 2019 – 2020, qua mỗi tiết dự giờ của giáo viên bằng
phiếu khảo sát học sinh 2 lớp 8 của trường tôi ở đầu học kì I ( Tháng 9/2019) tôi thu được kết quả cảm nhận về :
Lớp Sĩ số Mức độ hứng thú học tập đối với môn Ngữ văn
Yêu thích Bình thường Không thích
2.2 Môn Anh văn
2.2.1.Về phía giáo viên:
Tôi thấy giáo viên giảng dạy Tiếng Anh lớp 6 tại trường tôi thường áp dụng những biện pháp sau để dạy từ vựng :
- Đọc bài , sau đó liệt kê từ vựng và ghi lên bảng
- Đọc mẫu, sau đó gọi học sinh đọc từ đồng thanh và cá nhân
- Đưa ra nghĩa Tiếng Việt, từ loại
- Giải thích nghĩa của từ vựng
Trang 6- Đặt ví dụ với các từ.
- Yêu cầu học sinh học thuộc lòng từ ở nhà
Với phương pháp dạy học theo kiểu truyền thống, áp đặt đó làm cho học sinh thụ động, máy móc, sao chép, không hứng thú trong quá trình học Có thể nhớ nhưng nhớ lâu dài và vận dụng là rất ít
2.2.2 Đối với học sinh:
Học sinh Tiếng việt đã ngại học thì Tiếng anh còn ngại học từ hơn, khó nhớ từ, học đối phó để lấy điểm, đam mê, sáng tạo, hứng thú là không có Với thực tế như vậy, tôi dự giờ giáo viên Tiếng anh xong, tôi cho học sinh làm bài khảo sát , kết quả thu được như sau:
Lớp
Sĩ
số
Khả năng ghi nhớ từ vựng
Kết quả cho thấy sự yêu thích học môn Ngữ văn và ghi nhớ từ vựng của
HS chiếm tỉ lệ thấp, nguyên nhân do đâu ? Đó là câu hỏi đặt ra dành cho Cán
bộ quản lí và giáo viên phải suy nghĩ, trăn trở với bộ môn của mình Từ đó người quản lí có định hướng chỉ đạo cùng giáo viên tìm ra phương pháp đổi
mới để gây hứng thú và yêu thích học môn Ngữ văn và Anh văn đối với HS.
3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Giải pháp chỉ đạo thực hiện
Tôi chỉ đạo tổ Chuyên môn thực hiện những giải pháp sau :
(1) Dự giờ đúc rút kinh nghiệm
(2) Lựa chọn - xây dựng nội dung kiến thức đưa vào phần phù hợp với bài
dạy
(3) Thử nghiệm sư phạm
(4)Chỉ đạo, tổ chức thực hiện
3.2 Các biện pháp đã tổ chức thực hiện
3.2.1 Về dự giờ đúc rút kinh nghiệm
Vấn đề này đã được tất cả giáo viên trong nhà trường thực hiện theo nhiệm vụ được giao ngay từ đầu năm học trong Hội nghị công chức: mỗi giáo viên dự giờ ít nhất 01 tiết/ tuần ( 12-15 tiết/ học kì) Lâu nay việc dự giờ chúng ta thường xem nhẹ, sổ dự giờ chúng ta chỉ ghi cho đủ số tiết theo quy
định để kiểm tra về mặt hồ sơ cho nên phần Rút kinh nghiệm trong sổ dự giờ
về Ưu điểm và Nhược điểm giáo viên ghi chép rất sơ sài chiếu lệ; mặt khác
khi dự giờ đồng nghiệp giáo viên chỉ chú ý nhiều đến trọng tâm kiến thức,
thời gian giáo viên phân chia cho từng phần…ít chú ý đến thái độ học sinh học như thế nào kể cả giáo viên dạy khi có người dự thường ít chú ý đến học
sinh yếu trong lớp, chỉ chăm chăm mời học sinh từ khá trở lên để xây dựng bài cho tốt, không bị cháy hay lụt giờ dạy Tuy nhiên, trong thực tế đi dự giờ mọi người thường thấy không bổ ích, kiến thức chẳng có gì, thường hay tự đề
Trang 7cao mình…đã có tâm lí ngại rồi mà bây giờ lại nhận xét đánh giá lại càng ngại Cuối cùng, chỉ có người chỉ đạo chuyên môn là người đứng mũi chịu sào
vì đây là sáng kiến của họ Sau khi mọi người nhận xét, tôi là người chịu trách
nhiệm về toàn bộ chuyên môn phải thâu tóm lại những mặt mạnh – yếu trong giờ dạy, chỉ ra được vấn đề, đối tượng mà tất cả mọi người đang quan tâm,
còn thấy chưa đạt có như vậy thì mới có thể cùng thảo luận cho một tiết chung để khắc phục sự không yêu thích môn học đối với học sinh thì mới nâng cao hứng thú và tình cảm yêu thích học phần văn bản trong môn Ngữ
văn và ghi nhớ từ vựng trong môn Tiếng anh
Vì vậy, bằng kinh nghiệm từ những năm tôi còn đứng lớp, với việc cùng các giáo viên đi dự giờ đồng nghiệp của mình, thảo luận để có tiết dạy văn bản cho HS ham học trong môn Ngữ văn và học từ vựng trong môn Tiếng anh
cần có sự đổi mới phù hợp với thực tế nhằm tìm ra điểm yếu cho nhau phải
thực hiện ngay từ khâu đầu tiên dự giờ góp ý phải chân thành.
3.2.2 Lựa chọn và xây dựng nội dung đổi mới phù hợp với bài dạy.
*Tôi yêu cầu chung cho môn Ngữ văn và Tiếng anh.
Bước 1 : Tôi, Hiệu phó- Phụ trách Chuyên môn ; một giáo viên có chuyên
môn tốt, sau khi dự giờ xong cùng tôi phác thảo, lựa chọn nội dung đổi mới cho phần bài dạy
Bước 2 : Đưa ra tổ cùng thảo luận và bổ sung.
Bước 3 : Thực nghiệm và rút kinh nghiệm
* Đổi mới hình thức học trong bài dạy :
A MÔN NGỮ VĂN
Từ thực trạng dạy văn bản “Cô bé bán diêm” ở trường THCS Trường Lâm, tôi chỉ đạo sử dụng biện pháp đổi mới hình thức “Tóm tắt văn bản” và
“Hoạt động vận dụng” nhằm phát huy hiệu quả tổ chức hoạt động học cho
học sinh lớp 8 như sau:
Ngữ v ă n 8 Tiết 15-16: CÔ BÉ BÁN DIÊM ( O Hen- ri)
* Vận dụng kiến thức liên môn Âm nhạc vào phần tóm tắt văn bản
Ở phần I Đọc - Tìm hiểu chung, mục 3: Tóm tắt văn bản
- Chuẩn bị: Tôi chỉ đạo giáo viên: yêu cầu học sinh tự học, tự nghiên cứu văn bản“ Cô bé bán diêm” ở nhà Thường phần này GV của chúng ta
download trên mạng cho HS nghe các bài hát được chuyển thể có nội dung tương tự, còn tôi chỉ đạo GV gợi ý cho các em một số cách tóm tắt văn bản
bằng các hình thức nghệ thuật khác ( đọc thơ, ngâm thơ, hát ), các em dễ ghi
nhớ và lắng đọng tâm tư của mình trong đó ( soạn bài và chuẩn bị ở nhà)
3.2.3 Thử nghiệm sư phạm
- Khi lên lớp, tôi chỉ đạo cho giáo viên:
+ Cho học sinh tóm tắt nội dung văn bản “ Cô bé bán diêm’’ như thông
thường bằng lời văn của mình
+ Sau khi em đó trình bày xong phần tóm tắt của mình Tôi tiếp tục chỉ đạo giáo viên gợi dẫn học sinh : ở tiết 14 , chuẩn bị cho bài học hôm nay ,
Trang 8trong phần Củng cố - Dặn dò, chuẩn bị ở nhà cô gợi ý cho các em một số
cách thức tóm tắt văn bản( đọc thơ, ngâm thơ, hát ), mời các em tóm tắt dưới phần lựa chọn khác đã được chuẩn bị bài ở nhà
Tôi chỉ đạo GV cho HS xung phong lên tóm tắt dưới dạng bài hát mà
em đã chuẩn bị ở nhà, khuyến khích HS dùng USB coppy nhạc làm đệm cho lời các em hát
Dự giờ tôi thấy: đã có nhiều em tích cực và hứng khởi xung phong lên trình bày Cô giáo đã chọn em Nguyễn Thị Huyền là một học sinh mạnh dạn
và năng nổ, có năng khiếu âm nhạc, xung phong lên trình bày trước lớp nội dung tóm tắt văn bản chuyển thể sang lời bài hát với giai điệu lắng đọng và tình cảm Nội dung giai điệu như sau:
Cô bé bán diêm © Songtrust Ave
Nhạc sĩ: Chung Van Nguyen
Bước đi trong mùa đông tuyết rơi
Một cô bé bán diêm giữa dòng người qua
Tiếng rao lạc dần trong buốt giá
Đôi bàn chân đã tím bầm
Lướt ngang qua cửa sổ mỗi nhà
Và cô bé thấy ai cũng bên mẹ cha
Bữa ăn ngon và thật ấm áp
Em nhìn mà nước mắt rơi
Dù cô bé cứ mời chẳng một ai muốn mua
Đành thôi phải bật một hộp diêm để em
sưởi ấm người
Và em nhìn thấy như một phép màu
Hiện ra ngôi nhà và người bà thật hiền của
lúc xưa
Chợt cơn gió bay qua tất cả tan biến đi
Rồi cô bé vội vàng bật hết những que diêm
cuối cùng
Để được nhìn mãi nụ cười của bà
Bà dịu dàng vòng tay ôm lấy cô bé hạnh
phúc bay đến thiên đường
Lướt ngang qua cửa sổ mỗi nhà
Và cô bé thấy ai cũng bên mẹ cha
Bữa ăn ngon và thật ấm áp
Em nhìn mà nước mắt rơi
Dù cô bé cứ mời chẳng một ai muốn mua
Đành thôi phải bật một hộp diêm để em sưởi ấm người
Và em nhìn thấy như một phép màu Hiện ra ngôi nhà và người bà thật hiền của lúc xưa
Chợt cơn gió bay qua tất cả tan biến đi Rồi cô bé vội vàng bật hết những que diêm cuối cùng
Để được nhìn mãi nụ cười của bà
Bà dịu dàng vòng tay ôm lấy cô bé hạnh phúc bay đến thiên đường
Dù cô bé cứ mời chẳng một ai muốn mua
Đành thôi phải bật một hộp diêm để em sưởi ấm người
Và em nhìn thấy như một phép màu Hiện ra ngôi nhà và người bà thật hiền của lúc xưa
Chợt cơn gió bay qua tất cả tan biến đi Rồi cô bé vội vàng bật hết những que diêm cuối cùng
Để được nhìn mãi nụ cười của bà
Bà dịu dàng vòng tay ôm lấy cô bé hạnh phúc bay đến thiên đường
Bà dịu dàng vòng tay ôm lấy cô bé hạnh phúc bay đến thiên đường
(Nguồn tin: LyricFind)
Trang 9Sau khi học sinh trình tóm tắt bằng hình thức thể hiện nội dung văn bản thông
qua bài hát “Cô bé bán diêm”.
Tôi chỉ đạo giáo viên hỏi ? Qua hai cách tóm văn bản em thích cách tóm tắt nào ? Vì sao ?
Dự giờ: Tôi thấy học sinh đứng lên trả lời rất hồn nhiên về cảm xúc, lựa chọn muốn được thể hiện mình làm ca sĩ, chuyển tải nội dung thông điệp của văn bản lan tỏa đến nhiều người
Tôi chỉ đạo xây dựng trong bài cho giáo viên:
- Tuyên dương về tinh thần tự học, tự nghiên cứu rất tốt và sáng tạo, -Khuyến khích học sinh tiếp tục phát huy cách tóm tắt này cho tiết sau:
Văn bản “ Chiếc lá cuối cùng” hay một số văn bản có thể tóm tắt bằng hình
thức khác
Thông qua phần tóm tắt văn bản “Cô bé bán diêm”, áp dụng biện pháp tích hợp liên môn Âm nhạc, chúng ta thấy học sinh có hứng thú học tập, tiết học trở nên sôi nổi, học sinh dễ nhớ nội dung tác phẩm, khơi gợi cho các
em tình cảm, và đồng cảm với số phận của nhân vật
*Tổ chức hoạt động vận dụng liên hệ thực tiễn sau khi học xong văn bản “Cô bé bán diêm”.
Sau khi học xong văn bản “Cô bé bán diên” các em đã nắm rõ nội
dung văn bản, cảm thông cho số phận bất hạnh của nhân vật và đã biết liên hệ đến những hoàn cảnh bất hạnh ngoài xã hội Từ đó các em đã biết lan tỏa tình cảm đến với những hoàn cảnh khó khăn tại nơi mình cư trú
Vì vậy , tôi chỉ đạo tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động vận dụng
liên hệ thực tiễn sau khi học văn bản “Cô bé bán diên” ở lớp 8A - Trường THCS Trường Lâm với mục đích “Giúp bạn nghèo tại nơi mình cư trú”
Quy trình thực hiện:
Bước 1: Giao nhiệm vụ.
Căn cứ vào sĩ số lớp,gồm 36 em, tôi chỉ đạo chia ba nhóm (mỗi nhóm 12 em)
Trang 10+ Nhóm 1: Tìm hiểu những bạn học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại
thôn Minh Châu ( thôn Công giáo)
+ Nhóm 2: Tìm hiểu những bạn học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại
thôn Trường Thanh( thôn Công giáo)
+ Nhóm 3: Tìm hiểu những bạn học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại
thôn Minh Lâm
- Học sinh nhận nhiệm vụ và thực hiện
- Thời gian: Một tháng
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.
- Học sinh độc lập tìm hiểu và hợp tác cùng nhóm thống nhất lựa chọn bạn học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn
Bước 3: Thảo luận, trao đổi.
- Tôi hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm ở nhà, các nhóm thảo luận lựa chọn bạn học sinh nghèo khó khăn, kế hoạch quyên góp tiền để giúp đỡ ( tùy điều kiện từng nhóm: tự quyên góp bằng tiền tiết kiệm, sự ủng hộ của phụ huynh, thầy cô giáo trong trường, nhặt phế liệu để bán lấy tiền cho vào quỹ…)
Bước 4: Báo cáo, đánh giá kết quả.
Sau m t tháng th c hi n các nhóm ã ột tháng thực hiện các nhóm đã đạt được kết quả như sau: ực hiện các nhóm đã đạt được kết quả như sau: ện các nhóm đã đạt được kết quả như sau: đã đạt được kết quả như sau: đã đạt được kết quả như sau:ạt được kết quả như sau: đã đạt được kết quả như sau:ược kết quả như sau:t c k t qu nh sau:ết quả như sau: ả như sau: ư
Nhóm 1: Quyên góp với số tiền
là: 500.000 đồng, quà, áo ấm, và
các hiện vật khác như sách vở,
bút của cá nhân trong nhóm đã
giúp đỡ em học sinh Nguyễn
Văn Hùng ( mồ côi lớp
6A-Trường THCS 6A-Trường Lâm, ở
thôn Minh Châu)
( HS lớp 8A quyên góp áo ấm tặng bạn)
Nhóm 2: Quyên góp với
số tiền là: 700.000 đồng, quà, áo
ấm, và các hiện vật khác như
sách vở, bút của cá nhân trong
nhóm đã giúp đỡ bạn Nguyễn
Thị Thanh Tâm( khuyết tật về
mắt ở lớp 8B – Trường THCS
Trường Lâm, ở thôn Trường
Thanh) ( Lớp trưởng 8AThùy Chi đại diện lớp trao quà cho
bạn Thanh Tâm lớp 8B là HS khuyết tật)