Lí do chọn đề tài: Thực hiện Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo GDĐT về việc hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Thực hiện Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo (GDĐT) về việc hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất, quá
trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên Một thay đổi cần làm cụ thể, thiết thực và quan trọng để dạy học hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của cá
nhân là lập kế hoạch, tổ chức một số tiết học Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của
giáo dục trong thời kì đổi mới là nhằm xây dựng, đào tạo những con người, những thế hệ có năng lực tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Để đạt được nhiệm vụ trên thì giáo dục phải được coi là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò quan trọng nhất
Với nhà trường phổ thông ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức, phẩm chất của người lao động mới còn phải trang bị cho các em tình yêu thương, tinh thần hợp tác, đoàn kết và lòng nhân ái Trong đó việc trang bị cho
HS những tri thức khoa học cũng là một nhiệm vụ cơ bản vì tri thức là chìa khóa mở cửa cho tất cả các bộ môn khoa học
Trong những năm gần đây, giáo dục chúng ta đã và đang thực hiện nhiều đổi mới trong phương pháp dạy học - phù hợp với đối tượng học sinh và đặc trưng của từng môn học, và đã thu được nhiều kết quả Song song với những thắng lợi ấy thì việc làm thế nào để dạy - học văn nhất là phân môn Tiếng Việt ngày càng tốt hơn luôn là nỗi trăn trở của nhiều thế hệ thầy cô
Đổi mới phương pháp dạy học là trên cơ sở tiếp thu những phương pháp dạy học truyền thống, người thầy phải tìm ra những phương pháp, biện pháp cụ thể cho từng kiểu bài, từng dạng bài, từng đối tượng học sinh Mỗi giáo viên đứng lớp nói chung, giáo viên dạy Ngữ văn nói riêng có bao điều trăn trở, nghĩ suy Làm thế nào dể tìm ra những hướng đi đúng, những giải pháp phù hợp cho từng đối tượng học sinh, cho từng giờ lên lớp? Trong ba phân môn của Ngữ văn, Tiếng việt là phân môn có tính chất công cụ , là phương tiện thể hiện tư duy, tạo lập các kiểu văn bản theo yêu cầu của Tập làm văn Phân môn Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 9, ngoài việc cung cấp một số kiến thức mới về hội thoại, nghĩa của câu, các thành phần biệt lập … còn có vai trò tổng kết những kiến thức đã học ở lớp dưới, bởi vậy có rất nhiều những tiết ôn tập, tổng kết
Chính từ những suy nghĩ trên - là một GV dạy Ngữ văn THCS, tôi luôn trăn
trở, cố gắng tìm tòi và mạnh dạn chọn đề tài Rèn năng lực tư duy, hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao hiệu quả các giờ dạy tổng kết Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cho học sinh THCS Quảng Đông Hi vọng rằng
bản thân có thể đưa ra những ý kiến nhỏ, những kinh nghiệm nhỏ để đồng nghiệp góp ý, giúp tôi có thể góp phần vào việc “Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực học sinh.”
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu:
Mỗi môn học trong nhà trường đều có đặc thù riêng, một phương pháp nhận thức Đặc điểm bộ môn và phương pháp nhận thức có nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tìm tòi và thiết kế những giải pháp dạy và học bộ môn Đối với môn Ngữ văn : Là một môn học có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS Góp phần hình thành con người có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái sấu cái ác Bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp
Giáo dục Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền giáo dục trong khu vực và thế giới Bản thân mỗi giáo viên trong quá trình hội nhập đó là tự đổi mới chính mình.là những suy nghĩ bước đầu của cá nhân người viết, hi vọng có thể nâng cao hơn hiệu quả những tiết day- học thuộc kiểu bài này, giúp học sinh sử dụng các đơn vị ngôn ngữ Tiếng việt tốt hơn trong giao tiếp
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Bộ môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng là bộ môn quan trọng trong hệ thống chương trình giảng dạy ở trường THCS Nó cung cấp cho học sinh vốn ngôn ngữ Một công cụ giáo tiếp giúp cho học sinh nói đúng viết đúng tiến tới nói hay và viết hay tiếng Việt
Mặt khác dạy Tiếng Việt là dạy tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm hiểu và yêu tiếng mẹ đẻ
Với phạm vi đề tài Rèn năng lực tư duy, hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao hiệu quả các giờ dạy tổng kết Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cho học sinh THCS Quảng Đông, tôi xin đề cập đến việc: nghiên cứu
tìm ra những phương pháp để dạy tốt một bài ôn tập Tiếng Việt cho học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng Chương trình Ngữ văn 9 giành một thời lượng cho các phần ôn tập, tổng kết, không chỉ ôn tập phần tổng kết những vấn đề của lớp 9 mà của cả cấp học, về Tiếng Việt số tiết ôn tập, tổng kết và kiểm tra gần bằng số tiết học bài mới Phối hợp một cách hợp lí có hiệu quả việc
ôn tập tổng kết và cung cấp kiến thức mới Rèn khả năng ghi nhớ kiến thức, sắp xếp các đơn vị kiến thức từ lớp 6 đến lớp 9; năng lực tổng hợp và khái quát vấn
đề, kỹ năng so sánh đối chiếu kiến thức của học sinh Như vậy, với phân môn Tiếng Việt nội dung dạy học có khá nhiều vấn đề mới không chỉ cung cấp kiến thức, cung cấp vốn từ để học sinh có thể dùng từ viết câu và liên kết câu trong văn bản mà còn có khả năng vận dụng rộng rãi trong việc phân tích văn bản trong phân môn Văn và phân môn Tập làm văn
Muốn thực hiện được điều đó, học sinh phải tích cực chủ động trong sự chuẩn bị bài; giáo viên phải giúp các em xâu chuỗi mở rộng và nâng cao kiến thức thông qua những câu hỏi và bài tập Để từ đó rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt thành thạo, tạo lập được văn bản và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Trang 31.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài như:
Phương pháp điều tra;
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD;
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Thực hiện Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất Dạy học
phát triển năng lực, phẩm chất, người học được xem như một nội dung giáo dục,
một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau giữa các phương
pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy
nói chung cao hơn trước đây
Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây,
việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách
con người…
Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Ngoài những yêu cầu
có tính chất truyền thống như: Bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc
GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được
nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng, phẩm chất cũng không phải là mới Tuy nhiên, quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng
Trang 4lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên Một thay đổi cần làm cụ thể, thiết thực và quan trọng để dạy học hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của cá nhân là lập kế hoạch, tổ chức một
số tiết học
Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên
Dạy học Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thông qua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định Các năng lực đặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng Việt
và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ Ngoài ra, học sinh cũng cần được phát huy các năng lực khác như: năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, tự quản bản thân,…
Để phát huy năng lực của học sinh cần đổi mới phương pháp dạy học
Như vậy, để có thể dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức cần truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; đặc biệt trong xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn bị bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa.
Để thực hiện có hiệu quả những tiết tổng kết Tiếng Việt thực sự là khó khăn,
thử thách với cả thầy và trò Nhất là đối với HS nông thôn như trường THCS Quảng Đông chúng tôi - điều kiện kinh tế gia đình và nhà trường còn vô vàn những khó khăn, các em không có cơ hội để được làm quen với các loại sách tham khảo hay tài liệu học tập khác ngoài sách giáo khoa, khả năng tư duy và hệ thống hóa kiến thức còn hạn chế cho nên bài giảng của GV (giáo viên), sự hướng dẫn của thầy sẽ là một thứ tài liệu chuẩn và vô cùng quí giá để các em hiểu và nắm sâu hơn kiến thức
Chính từ những suy nghĩ trên - là một GV dạy Ngữ văn THCS, tôi luôn trăn
trở, cố gắng tìm tòi và mạnh dạn chọn đề tài Rèn năng lực tư duy, hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao hiệu quả các giờ dạy tổng kết Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cho học sinh THCS Quảng Đông hi vọng rằng
bản thân có thể đưa ra những ý kiến nhỏ, những kinh nghiệm nhỏ để đồng nghiệp góp ý, giúp tôi có thể góp phần vào việc đổi mới những giờ dạy có hiệu quả hơn
Trang 5
PHẦN THỨ 2 – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Về phía người dạy :
Trong các giờ dạy - học thuộc ba phân môn của Ngữ văn, thiết kế và tổ chức thi công một giờ dạy học Tiếng Việt có lẽ là nhẹ nhàng hơn với những giáo viên có tri thức Tiếng việt vững vàng Thực tế giảng dạy trong nhiều năm qua cho thấy đã có một số giáo viên thành công ở các tiết dạy học lí thuyết Tiếng Việt, phương pháp dạy học nhóm bài lí thuyết Tiếng Việt đã được định hình tương đối rõ Song với các tiết tổng kết Tiếng Việt, thực sự chưa có nhiều tiết dạy thành công Dạy - học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ nhưng dạy học Tiếng Việt cần phải có tư duy chính xác lô gíc và khoa học hơn
Một bộ phận nhỏ giáo viên chỉ “ Mõ tre sách in”, sách giáo khoa thế nào thì cứ thế tiến hành; đương nhiên, sách giáo khoa được xem là “ Pháp luật”, yêu cầu “Cứng” của chương trình Song nếu chỉ dựa hoàn toàn vào SGK thì giờ dạy sẽ khô cứng, thiếu tính thực tiễn, việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh
là khó thực hiện Những tiết tổng kết Tiếng Việt còn là thử thách lớn hơn với
giáo viên, bởi để thực hiện được những tiết dạy này, người giáo viên phải có một hệ thống tri thức vững vàng từ lớp 6 đến lớp 9 nếu là người chưa từng dạy cả 4 lớp hoặc chưa đầu tư thời gian nghiên cứu chương trình của toàn cấp học sẽ khó hoàn thành nội dung trong các tiết tổng kết Tiếng Việt Trong khi đó sách giáo viên - tài liệu hướng dẫn quan trọng của chúng ta thì lại không có những hướng dẫn cụ thể phần lớn chỉ là những định hướng thiết kế theo các đề mục trong sách giáo khoa hoặc là lời giải đáp các bài tập theo yêu cầu Phần hệ thống hoá kiến thức, xâu chuỗi mở rộng và nâng cao kiến thức, phương pháp làm các dạng bài tập thì sách giáo viên chưa đề cập tới Đó thực sự là những khó khăn với người đứng lớp
Về phía người học
Ta thấy rất rõ : học sinh thích học Tiếng Việt hơn Tập làm văn nhưng lại thích học tiết lí thuyết Tiếng Việt hơn những tiết tổng kết Tiếng Việt Vì sao như vậy? Vì khả năng ghi nhớ kiến thức, sắp xếp các đơn vị kiến thức từ lớp 6 đến lớp 9 của các em chưa cao; năng lực tổng hợp và khái quát vấn đề, kỹ năng so sánh đối chiếu kiến thức của học sinh còn yếu Bên cạnh đó, các em có thể làm được những bài tập nhận diện nhưng chưa làm tốt những bài tập phân tích giá trị của đơn vị ngôn ngữ (Phân tích giá trị biểu cảm của từ, của dấu câu, phân tích giá trị của biện pháp tu từ ), bài tập thực hành sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, kỹ năng trình bày bài tập của học sinh chưa tốt
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Năng lực tổng hợp và khái quát vấn đề, kỹ năng so sánh đối chiếu kiến thức của học sinh còn yếu Bên cạnh đó, các em có thể làm được những bài tập nhận diện nhưng chưa làm tốt những bài tập phân tích giá trị của đơn vị ngôn ngữ (Phân tích giá trị biểu cảm của từ, của dấu câu, phân tích giá trị của biện pháp tu từ ), bài tập thực hành sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, kỹ năng trình bày bài tập của học sinh chưa tốt
Trang 6Kết quả: Bài Khảo sát: Bài kiểm tra 15 phút ( Đã bỏ bài kiểm tra 1 tiết
Tiếng Việt)
Xếp
Lớp
2.3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
2.3.1 Xác định chính xác, đầy đủ mục tiêu cần đạt ở các tiết tổng kết Tiếng Việt
Chúng ta đã biết, mục tiêu chung trong dạy- học Tiếng việt là giúp học sinh
“Nắm được những đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành Tiếng việt (Đơn vị cấu tạo từ, đơn vị từ vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng); “Nắm được những tri thức về ngữ cảnh về ý định,
về mục đích, về hiệu quả giao tiếp; nắm được các quy tắc chi phối việc sử dụng Tiếng việt để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội” Và “Trung tâm của việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh là làm cho các em có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt thành thạo” Từ mục tiêu chung đó, từng tiết dạy, từng nhóm bài Tiếng Việt sẽ có những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể
Ở những tiết dạy - học lí thuyết Tiếng Việt, học sinh phải nắm được đặc điểm cấu tạo, công dụng, phân loại của các đơn vị ngôn ngữ, từ đó vận dụng tri thức đã học để giải các bài tập theo yêu cầu
Nếu tiết luyện tập Tiếng Việt chú trọng việc giải bài tập, tiết ôn tập là củng
cố, xâu chuỗi kiến thức của một chương, một phần để giải quyết các bài tập thì tiết tổng kết Tiếng Việt có yêu cầu và nhiệm vụ cao hơn
Ở những tiết học này, học sinh phải củng cố, khắc sâu, hệ thống hoá kiến thức cơ bản, có mở rộng và nâng cao về các đơn vị ngôn ngữ Tiếng việt đã học
từ lớp 6 đến lớp 9; học sinh được rèn luyện năng lực so sánh, tổng hợp, khái quát vấn đề; kĩ năng trình bày bài tập Tiếng Việt theo từng mức độ, thực hiện tích hợp ngang với phần Văn, phần Tập làm văn đang học Qua những tiết tổng kết Tiếng Việt, cả giáo viên và học sinh phải có cái nhìn tổng quan về chương trình của toàn cấp học Từ đó, học sinh sẽ có ý thức hơn, sử dụng đạt hiệu quả hơn những đơn vị kiến thức đã học trong giao tiếp
Vì sao chúng ta phải đặt ra vấn đề này? Bởi vì, khi nắm vững mục tiêu bài dạy là giáo viên đã có nhận thức đúng đắn về yêu cầu nhiệm vụ của bài, từ đó sẽ có định hướng cho việc thiết kế và thi công, lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng đối tượng
2.3.2 Xác định dung lượng kiến thức cần tổng kết ở từng tiết, sắp xếp,
bổ sung phù hợp.
Thực ra, tổng kết Tiếng việt trong chương trình Ngữ văn lớp 9 chính là tổng kết toàn bộ những kiến thức cơ bản, trọng tâm của phân môn Tiếng việt trong toàn cấp học Với thời lượng ít ỏi (Tổng kết từ vựng học kì I: 6 tiết; Tổng kết ngữ pháp học kì II: 3 tiết), nếu người giáo viên không xác định trọng tâm
Trang 7kiến thức, dung lượng kiến thức cần chuyển tải đến từng đối tượng học sinh, sắp xếp chúng theo trình tự, thì khó hoàn thành nội dung các tiết dạy này SGK chỉ
đề ra những nội dung cần tổng kết, chưa phân định nội dung lớn nhỏ, hệ thống bài tập chưa đa dạng giáo viên cần phải sắp xếp, bổ sung hệ thống kiến thức
và bài tập giúp HS có thể dễ dàng củng cố kiến thức, hình thành và rèn luyện thói quen tư duy khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu SGK, chương trình cấp học, người viết đã sắp xếp lại hệ thống kiến thức cần tổng kết, bổ sung một số kiến thức và bài tập ở các tiết học vào bảng sau đây:
Tiết theo phân phối chương trình mới của Trường THCS Quảng Đông năm học 2020-2021
Phần kiến
thức
Tiết số Đơn vị kiến thức cần
ôn tập (Theo SGK)
Kiến thức được sắp xếp,bổ
sung
Tổng kết từ
vựng
39 I Từ đơn, từ phức
II Thành ngữ
III Nghĩa của từ
IV Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
I Phân loại từ theo cấu tạo:
1 Từ đơn
2 Từ phức II.Thành ngữ
III Nghĩa của từ
IV Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
40 V Từ đồng âm
VI Từ đồng nghĩa VII Từ trái nghĩa VIII Cấp độ khái quát nghĩa của từ
IX Trường từ vựng
1 Khái niệm
2 Cách giải thích nghĩa từ
3 Một số hiện tượng
về nghĩa từ (6 hiện tượng
từ mục IV đến mục IX SGK)
42 I Từ mượn
II Từ Hán – Việt III Từ ngữ địa phương và biệt ngữ
xã hội
I Phân loại từ theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng
1.Theo nguồn gốc :
- Từ thuần việt
- Từ mượn: từ Hán – Việt, từ mượn của ngôn ngữ châu Âu
2 Theo phạm vi sử dụng
- Từ ngữ địa phương
Trang 8- Biệt ngữ xã hội
60 I Từ tượng thanh,
tượng hình II.Một số biện pháp
tu từ từ vựng
I Gía trị biểu cảm của từ
II Một số biện pháp tu
từ từ vựng
64 Luyện tập tổng
hợp
Bổ sung thêm một số bài tập phân tích giá trị biểu cảm của từ, giá trị của phép
tu từ lấy từ các văn bản Văn đang học
Tổng kết
ngữ pháp
B Cụm từ
A Từ loại
B Cụm từ
1 Khái niệm
2 Cấu tạo của 3 loại cụm từ
156 157
C Thành phần câu
D Các kiểu câu:
I Câu đơn
II Câu ghép
IV Các kiểu câu ứng với mục đích nói III Biến đổi câu
C Thành phần câu
D Các kiểu câu:
I Câu chia theo cấu trúc:
1 Câu đơn
2 Câu ghép
II Câu chia theo mục đích nói
E Biến đổi câu
Nhìn vào bảng hệ thống hoá trên, chúng ta đã xác định được hệ thống kiến thức cơ bản cần chuyển tải, định hình rõ đơn vị kiến thức lớn, nhỏ; từ đó phân định thời gian tổng kết cho các đơn vị kiến thức
2.3.3 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở các tiết tổng kết Tiếng Việt
Nếu giáo viên phải nghiên cứu nội dung, chương trình SGK để xác định đơn vị kiến thức cần tổng kết, lựa chọn phương pháp phù hợp thì học sinh cũng phải chuẩn bị tốt cho những tiết tổng kết Tiếng việt
Sau mỗi giờ học, bao giờ cũng có phần củng cố kiến thức và hướng dẫn chuẩn bị bài mới Trước những tiết tổng kết Tiếng việt, giáo viên phải dành thời gian nhiều hơn để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, nếu chỉ trả lời những câu hỏi và bài tập trong SGK, học sinh chỉ việc chép “Để học tốt Ngữ văn” mà không cần phải tư duy hoặc đọc lại kiến thức cũ Trong khi đó, phần lớn kiến
Trang 9thức được tổng kết đã học từ lâu, học sinh quên nhiều, thậm chí quên hết Vậy nên hướng dẫn học sinh như thế nào?
Trên cơ sở đã xác định dung lượng kiến thức cần tổng kết trong giờ học, giáo viên phải đưa ra hệ thống câu hỏi và bài tập cho các đối tượng học sinh: Với học sinh trung bình – yếu, phải yêu cầu các em đọc lại toàn bộ kiến thức cũ, hoàn thành bảng hệ thống hoá (Theo các mục ở phần 4.1 của SKKN này) trước khi đến lớp; với học sinh khá giỏi, chỉ yêu cầu đọc lại kiến thức cũ mà không nhất thiết phải hoàn thành bảng hệ thống hoá nhưng phải nghiên cứu trước một
số bài tập nâng cao cần sử dụng so sánh, phân tích
Ở tiết 60, ta thấy HS phải đọc, nhớ lại kiến thức của từ tượng thanh, từ
tượng hình trong chương trình Ngữ văn lớp 8; chín biện pháp tu từ Tiếng việt được học trong toàn cấp:
Lớp 6: So sánh, nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ
Lớp7: Điệp ngữ, liệt kê,chơi chữ
Lớp 8: Nói quá, nói giảm nói tránh
Ở tiết 155: HS phải nhớ lại 12 từ loại được học rải đều trong 3 lớp:
Lớp 6: 7 từ loại, gồm có: Danh từ, động từ, tính từ, số từ, chỉ từ, lượng
từ, phó từ
Lớp7: 2 từ loại là đại từ và quan hệ từ
Lớp 8: 3 từ loại là trợ từ, thán từ, tình thái từ
Và 3 cụm từ: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ học ở lớp 6
Nhìn vào những đơn vị kiến thức này, thử nghĩ xem, nếu HS không đọc và nhớ lại kiến thức cũ, không chuẩn bị bài, liệu trong thời lượng 1, 2 tiết trên lớp có thể đủ để GV và HS hoàn thành nội dung tổng kết? Điều đó cho thấy, việc chuẩn bị bài của HS có vai trò quan trọng trong sự thành công của giờ dạy-học tổng kết Tiếng việt
2.3.4 Hướng dẫn và tổ chức cho học sinh thực hiện các giờ dạy tổng kết Tiếng Việt trên lớp đạt hiệu quả
Hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu kiến thức qua việc hoàn thành bảng
hệ thống hoá.
Đây là công việc cần làm đầu tiên trong các tiết tổng kết Tiếng việt Có thể thực hiện công việc này theo nhiều cách với nhiều hình thức khác nhau.Ở đây,người viết xin trình bày một số cách thức tiến hành:
Cách1: HS hoàn thành bảng hệ thống hoá (sơ đồ tư duy) ở nhà, đến giờ
học, GV sử dụng bảng phụ (máy chiếu), ghi đầy đủ, chính xác những nội dung kiến thức cần tổng kết, HS tự đối chiếu, bổ sung vào vở soạn ở nhà
Trang 10Cách 2: Hướng dẫn HS, qua hệ thống câu hỏi, nhắc lại kiến thức cần ghi
nhớ, GV lần lượt điền nội dung vào bảng, HS chốt kiến thức vào vở, công việc này tách thành phần riêng, trước khi làm bài tập
Cách 3: Hoàn thành bảng hệ thống hoá (Sơ đồ tư duy) song song với việc
giải các bài tập có liên quan, HS sử dụng cùng lúc 2 loại vở: Vở bài tập và vở ghi trên lớp (hiện nay, cuốn vở bài tập mới do Nguyễn Khắc Phi chủ biên có rất nhiều ưu thế)
Việc sử dụng cách nào là do năng lực của mỗi GV, do từng đối tượng HS: Cách 1 đỡ phần ghi trên lớp của HS, dành thời gian để làm bài tập nhưng chỉ áp dụng được với những HS tích cực và tự giác học tập, có khả năng tự học
Cách 2 có tính chất rạch ròi giữa lý thuyết và thực hành nhưng lại khó khắc sâu kiến thức qua bài tập, khó xâu chuỗi, mở rộng và nâng cao kiến thức Có lẽ, cách 3 chiếm nhiều ưu thế hơn cả nhưng nó đòi hỏi người GV phải biết chọn bài tập cho từng phần kiến thức, phải luyện cho HS kỹ năng ghi chép, sự tập trung theo dõi giờ học, những thao tác và cả tốc độ ghi bài
Để hoàn thành bảng hệ thống hoá có thể sử dụng một số hình thức sau trong các giờ trên lớp:
Hình thức 1:
Kẻ vào bảng chính
Hình thức 2:
Dùng bảng phụ bằng giấy để bóc dán
Hình thức 3:
Dùng bảng phụ chép chưa đầy đủ nội dung để HS điền tiếp
Hình thức 4:
Dùng máy chiếu
GV cần linh hoạt sử dụng các hình thức này trong các tiết tổng kết Tiếng việt Bởi lẽ, việc đặt câu hỏi để hoàn thành bảng hệ thống hoá dễ gây nhàm chán, thường có sự lặp lại Việc sử dụng giáo án điện tử có lẽ sẽ đem lại hứng thú học tập nhiều hơn cho học sinh Phần lớn các đơn vị ngôn ngữ Tiếng việt
cần tổng kết có thể được đưa vào bảng hệ thống hoá sau đây.
(có thể xem là mẫu chung, GV điều chỉnh cho phù hợp với từng đơn vị kiến thức)
Tên đơn vị
kiến thức
Khái niệm, đặc điểm Phân loại
Tác dụng–
cách sử dụng Ví dụ