TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 1.. Việc phát triển được năng lực tái hi
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
1.1.1 Phát triển năng lực tái hiện hình tượng trong văn học cho học sinh cũng đã được các nhà nghiên cứu cũng như các nhà sư phạm bàn đến trong nhiều nghiên cứu Tuy nhiên để vận dụng năng lực này vào việc giải mã một tác phẩm thuộc thể loại chuyên biệt thì chưa được quan tâm đúng mức Trong khi đó thể loại truyện ngắn lại chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng thể chương trình ngay từ khối lớp 6 Việc phát triển được năng lực tái hiện hình tượng sẽ giúp học sinh tiếp cận với tác phẩm truyện ngắn một cách dễ dàng hơn, người học sẽ không rơi vào tình trạng diễn xuông tác phẩm theo lối mòn men theo cốt truyện
1.1.2 Thêm vào đó, chương trình giáo dục phổ thông mới đã chỉ rõ, dạy học tác phẩm văn học phải bám vào đặc trưng thể loại Vì vậy, đưa ra các biện pháp kích thích năng lực tái hiện hình tượng cho học sinh khi học truyện ngắn cũng là một gợi ý để các giáo viên cũng như học sinh cảm thấy dễ dàng hơn khi khai thác thể loại này Từ việc cung cấp cho các em những con đường và cách thức tiếp cận một tác phẩm truyện ngắn ở góc độ mô hình sẽ giúp các em vận dụng những cách thức và con đường đó để tìm hiểu, khám phá các hình tượng nhân vật trong các truyện ngắn ở phạm vi đọc mở rộng
Xuất phát từ những lí do mang tính định hướng trên, tôi đã bắt tay vào nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp phát triển năng lực tái hiện hình tượng nhân vật cho học sinh trong dạy học truyện ngắn ở chương trình Ngữ Văn 9 Những mong thông qua đề tài, các bạn đồng nghiệp cũng như các em học sinh có thêm một gợi ý để tìm hiểu khám phá những điều thú vị trong mỗi tác phẩm khi dạy và học truyện ngắn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi muốn gợi ra cho người đọc và người dạy một hướng tiếp nhận tác phẩm truyện ngắn từ việc phát triển năng lực tái hiện hình tượng
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 2Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là các biện pháp phát triển năng lực tái hiện hình tượng cho học sinh khi học các tác phẩm truyện ngắn có trong chương trình Ngữ văn lớp 9
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi chỉ tập trung nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển năng lực tái hiện hình tượng cho học sinh trong dạy học truyện ngắn ở chương trình Ngữ văn lớp 9”, các biện pháp phát triển năng lực nói chung không phải phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phân tích tổng hợp nhằm hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến năng lực tái hiện hình tượng
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp so sánh: so sánh khả năng ở lớp thực nghiệm với lớp đối chứng
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tổ chức thiết kế giáo án thực nghiệm và dạy học thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê: thống kê kết quả dạy học thực nghiệm
Trang 32 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Một số đặc trưng của hình tượng nhân vật trong truyện ngắn
a Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn hiện lên nhờ vào sự đan kết các hệ thống chi tiết
Hình tượng nhân vật không chỉ thể hiện ở chiều sâu tư tưởng hay khả năng phản ánh mà còn thể hiện ở tính sinh động của nó Nhân vật được miêu tả bằng chi tiết, bởi đó là biểu hiện mọi mặt của con người mà ta có thể căn cứ để cảm biết về nó Chi tiết được xem là chất liệu cơ bản để tạo nên hình tượng, qua chi tiết người đọc có thể nhận diện được chân dung, hành động, tính cách, tâm trạng, suy nghĩ, quá trình nội tâm, tiểu sử điển hình của nhân vật
Trong truyện ngắn, chi tiết có tính dự báo và khơi gợi ở nơi người đọc những liên tưởng sâu xa về quá khứ hoặc có thể nhận định được cả tương lai của nhân vật Như vậy, nếu xem thế giới hình tượng nhân vật là linh hồn của truyện ngắn thì chi tiết chính là chìa khóa vạn năng để mở ra và khám phá thế giới nghệ thuật ấy
b Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn mang tính điển hình trong các tình huống
Tình huống truyện là cái tình thế nảy ra truyện, là lát cắt của đời sống, là khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra đậm đặc, khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, thậm chí cả một đời nhân loại Tình huống là thời khắc tiêu biểu có ý nghĩa cực kì quan trọng trong cuộc sống con người, tại thời khắc đó nhân vật có cơ hội kết nối, tương tác và bộc lộ các nét điển hình trong các mối liên hệ Với truyện ngắn tình huống là cáci hoàn cảnh bộc lộ sắc nét nhất tính chất bước ngoặt trong sự lưu chuyển
về cuộc đời của các hình tượng nhân vật
c Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn là một lát cắt hay một đoạn đời nổi bật trong số phận
Trong truyện ngắn, tác giả thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những tính cách đầy đặn, nhiều mặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh mà chỉ là hiện thân của một trạng thái xã hội,ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người Vì vậy, trong sáng tác, các nhà văn luôn phải tuyển lựa những gì độc đáo nhất để đưa vào trong tác phẩm của mình
Nhân vật trong truyện ngắn xuât hiện không chịu sự chi phối của trật tự tuyến tính hay một trình tự có tính lịch sử, mà trong tổc chức, cốt truyện nhà văn thường chỉ chọn một phân khúc điển hình nào đó của cuộc đời và số phận của nhân vật để phản
Trang 4ánh Tuy chỉ là một “lát cắt” hay một “phân khúc” nhưng đó là những cơ sở vững chắc cho những suy luận phán đoán, liên tưởng, tưởng tượng của người đọc để có thể nhận ra nét tâm trạng, tư tưởng tính cách của nhân vật trong những môi trường khác nhau
d Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn tồn tại một cách phong phú và sinh động là nhờ vào các phương tiện nghệ thuật trong thi pháp thể loại
Mỗi nhà văn khi sáng tạo truyện ngắn bao giờ cũng dụng công lựa chọn điểm nhìn phù hợp và độc đáo Điểm nhìn có thể hiểu là chỗ đứng hay góc nhìn mà từ đó người kể chuyện đứng ra trần thuật, bình giá về mọi sự vật và con người được nói tới Điểm nhìn trong truyện ngắn có thể giúp người đọc soi thấu vào nhân vật Vì vậy, xác định đúng điểm nhìn có thể giúp người đọc biết nhìn sâu đưa họ đến những nhận thức
và cảm thụ độc đáo
Ngôi kể hay người kể chuyện là một phương thức quan trọng để thể hiện nhân vật của chính nhà văn Ngôi kể trong truyện ngắn có thể lộ diện hay ẩn tàng, kể ở ngôi thứ nhất, thứ 2 hoặc thứ 3, qua những vai kể ấy mà hình tượng dần dần được lộ diện,
từ đó người đọc có thể tái hiện nhân vật một cách chính xác và đầy đủ nhất Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường xưng “tôi” và hiện lên như một nhân vật trong truyện Nhân vật “tôi” có thể đóng vai trò người dẫn chuyện trong tác phẩm hoặc một phần tử trong hệ thống những nhân vật tham gia vào các tình huống truyện Bản thân nhân vật
“tôi” có ý nghĩa nhân đôi khi nó vừa là người kể chuyện về các nhân vật khác vừa là đối tượng nhận thức trở lại của chính mình Các nhân vật xuất hiện trong câu chuyện của hình tượng “tôi” cũng được thể hiện trong sự kết hợp giữa việc miêu tả hành động, lời nói với những diễn biến tâm lí phức tạp bên trong của nhân vật Người kể chuyện thứ hai thường là hình thức phân thân của của cái “tôi” kể chuyện về chính những trải nghiệm của bản thân Bằng sự phân thân đó, nó tạo nên cảm giác về tính đa diện và đa trị của tâm lí, nhân cách con người, cho phép nhà văn đi sâu vào những góc khuất của nhân vật để bộc lộ và kí gửi tư tưởng, tình cảm của mình một cách chân thực nhất Người kể chuyện ngôi thứ ba không phải là nhân vật trong truyện mà kể câu chuyện về sự trải nghiệm của người khác Người ta gọi đây là người kể chuyện ẩn tàng vì trên bề mặt văn bản, người kể chuyện không có ngôi xưng, không xuất đầu lộ diện, nhưng có mặt ở tất cả mọi yếu tố của câu chuyện để khâu nối nhân vật với nhân vật cho đến nhân vật với môi trường và hoàn cảnh
Giọng điệu chính là chìa khóa quan trọng để giải mã thông điệp nghệ thuật, tuy
là một yếu tố nghệ thuật nhưng lại mang tính nội dung rõ nét Trong truyện ngắn, giọng điệu do chính người kể chuyện thiết lập nên, nó tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện
và khuôn mặt thẩm mĩ của nhà văn Tùy theo tính cách, số phận nhân vật, người kể và
Trang 5các mối quan hệ đa dạng của chúng mà ta có giọng điệu Nhờ vào sự lưu hợp trong sắc thái của giọng điệu trần thuật mà nhân vật trong tác phẩm truyện tồn tại phong phú và đa dạng hơn
2.1.2 Tầm quan trọng của việc tái hiện hình tượng trong dạy học truyện ngắn
a Tái hiện hình tượng để người đọc biết gắn kết các mối quan hệ trong tác phẩm làm cho hình tượng hiện lên phong phú và sinh động
Tái hiện là quá trình trí nhớ làm sống lại những nộ dung đã ghi lại qua các hình thức như sự nhớ lại, nhận lại và hình dung lại Trong tiếp nhận văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng, tái hiện được xem là đàu mối của những rung đọng thẩm mĩ, một yếu tố không chỉ cần thiết lĩnh hội được bề mặt trong của hình tượng
mà còn còn mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó Trong truyện ngắn, việc cắt nghĩa các yếu tố hạt nhân như: hình ảnh biểu tượng, chi tiết, tình huống, kết cấu, lời kể, giọng điệu, ngôi kể, điểm nhìn theo từng cấp độ của liên tưởng có thể mang đến cho học sinh khả năng kết nối các hình ảnh, các biểu tượng vốn rời rạc xa nhau trở thành một chất liệu mới, lớp nghĩa mới tạo nên tính linh hoạt, đa nghĩa và năng động của hình tượng
Trong tiếp nhận sáng tạo hình tượng của truyện ngắn, bản thân sự tái hiện nơi người đọc đã hàm chứa tính chọn lựa khả năng lí giải sự phong phú trong thế giới nội tâm của nhà văn Bằng việc huy động, tuyển lựa tất cả các dạng thức của hoạt động tái hiện sáng tạo các yếu tố hạt nhân của truyện ngắn như: chi tiết, sựu kiện, tình huống, nhan đề, kết cấu, giọng kể, học sinh thực sự đã tạo nên một sự đầy đủ và giàu có về chất liệu để tái hiện thế giới hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm một cách sinh động
và điển hình nhất
b Tái hiện giúp người học bổ sung, chia tách, mở rộng và đưa thêm những yếu
tố cần có mới vào hình tượng để nó trở nên độc đáo
Muốn giải mã được hình tượng trong truyện ngắn buộc người học phải huy động đến sức mạnh của tưởng tượng tái hiện, bản chất của hoạt động ấy được bắt đầu
từ những cái đã có trong kimh nghiệm của các nhân và đồng thời sáng tạo nên những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng mà các em đã có Khi huy động khả năng tái hiện hình tượng, người đọc đã tạo ra sự hợp nhóm các biểu tượng có tính chất tương đồng hoặc khác biệt với các yếu tố được nhà văn lấy trong hiện thực để chuyển đưa vào tác phẩm, và lúc này sự tương tác tâm lí giữa các chủ thể tiếp nhận mới sự bắt đầu Tái hiện hình tượng giúp học sinh nhìn nhận, tiếp thu, nhận thức những điều
Trang 6có trong truyện ngắn một cách dễ dàng hơn, từ đó học sinh có thể sản sinh ra các bức tranh kì lạ, ấn tượng, độc đáo từ truyện ngắn
Không những vậy, tưởng tượng tái hiện còn cho thấy, người đọc có khả năng kiến tạo nên một chỉnh thể đối tượng chưa từng có trong trí nhớ, và dường như đó là một phát hiện đến kì lạ về cái có thể có được trong đời sống của các em
c Tái hiện giúp người học mang đến cho hình tượng một sự trọn vẹn và chân thực
Cảm thụ tác phẩm truyện ngắn là một họat động sáng tạo đặc thù, một hoạt động tinh thần có quy luật riêng, một quá trình tích cực vận động vốn sống và năng lực của tư duy Trong đó, liên tưởng có nhiệm vụ tập hợp các biểu tượng trong và ngoài tác phẩm, tưởng tượng có xu thế phá vỡ các hình ảnh cũ về sự vật và luôn đưa lại cho người học những tư liệu thuộc nội bộ cấu trúc của truyện như: chi tiết, biến cố, tình huống, kết cấu, cốt truyện, lời kể, điểm nhìn một cách phong phú để tái hiện tạo nên hình tượng một cách năng đọng và sáng tạo Như vậy, logic tâm lí tiếp nhận của người học, năng lực tái hiện hình tượng tuy đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến việc hoàn thiện và nối dài vòng đời của hình tượng nhưng nó thực sự chỉ được phát triển sau khi đã và đồng thời thực hiện năng lực liên tưởng và tưởng tượng trong tiếp nhận
Ở đó, vai trò của người đọc không phải là cụ thể hóa một vật trìu tượng mà bổ sung, kết nối, suy luận trên cơ sở tính cụ thể cảm tính của hình tượng nghệ thuật
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Truyện ngắn là một thể loại có mặt trong toàn bộ chương trình Ngữ văn phổ thông, nó là một trong hai thể loại chủ đạo bên cạnh thể loại thơ được lựa chọn vào việc giảng dạy trong nhà trường Chính vì thế, học sinh sẽ phải thường xuyên làm việc với thể loại này khi học các văn bản văn học Để tạo nên một sự đối sánh giữa khi áp dụng những giải pháp đưa ra trong đề tài với việc dạy bình thường như lâu nay vẫn áp dụng ở khối lớp 9 của trường THCS An Hoạch thì tôi đã nhận thấy một thực tế: Lớp 9A khi dạy tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” tôi dạy theo phương pháp cũ mà không
áp dụng các năng lực tái hiện hình tượng, đa phần các em đều không mấy hứng thú khi học tác phẩm Để kiểm chứng thêm về hiệu quả của giờ học, tôi đã đưa phiếu học tập yêu cầu các em khai thác tác phẩm “Chiếc lược ngà” theo cách đã khai thác hình tượng ở truyện “Lặng lẽ Sa pa” Tuy nhiên các em đã không thể thực hiện được yêu cầu vì kiểu nhân vật của hai truyện ngắn là khác nhau
Trang 7Trong khi đó, ở lớp 9B, tôi áp dụng các biện pháp tái hiện hình tượng nhân vật
có trong đề tài khi dạy tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”, các em đã rất hứng thú và chủ động trong việc hình thành kiến thức của bài học Cũng tương tự như lớp 9A, sau khi học xong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” tôi đã yêu cầu các em khai thác tác phẩm “Chiếc lược ngà” Điều bất ngờ là các em đã chủ động hoàn thành tốt việc tái hiện các hình tượng nhân vật có trong truyện theo các biện pháp đã được áp dụng trong tiết dạy thực nghiệm
Xuất phát từ những hạn chế nói trên trong giờ dạy, tôi đã trăn trở suy nghĩ và tìm ra các biện pháp nhằm kích thích năng lực tái hiện hình tượng nhân vật khi học truyện ngắn để hiệu quả giờ dạy cao hơn so với giờ dạy trước khi chưa áp dụng sáng kiến
2.3 Các biện pháp phát triển năng lực tái hiện hình tượng nhân vật trong dạy học truyện ngắn
2.3.1 Tái hiện hình tượng từ sự cắt nghĩa lí giải tình huống truyện
Có thể nói, tình huống truyện bao giờ cũng hàm chứa khả năng liên tưởng thú
vị và sự tưởng tượng phong phú, ở đó nhân vật bộc lộ ra “cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách nhân vật” Mỗi tình tiết, biến cố, bước ngoặt số phận của nhân vật được miêu tả trong truyện đều xác định một hướng hay một trường liên tưởng và tưởng tượng cho người học Tình huống ông Sáu xa bé Thu 8 năm không gặp, đến khi gặp lại bé Thu đã không nhận ra ông là cha Tình huống này sẽ giúp học sinh liên tưởng và tưởng tượng về cảnh huống: bé Thu sẽ làm mọi cách để chối từ tiếng gọi ba với ông Sáu; bé Thu bỏ từ chối sự quan tâm của ông Sáu trong bữa ăn “hắt miếng trứng cá ra khỏi bát cơm”; Thu bỏ nhà đi ngay trong bữa cơm; Thu trở về nhà để gặp ông Sáu và nhận ông Sáu là ba trước khi ông Sáu ra chiến trường; bé Thu giữ cây lược ngà, kỉ vật cuối cùng của ông Sáu, trong suốt nhiều năm Còn ông Sáu luôn tìm mọi cách để con gọi tiếng ba, ông tức giận đánh con khi con hỗn láo và thấy đau đớn; ông hạnh phúc đến phát khóc khi Thu gọi ông là ba; ông tỉ mỉ làm cây lược ngà để tặng con; khi không còn đủ sức để trăng trối lại điều gì nhưng vẫn còn đủ sức để đưa tay vào túi áo ngực lấy cây lược ngà gửi lại cho con Như vậy, từ tình huống truyện
“Chiếc lược ngà” ta có thể kết nối nhiều chiều để tái hiện lại sức mạnh của tình phụ tử trước sức tàn phá của chiến tranh, thấy được cảnh ngộ trớ trêu của không ít gia đình khi bị chia cắt bởi chiến tranh
Trang 82.3.2 Tái hiện hình tượng từ việc lựa chọn và cắt nghĩa các chi tiết điển hình
Truyện ngắn không có chi tiết thừa, mà chỉ có những chi tiết “nén”, chi tiết tiêu biểu, chi tiết phát sáng ở trong nó đã chứa tải tầm vóc lớn lao của tư tưởng và cảm xúc của nhà văn Từ những chi tiết độc đáo học sinh hoàn toàn có thể xem đó là những mảnh ghép của tác phẩm và sự đan dệt giữa các chi tiết chính là sự liên nối để
hoàn thiện cho bức tranh nghệ thuật ấy Ví dụ, trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long các em chỉ cần lựa chọn và hợp nhóm các chi tiết: Anh thanh niên lấy cây gỗ chắn ngang đường để được gặp mọi người; sống một mình trên đỉnh Yên Sơn, trồng rau, nuôi gà và đọc sách; anh pha trà mời ông họa sĩ, hái hoa tặng cô
kĩ sư; anh say sưa kể về công việc của mình cho ông họa sĩ nghe; anh từ chối việc ông họa sĩ vẽ chân dung của mình; anh nói ra những suy nghĩ của bản thân cho cô kĩ sư và ông họa sĩ nghe, để suy luận và kết dính với nhau theo trật tự logic của tác phẩm thì học sinh hoàn toàn có thể tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng để vẽ ra một bức tranh chân thực về phẩm chất của nhân vật anh thanh niên Đó là một con người biết hi sinh, biết quan tâm người khác, rất có trách nhiệm và yêu công việc đang làm, sống giản dị, khiêm tốn, chân thành
2.3.3 Tái hiện hình tượng thông qua việc cắt nghĩa và lí giải nhan đề của tác phẩm
Nhan đề không chỉ là tên gọi để người đọc phân biệt tác phẩm này với tác phẩm kia mà bao hàm một lựa chọn về mục đích cũng như cách thức giao tiếp với độc giả của người kể chuyện, đồng thời cũng cho thấy sự độc đáo và sáng tạo trong phong cách của người viết Hơn nữa, nhan đề còn đóng vai trò vừa là yếu tố độc lập tương đối với câu chuyện, vừa là một bộ phận quan trọng để tạo nên tính toàn vẹn trong cấu trúc của tác phẩm Từ nhan đề, người đọc có thể phán đoán suy luận, liên tưởng, tưởng tượng để gắn kết và sáng tạo những phân mảng nội dung và nghệ thuật gần kề hay xa cách, tương đồng hay khác biệt để tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật logic Trong dạy học truyện ngắn, việc giáo viên nhận thức rõ được vai trò của nhan đề cũng đồng nghĩa với việc tìm ra một nguyên lí gốc để cắt nghĩa tác phẩm Nắm bắt và tận dụng triệt để nhan đề truyện của truyện chắc chắn quá trình tổ chức giờ học sẽ thuận lợi và có hiệu quả
Ví dụ từ nhan đề “Chiếc lược ngà” trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quan Sáng giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận theo nhiều chiều hướng khác nhau
Cách 1: Giáo viên có thể phát vấn bàng một số câu hỏi sau:
Trang 9+ Từ nhan đề “Chiếc lược ngà” em có suy nghĩ gì về hoàn cảnh của ông Sáu và bé Thu?
+ Từ nha đề “Chiếc lược ngà” em có suy luận và phán đoán gì về hoàn cảnh của cha con ông Sáu?
+ Qua nhan đề “Chiếc lược ngà” nhà văn Nguyễn Quang Sáng muốn gửi gắm thông điệp gì?
Cách 2: Giáo viên có thể yêu cầu học sinh như sau: Từ nhan đề Chiếc lược kết hợp với việc xem các bộ phim tư liệu về chiến tranh chống Mĩ ở miền Nam, em hãy
vẽ lại bức tranh ấn tượng nhất về những cảnh tượng liên quan đến chiếc lược
Để có thể trả lời được những câu hỏi và vẽ được những bức tranh, buộc học sinh phải huy động năng lực tưởng tượng, tái hiện để có thể vẽ được bức tranh làm bật lên được sự éo le của chiến tranh và sức ảnh hưởng của nó đến tình cảm cha con của những gia đình Việt Nam khi bị chiến tranh chia cắt
2.3.4 Tái hiện hình tượng nhân vật thông qua phân tích kết cấu
Kết cấu trong truyện ngắn được hiểu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật, là sự tổ chức sắp xếp các cấp độ khác nhau của tác phẩm theo dụng ý nghệ thuật của nhà văn như: hệ thống ngôn từ của văn bản, hệ thống nhân vật, hệ thống các chi tiết, hệ thống các chi tiết sự kiện, hệ thống điểm nhìn, không gian - thời gian từ đó học sinh phát hiện ra sự sắp xếp, tổ chức các yếu tố trong một hệ thống nhỏ, đánh giá logic giá trị nghệ thuật, khả năng tổ chức kết cấu tác phẩm của nhà văn Thông qua kết cấu của tác phẩm học sinh có thể huy động chuỗi hoạt động của tâm lí
từ liên tưởng, tưởng tượng cho đến tái hiện, để lí giải hoàn tất và trọn vẹn vòng đời của nhân vật Truyện ngắn “Làng” đã mở đầu bằng việc giới thiệu về nhân vật ông Hai với một tình cảm sâu sắc với cách mạng, với làng quê bằng việc ông luôn mong ngóng những tin tức kháng chiến trên khắp mọi miền đất nước và tin tức về làng Chợ Dầu; ở phần giữa tác phẩm, Kim Lân lại kể về nỗi đau của ông Hai khi nghe tin tức làng mình theo Việt gian; phần cuối tác phẩm, nhà văn lại kể về việc ông Hai vui vẻ, say sưa kể về làng của mình sau khi tin tức theo Việt gian đượch cải chính Kết cấu của tác phẩm đã được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, cách kể đó khiến người đọc
bị cuốn vào dòng chảy của cốt truyện để theo dõi và ắnm bắt một cách sâu sắc những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai Từ đó ta xác định được, ông Hai là kiểu nhân vật được khai thác ở phương diện tâm lí là chủ yếu Việc nắm bát kiểu nhân vật sẽ
Trang 10giúp ta có hướng khai thác tác phẩm phù hợp và hiệu quả hơn cả về phương diện nội dung và nghệ thuật
2.3.5 Ngoài ra, có thể tái hiện hình tượng nhân vật bằng các hoạt động tiếp nhận sáng tạo
Giáo viên có thể kích thích ở học sinh các năng lực như so sánh văn học, phản biện văn học, trải nghiệm hồi ứng, các hoạt động ngoại khóa văn học, kể chuyện nhập vai sáng tạo; cùng với đó là kết hợp các kĩ thuật công não, mảnh ghép và sơ đồ tư duy Sự chuyển hóa có tính chất tích hợp giữa các hoạt động này sẽ tạo nên một hiệu ứng sư phạm để phát triển đồng bộ các năng lực tâm lí cho học trong tiếp nhận văn chương nói chung và truyện ngắn nói riêng Ví dụ như khi dạy truyện ngắn Lặng lẽ Sa
Pa ta có thể cho học sinh kê chuyện phân vai đối với tác phẩm này hoặc sẽ mô hình hóa sân khấu tác phẩm trong giờ hoạt động ngoại khóa Làm được những việc này, hình tượng nhân vật trong truyện sẽ trở nên sống động và ấn tượng hơn trong tâm trí học sinh
3 Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục đích, yêu cầu
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá đúng mức hiệu quả của sáng kiến, kiểm nghiệm các biện pháp đã đề ra ở phần 2 “Một số biện pháp kích thích năng lực tái hiện hình tượng nhân vật trong dạy học truyện ngắn ở chương trình Ngữ văn lớp 9 ”
- Qua thực nghiệm để giá tính khả thi và hiệu quả thực tế của sáng kiến
- Đưa ra thiết kế bài dạy vận dụng kết hợp các biện pháp kích thích năng lực tái hiện hình tượng nhân vật trong dạy học truyện ngắn ở chương trình Ngữ văn lớp 9
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
- Bài dạy thực nghiệm: Lặng lẽ Sa Pa
- Học sinh thực nghiệm và đối chứng gồm 2 lớp 9A và 9B Trường THCS An Hoạch
3.3 Tổ chức thực nghiệm
3.3.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm