Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần phải giáo dục để giúp học sinh xác định được ý thức, mục tiêu, nhiệm vụ học tập và hiểu được sự cần thiết của việc tự học bộ môn Ngữ Văn trong việc phát
Trang 1MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Lý do chọn đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung 3
2.1 Cơ sở lí luận 3
2.2 .Thực trạng về vấn đề tự học môn Ngữ Văn của học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 5
2.3 .Một số giải pháp tăng cường khả năng tự học môn Ngữ văn cho học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 7
2.31 Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần phải giáo dục để giúp học sinh xác định được ý thức, mục tiêu, nhiệm vụ học tập và hiểu được sự cần thiết của việc tự học bộ môn Ngữ Văn trong việc phát triển những năng lực cần thiết cho bản thân 7
2.3.2 Giải pháp thứ hai: Giáo viên cần phải dạy phương pháp tự học và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học môn Ngữ văn 9
2.3.3 Giải pháp thứ ba: Giáo viên tổ chức tốt các giờ hướng dẫn đọc thêm, tự học có hướng dẫn để giúp hình thành và củng cố các kỹ năng tự học cho HS 11
2.3.4 Giải pháp thứ tư: Giáo viên cần tổ chức các hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa để rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh 14
2.3.5 Giải pháp thứ năm: Chú trọng đổi mới kiểm tra đánh giá để tăng cường khả năng tự học cho học sinh 15
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 17
3 Kết luận và kiến nghị 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Kiến nghị 20
3.2.1.Đối với Sở giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa 20
3.2.2 Đối với Phòng GD&ĐT thành phố Thanh Hóa 20
Tài liệu tham khảo
Danh mục các sáng kiến đã được xếp loại các cấp
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhânlực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầuhội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông ở ViệtNam đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI đó
là “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống”
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển dần từ chủ yếu làtrang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh Phươngpháp giáo dục phổ thông cũng đã và đang được đổi mới theo hướng phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học
Thực tế cho thấy, trong thời đại mà khoa học kĩ thuật phát triển nhanhchóng như hiện nay, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhucầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội
Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học học sinh là một công việc có vai trò vô cùngquan trọng Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cáchthức khác nhau, mỗi học sinh mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về trithức, về đời sống xã hội Từ đó, có được sự năng động, tích cực, tự tin, có thểđạt được những thành công trong xã hội hội nhập
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việcthực hiện mục tiêu giáo dục này Sau những năm thực hiện chương trình đổimới, chất lượng dạy – học môn Ngữ văn ở các nhà trường THCS nói chung và ởtrường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nói riêng đã vàđang từng bước được cải thiện Tuy nhiên, học sinh vẫn còn rất nhiều hạn chế vềnăng lực tự học, điều đó ảnh hưởng tới mục tiêu giáo dục của bộ môn và hiệu
Trang 3tăng cường khả năng tự học môn Ngữ văn cho học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu, phân tích thực trạng hoạt động tựhọc của học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THCS Minh Khai, thành phốThanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
- Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm giúp tăng cường năng lực tự học của
học sinh THCS trong môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực; nhằm
trao đổi với đồng nghiệp, giúp ích trong quá trình giảng dạy, góp phần tháo gỡnhững khó khăn trong việc dạy học ngữ văn hiện nay, đặc biệt là để thực hiện cóhiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học theo phương pháp dạy học tích cực
1.3 Đối tượngnghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi đã chọn học sinh các khối lớp 6,7,8,9 của trườngTHCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong 2 năm học:
2018 -2019 và 2019-2020 để khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu và chọn học sinhlớp 6A2 và 7A2 để tiến hành thực nghiệm, vì bản thân tôi trực tiếp quản lí, chỉđạo, sinh hoạt chuyên môn tại tổ chuyên môn Khoa học xã hội và trực tiếp thamgia giảng dạy môn Ngữ Văn trong nhiều năm liền (28 năm)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập thông tin khoa học qua
đọc các văn bản chỉ đạo của các cấp, sách, báo, tài liệu, trên cơ sở phân tích,tổng hợp, phân loại nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm, những tưtưởng cơ bản làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Trưng cầu ý kiến của giáo viên dạy môn Ngữ
Văn có trình độ cao, có kinh nghiệm trong và ngoài nhà trường trong quá trìnhthực hiện đề tài;
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, khảo sát, thu thập thông tin
từ thực tiễn việc tự học của học sinh trong nhà trường ở môn Ngữ Văn
- Phương pháp xử lý số liệu, thống kê: Có số liệu đối chiếu cụ thể trước và sau quá trình triển khai thực hiện
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: phân tích các cứ liệu đã thu thập để
làm sáng tỏ từng luận cứ, khái quát thành các luận điểm
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: Đối chiếu, so sánh về ý thức, tinh thần,
thái độ, kết quả học tập của học sinh trước và sau khi thực hiện đề tài
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi khoa học kĩ thuật, công nghệ thôngtin đang phát triển và bùng nổ như vũ bão thì việc dạy học cũng nhất thiết phảithay đổi Giờ đây, chúng ta không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh một khốilượng kiến thức khổng lồ, xuất hiện ngày càng nhiều mà phải quan tâm dạy chohọc sinh phương pháp học tập
Vì thế, Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tậpcho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làmột mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt lõi, trọng tâm làphương pháp tự học
Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tựmình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phântích, tổng hợp, …) cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm… để chiếm lĩnh trithức ở một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội củanhân loại và biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học
Tự học là phương pháp học tích cực Ở đó, dưới sự thiết kế, tổ chức,hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạtcác mục tiêu, kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình, bài học Thực chấtcủa quá trình tự học yêu cầu người học phải tích cực suy nghĩ, chủ động thamgia các hoạt động để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xâydựng thái độ và hành vi đúng đắn; tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập;thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tìnhhuống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến,quan điểm các nhân, tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, chothầy, cho bạn; biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩmhoạt động học tập của bản thân và bạn bè
Quá trình tự học giúp học sinh phát huy tính tính cực, tự giác, chủ động,sáng tạo, tìm tòi, phát hiện, khai thác, xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,năng lực và phẩm chất Đặc biệt, nó còn tạo cho học sinh lòng ham học, khơidậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi người, giúp kết quả học tập được nânglên Bên cạnh đó, tự học giúp học sinh thích ứng với mọi biến cố của sự pháttriển kinh tế - xã hội, giúp các em có thể khẳng định được năng lực, phẩm chấtcủa mình và để có thể cống hiến được thật nhiều cho xã hội Rèn kỹ năng tự họcchính là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập.Việc hình thành ý thức, khả năng tự học cho học sinh THCS là phù hợp với
Trang 5đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người Đây là giai đoạn chuyển
từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành Bên cạnh những phát triển mạnh mẽ về thểchất, học sinh ở lứa tuổi này bắt đầu hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ,nhân cách phù hợp cho việc bồi dưỡng năng lực tự học cho các em Ở lứa tuổinày, học sinh đã có khả năng phân tích, tổng hợp, liên tưởng phức tạp hơn Trínhớ của các em cũng tăng cường tính chất chủ định, có tổ chức, việc ghi nhớmáy móc ngày càng nhường chỗ cho logic và ghi nhớ ý nghĩa Tư duy trừutượng và tư duy độc lập dần dần chiếm ưu thế Học sinh bắt đầu biết sử dụngnhững phương pháp đặc biệt để ghi nhớ Chẳng hạn các em đã biết tiến hành cácthao tác như so sánh, phân loại, hệ thống hóa để ghi nhớ và tái hiện tài liệu theocách hiểu của mình Ở một số học sinh, hoạt động học tập đạt mức phát triển cao
và ham hiểu biết nhiều lĩnh vực Vì thế, việc xây dựng ý thức, thói quen tự họccho học sinh là vô cùng cần thiết
Việc phát huy tính tự học trong môn ngữ văn có một ý nghĩa vô cùngquan trọng, đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học Bởi vì, môn ngữvăn trong nhà trường là một bộ môn khoa học nghệ thuật Cho nên, nghệ thuậtngôn từ chính là bản chất thẩm mĩ của nó Đây cũng là điểm khác với các bộmôn khác Trong quá trình học tập, mỗi học sinh sẽ đến với tác phẩm văn họcbằng một nguồn cảm xúc khác nhau, bằng một cách thẩm thấu khác nhau, nếukhông có sự vận động của bản thân chủ thể học sinh thì mọi hoạt động từ phíagiáo viên đều trở thành áp đặt Những cảm xúc của cá nhân, những năng lực chủquan của học sinh nếu không được phát huy thực sự thì việc chiếm lĩnh tri thức,việc thưởng thức tác phẩm hay hứng thú học tập sẽ bị thui chột và quá trìnhchiếm lĩnh tác phẩm văn học sẽ trở thành gò bó, nhàm chán, khô cứng, dẫn đếnhiệu quả học tập sẽ không cao Phát huy tính chủ thể học sinh trong quá trình tựhọc môn ngữ văn có thể khơi dậy, thắp sáng lên được những ngọn lửa – ngọnlửa nhiệt huyết, đam mê khám phá và sáng tạo Bên cạnh đó cũng góp phần hìnhthành và phát triển nhiều năng lực quan trọng cho các em
Nói một cách tổng quát thì nhiệm vụ của môn Ngữ văn trong nhà trườngphổ thông là góp phần hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩa chohọc sinh bằng phương tiện đặc thù của nó Nhiệm vụ của việc dạy văn là cungcấp cho học sinh những hiểu biết về thế giới bên ngoài, về xã hội và con người
Từ việc hiểu biết thế giới bên ngoài để các em có thể soi rọi vào mình, để hiểuchính bản thân mình, đó là quá trình nhận thức để tự nhận thức Cho nên cungcấp kiến thức cốt là để từ đó học sinh tự ý thức về mình, để sống có nhân cáchhơn, cao thượng hơn, trong sạch hơn, có bản lĩnh hơn Mục đích cao nhất củaviệc dạy văn không phải chỉ là thông báo một số kiến thức mà là cung cấp
Trang 6những khả năng, những năng lực để tự học sinh giải quyết các vấn đề về bài toáncuộc đời của chính bản thân các em Vì thế, việc tự học, tự vận dụng kiến thức
vào cuộc sống của học sinh là vô cùng quan trọng và cần thiết
2.2 Thực trạng tình hình tự học của học sinh trong môn Ngữ văn cấp THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Mặc dù có vai trò quan trong trong việc phát triển năng lực, phẩm chất, kĩnăng cho học sinh để đáp ứng yêu cầu giáo dục của thời đại mới nhưng trongthực tế hiện nay, một bộ phận không nhỏ học sinh đến với môn Ngữ văn mộtcách thờ ơ, hời hợt, thiếu sự say mê, ít hứng thú với tâm lí gò bó, ép buộc Đa sốcác em thường học theo kiểu đối phó Học chỉ để có đủ điểm lên lớp, đủ điểmtrong kì thi vượt cấp Trong các giờ học, nhiều em thường không tập trung chú
ý, không có ý thức phát biểu xây dựng bài, thậm chí còn đem môn khác ra học(tình trạng này thường xảy ra ở học sinh thích học các môn khoa học tự nhiên);
về nhà, nhiều em không học bài cũ, không soạn bài, không chuẩn bị bài trướckhi đến lớp Trong các giờ kiểm tra thường đối phó, thậm chí còn có tư tưởngsao chép tài liệu
Tôi xin dẫn nguồn từ kết quả khảo sát về hoạt động tự học của học sinhtrong nhà trường Để tìm hiểu thực trạng hoạt động tự học của học sinh, tôi đãtiến hành khảo sát 12 thầy cô dạy môn Ngữ văn của nhà trường và 1368 họcsinh khối 6,7,8,9 của trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnhThanh Hóa vào thời điểm đầu năm học 2019-2020 Kết quả cho thấy:
Về kết quả khảo sát học sinh, trong 1368 em học sinh được khảo sát thì
phần lớn học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của việc tự học môn Ngữ Văn,
có khoảng 50% học sinh chưa chú ý và chưa có thói quen tự học 30% học sinhcòn lúng túng khi sử dụng các kỹ năng tự học Chỉ có khoảng 20% học sinh thực
sự hứng thú với vấn đề này Thời gian dành cho việc tự học bộ môn của học sinhcũng khá khiêm tốn Khảo sát thời gian tự học của học sinh với từ 1– 2giờ/ngày, có 496 em chọn (chiếm 36,2%); từ 2 giờ trở lên/ngày, có 276 em chọn(chiếm 20,1%), số còn lại học dưới 1 giờ/ngày Trong quá trình học môn ngữvăn, đa số học sinh vẫn còn thói quen thụ động, chỉ quen nghe, chép, ghi nhớ vàtái hiện những gì giáo viên nói Học sinh chưa hình thành được thói quen khámphá bài học mới nếu không được giao nhiệm vụ, có khi được giao nhiệm vụ rồicũng còn lúng túng, thiếu tự giác, thiếu chủ động khi giải quyết vấn đề Thậmchí, có em mua rất nhiều cuốn tài liệu tham khảo để dựa dẫm vào đó để trả lờinhững câu hỏi đọc hiểu nhưng thực chất lại không hề hiểu vấn đề Học sinhchưa có nhu cầu bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm cá nhân, ý kiến cá nhân của
Trang 7mình trước tập thể, nếu có thì cũng theo khuôn mẫu, thiếu tự tin nên dễ bị lạchướng Trong nhà trường, vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ học sinh chánhọc, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với các giờ dạy - học Ngữ Văn.
Về kết quả khảo sát giáo viên, có khoảng 90% ý kiến giáo viên dạy môn
Ngữ Văn cho rằng học sinh trong lớp dạy của mình chưa chú ý đến vấn đề tựhọc môn học này Các em luôn thụ động, luôn dựa dẫm vào thầy cô, bạn bètrong quá trình học tập Thậm chí, nhiều người phàn nàn là học sinh không chịuchủ động học thuộc lòng các bài thơ, không đọc nội dung các văn bản truyện,không thuộc các khái niệm, các nội dung cần ghi nhớ Hầu hết, các em chỉ họcmột cách đối phó khi có sự thúc ép của thầy cô, cha mẹ Điều này dẫn đến tìnhtrạng học sinh học trước quên sau, học mãi vẫn không thể nào ghi nhớ được, từ
đó dẫn đến việc ngại và sợ học bộ môn Đa số học sinh chưa có ý thức tự tìmhiểu và khám phá cái hay, vẻ đẹp của văn chương, nhiều em hiểu sai lệch nộidung tư tưởng của văn bản, một số em còn xuyên tạc theo kiểu nghĩ gì nói nấydẫn đến tình trạng “cười ra nước mắt” khi giáo viên chấm bài
Đây quả là một thực trạng rất đáng lo ngại, là vấn đề bức thiết đặt ra vớinhững người CBQL và giáo viên trực tiếp dạy học môn ngữ văn trong giai đoạnhiện nay, khi chúng ta đang tiến hành dạy - học trên tinh thần phát huy tính tíchcực, tự chủ, phát huy năng lực của học sinh
* Nguyên nhân của thực trạng:
- Học sinh còn học thụ động, thiếu sáng tạo: Các em chỉ tiếp thu bài học
một cách thụ động, theo kiểu bắt chước mà thôi Tính chất thụ động thể hiện ởviệc học thiếu hứng thú, học đối phó, và về nhà chỉ còn biết học thuộc để trả bài
và làm bài, thậm chí nhiều em còn không chịu học thuộc bài theo yêu cầu củathầy cô giáo
- Học sinh chưa có ý thức và không biết tự học Học sinh chưa ý thức
được vai trò tự giác của bản thân trong học tập và rèn luyện, chưa coi việc tựhọc là điều quan trọng, cần thiết Đa số không biết cách chủ động tự đọc SGK
để tìm hiểu kiến thức, không biết cách phân biệt cái chính và cái phụ, không biếttìm kiến thức trọng tâm để học, không biết từ cái đã học mà suy ra cái chưa học,không có nhu cầu tự tìm hiểu, nghiên cứu
- Học sinh thiếu hứng thú, đam mê trong việc học tập bộ môn Thiếu
những động cơ nội tại này, việc học tập thường là tẻ nhạt, nhàm chán, nặng nề, ít
có kết quả
- Về phía giáo viên, trong quá trình lên lớp, một số giáo viên cũng chưa đề
cao yếu tố tự học của học sinh Chưa xem học sinh là chủ thể của hoạt động học
Trang 8văn, chưa trao cho các em tính chủ động trong học tập Nhiều giáo viên chưathực hiện tốt vai là người tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh
- Về phía phụ huynh, nhiều phụ huynh học sinh còn có quan niệm sai lầm,
họ cho rằng, học văn sẽ khó cho việc lựa chọn ngành nghề sau này và áp lực thi
cử cũng cao hơn so với các môn khác, vì thế, họ không khuyến khích con emsay mê môn học này
- Ngoài ra, còn phải nói đến những yếu tố ảnh hưởng khác từ xã hội như:Sức hấp dẫn của mạng Internet với các trò chơi trực tuyến, đã lấy đi của họcsinh đa số thời gia rảnh rỗi để có thể tự học
Thực trạng trên yêu cầu mỗi thầy giáo, cô giáo và mỗi nhà trường phải cógiải pháp để khắc phục, để giúp tăng cường khả năng tự học cho học sinh
Xuất phát từ việc tìm hiểu cơ sở lí luận và thực trạng nêu trên, bản thântôi luôn băn khoăn, trăn trở về việc tìm một hướng đi, một cách thức, giải pháp
để nâng cao năng lực tự học môn ngữ văn cho học sinh THCS, góp phần nângcao chất lượng dạy học đồng thời cũng góp phần tạo nền tảng cho học sinh pháttriển năng lực tự học với mức độ cao hơn ở cấp THPT và xa hơn nữa là đào tạođược những con người có khả năng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội họctập suốt đời Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tự học môn Ngữ văn cho học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu
2.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tự học môn Ngữ văn cho học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực ở trường THCS Minh Khai, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần phải giáo dục để giúp học sinh xác định được ý thức, mục tiêu, nhiệm vụ học tập và hiểu được sự cần thiết của việc tự học bộ môn Ngữ Văn trong việc phát triển những năng lực cần thiết cho bản thân.
Ý thức học tập góp phần tạo nên động cơ học tập Vì vậy, giáo viên cầntăng cường giáo dục ý thức học tập cho học sinh Cần giáo dục để các em thấyđược tầm quan trọng của việc học tập và việc tự học Giúp học sinh xác địnhđược việc tự học là điều kiện tiên quyết trên con đường học vấn và sự nghiệpcủa mỗi người Không có khả năng tự học, con người sẽ không có đủ kiến thức,
kĩ năng để làm việc và không thể thích ứng trong xã hội hội nhập Việc tự họcthể hiện trách nhiệm của mỗi người với chính mính, thể hiện con người có ý chí,lòng tự trọng và nhân cách
Trang 9Bên cạnh đó, cũng cần phải quán triệt cụ thể về mục tiêu cần đạt, kĩ năng,thái độ học tập với đặc thù của bộ môn Ngữ Văn một cách cụ thể Ngay từ đầunăm học, giáo viên cần giáo dục học sinh ý thức học tập tích cực và giúp các embước đầu nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn cũng như tầmquan trọng của việc tự học bộ môn này
Mặt khác, cũng cần giúp học sinh hiểu được sự cần thiết của việc tự học bộ
môn Ngữ Văn trong việc phát triển năng lực cần thiết cho bản thân mỗi người Trong định hướng chương trình GDPT, môn Ngữ Văn được coi là môn họccông cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học,cảm thụ thẩm mỹ là các kỹ năng mang tính đặc thù của môn học
Môn Ngữ Văn giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ ở tất cảcác hình thức: đọc, viết, nói và nghe, trong đó bao gồm cả năng lực tìm kiếm và
xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để viết và nói; giúp học sinh sử dụngtiếng Việt chính xác, mạch lạc, có hiệu quả và sáng tạo với những mục đíchkhác nhau trong nhiều ngữ cảnh đa dạng Ngoài ra, môn Ngữ Văn cũng chú ýgiúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp bằng các phương tiện nghe nhìn hayphương tiện phi ngôn ngữ (tranh ảnh, biểu đồ, phim,…) Ví dụ: trong chươngtrình ngữ văn lớp 6, học sinh nắm được hệ thống từ loại tiếng Việt, cấu tạo từtiếng Việt, nghĩa của từ, các biện pháp tu từ, các quy tắc ngữ pháp …từ đó các
em sẽ sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp Qua các bài hộithoại ở lớp 8 và lớp 9, học sinh từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạtđộng giao tiếp Các bài đọc - hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để họcsinh được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh… Đây chínhcách thực hành vận dụng kiến thức đã học vào đời sống
Thông qua những tác phẩm văn học đặc sắc, học sinh được phát triểnnăng lực thẩm mỹ, nhạy cảm và tinh tế với các sắc thái của tiếng Việt; giúp các
em biết đọc và có hứng thú đọc các tác phẩm văn học, biết viết, thảo luận và cóhứng thú viết, thảo luận về các tác phẩm văn học, nhờ đó các em có cơ hội khámphá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có cá tính và đời sốngtâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn
Tự học trong môn Ngữ Văn còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy,đặc biệt là tư duy suy luận, phản biện, biết đánh giá tính hợp lí và ý nghĩa củanhững thông tin và ý tưởng được tiếp nhận; giúp học sinh phát triển năng lựctưởng tượng và sáng tạo, sự tự tin, năng lực tự lập, năng lực hợp tác và tinh thầncộng đồng
Việc tự học trong môn Ngữ Văn giúp bồi dưỡng cho học sinh thái độ tíchcực và tình yêu đối với Tiếng Việt và văn học, qua đó, biết trân trọng, giữ gìn và
Trang 10phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam, có thói quen và niềm vui đọc sách, cótinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, có khả năng hội nhập quốc tế,trở thành những công dân toàn cầu, nhưng luôn có ý thức về cội nguồn và bảnsắc của dân tộc Việt Nam.
2.3.2.Giải pháp thứ hai: Giáo viên cần phải dạy phương pháp tự học và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học môn Ngữ Văn
Đây là điều vô cùng quan trọng, bởi khi chuyển từ tiểu học lên THCS đa sốhọc sinh đều chưa có được kĩ năng và thói quen tự học Việc học tập đối với các
em còn thụ động, chủ yếu là học và làm theo khuôn mẫu cho sẵn
Để thực hiện công việc này, giáo viên cần phải có sự tìm hiểu về việc tự
học của học sinh, nắm được tình hình tự học của các em như: Tìm hiểu điềukiện, môi trường, thời gian, kỹ năng tự học của mỗi học sinh…
Từ việc nắm bắt tình hình tự học cụ thể của từng học sinh, giáo viên cóbiện pháp giúp các em có kỹ năng và ý thức tự học ở trường cũng như ở nhà Đó
là, giúp học sinh thực hiện được các công việc cần thiết như: thiết kế góc học tập
ở nhà, xây dựng thói quen soạn bài ở nhà và học bài vừa học trên lớp, xây dựng
tổ, nhóm học tập, đôi bạn cùng tiến, thiết kế thời khóa biểu tự học…
Trong việc hình thành phương pháp tự học cho học sinh, giáo viên cần phảidạy cho các em các nhóm kĩ năng cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất: Kĩ năng kế hoạch hóa việc tự học Kĩ năng này cần tuân
thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra
Nhóm thứ hai: Kĩ năng tự học ở nhà Ở kĩ năng này, trước hết, người dạy
cần hướng dẫn cho học sinh kĩ năng đọc sách. Đọc sách trong môn Ngữ văn đầutiên là đọc các văn bản, các bài viết trong SGK ngữ văn, sau đó là đọc tài liệuliên quan đến bài học, đọc các tác phẩm thơ văn… Khi đọc sách, phải biết chọncách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung tổng quát của văn bản, đọc thử một vàiđoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá.Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ, khi đọc, phải kết hợpghi chép
Bên cạnh đó, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể cho học sinh các thao tácchuẩn bị bài (soạn bài) trước khi đến lớp Đây là khâu quan trọng để các em cóthể tự tin tiếp thu tri thức mới Trong khâu soạn bài, người dạy còn phải hướngdẫn học sinh trả lời được các câu hỏi đọc hiểu qua việc đọc, suy ngẫm, nhận xét
Trang 11của bản thân về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng của các văn bản trong chươngtrình SGK Việc trả lời các câu hỏi đọc hiểu theo sự chủ quan của học sinh đôikhi có thể chưa được thỏa đáng, hợp lí, nhưng cũng là một lần các em tự tiếp cậnvăn bản, tự trăn trở với những câu hỏi, băn khoăn giữa cái đúng và cái chưađúng Trên lớp, các em sẽ có được cái háo hức, chờ đợi để được nghe sự giảnggiải của thầy, cô giáo và sẽ tự mình chiêm nghiệm được chân lí của vấn đề Điều
đó sẽ đem đến cho các em sự thú vị và niềm hứng khởi về môn học ở những bàitiếp theo
Ngoài ra, dạy cách cho học sinh kĩ năng ôn tập trong môn Ngữ Văn cũng làmột khâu rất quan trọng Kĩ năng này được chia làm hai nhóm là kĩ năng ôn và
kĩ năng tập luyện Kĩ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việcchiếm lĩnh kiến thức bộ môn Môn Ngữ Văn bao gồm 3 phân môn đó là Vănbản, tiếng Việt, Tập làm văn Học sinh có thể ôn tập theo từng dạng bài, từngchủ đề, chuyên đề văn học Ví dụ: Ở phần tiếng Việt lớp 6, học sinh có thể ôntập, hệ thống hóa kiến thức về từ loại; các biện pháp tu từ, cụm từ… Kĩ năng tậpluyện có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức
đã học Từ việc giải bài tập ngữ văn của thầy cô, học sinh tự thiết kế những loạibài tập, các dạng đề cho mình từ bài tập ứng dụng giản đơn đến những bài tậpvận dụng kiến thức vào cuộc sống
Mặt khác, để học sinh có thể tự học tốt môn Ngữ Văn, giáo viên cũng cần phải yêu cầu và hướng dẫn học sinh biết chuẩn bị những vấn đề cần trao đổi vớithầy, cô trên lớp qua việc soạn bài Đây là bước khá khó trong quá trình tự họccủa học sinh nên người dạy cần kiên trì hướng dẫn người học biết “hỏi” thầy cô
về những vấn đề mà mình không hiểu hay còn băn khoăn
Để khuyến khích học sinh thực hiện các yêu cầu tối thiểu trên trong quátrình tự học ở nhà, người dạy cần có sự kiểm tra, đánh giá từng bước, có độngviên khen thưởng kịp thời Để đánh giá quá trình tự học của học sinh, giáo viêncần quan tâm vào việc kiểm tra vở soạn bài của các em một cách thường xuyênsong song với việc kiểm tra bài cũ và nên ghi điểm khuyến khích đối với họcsinh có sự chuẩn bị, tự học tốt
Nhóm thứ ba: Kĩ năng tự học trên lớp trên lớp Tự học không chỉ là việc
tự học ở nhà mà còn cần phải tự học trong cả tiết học trên lớp khi có sự hướngdẫn của người thầy Các hoạt động tự học trên lớp bao gồm các khâu như: ôn bài
cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới Cần lưu ýcách ghi bài khi nghe giảng như ghi một cách chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng,ghi cả chính đề lẫn phụ đề, ghi thắc mắc của chính mình Học sinh nên sử dụngcác dạng sơ đồ để khái quát lại nội dung bài học cho dễ nhớ, dễ hiểu Bên cạnh
Trang 12đó, các em còn cần phải có kĩ năng chủ động, tích cực đọc bài, nghe giảng, suyngẫm, ghi chép bài, chủ động trong việc tương tác với thầy cô và các bạn, tranhluận và bày tỏ quan điểm, nhận thức riêng của cá nhân về một vấn đề nào đó, vềcái hay, cái đẹp của văn chương, về độ chuẩn của từ ngữ, câu… trong phân môntiếng việt… Khi học sinh tự tin trình bày ý kiến của mình trước lớp, cũng là khihiệu quả của việc tự học được thể hiện Học sinh càng thể hiện vấn đề một cáchchính xác, lưu loát, tự tin thì càng chứng tỏ quá trình tự học đã mang lại hiệuquả tốt
Trong các tiết học trên lớp, giáo viên phải thực sự là người thiết kế, tổchức, hướng dẫn các hoạt động độc lập theo nhóm nhỏ để học sinh tự chiếm lĩnhkiến thức Vì thế, cần phải tạo được tâm thế, hứng thú cho các em vào khi bàihọc mới Tuỳ thuộc vào nội dung, yêu cầu của bài học mà giáo viên sử dụng cáchình thức, phương pháp cho phù hợp Có thể sử dụng phương pháp phát vấn,thảo luận nhóm, phiếu học tập…nhưng điều quan trọng là phải đưa ra được rađược những câu hỏi có vấn đề, câu hỏi gợi mở, liên quan đên vấn đề trọng tâmcủa bài học để thu hút sự tranh luận, tìm tòi của học sinh và tạo ra được “khoảnglặng” để học sinh suy nghĩ và những phút ồn ào, sôi nổi của học sinh khi thảoluận, tránh sự áp đặt, khiên cưỡng Mặt khác, để việc tự học phát huy tối đa hiệuquả, còn phải luôn chú ý đến đối tượng học sinh, làm thế nào mà tất cả học sinhtrong lớp từ giỏi - khá - trung bình - yếu đều có cơ hội được thể hiện hiểu biếtcủa mình, cơ hội được tiếp nhận kiến thức bài học Cuối mỗi giờ học, giáo viênphải luôn chú ý đến việc củng cố phát triển kiến thức bài học và yêu cầu, hướngdẫn học sinh chuẩn bị cho việc học tập bài mới
Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệuquả, nhất thiết học sinh phải chủ động, tự giác học tập bất cứ lúc nào bằng chínhnội lực của bản thân, vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự pháttriển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách là ngoại lực trongviệc trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ cùng vớiphương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học của học sinhmới đi vào chiều sâu thực chất
2.3.3 Giải pháp thứ ba: Giáo viên tổ chức tốt các giờ hướng dẫn đọc thêm,
tự học có hướng dẫn để giúp hình thành và củng cố các kỹ năng tự học cho học sinh.
Hệ thống văn bản hướng dẫn đọc thêm và tự học có hướng dẫn trongchương trình ngữ văn hiện hành được điều chỉnh ở hầu hết 4 khối lớp với tổng
số tiết dạy bài hướng dẫn đọc thêm và tự học có hướng dẫn là 35 tiết, có thể