1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Cong tac chu nhiem lop 2012 Hay

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 16,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm học qua Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động nhiều phong trào như: “ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, cuộc vận động “ Hai không” với bốn nội dung “ N[r]

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học diễn ra phổ biến trong cả nước, việc học sinh bỏ học chủ yếu tập trung ở vùng cao, biên giới và hải đảo Đặc biệt tình trạng học sinh bỏ học cũng diễn ra ngày càng nhiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Tại hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề học sinh bỏ học giữa năm 2011, thống kê cho thấy tính hết học kì I năm học 2010-2011 tỉ lệ học sinh bỏ học của cả nước là 0,43%, trong đó cao nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long với tỉ lệ 0,75%, đứng thứ hai là khu vực Tây Nguyên với tỉ lệ 0,71%, thấp nhất là Đồng Bằng Sông Hồng với tỉ lệ 0,17% Riêng năm học 2011-2012 chưa có số liệu cụ thể về tình hình học sinh bỏ học trên cả nước theo dự đoán thì chiều hướng có giảm nhưng vẫn còn ở mức cao

Qua những con số nêu trên khi nhìn vào không khỏi làm chúng ta băn khoăn và đặt

ra hàng loạt câu hỏi Nguyên nhân nào làm cho tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn còn ở mức cao như vậy? Tại sao chúng ta đã có nhiều biện pháp nhằm giảm tỉ lệ học sinh bỏ học nhưng hiện nay vẫn còn ở mức cao? Những biện pháp đó thực sự đã hiệu quả chưa?

Có biện pháp nào hiệu quả hơn không? Rất nhiều câu hỏi đặt ra trong đầu chúng ta Với cương vị là một giáo viên đã giảng dạy lâu năm tại vùng có nhiều học sinh là con

em đồng bào các dân tộc thiểu số Đặc biệt bản thân tôi nhiều năm được cử làm công

tác chủ nhiệm lớp nên tôi cũng muốn chia sẻ với các đồng nghiệp “ Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” Đó là lý do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Đè tài này tôi sẽ đi sâu phân tích, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học nhiều, qua đó tôi sẽ tìm ra một số giải pháp cho từng nguyên nhân nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 9a trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Phan Bội Châu- Xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk

4 Giới hạn nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện trong vòng 2 năm bắt đầu từ năm học 2010-2011 lúc đó là lớp 8a và năm học 2011-2012 hiện nay là lớp 9a Sĩ số lớp là 40 học sinh bao gồm 24 nam, 16 nữ, gồm các dân tộc Ê Đê, H’mông, Dao, Tày Và Kinh

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này bản thân tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập thông tin thông qua trao đổi với học sinh và gia đình các em Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế học sinh, nắm bắt tâm lý học sinh thông qua các

cử chỉ, hành động, cách giao tiếp với thầy cô, với bạn bè

Trang 2

Bên cạnh đó do đối tượng học sinh chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số nên tôi còn đi sâu tìm tòi, nghiên cứu tài liệu về văn hóa của các dân tộc để tìm ra biện pháp giải quyết

PHẦN II NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận:

Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước ngoặt cho nước ta với đường lối đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các mặt Bắt đầu từ đây vấn đề giáo dục, khoa học và công nghệ đước đặt đúng vị trí của nó và được quan tâm một cách thích đáng Tiếp đó tại các đại hội toàn quốc của đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI lần lượt củng cố và hoàn thiện đường lối đổi mới trong đó coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đề cao chiến lược con người Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa một cách sâu sắc về mọi mặt đang là cơ hội để nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhưng cũng đặt nước ta trước những thách thức mới đó là tụt hậu, đi lệch con đường xã hội chủ nghĩa…

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ nền kinh tế thế giới trong thế

kỉ XXI là nền kinh tế tri thức Do đó đòi hỏi con người phải được đào tạo chu đáo về trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức kỉ luật, đạo đức nghề nghiệp… không hơn gì hết

là phải học

Trong những năm học qua Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động nhiều phong trào như: “ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, cuộc vận động “ Hai không” với bốn nội dung “ Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp”… Đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong xã hội, bên cạnh những cái được thì tình trạng học sinh bỏ học vẫn là vấn

đề đang cần chúng ta quan tâm, trong đó có học sinh vùng đồng bào dân tộc thểu số

II Thực trạng:

1 Thuận lợi:

Thứ nhất: Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phan Bội Châu là một trường chuyên biệt nên nhận được sự tâm đặc biệt của các cấp, các ngành, các đoàn thể Đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của ủy ban nhân dân Huyện, sự quan tâm của lãnh đạo Phòng giáo dục Trong những năm qua các hoạt động dạy và học của nhà trường đã không ngừng đi lên, cơ sở vật chất được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và học

Thứ hai: Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường có tuổi đời bình quân còn trẻ, yêu nghề, 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, nhiều giáo viên đã công tác lâu năm tại trường Thứ ba: Học sinh nhà trường đều ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập, lễ phép với thầy cô giáo, có ý chí vượt khó vươn lên trong học tập

2 Khó khăn:

Thứ nhất: Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Phan Bội Châu nằm

trên địa bàn xã Eatrang Đây là một xã vùng III đặc biệt khó khăn, địa bàn trải rộng, dân cư thưa thớt, 99,3% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số

Trang 3

Thứ hai: Đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, sự quan

tâm của gia đình đối với việc học hành của con em còn ít Mặt khác, người dân vẫn mang nặng một số hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới hỏi tốn kém, đặc biệt là tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra phổ biến trong đời sống hằng ngày

Thứ ba: Do là địa bàn tập trung nhiều thành phần dân tộc nên sự khác biệt về văn

hóa, ngôn ngữ cũng gây trở ngại cho hoạt động dạy học trong nhà trường

Thứ 4: Học sinh của trường thuộc địa bàn của hai xã là Eatrang và Cư San nên việc

thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình nhiều lúc chưa kịp thời, việc nắm bắt tình hình còn hạn chế Trong những năm học trước tỉ lệ học sinh bỏ học của nhà trường vẫn còn ở mức cao

3 Kết quả mong đợi sau khi thực hiện đề tài:

Sau khi thực hiện xong đề tài sẽ giúp chúng ta tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học nhiều Sau đó là những giải pháp hữu ích để giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh bỏ học và vận động học sinh bỏ học quay trở lại lớp

III Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học:

Thứ nhất: Điều kiện kinh tế khó khăn: Xã Eatrang là một xã vùng III đặc biệt khó

khăn, 100% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào nương rẫy Thời tiết diễn biến thất thường, thu nhập của người dân không ổn định, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Do điều kiện kinh tế khó khăn nên một số phụ huynh bắt con em mình phải nghỉ học lên nương, lên rẫy tham gia sản xuất cùng gia đình Mặt khác một số học sinh do nhà xa trường nên không có xe đạp để đi học cũng bỏ học

Thứ hai: Do nhận thức về việc học hành không có cho nên dẫn tới thiếu sự quan tâm

của gia đình đối với học sinh Về nhà phụ huynh chưa nhắc nhở các em học bài, không định hướng được cho các em, nhiều lúc các em có suy nghĩ tiêu cực là không biết học để làm gì nữa Có nhiều trường hợp khi giáo viên đến vận động thì không nhận được sự hợp tác của phụ huynh, bỏ mặc cho các em thích thì đi học, không thích thì thôi

Thứ ba: Một số học sinh bỏ học do chán học, tức là học lực yếu, không theo kịp bạn

bè dẫn đến chán nản Đặc biệt là khi thực hiện cuộc vận động “ Hai không” giáo viên phải đấu tranh giữa hai con đường Một là duy trì sĩ số học sinh, hai là chất lượng học sinh

Thứ tư: Hiện nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục

lạc hậu, nghiêm trọng nhất là tình trạng tảo hôn Trường hợp này phổ biến nhất trong cộng đồng người H’mông, bố mẹ bắt con mình phải lấy chồng để có con cháu sớm,

có người lao động trong gia đình Điều này được thể hiện ở chỗ tỉ lệ học sinh nữ người H’mông đi học rất thấp Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến trong cộng đồng người Ê Đê

Thứ năm: Đây là một nguyên nhân chủ quan do kinh nghiệm của giáo viên khi làm

công tác chủ nhiệm có học sinh là người dân tộc thiểu số Khác với học sinh người

Trang 4

Kinh, học sinh người dân tộc đa số học trước tuổi do đó tâm sinh lí các em phát triển sớm Khi học sinh mắc lỗi mà giáo viên có thái độ la mắng là các em sẽ nghỉ học ngay Trường hợp này thường gặp ở những giáo viên mới về công tác, hoặc giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm

IV Các giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh vùng dân tộc thiểu số bỏ học:

Từ những nguyên nhân trên, bản thân tôi đã có nhiều năm giảng dạy tại trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phan Bội Châu, đặc biệt là có nhiều năm làm công tác chủ nhiệm tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm để đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy cũng như làm công tác chủ nhệm được tốt hơn

Như chúng ta đa biết, sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường- xã hội Trong đó nhà trường có một vai trò vô cùng quan trọng việc duy trì sĩ số phải có sự kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các đoàn thể trong nhà trường như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên Trong đó quan trọng nhất là vai trò của giáo viên chủ nhệm lớp Trong phạm vi nghiên cứu của mình tôi không đi giải quyết từng nguyên nhân dẫn đến học sinh bỏ học mà đi sâu vào các phương pháp chủ nhiệm của giáo viên chủ nhiệm

Giải pháp thứ nhất: Phải xây dựng được một tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết Đây là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm tạo ra một không khí học tập, vui chơi lành mạnh, có như vậy mới thu hút được sự tham gia tích cực của các em học sinh Khi các em tham gia các hoạt động tập thể đó sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được hoàn cảnh của các em, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của các em để đưa ra những biện pháp giúp đỡ Giáo viên chủ nhiệm phải làm sao để các em coi lớp học như một gia đình, thầy cô như là cha mẹ, các bạn trong lớp như anh em một nhà Vậy làm thế nào để xây dựng một tập thể vững mạnh? Ở vùng học sinh người Kinh, các trường chuyên, lớp chọn thì dễ rồi nhưng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì làm sao đây? Văn hóa người Ê đê khác với người H’mông, khác với người Dao, khác với người Tày Trong một lớp có nhiều học sinh dân tộc như vậy ngay từ việc bầu ban cán sự lớp đã khó, nếu lớp trưởng bầu học sinh người Ê đê thì trong quản lí lớp khi nói học sinh người H’mông sẽ không nghe, hoặc lớp trưởng người Ê đê mà bầu con trai thì rất khó làm việc bởi người Ê đê theo chế độ mẫu hệ, lời nói của người phụ

nữ lúc nào cũng có trọng lượng hơn nam giới Còn người Dao, người H’mông thì vai trò của người con trai lại quan trọng nhất

Vấn đề này tôi xin chia sẻ với các bạn như sau Lớp 9a của tôi gồm có người Kinh, Ê

đê, Tày, Dao, H’mông tôi cho các em bầu ban cán sự gồm 5 người, mỗi dân tộc một người và phân công nhiệm vụ như sau: Lớp trưởng Nguyễn Thị Thanh Duyên là người Kinh vì em này năng nổ trong các hoạt động và có kĩ năng quản lí lớp- Quản lí chung Lớp phó học tập là em Nguyễn Thị Vinh người dân tộc Tày- Phụ trách học tập Lớp phó Văn- Thể- Mỹ là em H Nhoai Hwing – Phụ trách văn nghệ, thể thao Thư kí lớp là em Dương Thị Pham dân tộc Dao Lớp phó lao động là em Giàng Seo Nhà dân tộc H’mông- phụ trách lao động, vệ sinh ( có sơ đồ lớp học trong phần mục lục) Với cách tổ chức lớp như vậy ban cán sự lớp sẽ có trách nhiệm hơn nhưng vẫn

Trang 5

đảm bảo tính công bằng có sự tham gia của các dân tộc khác nhau, bởi cùng dân tộc nói với nhau thì sẽ hiệu quả hơn

Trong cách quản lí lớp cũng vậy, có một phong trào mà Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã triển khai rộng rãi trong những năm học qua tôi thấy khi áp dụng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất hiệu quả Đó là thành lập các “ Đôi bạn cùng tiến” Bản chất của phong trào là thành lập các đôi bạn cùng giúp nhau học tập, một học sinh khá, giỏi kèm một học sinh yếu kém để cùng nhau đi lên Ở lớp 9a tôi chủ nhiệm tôi cũng thành lập các cặp đôi như vậy và hiệu quả học tập được nâng lên, điển hình như cặp Vinh-Trung, Pôn- Nho, Pham- Nảy, Bích- Bé… việc thành lập các đôi bạn như vậy sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm dễ quản lí học sinh Ví dụ hôm nay Bích nghỉ học không có lí do thì giáo viên hỏi Bé thì Bé sẽ cho giáo viên biết lí do Bích nghỉ học, hoặc khi một bạn nào đó có vấn đề gì thì giáo viên dễ nắm bắt được thông tin thông qua học sinh Lưu ý khi thành lập các đôi bạn cùng tiến giáo viên nên chọn những người cùng giới tính, cùng sở thích và gia đình phải gần nhau

Giải pháp thứ hai: Phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và tâm lí của từng học sinh: đây là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng “ Nếu không hiểu được học sinh thì không giáo dục được học sinh” Ngay năm học 2010-2011 sau khi được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp 8a việc đầu tiên là tôi xem hồ sơ lí lịch học sinh Sau đó tranh thủ thời gian đi thăm các gia đình học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như: học sinh mồ côi, học sinh thuộc diện hộ nghèo, học sinh nhà ở xa trường khi đến với gia đình học sinh sẽ giúp chúng ta nắm bắt được hoàn cảnh để chúng ta có biện pháp giúp đỡ

Chẳng hạn lớp tôi có em H Ha Byă, Nguyễn Thị Thanh Duyên, Y Quyên Byă là học sinh mồ côi, hoàn cảnh gia đình khó khăn Nhân dịp tết tân mão 2011 công ty bảo hiểm Prudential có tặng 3 suất học bổng thì 3 suất này giành cho 3 em để động viên tinh thần Hoặc nhân dịp tết Nhâm Thìn 2012 vừa qua các em Y Rôbi Hwing, H Nho Byă thuộc diện hộ nghèo cũng đã được nhận quà Tết từ sự đóng góp của cán bộ -công nhân viên trong nhà trường Các món quà đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn để động viên tinh thần vượt khó của các em

Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin thì việc thông tin hai chiều giữa gia đình, nhà trường ngày càng thuận lợi hơn, đó là trao đổi thông tin qua điện thoại trong lớp 9a của tôi chủ nhiệm tôi đều có số điện thoại của gia đình để tiện liên lạc khi cần thiết

Việc giáo viên thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh còn giúp phụ huynh nhận thức sâu sắc, xác định được tầm quan trọng của việc học đối với việc học của con em mình

Giải pháp thứ ba: Phải gần gũi, quan tâm và sẵn sàng chia sẻ và gương mẫu trước học sinh Học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung đều ngoan nhưng không dễ hòa đồng như những học sinh người Kinh cho nên giáo viên phải tìm mọi cách để gần gũi, tiếp cận, trao đổi với các em Giáo viên nên dành thời gian trao đổi với từng học sinh một hoặc từng nhóm học sinh để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em Hàng tuần vào các buổi sinh hoạt cuối tuần hoặc thông qua

Trang 6

các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên chủ nhiệm nên dành chút thời gian thăm hỏi các em, đặc biệt là các em có biểu hiện e ngại, rụt rè giúp các em hòa đồng cùng bạn bè và cảm thấy mình không bị xa lánh Hoặc thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể để các em được tham gia

Đối với những học sinh đặc biệt khó khăn tôi thường phát động các bạn trong lớp quyên góp ủng hộ hoặc có lúc đóng góp một khoản gì đó mà một số em khó khăn quá thì tôi nộp luôn cho các em Khi giáo viên chủ nhiệm quan tâm, gần gũi tạo niềm tin được cho các em rồi thì các em sẵn sàng chia sẻ, khi đó động lực học tập của các em mới được nâng lên

Giải pháp thứ tư: Phải thật sự tế nhị khi giao tiếp với học sinh dân tộc Đừng làm một điều gì đó để các em phải xấu hổ trước bạn bè vì tính tự ái, lòng tự trọng của học sinh dân tộc rất cao Nếu các em lỡ vi phạm một điều gì đó mà chúng ta nhắc nhở hoặc phê bình nặng nề em đó trước lớp là một sai lầm Trong trường hợp này giáo viên phải bình tĩnh, gặp riêng học sinh đó để phân tích cho học sinh đó hiểu em đã sai

ở chỗ nào, cần khắc phục ra sao Đừng bao giờ chê trách học sinh mà phải thường xuyên khuyến khích, khen thưởng kịp thời khi các em có thành tích, đặc biệt đừng bao giờ thất hứa vì nếu làm như vậy thì các em sẽ mất lòng tin ở mình

Trong học kì I năm học 2011-2012 tại lớp tôi chủ nhiệm có em Vàng Seo Chớ chỉ vì

tụ ái với một câu nói của thầy giáo bộ môn mà đã có ý định bỏ học Nhưng sau đó nhờ làm công tác tư tưởng, giải thích cho em ấy hiểu cái sai, cái đúng và em đã tiếp tục đi học lại Đây cũng là một bài học khi ứng xử với học sinh dân tộc, chúng ta phải

xử lí khéo léo, tế nhị

Giải pháp thứ năm: Giáo viên phải tạo được mối liên hệ mật thiết với gia đình học sinh Đây là yếu tố hết sức quan trọng, ngoài những buổi họp phụ huynh tại trường giáo viên chủ nhiệm nên dành nhiều thời gian đến thăm gia đình học sinh để cùng với phụ huynh quan tâm đến học sinh hơn Đặc biệt tại các buổi gặp gỡ này giáo viên cũng cần trao đổi với phụ huynh định hướng nghề nghiệp cho con em mình Tại lớp tôi, vấn đề này tôi duy trì thường xuyên, xuyên suốt cả năm học, khi có điều kiện

là tôi thực hiện

Khi tổ chức họp phụ huynh đầu năm giáo viên chủ nhiệm nên lựa chọn một hội cha

mẹ học sinh thật sự có uy tín để hoạt động Cũng như tổ chức một lớp học chúng ta cũng nên lựa chọn hội phụ huynh với đầy đủ các thành phần dân tộc, ưu tiên những người có trình độ học vấn, có uy tín và nhiệt tình trong hoạt động của hội

Giải pháp thứ sáu: Phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường, các giáo viên bộ môn để giáo dục học sinh

Đối với ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên báo cáo, trao đổi để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình công tác Kịp thời tham mưu với ban giám hiệu để đề ra các biện pháp giáo dục học sinh

Đối với đoàn thanh niên, đội thiếu niên cần thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục – thể thao để thu hút, lôi cuốn các em tham gia Có sự kết hợp tuyên truyền, giáo dục đạo đức thông qua các buổi sinh hoạt Đoàn, sinh hoạt Đội

Trang 7

Đối với giáo viên bộ môn: Giáo viên chủ nhiệm cần tích cực thăm lớp, dự giờ để nắm bắt tình hình lớp chủ nhiệm Thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều để kịp thời uốn nắn những học sinh có biểu hiện tiêu cực

V Một số biện pháp vận động học sinh bỏ học quay lại lớp:

Thực trạng vấn đề học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học vẫn còn diễn ra phức tạp Để giảm thiểu thực trạng này đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa nhiều đoàn thể với nhau, trong đó giáo viên chủ nhiệm lớp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm Nhưng nếu như chúng ta đã thực hiện các giải pháp trên rồi mà học sinh vẫn

bỏ học thì chúng ta làm gì để các em quay lại lớp?

Đây là một việc làm khó nhưng không phải là chúng ta không làm được Sau đây tôi xin trao đổi một số kinh nghiệm vận động học sinh quay lại lớp

Thứ nhất: Giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh bỏ học, sau đó cùng với các học sinh trong lớp đến nhà vận động nhất là học sinh được giáo viên chủ nhiệm thành lập “ Đôi bạn cùng tiến” Nếu nguyên nhân do bố mẹ bắt bỏ học thì phải giải thích cho cho phụ huynh hiểu như thế là vi phạm pháp luật, đồng thời huy động các đoàn thể tại địa phương cùng vào cuộc Nếu vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thì có thể vận động giúp đỡ như tặng xe đạp, áo quần, sách vở … Trường hợp học sinh không muốn học nữa thì phải làm công tác tư tưởng để em đó nhận thức ra tầm quan trọng của việc học

Trong năm học 2010-2012 lớp tôi chủ nhiệm có em Y Quyên Byă nhà ở cách trường

12 km, gia đình em Quyên thuộc diện hộ nghèo, xe đạp bị hư và không có tiền để sửa

đi lại, thường xuyên nghỉ học Khi biết được hoàn cảnh như vậy tôi đã phân công em

Y Nam Byă nhà gần Y Quyên hàng ngày đi học ghé qua chở bạn Không lâu sau thì công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTAL về tặng học bổng, tôi đã đề nghị xét tặng

em Y Quyên 1 suất học bổng và em đã mua được xe đạp đi học Từ đó đến nay em Y Quyên đã có xe đạp đi lại, không còn nghỉ học và tỏ ra rất ngoan ngoãn và chăm chỉ học tập hơn

Thứ hai: Nếu như vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà xa trường , không có điều kiện đến lớp thì chúng ta có thể vận động học sinh tham gia học bổ túc văn hóa Trên địa bàn xã Eatrang trong những năm qua trường chúng tôi đã và đang mở nhiều lớp bổ túc văn hóa tại các thôn, buôn để học sinh tham gia học tập và có nhiều học sinh không có điều kiện đến trường học thì vận động các em tham gia học tại các lớp bổ túc

VI Kết quả đạt được.

Đề tài “ Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” được nghiên cứu trong thời gian là hai năm

từ năm học 2010-2011 đến 2011-2012 tại lớp 8a, nay là lớp 9a trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phan Bội Châu- xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk Trong quá trình thực hiện và áp dụng đề tài kết quả đạt được rất khả quan

Năm học 2010-2011: Sĩ số học sinh đầu năm 44, cuối năm 44 tỉ lệ học sinh có mặt trên lớp luôn ở mức cao, trên 95%

Trang 8

Năm học 2011-2012: Sĩ số đầu năm 39, vận động được 1 học sinh lớp 9 bỏ học quay lại lớp, chuyển trường 1 học sinh Tính đến tháng 1 năm 2012 sĩ số 39, không giảm, tỉ

lệ có mặt trên lớp luôn ở mức cao

PHẦN III KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT

I Kết luận:

Dạy học nói chung, làm công tác chủ nhiệm lớp nói riêng đòi hỏi người giáo viên phải có cái tâm đối với nghề nghiệp và phải có trách nhiệm đối với học sinh Công tác chủ nhiệm lớp là một công tác khó khăn, vất vả và để đạt được kết quả tốt đòi hỏi người giáo viên phải hết sức nỗ lực hết mình, tự tìm tòi, học hỏi để trang bị cho mình

những kinh nghiệm Đề tài “ Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” là một đề tài vừa nghiên

cứu, vừa áp dụng thực tế tại trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở phan bội châu xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk Đề tài đã nêu ra được những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh vùng dân tộc thiểu số bỏ học, đề tài cũng đã đua ra được những giải pháp thực hiện nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học Trong quá trình áp dụng vào thực tiễn hiệu quả của đề tài rất khả quan Khi nghiên cứu đề tài này tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm khi làm công tác chủ nhiệm tại trường học vùng có nhiều học sinh là con em các dân tộc thiểu số Một

số nội dung của đề tài tuy không mới so với các trường thuận lợi nhưng lại rất cấp thiết, quan trọng đối với vùng đồng bào dân tộc Trước đây tôi cũng đã đọc được một

số đề tài viết về kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh nhưng là ở những vùng học sinh người Kinh, chưa có đề tài nào nói về kinh nghiệm duy trì sĩ số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thông qua đề tài này tôi muốn chia sẻ một vài kinh nghiệm với đồng nghiệp khi làm công tác chủ nhiệm lớp tại vùng có nhiều học sinh dân tộc, nhất là đối với giáo viên luân chuyển đến và giáo viên mới ra trường về công tác

II Một số đề xuất.

1 Đối với cấp phòng:

Thứ nhất: Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn trao đổi kinh nghiệm cho giáo

viên để giáo viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình dạy học

Thứ hai: Cho lưu hành các sáng kiến kinh nghiệm đạt giải trong các cuộc thi viết

sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên học hỏi, vận dụng vào dạy học

2 Đối với cấp trường:

Thường xuyên tổ chức báo cáo các chuyên đề về công tác chủ nhiệm lớp để giáo viên chia sẻ những vướng mắc trong quá trình làm công tác chủ nhiệm

Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm “ Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” Mặc dù đã cố

Trang 9

gắng để thực hiện đề tài nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Ngày đăng: 22/05/2021, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w