Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu năm 2017 tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM nhằm xác định mối liên quan giữa đặc điểm kinh tế xã hội và kiến thức, thực hành phòng ngừa bệnh Lao phổi, Sốt xuất huyết, Rubella của người dân đến khám bệnh Kết quả cho thấy rằng những yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức và hành vi phòng bệnh của cộng đồng, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao giáo dục sức khỏe để cải thiện thực hành phòng ngừa bệnh.
Khảo sát kiến thức, thực hành về phòng ngừa bệnh Lao phổi, Sốt xuất huyết, Rubella.
Tìm hiểu cách thức tiếp nhận thông tin về bệnh truyền nhiễm.
Xác định mối liên quan giữa đặc điểm kinh tế xã hội và kiến thức, thực hành phòng ngừa bệnh Lao phổi, Sốt xuất huyết, Rubella.
Ý nghĩa của đề tài
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu sẽ cho người đọc cái nhìn tổng quan về kiến thức, thực hành của người dân đối với phòng ngừa bệnh truyền nhiễm.
Kết quả cho thấy rằng nguồn tin đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức phòng ngừa bệnh truyền nhiễm cho người dân Điều này giúp tăng cường chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe, từ đó nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về các biện pháp phòng ngừa bệnh tật.
Bệnh viện Đại Học Y Dược có thể phát triển các chương trình tư vấn và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về cách phòng ngừa bệnh truyền nhiễm Việc cải thiện chất lượng thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ hỗ trợ hiệu quả cho công tác phòng ngừa bệnh.
Cấu trúc luận văn
Chương 1 - Giới thiệu cung cấp cái nhìn tổng quan về lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài Mục tiêu chính của nghiên cứu là khảo sát kiến thức và thực hành liên quan đến việc phòng ngừa bệnh, giúp người đọc hiểu rõ tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và hành động trong cộng đồng.
Nghiên cứu này tập trung vào ba bệnh lý chính: Lao phổi, Sốt xuất huyết và Rubella Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả người dân đến khám tại Phòng khám chuyên khoa tổng quát của Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM.
Chương 2 - Cơ sở lý luận: Trình bày tổng quan về các lý thuyết và mô hình sức khỏe liên quan đến nghiên cứu, đồng thời khái quát các yếu tố xã hội tác động đến sức khỏe Nội dung của chương này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, từ đó làm nền tảng cho việc phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trong bối cảnh xã hội hiện nay.
Mô hình nghiên cứu được đề xuất bởi tác giả bao gồm việc tìm hiểu một số khái niệm quan trọng về bệnh truyền nhiễm như Bệnh Lao phổi, Sốt xuất huyết và Rubella Bài viết cũng sẽ đề cập đến một số nghiên cứu liên quan đã được thực hiện cả trong nước và quốc tế, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình và các biện pháp phòng ngừa các bệnh này.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu trình bày tổng quan về thiết kế nghiên cứu, định nghĩa các biến liên quan, phương pháp chọn mẫu và phương pháp xử lý số liệu.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu trình bày các biến khảo sát và phân tích kết quả thông qua các phương pháp kiểm định t-test, Oneway và Chi bình phương Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân, kinh tế xã hội với kiến thức và thực hành về bệnh truyền nhiễm, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa kiến thức và thực hành trong lĩnh vực này.
Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, những hạn chế và đề xuất kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
Dịch tễ học bệnh truyền nhiễm
Nhiều bệnh lý xuất phát từ yếu tố di truyền, tuy nhiên, phần lớn các bệnh lại là kết quả của sự tương tác giữa di truyền và môi trường Môi trường ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm cả các yếu tố sinh học.
Sức khỏe tốt Sức khỏe kém
Sức khỏe của con người bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm hóa học, vật lý, tâm thần và văn hóa, cũng như các yếu tố kinh tế xã hội Hành vi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ này, và dịch tễ học được áp dụng để nghiên cứu tác động của các can thiệp dự phòng nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
2.1.2 Đánh giá can thiệp Chữa bệnh, chăm sóc y tế
Nâng cao sức khỏe, Các biện pháp phòng ngừa
Các dịch vụ y tế công cộng
Bệnh truyền nhiễm
Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây lan từ người sang người hoặc từ động vật sang người thông qua các tác nhân gây bệnh như vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm Những tác nhân này có thể được truyền qua trung gian như côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và các vật dụng khác, góp phần vào sự lây lan của bệnh.
Người mắc bệnh truyền nhiễm là những cá nhân bị nhiễm tác nhân gây bệnh và có biểu hiện triệu chứng Trong khi đó, người mang mầm bệnh truyền nhiễm là những người mang tác nhân gây bệnh nhưng không xuất hiện triệu chứng nào.
Người tiếp xúc là những cá nhân có liên quan đến bệnh truyền nhiễm, bao gồm người mắc bệnh, người mang mầm bệnh và trung gian truyền bệnh, với khả năng mắc bệnh Người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm là những người có triệu chứng nhưng chưa xác định được tác nhân gây bệnh Giám sát bệnh truyền nhiễm là quá trình thu thập thông tin liên tục và có hệ thống về tình hình và xu hướng của bệnh, nhằm phân tích và cung cấp dữ liệu cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng ngừa.
Nhóm A bao gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm với khả năng lây truyền nhanh chóng, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao Các bệnh trong nhóm này gồm có bại liệt, cúm A-H5N1, dịch hạch, đậu mùa, sốt xuất huyết do virus Ebola, Lassa hoặc Marburg, sốt Tây sông Nin, sốt vàng, tả, viêm đường hô hấp cấp nặng do virus, và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh với tác nhân gây bệnh chưa rõ.
Nhóm B bao gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong, như HIV/AIDS, bệnh bạch hầu, cúm, dại, ho gà, lao phổi, liên cầu lợn ở người, lỵ A-míp, lỵ trực trùng, quai bị, sốt Đăng gơ và sốt xuất huyết Đăng gơ, sốt rét, sốt phát ban, sởi, tay-chân-miệng, than, thủy đậu, thương hàn, uốn ván, Ru-bê-ôn, viêm gan vi rút, viêm màng não do não mô cầu, viêm não vi rút, xoắn khuẩn vàng da, và tiêu chảy do vi rút Rô-ta.
Nhóm C bao gồm các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm và có khả năng lây truyền chậm, như bệnh Cờ-la-my-đi-a, giang mai, bệnh do giun, bệnh lậu, bệnh mắt hột, và bệnh do nấm Can-đi-đa-an-bi-căng Ngoài ra, nhóm này còn chứa bệnh Nô-ca-đi-a, bệnh phong, bệnh do vi rút Xi-tô-mê-ga-lô và Héc-péc, cùng với các bệnh sán như sán dây, sán lá gan, sán lá phổi, và sán lá ruột Các bệnh sốt mò, sốt do Rích-két-si-a, sốt xuất huyết do vi rút Han-ta, cùng với bệnh do Tờ-ri-cô-mô-nát, viêm da mụn mủ truyền nhiễm, viêm họng, viêm miệng, viêm tim do vi rút Cốc-xác-ki, và viêm ruột do Giác- đi-a và Vi-bờ-ri-ô Pa-ra-hê-mô-ly-ti-cút cũng thuộc nhóm này.
Phòng bệnh là ưu tiên hàng đầu, trong đó thông tin, giáo dục và truyền thông, cùng với giám sát bệnh truyền nhiễm, đóng vai trò quan trọng Cần kết hợp các biện pháp y tế chuyên môn với các biện pháp xã hội và hành chính để hiệu quả trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm Việc phối hợp liên ngành và huy động sự tham gia của cộng đồng là cần thiết, đồng thời lồng ghép các hoạt động này vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Thông tin về dịch bệnh cần được công khai, chính xác và kịp thời Chúng ta cần chủ động, tích cực và triệt để trong các hoạt động phòng, chống dịch bệnh.
Để phòng ngừa lây nhiễm bệnh truyền nhiễm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cần thực hiện các biện pháp như cách ly người mắc bệnh, diệt khuẩn và khử trùng môi trường, cũng như xử lý chất thải đúng quy định Ngoài ra, việc sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân và duy trì vệ sinh cá nhân là rất quan trọng, cùng với các biện pháp chuyên môn khác theo quy định của pháp luật.
Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007)
Bệnh lao phổi
Người mắc bệnh Lao phổi thường có triệu chứng ho kéo dài trên 2 tuần, kèm theo sốt nhẹ vào buổi chiều, ra mồ hôi đêm, sụt cân, kém ăn và mệt mỏi Ngoài ra, bệnh nhân có thể ho ra máu với số lượng ít hoặc nhiều và cảm thấy đau ngực.
Hơn 90% những người có triệu chứng liên quan đến bệnh Lao phổi thực sự mắc bệnh này Lao phổi lây lan qua không khí, khi vi khuẩn Lao từ các giọt nước bọt hoặc bụi nhỏ bị hít vào phổi, sau đó nhân lên tại phế nang Vi khuẩn có thể lan ra qua máu và bạch huyết đến các cơ quan khác như hạch bạch huyết, xương, gan và thận, gây ra bệnh tại những cơ quan này Không có nguồn chứa mầm bệnh tự nhiên hay vật trung gian truyền bệnh; nguồn bệnh chủ yếu là những người đang mắc Lao phổi, Lao thanh quản hoặc phế quản trong giai đoạn ho khạc ra vi khuẩn.
Biện pháp dự phòng quan trọng nhất để ngăn ngừa bệnh Lao phổi là "cắt đứt nguồn lây", tức là phát hiện sớm và chữa khỏi những người mắc bệnh có AFB(+) Ngoài ra, do tính chất xã hội của bệnh, các biện pháp dự phòng cộng đồng cũng rất cần thiết Cần tăng cường công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe, giúp mọi người nhận thức rằng Lao là bệnh lây truyền qua đường hô hấp, có thể phòng ngừa và chữa khỏi hoàn toàn Qua đó, mỗi người cần có ý thức phòng bệnh bằng cách nâng cao sức khỏe và duy trì môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng.
Kiểm soát lây nhiễm tại các cơ sở y tế và nơi có nguồn lây như bệnh viện Lao và trại giam rất quan trọng Người bệnh cần đeo khẩu trang, che miệng khi ho hoặc hắt hơi, và phải khạc đờm vào nơi quy định Đờm và các vật chứa nguồn lây phải được xử lý đúng cách Tận dụng ánh nắng mặt trời cho nơi ở và vật dụng của người bệnh, cùng với việc tạo điều kiện thông gió tốt, sẽ giúp giảm nồng độ vi khuẩn Lao trong không khí.
Để phòng ngừa bệnh lao, trẻ sơ sinh cần được tiêm vắc xin BCG Người bệnh phải luôn đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác và uống INH 300mg/ngày trong 6 tháng để dự phòng cho những người có nguy cơ cao, như người nhiễm HIV trong trại giam Các chất thải của người bệnh cần được xử lý an toàn trước khi thải ra hệ thống chung, trong đó đờm và dụng cụ chứa phải được đốt hoặc xử lý bằng hóa chất Cần đảm bảo thông gió tốt ở các buồng bệnh và nơi tập trung đông người, đồng thời tận dụng ánh nắng và gió tự nhiên trong môi trường sống và làm việc Đối với phòng ngừa lây truyền bệnh qua đường máu, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn cho tất cả người bệnh trong cơ sở khám chữa bệnh.
Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007)
Bệnh Sốt xuất huyết
Sốt dengue (SD) là một căn bệnh lâm sàng đặc trưng bởi sốt cao đột ngột trên 38,5°C kéo dài từ 2 đến 7 ngày Bệnh nhân thường gặp các triệu chứng như đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban và có dấu hiệu xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính), cùng với tình trạng giảm bạch cầu.
Sốt xuất huyết đăng-gơ (SXHD) là một bệnh lý với triệu chứng chính là sốt, kèm theo các biểu hiện như ban xuất huyết, đốm xuất huyết và chảy máu ở chân răng, mũi, đường tiêu hóa, cũng như kéo dài kinh nguyệt Bệnh nhân thường có giảm tiểu cầu dưới 100.000/mm3 và xuất hiện dấu hiệu thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, với hematocrite tăng trên 20% so với giá trị trung bình theo tuổi và giới.
Hội chứng sốt đăng gơ là tình trạng bệnh nhân biểu hiện triệu chứng của sốt xuất huyết dengue (DHF) kèm theo dấu hiệu suy tuần hoàn như mạch nhanh và yếu, huyết áp kẹp (chênh lệch dưới 20 mm Hg) hoặc huyết áp thấp so với tuổi, da lạnh và ẩm, cùng với sự thay đổi trong tình trạng tâm thần.
Bệnh lây truyền qua véc tơ tại Việt Nam chủ yếu do hai loài muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus gây ra Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi, đặc biệt là từ Aedes aegypti, loài muỗi ưa thích hút máu người và thường hoạt động vào ban ngày, đặc biệt là sáng sớm và chiều tối Chúng có thể đốt nhiều lần trong ngày nếu chưa no máu Muỗi trưởng thành thường trú ở những góc tối trong nhà và thích đẻ trứng ở các vật chứa nước sạch trong khu dân cư Aedes phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng đạt trên 20 độ C.
Muỗi Aedes albopictus có vai trò hạn chế trong việc truyền bệnh, do ít hút máu người và có thể sống trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu về khả năng truyền bệnh sốt dengue (SD) và sốt xuất huyết dengue (SXHD) của loài muỗi này vẫn đang tiếp tục Tất cả mọi người, không phân biệt giới tính và độ tuổi, đều có thể nhiễm virus và mắc bệnh nếu chưa có miễn dịch Tại các vùng có tỷ lệ mắc bệnh cao như miền Nam và Nam Trung Bộ, trẻ em dưới 15 tuổi thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, trong khi ở vùng lưu hành nhẹ, khả năng mắc bệnh giữa trẻ em và người lớn tương đương, nhưng bệnh ở người lớn thường nặng hơn Người đã từng nhiễm virus dengue thường có miễn dịch lâu dài với cùng một týp huyết thanh, nhưng nếu nhiễm phải týp virus khác, nguy cơ mắc bệnh nặng hơn, dễ dẫn đến SXHD hoặc sốc dengue do cơ chế hình thành phức hợp miễn dịch trong máu.
Chủng vi rút dengue (D1, D2, D3, D4) luân phiên gây dịch, cùng với các yếu tố như giới tính, chủng người, thể trạng, dinh dưỡng của trẻ và bệnh đi kèm, đều có ảnh hưởng đến tính cảm nhiễm với vi rút dengue và mức độ nặng của bệnh sốt dengue.
Để kiểm soát hiệu quả muỗi Aedes truyền bệnh, cần tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người dân về cách quy hoạch khu dân cư và dự trữ nước sinh hoạt hợp lý Việc thường xuyên tổng vệ sinh môi trường và loại bỏ ổ bọ gậy là rất quan trọng, vì đây là nơi muỗi Aedes thường đẻ trứng Hiện tại, chưa có vắc xin phòng bệnh sốt dengue, vì vậy biện pháp kiểm soát bọ gậy và muỗi trưởng thành là rất cần thiết.
Để phòng chống muỗi Aedes, người dân cần thực hiện các biện pháp như làm nắp đậy kín bể chứa nước, thường xuyên thay rửa các vật chứa nước như bể, chum, vại, và loại bỏ những nơi có nước đọng như lọ hoa hay đồ vật phế thải Nuôi cá nhỏ hoặc giáp xác ăn bọ gậy trong các bể chứa lớn và sử dụng muối hoặc dầu hỏa để chống kiến chân trạn Để bảo vệ khỏi muỗi đốt, nên nằm màn cả đêm và ngày, đặc biệt cho trẻ nhỏ, đồng thời hướng dẫn trẻ lớn cách xua muỗi Diệt muỗi trưởng thành bằng hóa chất theo chỉ định y tế và áp dụng các biện pháp khác như xông khói, dùng mành rèm tẩm hóa chất và hương muỗi vào giờ muỗi hoạt động mạnh Ngoài ra, cần giám sát bệnh nhân và theo dõi mật độ muỗi Aedes cũng như mức độ kháng hóa chất của chúng.
Để chống dịch SD/SXHD, cần báo cáo ngay cho cơ quan Y tế dự phòng khi phát hiện chùm ca bệnh nghi ngờ Thực hiện chế độ báo cáo khẩn cấp và định kỳ theo tuần, tháng Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch theo từng tuyến khi có công bố dịch, hoạt động theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm Cách ly bệnh nhân bằng biện pháp nằm màn và chống muỗi đốt trong thời gian lây truyền Điều tra kịp thời các ca bệnh mới để tổ chức cách ly và điều trị triệu chứng nhằm ngăn ngừa biến chứng nặng Tăng cường diệt muỗi Aedes trưởng thành bằng phun hóa chất theo chỉ định của Trung tâm Y tế dự phòng Cần chú ý bảo vệ trẻ em dưới 5 tuổi và thực hiện các biện pháp diệt bọ gậy tại hộ gia đình và khu dân cư Tổ chức chiến dịch tuyên truyền giáo dục cộng đồng về diệt muỗi, cải tạo vệ sinh môi trường sống và vệ sinh nguồn nước sinh hoạt.
Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007)
Bệnh Rubella (Ru-bê-ôn)
Bệnh ru-bê-ôn là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính, khởi phát với triệu chứng sốt nhẹ, đau đầu, mệt mỏi, viêm mũi xuất tiết nhẹ và viêm kết mạc Sau khoảng 5 - 10 ngày, bệnh nhân có thể xuất hiện sưng hạch bạch huyết ở sau tai, chẩm và cổ, kèm theo phát ban Phát ban này thường bắt đầu từ mặt và lan ra toàn thân, có hình dạng tương tự như ban sởi hoặc ban của bệnh sốt tinh hồng nhiệt Khoảng 50% trường hợp mắc bệnh không có phát ban rõ ràng, và bệnh thường đi kèm với giảm bạch cầu, có thể giảm tiểu cầu nhưng hiếm khi gây xuất huyết Thể bán lâm sàng của bệnh ru-bê-ôn phổ biến ở cả trẻ em và người lớn, với các biến chứng như đau khớp, chủ yếu ở phụ nữ, và viêm não thường gặp ở người lớn.
Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với chất tiết từ đường mũi họng của bệnh nhân hoặc qua hạt nước miếng khuếch tán trong không khí Trong môi trường sống khép kín, mọi người có nguy cơ bị nhiễm vi rút Trẻ em mắc hội chứng ru-bê-ôn bẩm sinh thường đào thải nhiều vi rút qua dịch tiết hầu họng và nước tiểu, trở thành nguồn lây nhiễm cho những người xung quanh.
Biện pháp dự phòng bệnh rubella bao gồm tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho người dân, đặc biệt là phụ nữ, nhằm phát hiện bệnh sớm và phối hợp với ngành y tế trong việc tiêm vắc xin rubella để loại trừ hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ em Vệ sinh phòng bệnh cần đảm bảo nhà ở, nhà trẻ và lớp học thông thoáng, sạch sẽ và đủ ánh sáng Chiến lược giám sát bệnh rubella tại Việt Nam hiện nay cần lồng ghép với giám sát bệnh sởi, đồng thời tăng cường phát hiện bệnh sốt phát ban dạng sởi Việc lấy huyết thanh từ bệnh nhân nghi ngờ để xét nghiệm đồng thời MAC-ELISA cho sởi và rubella là cần thiết, và nếu có thể, nên lấy máu hoặc chất nhầy họng để phân lập virus Ngoài ra, cần thực hiện tiêm vắc xin phối hợp sởi - quai bị - rubella (MMR) cho trẻ em và tiêm vắc xin rubella cho thiếu nữ từ 11-13 tuổi.
Biện pháp chống dịch rubella yêu cầu không có người lành mang vi rút Những người tiếp xúc với trẻ có hội chứng ru-bê-ôn bẩm sinh cần có miễn dịch rubella Đối với phụ nữ mang thai trong 16 tuần đầu mà chưa có miễn dịch và bị phơi nhiễm với vi rút, cần cân nhắc khả năng phá thai để ngăn ngừa hội chứng ru-bê-ôn bẩm sinh ở thai nhi.
Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007)
Khái niệm về Kiến thức – Thái độ - Thực hành
Tri thức hay kiến thức là tập hợp các dữ kiện, thông tin, mô tả và kỹ năng thu được từ trải nghiệm hoặc giáo dục Trong tiếng Việt, "tri" và "thức" đều có nghĩa là "biết" Tri thức có thể thể hiện sự hiểu biết về một đối tượng, cả về lý thuyết lẫn thực hành Nó có thể tồn tại dưới dạng ẩn tàng, như kỹ năng thực hành, hoặc tường minh, như hiểu biết lý thuyết Tri thức cũng có thể mang tính hình thức hoặc hệ thống.
Thái độ là những đánh giá và phát biểu có giá trị về sự vật, con người hoặc đồ vật, phản ánh cảm xúc của con người đối với một điều gì đó Chẳng hạn, khi tôi nói: "Tôi thích công việc này", tôi đang thể hiện thái độ của mình về công việc đó Mặc dù thái độ và giá trị không giống nhau, nhưng chúng có mối liên hệ mật thiết Mối liên quan này được thể hiện qua ba thành phần chính của thái độ.
Thành phần nhận thức bao gồm các ý kiến và niềm tin liên quan đến thái độ Chẳng hạn, nhiều người đồng thuận rằng "phân biệt đối xử là hành động sai trái", và tôi cũng chia sẻ quan điểm này, điều này phản ánh rõ ràng nhận thức về thái độ của bản thân.
-Thành phần ảnh hưởng là cảm nhận hay cảm xúc của thái độ Ví dụ câu phát biểu:
Người phát biểu thể hiện sự không ưa thích Tuấn do anh ta có thái độ phân biệt đối xử với phụ nữ, điều này cho thấy cảm xúc mạnh mẽ về vấn đề bất bình đẳng giới.
Nhận thức về môi trường
Hành vi chủ ý Thái độ
Thành phần hành vi đề cập đến ý định cư xử theo một cách nhất định với một người hoặc một sự việc nào đó Chẳng hạn, tôi thường tránh gặp Tuấn do hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ của anh ta.
Thái độ là biểu hiện cụ thể của giá trị và luôn liên quan đến một số giá trị nhất định Trong khi giá trị có tính ổn định cao, thái độ lại có sự biến động lớn hơn Ví dụ, các thông điệp quảng cáo cho thấy nỗ lực của nhà sản xuất trong việc thay đổi thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ Trong môi trường tổ chức, thái độ đóng vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi làm việc của nhân viên.
Mô hình nhận thức, thái độ và hành vi
Nguồn: McShane S.L và Von Glinow M.A (2003)
Hành vi là chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, bao gồm mọi hoạt động của cơ thể nhằm đáp ứng kích thích từ môi trường Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hoặc bí mật, và có thể diễn ra tự giác hoặc không tự giác Giá trị của hành vi có thể thay đổi theo thời gian.
Hành vi trong bối cảnh sinh học thường được hiểu là phản ứng phối hợp của các sinh vật sống, bao gồm cả hành động và không hành động, đối với các kích thích bên trong hoặc bên ngoài Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về cách xác định hành vi, một phân tích tổng hợp từ tài liệu khoa học đã chỉ ra rằng nó liên quan đến cách mà các cá nhân hoặc nhóm tương tác với môi trường xung quanh.
Hành vi có thể là bẩm sinh hay học được.
Hành vi được định nghĩa là bất kỳ hành động nào của một sinh vật có khả năng thay đổi mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh Hành vi này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin từ sinh vật đến môi trường.
Hành vi tổ chức nghiên cứu cách mà con người suy nghĩ, cảm nhận và hành động trong môi trường làm việc (Mc Shane et al., 2005) Chẳng hạn, khi một nhân viên thường xuyên vắng mặt, điều này có thể phản ánh sự không hài lòng với công việc hoặc quan điểm tiêu cực về tổ chức Các học giả trong lĩnh vực hành vi tổ chức đã tiến hành nghiên cứu để xác định những yếu tố ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm nhận và hành động của nhân viên.
2.6.4 Khái niệm về nghiên cứu Kiến thức - Thái độ - Thực hành
Nghiên cứu KAP nhằm khám phá mối liên hệ giữa các đặc điểm cá nhân và yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân trong việc phòng ngừa ba bệnh truyền nhiễm: Lao phổi, Sốt xuất huyết và Rubella.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp KAP (kiến thức - thái độ - hành vi) là một mô hình nghiên cứu quan trọng, tập trung vào việc thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi của con người đối với các vấn đề xã hội cụ thể Mô hình này đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới trong gần nửa thế kỷ qua, đặc biệt trong các lĩnh vực như y tế công cộng, cung cấp nước sạch, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, tâm lý học, xã hội học và công tác xã hội.
KAP giúp chúng ta hiểu rõ nhận thức, cảm nhận và hành vi của con người liên quan đến một vấn đề nghiên cứu cụ thể Mỗi nghiên cứu KAP được thiết kế phù hợp với từng đối tượng và bối cảnh nhất định.
Nghiên cứu KAP cần kết hợp với các phương pháp thu thập thông tin khác như phỏng vấn để có cái nhìn tổng quát và chi tiết hơn KAP cung cấp bức tranh tổng thể, trong khi phỏng vấn và quan sát làm rõ các khía cạnh cụ thể Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khách quan giúp các nhà lãnh đạo Sở y tế và Ủy ban nhân dân phường hiểu rõ hơn về thông tin truyền thông sức khỏe, từ đó nâng cao kiến thức và thực hành cho người dân về các bệnh truyền nhiễm.
Yếu tố kinh tế xã hội và sức khỏe
Sức khỏe được định nghĩa là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là việc không có bệnh tật (Tổ chức Y tế Thế giới, 2003) Định nghĩa gần đây nhấn mạnh mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân Có sức khỏe tốt là một trong những quyền cơ bản của con người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội (Wikipedia, 2017).
Ngày nay, sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào các thành tựu của khoa học y tế mà còn vào những lựa chọn lối sống thông minh của cá nhân và xã hội Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các yếu tố quyết định sức khỏe bao gồm môi trường kinh tế và xã hội, môi trường vật lý, cùng với đặc điểm và hành vi của từng cá nhân.
2.7.2 Mối quan hệ giữa yếu tố kinh tế xã hội và sức khỏe
Tại các nước đang phát triển, sức khỏe kém góp phần tạo ra vòng đời lẩn quẩn, trong đó hoàn cảnh nghèo khổ làm gia tăng rủi ro sức khỏe Những rủi ro này bao gồm môi trường sống không sạch và an toàn, thiếu dinh dưỡng, cũng như thiếu chăm sóc y tế Bên cạnh đó, xã hội nhiều xung đột cũng dẫn đến sự gia tăng vấn đề sức khỏe tinh thần trong cộng đồng, khiến cá nhân rơi vào tình trạng khủng hoảng và gặp phải nhiều rủi ro về sức khỏe tinh thần.
Dinh dưỡng đầy đủ và chăm sóc y tế tốt có thể ngăn chặn nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Ví dụ, bệnh sốt rét - nguyên nhân gây ra gần 1 triệu ca tử vong mỗi năm - có thể được ngăn chặn và chữa khỏi Bên cạnh đó, bệnh lao - căn bệnh lây nhiễm phổ biến nhất trên thế giới - cũng có thể được kiểm soát Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, và gần một nửa số người hút thuốc sẽ tử vong vì các bệnh liên quan Thiếu vitamin A là nguyên nhân chính gây mù lòa ở trẻ em, trong khi thiếu iod có thể dẫn đến chậm phát triển tinh thần và tổn thương não ở trẻ.
Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát triển kinh tế rất quan trọng, vì đầu tư cho sức khỏe không chỉ cải thiện vốn con người mà còn là yếu tố thiết yếu cho tăng trưởng Sức khỏe tốt giúp nâng cao năng suất lao động thông qua việc tăng cường thể lực, sức chịu đựng và sự tập trung của người lao động Nó cũng kéo dài thời gian đóng góp của lao động, giảm thiểu tổn thất do bệnh tật và cho phép khai thác các nguồn lực tự nhiên chưa được sử dụng Hơn nữa, sức khỏe tốt còn cải thiện vốn và năng suất con người trong tương lai bằng cách tăng tỷ lệ ghi danh và hiệu quả học tập của trẻ em Cuối cùng, sức khỏe tốt không chỉ tạo ra hạnh phúc cho gia đình mà còn góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của xã hội.
Vai trò của sức khỏe trong sự phát triển kinh tế thường bị xem nhẹ, dẫn đến việc đánh giá không đúng mức ảnh hưởng của sức khỏe đến tăng trưởng Những tổn thất kinh tế do tình trạng sức khỏe kém cũng thường không được nhận thức đầy đủ Hơn nữa, chi tiêu cho y tế ở các quốc gia có thu nhập thấp vẫn còn hạn chế, không đủ để đối phó với các thách thức sức khỏe hiện tại.
Chính phủ có thể tăng cường đầu tư cho lĩnh vực y tế, bao gồm các hoạt động như tiêm chủng, kiểm soát bệnh truyền nhiễm, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục công chúng về những căn bệnh tốn kém như bệnh tim, ung thư và béo phì Việc phòng chống và điều trị các bệnh này là rất cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng.
HIV/AIDS có thể được cải thiện đáng kể thông qua việc giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập Đầu tư vào các dịch vụ cơ bản và thực hiện các can thiệp y tế có chọn lọc là những giải pháp quan trọng giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.
Sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong phát triển, không chỉ tăng năng suất mà còn là một mục tiêu phát triển tự thân Sức khỏe tốt giúp nâng cao tiềm năng con người, giảm nghèo và thúc đẩy sự phát triển xã hội Để cải thiện sức khỏe, các quốc gia cần chú trọng vào việc giảm nghèo và sử dụng nguồn tài nguyên mới để nâng cao chất lượng sức khỏe.
Tại Việt Nam, tuổi thọ và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở các vùng ven, trong khi nhiều người dân bày tỏ sự không hài lòng với hệ thống y tế hiện tại Nhiều bác sĩ chỉ làm việc ngoài giờ tại các phòng khám tư, trong khi một số dược sĩ thiếu kiến thức vẫn hành nghề như bác sĩ và cung cấp thuốc sai hoặc thuốc giả Các bệnh viện có chi phí dịch vụ cao và thường xuyên trong tình trạng quá tải Giá thuốc tăng cao do tình trạng độc quyền trong nước, trong khi tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân đều ở mức thấp Bảo hiểm y tế nhà nước không phục vụ tốt cho người có thu nhập cao và chỉ đáp ứng một tỷ lệ nhỏ người được bảo hiểm Hơn nữa, ô nhiễm môi trường cũng đang gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Chăm sóc y tế tự chi trả đang làm giảm cầu dịch vụ y tế, đặc biệt là ở người nghèo, dẫn đến việc họ hoãn chữa bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng khi những người mang bệnh truyền nhiễm không được điều trị Việc phổ cập bảo hiểm y tế toàn diện sẽ giúp giảm chi phí điều trị, giảm rủi ro tài chính do bệnh tật và tai nạn, nhưng vẫn cần giải quyết vấn đề nguồn thu bảo hiểm, xác suất bệnh tật khác nhau và chi phí bảo hiểm cao, khiến hộ gia đình nghèo khó tham gia, từ đó gây khó khăn cho việc đạt được mục tiêu phổ cập toàn dân.
Để thực hiện chính sách y tế hiệu quả, hàng hóa công là yếu tố quan trọng Trước tiên, trợ cấp nhà nước cần tập trung vào chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và phổ cập Thứ hai, nhà nước không nên vừa tài trợ vừa cung cấp dịch vụ y tế, mà cần khuyến khích cạnh tranh giữa nhà cung cấp công và tư, đảm bảo chất lượng điều trị và chi phí giống nhau Thứ ba, ngân sách nhà nước không nên được sử dụng cho dịch vụ y tế tư nhân có thu phí trừ khi có quy định và kiểm soát chi phí rõ ràng Một số chương trình có thể áp dụng khoản phí cố định cho nhà cung cấp tư nhân cho mỗi khách hàng được bảo hiểm, với cam kết cung cấp dịch vụ thỏa đáng Cuối cùng, cần có sự phối hợp và giám sát của nhà nước, cùng với phản hồi từ bệnh nhân và đánh giá hành vi, thái độ, chuyên môn của nhà cung cấp.
Mô hình các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe
Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe (SDH) là những điều kiện mà mọi người trải qua trong suốt cuộc đời, bao gồm cả hệ thống y tế Những điều kiện này phụ thuộc vào sự phân bổ quyền lực, tài chính và nguồn lực ở các cấp độ khác nhau SDH là nguyên nhân chính gây ra bất bình đẳng về sức khỏe, thể hiện qua sự khác biệt có thể tránh được trong tình trạng sức khỏe giữa các quốc gia và trong nội bộ mỗi quốc gia, giữa các nhóm xã hội khác nhau Sự bất bình đẳng này làm cho các nhóm dễ bị tổn thương gặp bất lợi hơn, từ đó giảm cơ hội có được sức khỏe tốt.
Tập trung vào các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe có nghĩa là giải quyết
Nguyên nhân của bệnh tật không chỉ xuất phát từ yếu tố y tế mà còn liên quan đến các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe, nhằm thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng sức khỏe giữa các nhóm trong xã hội Việc giải quyết các yếu tố này cần sự can thiệp từ các chính sách kinh tế và xã hội để mang lại ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, các chính sách quốc gia và chính sách y tế chưa chú trọng đầy đủ đến vấn đề này, khiến công bằng sức khỏe không được xem là ưu tiên trong chương trình nghị sự Những nỗ lực cải cách y tế hiện tại chủ yếu tập trung vào hiệu quả mà ít quan tâm đến các vấn đề liên quan đến công bằng sức khỏe.
Nguồn: Amended from Solar & Irwin, 2006
Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe:
Hình 2.1 Mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe
Chính sách vì sức khỏe yêu cầu xem xét hệ thống về vấn đề sức khỏe trong quá trình thực hiện chính sách ở các ban ngành khác Điều này bao gồm việc xác định các phương thức tiếp cận và cơ hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
Mô hình liên kết giữa y tế & các ban ngành khác
Hình 2.2 Mô hình liên kết giữa y tế và các ban ngành khác
Mô hình niềm tin sức khỏe
Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) là một lý thuyết tâm lý nhằm thay đổi hành vi sức khỏe, được phát triển vào năm 1950 bởi các nhà tâm lý học xã hội tại dịch vụ y tế công của Mỹ Mô hình này giải thích và dự đoán hành vi sức khỏe, đặc biệt là sự tiếp nhận các dịch vụ y tế HBM nhấn mạnh niềm tin của người dân về vấn đề sức khỏe, nhận thức lợi ích của hành động và các rào cản đối với hành động, đồng thời giải thích sự tự hiệu quả hoặc thiếu sự tham gia trong các hành vi có lợi cho sức khỏe Để kích hoạt các hành vi tăng cường sức khỏe, cần có một kích thích hoặc cơ hội hành động xuất hiện.
Mô hình niềm tin sức khỏe, được phát triển vào năm 1950 bởi các nhà tâm lý học xã hội như Irwin M Rosenstock, đã giải thích sự thất bại trong sàng lọc bệnh Lao tại Mỹ Mô hình này không chỉ dự đoán hành vi sức khỏe như sàng lọc và tiêm chủng mà còn giúp hiểu phản ứng của bệnh nhân với triệu chứng, tuân thủ phác đồ y tế và các hành vi lối sống nguy cơ Đặc biệt, vào năm 1988, mô hình đã được sửa đổi để tích hợp vai trò của tự hiệu quả trong quyết định và hành vi sức khỏe.
Mô hình niềm tin sức khỏe có cấu trúc khác nhau giữa các cá nhân và đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán các hành vi liên quan đến sức khỏe.
- Nhận thức được mức độ nghiêm trọng:
Mức độ nhận thức về sức khỏe liên quan đến cách mà cá nhân đánh giá mức độ nghiêm trọng của vấn đề sức khỏe và những hậu quả tiềm ẩn của nó Các mô hình niềm tin sức khỏe cho rằng những người cảm nhận được vấn đề sức khỏe là nghiêm trọng có xu hướng tham gia vào các hành động nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề đó Mức độ nhận thức này không chỉ bao gồm niềm tin về bản thân căn bệnh, như liệu nó có đe dọa tính mạng hoặc gây ra khuyết tật, mà còn ảnh hưởng đến vai trò công việc và xã hội của cá nhân Chẳng hạn, một người có thể xem cúm là không nghiêm trọng về mặt y khoa, nhưng nếu họ nhận thấy rằng việc nghỉ làm vài ngày sẽ dẫn đến hậu quả tài chính nghiêm trọng, họ có thể đánh giá cúm là một tình trạng rất nghiêm trọng.
- Nhận thức được tính nhạy cảm
Tính nhạy cảm cảm nhận là yếu tố quan trọng để đánh giá nguy cơ phát triển vấn đề sức khỏe Các mô hình niềm tin sức khỏe cho thấy rằng những người cảm thấy dễ bị nhiễm bệnh sẽ có xu hướng thực hiện các hành vi nhằm giảm thiểu rủi ro Ngược lại, những người có tính nhạy cảm nhận thấp thường phủ nhận nguy cơ mắc bệnh, hoặc tuy thừa nhận khả năng nhưng lại cho rằng điều đó khó xảy ra Những cá nhân cảm nhận nguy cơ cao sẽ có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi phòng ngừa để giảm thiểu nguy cơ phát triển bệnh.
Trong nghiên cứu của Laurenhan (2013), mô hình niềm tin sức khỏe đã được điều chỉnh so với mô hình gốc của Irwin M Rosenstock và cộng sự (1950) bằng cách bổ sung nhân tố nhận thức mối đe dọa, đồng thời gộp nhân tố nhận thức lợi ích và rào cản lại với nhau.
Nhận thức lợi ích/ rào cản Nhận thức mức độ nghiêm trọng
Hành vi tăng cường sức khỏe Nhận thức mối đe dọa
Nhận thức tính nhạy cảm
Dấu hiệu để hành động
Hình 2.3 Mô hình niềm tin sức khỏe (Laurenhan, 2013)
Nghiên cứu liên quan
Nguyễn Thế An (2013) đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát về kiến thức và thực hành phòng, chống các bệnh thường gặp tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, được công bố trong kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy 72,5% người dân biết về bệnh Lao và 86% đã từng nghe nói về bệnh sốt xuất huyết Ngoài ra, tỷ lệ hành vi thả cá ăn lăng quăng, cọ rửa lu chứa nước và loại bỏ vật phế thải quanh nhà cũng đạt mức cao.
Nguyễn Văn Lên và cộng sự (2013) đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát về kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại gia đình và cộng đồng ở Bà Rịa - Vũng Tàu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng 73% người dân có kiến thức về bệnh Lao, trong khi 71% có hiểu biết về sốt xuất huyết Nghiên cứu này được công bố trong Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục sức khỏe năm 2013.
Phạm Hùng Chiến và cộng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu về hệ thống chăm sóc sức khỏe trước mang thai tại thành phố Đà Nẵng, được công bố trong Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục sức khỏe (2012) Kết quả nghiên cứu cho thấy 74,2% đối tượng có kiến thức về bệnh Lao phổi, trong khi 65,0% có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại gia đình và cộng đồng.
Nghiên cứu của Huỳnh Hữu Dũng và cộng sự (2013) về hiệu quả phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại Huyện Thủ Thừa, Tỉnh Long An cho thấy sự cải thiện đáng kể trong nhận thức và hành động của người dân Cụ thể, tỉ lệ kiến thức đúng về phòng chống sốt xuất huyết ở nhóm can thiệp đã tăng từ 58% lên 77%, tỉ lệ thái độ đúng chung cũng tăng từ 79,2% lên 93,3%, và tỉ lệ thực hành đúng về phòng chống bệnh này tăng từ 54,5% lên 74%.
Nghiên cứu của Huỳnh Bá Hiếu (2013) đã đánh giá kiến thức, thái độ, niềm tin và thực hành về bệnh Lao của người dân ở một số địa bàn dân cư Thừa thiên Huế Kết quả cho thấy, cộng đồng dân cư này còn tồn tại nhiều hạn chế về nhận thức và thực hành trong phòng chống bệnh Lao, đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp kịp thời từ các cơ quan y tế và chính quyền địa phương.
Trên 75 % số người dân đều biết về nguyên nhân gây bệnh, đường lây truyền, triệu chứng của bệnh Lao và bệnh Lao có thể chữa khỏi.
Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Công Cừu, Đoàn Văn Phỉ, Trần Văn Hai
(2007), Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống SXH tại xã Bình Thành, Huyện Thanh Bình, Tỉnh Đồng Tháp Tạp chí Y tế Công cộng, 12/2007 số 9 (9), tr
Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến (2008) đã nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ trong việc phòng chống sốt xuất huyết Dengue vào năm 2007 Nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí Y Học, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố liên quan đến nhận thức và hành động của cộng đồng trong việc đối phó với dịch bệnh.
TP Hồ Chí Minh tập 12 số 04/200; tr 45 – 49 4.
Lê Thành Tài và Trần Văn Hai (2008) đã nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trong việc phòng chống sốt xuất huyết Dengue vào năm 2006 Nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 12, số 04/2008, trang 39-44.
La Torre, Scalingi, Garruto (2015) đã thực hiện một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến khuyến cáo tiêm chủng cho nhân viên y tế Theo kết quả từ Pubmed (2017), có 64,8% đối tượng nghiên cứu đã tiêm ngừa Lao, trong khi chỉ 40% đã tiêm ngừa Rubella Nghiên cứu khuyến nghị cần cải tiến và phổ biến rộng rãi thông tin về tiêm ngừa, đặc biệt là đối với Rubella, và đưa vào chương trình quốc gia.
Nghiên cứu của Olano và Matiz (2015) chỉ ra rằng nguy cơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại các trường học nông thôn ở Colombia chưa được giám sát đầy đủ, chủ yếu tập trung vào các hộ gia đình Để ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm, cần thiết phải triển khai các chương trình y tế công cộng tại các trường học ở khu vực nông thôn.
Nghiên cứu của Daniel Tolossa (2014) tại thị trấn Shinile, Ethiopia cho thấy 80% người tham gia nhận thức rằng bệnh Lao có khả năng lây truyền Trong số đó, 59,3% cho rằng bệnh lây qua đường không khí như ho và hơi thở Đáng chú ý, 79,3% người tham gia tin rằng bệnh Lao có thể phòng ngừa, và 87,8% cho rằng bệnh này có khả năng chữa khỏi.
Nghiên cứu của Jango Bati (2013) tại quận Itang, Ethiopia cho thấy 81,9% đối tượng nhận thức rằng bệnh Lao có khả năng lây truyền, cao hơn 1,9% so với nghiên cứu của Daniel Trong số đó, 51,4% cho rằng bệnh lây qua không khí (ho, hơi thở), 15,4% tin rằng tiêm BCG có thể phòng ngừa Lao, và 29,2% cho rằng việc giữ vệ sinh là cách kiểm soát bệnh Ngoài ra, 41,0% đối tượng cho rằng tránh hút thuốc cũng có thể giúp phòng ngừa và kiểm soát bệnh Lao.
Nghề nghiệp Đặc tính kinh tế, xã hội
Thu nhập Tôn giáo Dân tộc Nơi cư trú
Kiến thức đúng về phòng ngừa bệnh truyền nhiễm
Thông tin tuyên truyền cộng đồng (phương tiện thông tin đại chung)
Thực hành đúng về phòng ngừa bệnh truyền nhiễm
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên các mô hình yếu tố kinh tế xã hội và mô hình niềm tin sức khỏe, tác giả đã bổ sung thông tin liên quan đến phương pháp tiếp cận nguồn thông tin để xây dựng mô hình đề xuất cho luận văn.
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả
Bước 5: Điều chỉnh bảng khảo sát
Bước 8: Kết luậnBước 7: Phân tích
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Bước 3: Xây dựng bộ câu hỏi pilot
Bước 6: Tiến hành khảo sát
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Các bước thực hiện nghiên cứu:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu là "Đánh giá các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến phòng ngừa bệnh truyền nhiễm của người dân đến khám bệnh tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM năm 2017".
Bảng khảo sát sơ bộ
Bước 2: Tìm hiểu tài liệu của các nghiên cứu trước về vấn đề cần nghiên cứu để từ đó có thể đề xuất mô hình nghiên cứu. pilot”
Bước 3: Xây dựng bộ câu hỏi pilot, đính kèm phụ lục “Bộ câu hỏi khảo sát
Bước 4: Thực hiện khảo sát thử (pilot) trên 30 mẫu với mục đích có được bộ câu hỏi khảo sát cuối cùng được đầy đủ thông tin và chính xác.
Sau khi thực hiện pilot trên 30 mẫu, bước 5 yêu cầu chỉnh sửa bộ câu hỏi khảo sát để đảm bảo tính hoàn chỉnh Kết quả cuối cùng là bộ câu hỏi khảo sát được hoàn thiện, kèm theo phụ lục “Bộ câu hỏi khảo sát hoàn chỉnh”.
Bước 6: Thực hiện khảo sát từ tháng 02/2017 đến 04/2017 tại phòng khám tổng quát - Khoa Khám bệnh.
Bước 7: Tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu sau khi hoàn tất việc lấy mẫu Bước 8: Dựa trên kết quả phân tích, rút ra các kết luận có ý nghĩa về đề tài và đưa ra các đề xuất, kiến nghị nếu cần thiết.
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã thực hiện khảo sát bằng phương pháp thuận tiện, phỏng vấn những người dân đến khám bệnh tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM, và họ đã đồng ý trả lời các câu hỏi trong cuộc phỏng vấn.
Người thực hiện khảo sát được đào tạo để hỏi bộ câu hỏi và tiến hành khảo sát pilot trên 30 mẫu thử, chủ yếu là những người quen biết Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, phỏng vấn chính thức được thực hiện trên những người dân đến khám Cách thức phỏng vấn bao gồm việc đọc câu hỏi cho người dân nghe, hướng dẫn họ cách trả lời, và ghi lại câu trả lời vào bộ câu hỏi.
Người được khảo sát: Là người dân tới khám tại phòng khám tổng quát - Khoa Khám bệnh và đồng ý trả lời khảo sát.
Thời gian phỏng vấn: Sau khi bệnh nhân được đo huyết áp và chờ đến lượt vào phòng khám.
Số mẫu khảo sát là n = 384 mẫu (lấy làm tròn 380 mẫu), số mẫu được tính dựa trên công thức:
Z: Trị số của phân phối chuẩn theo tra bảng (=1,96) p: ước tinh (p=0,5). d: Sai số tối đa (=0,05).
Phỏng vấn trong vòng 20 ngày, mỗi ngày khoảng 20 mẫu và lấy đến khi lấy đủ 380 mẫu.
Phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm Epidata để nhập liệu bộ dữ liệu
Sử dụng phần mềm STATA-13 để phân tích dữ liệu.
Sử dụng phép kiểm chi bình phương: để xác định tỷ lệ, tần suất, mối liên quan giữa các giá trị trong từng biến độc lập.
Sử dụng phép kiểm t-test: để kiểm định 2 giá trị trung bình của hai nhóm như biến giới tính, dân tộc, thường trú.
Sử dụng phép kiểm Anova: để so sánh giá trị trung bình ở nhiều hơn 2 nhóm.
Định nghĩa các biến
Tên biến Mã hóa Diễn giải
Tuổi tuoi biến danh định, bao gồm 04 giá trị: 1< 25 tuổi, 2= 25-40 tuổi, 3= 41-60 tuổi, 4= > 61 tuổi
Giới gioi biến nhị phân, bao gồm 02 giá trị: 1 nam, 0= nữ
Tên biến Mã hóa Diễn giải
Trình độ học vấn hocvan biến danh định, bao gồm 07 giá trị: 1 mù chữ, 2= cấp 1, 3 = cấp 2, 4= phổ thông, 5= trung cấp/cao đẳng, 6= đại học, 7= > đại học
Nghề nghiệp nghe biến danh định, bao gồm 07 giá trị: 1 nội trợ, 2= làm nông/công nhân, 3 buôn bán/kinh doanh, 4= viên chức, 5Thu nhập bình quân / tháng
Thu nhap biến danh định, bao gồm 04 giá trị: 1< 5 triệu, 2= 5-10 triệu, 3= 11-15 triệu, 4= > 15 triệu
Dân tộc dantoc biến nhị phân, bao gồm 02 giá trị: 1 kinh, 0= khác Tôn giáo tongiao biến danh định, bao gồm 03 giá trị: 1 phật giáo, 2= thiên chúa giáo, 3= khác
Nơi ở noio biến nhị phân, bao gồm 02 giá trị: 1 tphcm, 0= tỉnh
Biến phụ thuộc: là biến kiến thức – thực hành đúng về bệnh truyền nhiễm.
Khả năng lây của Bệnh
Lao Đường lây của Bệnh
Bệnh Lao có các triệu chứng biến danh định với ba giá trị: không lây, lây và không biết Đường lây truyền của bệnh cũng được phân loại thành bốn giá trị: không khí, giọt bắn, tiếp xúc và không biết Các triệu chứng cụ thể bao gồm: ho kéo dài trên 2 tuần, ho ra máu và sốt.
Cách phòng ngừa Bệnh Lao
Tiêm ngừa Lao là biện pháp quan trọng để bảo vệ sức khỏe, giúp trẻ sơ sinh phát triển an toàn Để phòng ngừa bệnh, cần lưu ý các triệu chứng như đổ mồ hôi ban đêm, đau tức ngực và gầy sút cân Ngoài ra, việc che miệng khi ho hắt hơi và duy trì lối sống vệ sinh là cần thiết Bổ sung dinh dưỡng và giữ gìn môi trường sạch sẽ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh Cuối cùng, việc xác định tình trạng tiêm chủng là cần thiết, với ba giá trị: đã tiêm, chưa tiêm và không nhớ.
Khả năng lây của Bệnh Sốt xuất huyết Đường lây của Bệnh Sốt xuất huyết
Triệu chứng của Bệnh Sốt xuất huyết
Để phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết, cần chú ý đến ba yếu tố: không lây, lây qua đường máu, và không rõ nguyên nhân lây nhiễm Nguyên nhân chính gây bệnh bao gồm bốn giá trị: do muỗi đốt, lây qua đường máu, không biết nguyên nhân, và các nguyên nhân khác Triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết thường bắt đầu bằng sốt cao.
Trong vòng 2 ngày, người bệnh có thể trải qua các triệu chứng như mệt mỏi, đau cơ, nhức đầu và đau sau hốc mắt Xuất huyết dưới da cũng là một dấu hiệu cần chú ý Để phòng ngừa, cần thực hiện các biện pháp như đậy kín lu bể nước, thả cá trong lu chậu, không để nước tồn đọng quanh nhà, và sử dụng màn khi ngủ Ngoài ra, việc tiêm phòng cũng rất quan trọng, với các tình trạng như đã tiêm, chưa tiêm hoặc không nhớ.
Khả năng lây của Bệnh Rubella biến danh định, bao gồm 03 giá trị: 1 không lây, 2= lây, 3 = không biết
Tên biến Diễn giải Đường lây của Bệnh Rubella
Triệu chứng của Bệnh Rubella
Cách phòng ngừa Bệnh Rubella
Tiêm ngừa Rubella có các biến danh định quan trọng, bao gồm: tiếp xúc với chất tiết và nước bọt của người bệnh, mẹ truyền sang con, đường máu, và trường hợp không rõ nguyên nhân Các triệu chứng của Rubella gồm sốt nhẹ, nổi phát ban, nhức đầu, sưng hạch, cùng với các trường hợp không xác định và khác Biện pháp phòng ngừa bao gồm tiêm vắc xin, tránh tiếp xúc với người bệnh, và những trường hợp không rõ ràng Thông tin về tình trạng tiêm chủng cũng được phân loại thành đã tiêm, chưa tiêm, và không nhớ.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Việc phỏng vấn chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận và hợp tác từ phía đối tượng nghiên cứu.
Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Các dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu đã được thực hiện với sự chấp thuận của Phòng Khoa học và Đào tạo tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, cho phép tiến hành phỏng vấn và thực hiện đề tài nghiên cứu.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 34
Thống kê mô tả đặc điểm cá nhân
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ giới nữ chiếm 59,5%, cao hơn giới nam với 40,5% Điều này phản ánh thực tế rằng phụ nữ trong độ tuổi từ 25-60 thường có xu hướng đi khám và kiểm tra sức khỏe nhiều hơn nam giới, điều này cũng tương đồng với số liệu tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM.
Về nhóm tuổi khảo sát cho thấy tỷ lệ nhóm tuổi 25-40 cao nhất là 51,1 %; tiếp đến nhóm 41-60 tuổi là 26 %; nhóm < 25 tuổi là 16,1 % và thấp nhất là nhóm
Người dân từ 25-40 tuổi thường xuyên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, với tỉ lệ đạt 6,8% ở độ tuổi 60 Đặc biệt, giới văn phòng thường có thói quen kiểm tra sức khỏe hàng năm Trong khi đó, nhóm tuổi trên 60 lại có tỉ lệ khảo sát thấp nhất do ít được lựa chọn làm đối tượng khảo sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người có trình độ học vấn trung cấp/cao đẳng cao nhất, đạt 32,4% Tiếp theo là trình độ trung học phổ thông với 23,7%, cấp 2 chiếm 21,3%, trong khi trình độ đại học là 14%, cấp 1 chỉ có 6%, và trình độ trên đại học ở mức 1,8%.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ mù chữ thấp nhất được ghi nhận là 0,8%, phù hợp với nhóm tuổi khảo sát chủ yếu từ 25 đến 40 tuổi, độ tuổi thường đang trong giai đoạn làm việc.
Kết quả khảo sát cho thấy nghề nghiệp viên chức chiếm tỷ lệ cao nhất với 33,4%, tiếp theo là nhóm nghề buôn bán, công nhân và làm nông với 18,7% Nhóm nghề sinh viên đứng thứ ba với 6,5%, trong khi nhóm già và hưu trí có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 4,5% Những kết quả này phù hợp với nghiên cứu, cho thấy nghề nghiệp viên chức chiếm ưu thế và tương thích với trình độ học vấn của đối tượng khảo sát.
Bảng 4.1 Đặc điểm cá nhân: giới, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%)
Trung cấp/cao đẳng Đại học
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Thống kê mô tả đặc điểm kinh tế, xã hội
Kết quả thống kê tổng quan mẫu khảo sát cho thấy tỷ lệ thu nhập 5-10 triệu chiếm cao nhất là 50,8 %, tiếp theo là nhóm thu nhập < 5 triệu là 41,6% , nhóm 11-
Trong khảo sát, 15 triệu đồng chiếm 6,3% thu nhập, trong khi nhóm thu nhập thấp nhất trên 15 triệu chỉ chiếm 1,3% Tỷ lệ này tương ứng với độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn của đối tượng Đặc biệt, nguồn thu nhập chính của công chức chủ yếu nằm trong khoảng 5-10 triệu đồng, phù hợp với nhóm nghề nghiệp viên chức.
Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 98,4% trong tổng dân số, trong khi các dân tộc khác như Hoa, Khơ Me và các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 1,6% Sự phân bổ này phản ánh đúng đặc điểm đa dạng văn hóa của Việt Nam.
Về tôn giáo thì không có tôn giáo chiếm tỷ lệ cao nhất 56,9 %, tiếp theo là phật giáo với tỷ lệ 33,9 % và thấp nhất là thiên chúa giáo là 9,2 %.
Xét về nơi thường trú thì đối tượng nghiên cứu cư ngụ tại TPHCM chiếm tỷ lệ khá cao 62,1 % so với đối tượng cư ngụ tại tỉnh là 37,9 %.
Bảng 4.2 Đặc điểm thu nhập, dân tộc, tôn giáo, nơi ở Đặc tính Tần số Tỉ lệ (%)
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Thống kê mô tả đặc điểm phân bổ nguồn thông tin
Kết quả phân tích cho thấy rằng nguồn thông tin chính về bệnh truyền nhiễm mà đối tượng nghiên cứu tiếp cận chủ yếu là từ ti vi (74,0%), tiếp theo là sách báo (65,5%), internet (58,9%), cán bộ y tế (40%), loa phát thanh (27,4%) và cộng tác viên y tế (8,2%) Điều này cho thấy ti vi là nguồn tin được tin tưởng nhất, vì vậy cần kiểm chứng và nâng cao chất lượng nội dung trên các kênh này để cải thiện nhận thức của người dân Ngoài ra, với sự phát triển của công nghệ, thông tin từ sách báo và internet ngày càng được ưa chuộng, do đó cũng cần nâng cao chất lượng thông tin để tránh lan truyền thông tin sai lệch.
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Hình 4.1 Đặc điểm phân bổ nguồn thông tin
Thống kê mô tả Kiến thức - Thực hành về bệnh lao
Để đánh giá kiến thức của đối tượng khảo sát về bệnh Lao, nghiên cứu đã thực hiện việc khảo sát sự hiểu biết của họ về khả năng lây truyền của bệnh này.
(2) đường lây truyền, (3) triệu chứng của bệnh Lao, (4) cách thức phòng ngừa bệnh Lao.
Bảng 4.3 Bảng phân bố Kiến thức bệnh Lao
Kiến thức về Bệnh Lao Tần số Tỉ lệ (%) Kiến thức về khả năng lây truyền bệnh Lao
Kiến thức về đường lây truyền bệnh Lao
Lây qua đường không khí 217 57,1
Lây qua đường giọt bắn 70 18,4
Lây qua đường tiếp xúc 79 20,8
Kiến thức về triệu chứng bệnh Lao
Ho ra máu, ho trên 2 tuần 358 94,2
Số về chiều 270 71,1 Đau tức ngực, mệt mỏi 129 33,9
Kém ăn, gầy, sút cân 159 41,8
Kiến thức về cách phòng ngừa bệnh Lao
Tiêm vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh 297 78,2
Che miệng khi ho, hắt hơi 301 79,2
Giữ lối sống vệ sinh, bổ sung dinh dưỡng 153 40,3
Giữ môi trường xung quanh sạch 195 51,3
Kiến thức chung đúng (đúng 3/4 kiến thức) Đúng 188 49,5
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Kết quả khảo sát cho thấy 96,3% người dân hiểu đúng về khả năng lây truyền của bệnh Lao Tỷ lệ gần 100% này phản ánh sự nhận thức cao của cộng đồng, góp phần giảm thiểu khả năng lây lan của bệnh Lao.
Hơn 50% người dân hiểu đúng về đường lây truyền của bệnh Lao, giúp nâng cao khả năng phòng tránh lây nhiễm Mặc dù nhiều người nhầm lẫn rằng bệnh Lao lây qua tiếp xúc, nhưng khảo sát cho thấy 57,1% đã nhận diện đúng rằng bệnh lây qua không khí Tỷ lệ người không biết đường lây truyền chỉ chiếm 3,7%.
Theo khảo sát, 94,2% đối tượng nhận thức được rằng ho ra máu và ho kéo dài trên 2 tuần là triệu chứng của bệnh Lao, cho thấy sự hiểu biết cao về bệnh này giúp họ phòng tránh lây nhiễm hiệu quả Bên cạnh đó, 71,1% người được khảo sát cũng cho rằng sốt về chiều là một triệu chứng của bệnh Lao Tuy nhiên, kiến thức về các triệu chứng như mệt mỏi và đau tức ngực vẫn còn hạn chế, khi chưa đến 50% người tham gia có nhận thức đúng, điều này có thể dẫn đến việc bỏ qua triệu chứng và tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.
Nghiên cứu cho thấy 79,2% người dân nhận thức rằng cách phòng ngừa bệnh Lao hiệu quả nhất là che miệng khi ho và hắt hơi, trong khi 78,2% biết về tiêm ngừa BCG Tuy nhiên, chỉ 49,5% đối tượng khảo sát có kiến thức đúng về bệnh Lao, cho thấy nhận thức còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ lây nhiễm cao trong cộng đồng Để phòng ngừa bệnh Lao hiệu quả, việc tiêm ngừa ngay từ khi sinh ra là cần thiết và nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng của quốc gia Chính sách y tế toàn diện có thể tăng cường khả năng phòng ngừa, giảm chi phí điều trị và hạn chế sự lây lan bệnh trong cộng đồng.
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Hình 4.2 Đặc điểm thực hành ngừa bệnh Lao phổi
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 42,1% đối tượng nghiên cứu đã tiêm ngừa Lao, cho thấy công tác chăm sóc y tế cách đây 25 năm còn yếu kém Trong khi đó, 41,3% đối tượng chưa tiêm và 16,6% không nhớ đã tiêm hay chưa, dẫn đến gần 60% người dân chưa tiêm hoặc không nhớ tình trạng tiêm chủng của mình.
Thống kê mô tả Kiến thức về bệnh Sốt xuất huyết
Để đánh giá kiến thức của đối tượng khảo sát về bệnh Sốt xuất huyết, nghiên cứu đã tập trung vào việc đánh giá hiểu biết về khả năng lây truyền của bệnh.
(2) đường lây truyền, (3) triệu chứng của bệnh Sốt xuất huyết, (4) cách thức phòng ngừa bệnh Sốt xuất huyết.
Bảng 4.4 Bảng phân bố Kiến thức về khả năng lây truyền Sốt xuất huyết
Kiến thức về Bệnh Sốt xuất huyết Tần số Tỉ lệ (%) Kiến thức về khả năng lây truyền bệnh Sốt xuất huyết
Kiến thức về đường lây truyền bệnh Sốt xuất huyết
Lây qua đường muỗi đốt 353 92,9
Không biết đường lây 15 4,0 Đường lây khác: không lây 5 1,3
Kiến thức về triệu chứng bệnh Sốt xuất huyết
Người mệt mỏi, đau cơ 214 56,3
Nhức đầu, đau sau hốc mắt 167 43,9
Xuất huyết dưới da (nổi mẩn đỏ) 306 80,5
Kiến thức về cách phòng ngừa bệnh Sốt xuất huyết Đậy kín các bể, lu chứa nước 337 88,7
Thả cá trong các lu, chậu chứa nước 317 83,4
Không để xuất hiện các vũng nước đọng xung quanh nhà 297 78,2
Kiến thức chung đúng (đúng 3/4 kiến thức) Đúng 127 33,4
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Theo kết quả khảo sát, 63,1% người tham gia hiểu đúng về khả năng lây truyền của bệnh Sốt xuất huyết, trong khi 36,9% vẫn có nhận thức sai lầm cho rằng đây là bệnh không lây Điều này gây trở ngại cho công tác phòng chống bệnh.
Kết quả đánh giá kiến thức về đường lây truyền cho thấy 92,9% người tham gia nhận thức được rằng bệnh lây qua đường muỗi đốt Tỷ lệ này cao hơn so với kiến thức về khả năng lây lan của bệnh Điều này cho thấy khi được hỏi cụ thể về đường lây, đối tượng nghiên cứu có khả năng trả lời chính xác hơn.
Trong nghiên cứu về triệu chứng bệnh, sốt cao trên 2 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 88,4%, tiếp theo là xuất huyết dưới da với 80,5% Triệu chứng sốt thường dễ nhầm lẫn với các bệnh khác do sự thay đổi trong cơ thể, trong khi xuất huyết chỉ xuất hiện vào ngày thứ 3-4 của bệnh Các triệu chứng như mệt mỏi, đau cơ thể và nhức đầu ít được nhắc đến, chỉ chiếm từ 43,9% đến 56,3% Kết quả cho thấy đối tượng khảo sát chưa có kiến thức đồng nhất về bệnh, điều này ảnh hưởng đến khả năng nhận diện triệu chứng và phác đồ điều trị, dẫn đến nguy cơ biến chứng và tăng chi phí điều trị.
Kết quả khảo sát về kiến thức phòng ngừa bệnh Sốt xuất huyết cho thấy tỷ lệ hiểu biết cao, từ 78,2% đến 90,3% về bốn phương pháp phòng ngừa Điều này phản ánh công tác y tế trong việc hướng dẫn người dân khá hiệu quả, giúp hạn chế lây truyền trong cộng đồng Tuy nhiên, chỉ có 33,4% đối tượng khảo sát trả lời đúng 3/4 câu hỏi về kiến thức đúng, cho thấy mức độ hiểu biết còn thấp Điều này lý giải tại sao bệnh Sốt xuất huyết, mặc dù dễ phòng ngừa, vẫn có tỷ lệ lây nhiễm cao trong cộng đồng.
Thống kê mô tả Kiến thức -Thực hành về bệnh Rubella
Nghiên cứu này nhằm đánh giá kiến thức của đối tượng khảo sát về bệnh Rubella, bao gồm (1) khả năng lây truyền, (2) đường lây truyền, (3) triệu chứng của bệnh, và (4) các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Kiến thức chính xác về khả năng lây nhiễm của bệnh Rubella là rất quan trọng, khi người khảo sát hiểu rằng bệnh này lây từ người mang mầm bệnh sang người khác Đường lây truyền chính xác là qua tiếp xúc với chất tiết, nước bọt hoặc nước tiểu Tuy nhiên, nhiều người vẫn nhầm lẫn rằng bệnh chỉ lây từ mẹ sang con, điều này chủ yếu xuất phát từ kiến thức truyền miệng.
Bảng 4.5 Bảng phân bố Kiến thức bệnh Rubella
Kiến thức về Bệnh Rubella Tần số Tỉ lệ (%) Kiến thức về khả năng lây truyền bệnh Rubella
Kiến thức về đường lây truyền bệnh Rubella
Tiếp xúc với chất tiết/nước bọt/nước tiểu của người bệnh 172 45,3
Mẹ truyền sang con 112 29,5 Đường máu 20 5,2
Kiến thức về triệu chứng bệnh Rubella
Kiến thức về cách phòng ngừa bệnh Rubella
Tiêm vắc xin phòng ngừa 301 79,2
Tránh tiếp xúc với người bệnh 210 55,3
Giữ vệ sinh dinh dưỡng 8 2,1
Kiến thức chung đúng (đúng 3/4 kiến thức) Đúng 132 34,7
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Kết quả khảo sát cho thấy 81,3% người tham gia hiểu đúng về khả năng lây truyền của bệnh Rubella Tỷ lệ này tương đối phù hợp với giới tính, trong đó khoảng 60% là nữ, và chủ yếu thuộc nhóm tuổi 25-40, độ tuổi có khả năng tìm hiểu kiến thức về bệnh cao nhất do đang trong giai đoạn sinh sản.
Kiến thức về đường lây truyền của bệnh Rubella còn hạn chế, với chưa đến 50% đối tượng hiểu đúng về vấn đề này Đặc biệt, 54,7% người dân không biết hoặc trả lời sai về cách lây truyền bệnh Biến chứng của Rubella rất nghiêm trọng, đặc biệt đối với phụ nữ mang thai, có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh cho trẻ với tỷ lệ lên tới 90% Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cần tăng cường giáo dục về đường lây truyền của bệnh, nhất là khi 60% đối tượng là nữ và 49,5% làm các nghề như nông dân, công dân, buôn bán hoặc nội trợ.
Triệu chứng của bệnh Rubella cho thấy tỷ lệ hiểu biết của đối tượng khảo sát không đồng đều Để được coi là có kiến thức về triệu chứng bệnh, người tham gia cần trả lời đúng cả bốn (04) nội dung liên quan Tuy nhiên, tỷ lệ trả lời đúng hiện chỉ đạt mức thấp.
Kết quả cho thấy mức độ hiểu biết và khả năng phân biệt triệu chứng bệnh còn thấp, dẫn đến tình trạng biến chứng như dị tật bẩm sinh ở trẻ em.
Kết quả khảo sát cho thấy 79,2% người dân tin rằng tiêm vắc xin có thể phòng ngừa bệnh Rubella, cho thấy nỗ lực tư vấn và tuyên truyền tại các cơ sở khám sản phụ khoa đã có tác động tích cực Tuy nhiên, tỷ lệ người tránh tiếp xúc với bệnh nhân Rubella vẫn thấp do triệu chứng của bệnh không rõ ràng và dễ nhầm lẫn với các bệnh sốt siêu vi khác Để đánh giá kiến thức đúng về bệnh Rubella, đối tượng khảo sát cần trả lời đúng 3/4 câu hỏi, nhưng chỉ có 33,4% đạt yêu cầu này, cho thấy kiến thức về bệnh Rubella còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng vẫn cao.
Để phòng ngừa hiệu quả bệnh Rubella, việc tiêm ngừa cho phụ nữ trong giai đoạn thai sản là cách đơn giản và cần thiết Chính sách y tế toàn diện không chỉ tăng cường khả năng phòng bệnh mà còn giúp giảm chi phí điều trị và hạn chế sự lây nhiễm trong cộng đồng.
Nguồn: Kết quả phân tích (n80)
Hình 4.3 Đặc điểm thực hành ngừa bệnh Rubella
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ tiêm ngừa Rubella ở đối tượng nghiên cứu chỉ đạt 26,0%, một con số khá thấp Do đó, cần thiết phải triển khai chính sách tiêm ngừa cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, có thể xem xét đưa vào tiêu chí bắt buộc trước khi mang thai nhằm ngăn ngừa dị tật bẩm sinh ở trẻ em sinh ra từ những bà mẹ mắc bệnh.
4.7 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành đúng về bệnh Lao
Phần này khám phá mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kinh tế xã hội, từ đó ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành đúng về bệnh Lao phổi Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức đúng và thực hành hiệu quả để phòng ngừa và điều trị bệnh Lao phổi.
Bảng 4.6 Mối liên quan giữa đặc điểm giới tính và kiến thức đúng về bệnh Lao
Kiến thức đúng về bệnh
Sai số chuẩn Độ lệch chuẩn
P Khoảng tin cậy 95% Thấp hơn Cao hơn
Kết quả kiểm định t-test cho thấy p=0,316 > 0,05, chứng tỏ không có sự khác biệt thống kê ở mức 5% giữa nhóm nam và nữ Do đó, có thể kết luận rằng ở độ tin cậy 95%, không tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức bệnh Lao giữa hai giới tính trong đối tượng khảo sát.
Bảng 4.7 Mối liên quan giữa đặc điểm nhóm tuổi và kiến thức đúng về bệnh Lao
Nhóm tuổi Tổng bình phương df Bình phương trung bình
Kết quả kiểm định Anova cho thấy rằng không có sự khác biệt thống kê ở mức 5% giữa bốn nhóm tuổi, với giá trị sig = 0,527 > 0,05 Do đó, có thể kết luận rằng ở độ tin cậy 95%, không tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức về bệnh Lao giữa các nhóm tuổi trong đối tượng khảo sát.
Bảng 4.8 Mối liên quan giữa đặc điểm trình độ và kiến thức đúng về bệnh Lao
Trình độ học vấn Tổng bình phương df Bình phương trung bình
Kết quả kiểm định Anova cho thấy rằng giá trị sig = 0,089 lớn hơn 0,05, điều này chỉ ra không có sự khác biệt giữa 7 nhóm trình độ học vấn Do đó, có thể kết luận rằng ở mức độ tin cậy 95%, không tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa các nhóm trình độ học vấn của đối tượng khảo sát.
Bảng 4.9 Mối liên quan giữa đặc điểm nghề nghiệp và kiến thức đúng về bệnh Lao
Nghề nghiệp Tổng bình phương df Bình phương trung bình
Kết quả kiểm định Anova cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 7 nhóm nghề nghiệp với giá trị sig = 0,0067, nhỏ hơn 0,05 Điều này chứng tỏ rằng ở độ tin cậy 95%, kiến thức về bệnh Lao giữa các nhóm nghề nghiệp là khác nhau.
Bảng 4.10 Mối liên quan giữa đặc điểm thu nhập và kiến thức đúng về bệnh Lao
Thu nhập Tổng bình phương df Bình phương trung bình
Kết quả kiểm định Anova cho thấy: sig =0,0556 > 0,05, nghĩa là không có sự khác biệt giữa 4 nhóm thu nhập ở mức 5%.
Bảng 4.11 Mối liên quan giữa đặc điểm Dân tộc và kiến thức đúng về bệnh Lao
Kiến thức đúng về bệnh
Sai số chuẩn Độ lệch chuẩn
Kết quả kiểm định ttest cho thấy p=0,474 > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt giữa nhóm dân tộc Kinh và nhóm dân tộc khác Do đó, có thể kết luận rằng ở mức độ tin cậy 95%, không tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa hai nhóm đối tượng khảo sát này.
Bảng 4.12 Mối liên quan giữa đặc điểm Thường trú và kiến thức đúng về bệnh Lao
Kiến thức đúng về bệnh Lao
Sai số chuẩn Độ lệch chuẩn p Khoảng tin cậy
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về bệnh Rubella
Từ kết quả của chương 4, chương 5 sẽ trình bày kết luận, đồng thời đưa ra các chính sách kiến nghị và hạn chế của đề tài.
5.1.1 Đặc điểm cá nhân, kinh tế-xã hội của đối tượng khảo sát
Tỷ lệ nữ giới cao hơn so với nam giới (59,5 % so với 40,5 %) Tỷ lệ nhóm tuổi 25-40 cao nhất là 51,1 % và thấp nhất là nhóm > 60 tuổi với 6,8 %.
Tỷ lệ đối tượng có học vấn ở bậc trung cấp/cao đẳng là cao nhất với 32,4 %; thấp nhất là mù chữ với 0,8 %.
Tỷ lệ nghề nghiệp viên chức là cao nhất với 33,4 % và thấp nhất là nhóm già/hưu trí với 4,5%.
Tỷ lệ thu nhập 5-10 triệu chiếm cao nhất là 50,8 và nhóm thu nhập thấp nhất là nhóm > 15 triệu là 1,3 %.
Dân tộc Kinh chiếm 98,4% dân số, trong khi các dân tộc thiểu số như Hoa, Khơ Me chỉ chiếm 1,6% Về tôn giáo, 56,9% dân số không theo tôn giáo nào.
Xét về nơi thường trú thì đối tượng nghiên cứu cư ngụ tại TPHCM chiếm tỷ lệ khá cao 62,1 % so với đối tượng cư ngụ tại tỉnh là 37,9 %.
5.1.2 Đặc điểm nguồn tiếp nhận thông tin
Nguồn thông tin mà đối tượng nghiên cứu thông qua đó biết nhiều nhất về bệnh truyền nhiễm là từ ti vi: 74, %.
5.1.3 Kiến thức – thực hành về bệnh Lao
Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về bệnh Lao là 49,5 %.
5.1.4 Kiến thức về bệnh Sốt xuất huyết
Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về bệnh Sốt xuất huyết là 33,4%.
5.1.5 Kiến thức – thực hành về bệnh Rubella
Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng về bệnh Rubella là 34,7 %.