Các khảo nghiệm này đã trở thành những quần thể chọn giống có tính đa dạng di truyền cao nhằm cung cấp thông tin di truyền cần thiết cho các chương trình chọn giống theo hướng sinh trưởn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian triển khai thu thập và xử lý số liệu thì đến nay khóa luận tốt nghiệp đã được hoàn thành Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu và học hỏi không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô, gia đình
và bạn bè đồng nghiệp Qua trang viết này cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những người đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua
Để có được kết quả này, trước hết cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới T.S Khuất Thị Hải Ninh , là người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian, công sức tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơnThS Trần Đức Vượng, KS.Phan Văn Chỉnh, tập thể cán bộ và nhân viên Viện nghiên cứu giống và công nghệ sinh học Lâm nghiệp (Ba Vì – Hà Nội), là đơn vị đã trực tiếp hỗ trợ nhân lực, vật liệu giống, hiện trường nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn của tôi được hoàn thiện nhất
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn, cám ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức mình, học hỏi thầy cô và bạn bè, nhưng do trình độ còn hạn chế, thời gian có hạn nên luận văn
sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô giáo cùng toàn thể bạn bè và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan mọi số liệu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực không sao chép của bất kì tác giả nào
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Đức Hoan
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Đặc điểm sinh vật học, phân bố và giá trị của Keo tai tượng 2
1.1.1 Đặc điểm sinh vật học 2
1.1.2 Đặc điểm phân bố của Keo tai tượng 2
1.1.3 Giá trị kinh tế 3
1.2 Nghiên cứu về chọn giống Keo tai tượng 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 7
1.3 Một số nhận định 13
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
2.1 Vị trí địa lý 14
2.2 Địa hình 14
2.3 Địa chất thổ nhưỡng 14
2.4 Khí hậu thủy văn 15
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 3.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
3.2 Nội dung nghiên cứu 16
3.3 Vật liệu nghiên cứu 16
3.4 Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Phương pháp kế thừa 16
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 18
Trang 3CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Biến dị về sinh trưởng và chất lượng cây giữa các gia đình Keo tai tượng khảo nghiệm tại Ba Vì 20
4.1.1 Đánh giá tỉ lệ sống giữa các gia đình 20
4.1.2 Biến dị sinh trưởng giữa các gia đình 21
4.1.3 Biến dị chất lượng thân giữa các gia đình 23
4.2 Đề xuất biện pháp tỉa thưa vườn giống thế hệ 2 25
4.3 Chọn lọc cây trội Keo tai tượng tại vườn giống thế hệ 2 28
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Tồn tại 30
5.3 Khuyến nghị 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSIRO Tổ chức nghiên cứu khoa học của Australia
D1.3 Đường kính thân cây tại vị trí 1.3 m so với mặt đất
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu 14
Bảng 2.2 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu 15
Bảng 4.1 Tỉ lệ cây sống của các gia đình Keo tai tượng 20
Bảng 4.2 Sinh trưởng của các gia đình Keo tai tượng 22
Bảng 4.3 Chất lượng thân cây của các gia đình Keo tai tượng 24
Bảng 4.4 Những gia đình Keo tai tượng sinh trưởng trên mức trung bình tại vườn giống thế hệ 2 tại Ba vì – Hà Nội 26
Bảng 4.5 Những cá thể Keo tai tượng trong các gia đình sinh trưởng dưới trung bình được giữ lại trong vườn giống thế hệ 2 27
Bảng 4.6 Kết quả chọn cây trội Keo tai tượng trong vườn giống thế thệ 2 28
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Vùng phân bố tự nhiên của Keo tai tượng 3
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) có nguồn gốc từ Australia, Papua
New Guinea và Indonesia Phân bố chủ yếu từ 8° đến 18° vĩ độ Nam, độ cao 300m so với mực nước biển, lượng mưa hàng năm 1.500 – 3.000mm/năm Keo tai tượng có thân cây thẳng đẹp, rễ có nốt sần có khả năng cải tạo đất và sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm Gỗ Keo tai tượng có tỷ trọng 0,45 – 0,50 ở giai đoạn 12 tuổi có thể đạt 0,59 thích hợp cho sản xuất gỗ dán, ván dăm, làm giấy
và đồ gia dụng
Keo tai tượng được đưa vào nước ta đầu những năm 1980 (Lê Đình Khả, 199)[2] Hiện nay đã được trồng rộng rãi ở hầu hết các vùng trong cả nước với diện tích đạt khoảng trên 600.000ha
Khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 là khảo nghiệm được xây dựng từ những gia đình những dòng vô tính tốt nhất của vườn giống thế hệ 1 hoặc 1,5 tại Việt Nam và một số gia đình, dòng được tuyển chọn từ vườn giống ưu việt nhập về
sẽ có chất lượng di truyền cao hơn so với vườn giống thế hệ 1 hặc 1,5 đồng thời duy trì nguồn biến dị di truyền cần thiết cho công tác cải thiện giống giai đoạn tiếp theo Các khảo nghiệm này đã trở thành những quần thể chọn giống có tính
đa dạng di truyền cao nhằm cung cấp thông tin di truyền cần thiết cho các chương trình chọn giống theo hướng sinh trưởng và chất lượng thân cây cho trồng rừng trong tương lai
Chính vì những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm biến dị các gia
đình keo Tai tượng (Acacia mangium Wild) trong vườn giống thế hệ hai tại
Ba Vì - Hà Nội” được thực hiện sẽ góp phần giải quyết một số cơ sở lý luận và
thực tiễn trong cải thiện giống nhằm tăng năng suất rừng trồng Keo tai tượng ở
nước ta
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) có nguồn gốc từ Australia, Papua
New Guinea và Indonesia, có sức sinh trưởng nhanh, phù hợp với nhiều điều kiện lập địa khác nhau Do Keo tai tượng đóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nên đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh học, nghiên cứu chọn giống đến kỹ thuật gây trồng cũng như khả năng sử dụng, cụ thể như sau:
1.1 Đặc điểm sinh vật học, phân bố và giá trị của Keo tai tượng
1.1.1 Đặc điểm sinh vật học
Hoa của Keo tai tượng có màu trắng nhạt hoặc màu kem, mọc thành chùm
từ 5 – 12cm trên cuống có chiều dài từ 0,6 – 1cm, tại mỗi nách lá có thể mọc từ
1 – 2 chùm hoa Quả dạng đậu, dẹt, mỏng, dài 7 – 8cm, rộng 0,3 – 0,5cm, khi quả già vỏ cong xoắn lại Hạt đen và bóng có hình ovan hoặc thuôn, kích thước
5 - 6 x 2 – 3mm có đính dải màu vàng hoặc màu cam nhạt
Keo tai tượng có thể ra hoa ở giai đoạn từ 18 – 24 tháng tuổi, tuy nhiên hoa bắt đầu ra nhiều vào tuổi 4 – 5 Hoa có thể ra quanh năm, mùa hoa chính vào tháng 6 – 7 ở bán đảo Maylaysia, vào tháng giêng ở Sabah, vào tháng 10 –
11 ở Đài Loan và vào tháng 9 ở Thái Lan (Pinyopusarerk và cộng sự, 1990)[14] Quả thường chín sau khi ra hoa từ 6 – 7 tháng Hạt Keo tai tượng chất lượng tốt
có thể lấy từ cây 4 tuổi trở lên, do vỏ hạt cứng nên có thể bảo quản trong vài năm Mỗi kilogram hạt có khoảng 63.600 hạt
1.1.2 Đặc điểm phân bố của Keo tai tượng
Trang 8Hình 1.1 Vùng phân bố tự nhiên của Keo tai tượng
(nguồn: Viện nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp)
Ở Australia, Keo tai tượng phân bố tự nhiên trong vùng Queensland và giới hạn ở 2 vùng là khu vực Jardine đến Claudie River (từ 11o20’ đến 12o44’ vĩ
độ Nam) và vùng Ayton đến nam Ingham (từ 15o54’ đến 18o30’ vĩ độ Nam) Hầu hết đó là vùng nhiệt đới duyên hải thấp với độ cao dưới 800m so với mực nước biển Keo tai tượng còn phân bố kéo dài tới các tỉnh miền tây Papua New Guinea và tỉnh Irian Jaya thuộc Indonesia, nơi địa hình chủ yếu là núi non và được bao phủ bởi những cánh rừng mưa nhiệt đới cũng như có những khu vực đất ướt rất rộng bao quanh là điều kiện lý tưởng để Keo tai tượng phân bố và phát triển Vùng sinh thái của Keo tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùa khô ngắn (4 – 6 tháng), lượng mưa trung bình từ 1.446mm đến 2.970mm Nhiệt
Trang 9cấp, làm ván ghép thanh, bao bì,… Gỗ có nhiệt lượng khá cao 4800kcal/kg do
đó cũng có thể dùng để đốt than, làm củi đun rất tốt
Là loài cây mọc nhanh, tán lá dày, thường xanh nên còn được trồng làm cây bóng mát ở công viên, đường phố Hoa có thể dùng để nuôi ong, vỏ chứa ta nin dùng cho công nghệ thuộc da, lá cây có thể làm thức ăn cho gia súc
Rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm rất tốt, nên Keo tai tượng nói riêng và các loài keo nói chung, ngoài việc sử dụng để trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ, còn được trồng ở những nơi có đất khô cằn, bị thoái hoá để tận dụng khả năng cải tạo đất của chúng
Rừng keo tai tượng trồng 10 tuổi ở nơi đất trung bình có thể cho 12 đến 15m3/ha/năm, nơi đất tốt với xuất xứ phù hợp và trồng thâm canh có thể cho 18 đến 20, thậm chí đạt 25m3/ha/năm Tăng trưởng bình quân ở giai đoạn 10-13 tuổi đạt tới 24m3/ha/năm, ở Nam Phi rừng trồng bằng cây con từ hạt đạt 21,9m3/ha/năm và từ các dòng vô tính đạt 30m3/ha/năm
Trong những năm qua, nước ta đã và đang thực hiện chủ trương chuyển dần khai thác sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang khai thác sử dụng gỗ rừng trồng, đẩy mạnh công nghiệp chế biến, tăng giá trị sản phẩm lâm nghiệp Tuy nhiên, khả năng cung cấp của rừng hiện nay không thể đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, chất lượng gỗ không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, do đó hàng năm phải nhập khẩu một khối lượng gỗ rất lớn Theo báo cáo của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu lâm sản là 3,43 tỷ USD nhưng nhập khẩu là 2,067 tỷ USD; năm 2011 kim ngạch xuất khẩu lâm sản là 4,002 tỷ USD, nhập khẩu là 2,160 tỷ USD; năm 2012 kim ngạch xuất khẩu lâm sản là 4,614 tỷ USD, nhập khẩu là 2,616 tỷ USD; năm
2013 kim ngạch xuất khẩu lâm sản là 5,701 tỷ USD tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2012 Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ năm 2017 lần đầu tiên đạt gần 8 tỷ USD tăng khoảng 17% so với năm 2016 Tuy nhiên, nguyên liệu nhập khẩu gỗ chiếm vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn, tới 80% tổng nhu cầu chế biến xuất khẩu (Tổng cục lâm nghiệp, 2007)[10] Do đó, việc nghiên cứu tuyển chọn giống
Trang 10cũng như các biện pháp kỹ thuật cho trồng rừng cung cấp gỗ lớn có chất lượng tốt để sản xuất đồ gỗ là một nhiệm vụ bức thiết hiện nay của ngành Lâm nghiệp nhằm gia tăng giá trị rừng trồng góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế
Nếu kết hợp kinh doanh gỗ xẻ sau 15-18 năm khai thác gỗ dùng để đóng
đồ mộc cao cấp nhất là cho xuất khẩu thì càng có giá trị cao, cũng vì vậy mà những năm gần đây nhiều nơi đã rất chú trọng trồng Keo tai tượng nhất là ở các tỉnh phía Bắc như Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh,…
1.2 Nghiên cứu về chọn giống Keo tai tượng
1.2.1 Trên thế giới
Các dự án nghiên cứu của CSIRO vào những năm 1980 tại các nước Đông Á, Đông Nam Á, Australia và Fiji đã cơ bản xác định được các xuất xứ có triển vọng cho các nước tham gia, ví dụ như các xuất xứ PNG được đánh giá là phù hợp với lập địa của Trung Quốc, Đài Loan (Harwood and William, 1992)[11]
Cho đến nay đã có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo được khảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130ha, Keo tai tượng là một trong ba loài keo đã được khảo nghiệm giống và đưa vào trồng rừng trên diện rộng nhằm cung cấp gỗ Dựa vào khả năng sinh trưởng và hình dạng thân cây các nhà chọn giống Trung Quốc đã xác định được các xuất xứ có triển vọng của Keo tai tượng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), Oriomo (PNG) Trung Quốc đã xây dựng được 40ha rừng giống, vườn giống thế hệ 1 và 1,5 Theo ước tính, các rừng giống và vườn giống này có thể cung cấp khoảng 1.000kg hạt giống/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [6]
Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philippin từ những năm
1980 Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suất của rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32m3/ha/năm ở Tal ogon Bốn xuất xứ tốt nhất là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld)
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng ở giai đoạn 6,1 tuổi tại Malaysia cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng là Western Province (PNG) với D1.3
là 19,1cm; Claudie River (Qld) và Olive River (PNG) với D1.3 tương ứng là
Trang 1119,1cm và 18,7cm Còn ở khảo nghiệm xuất xứ 5,7 tuổi đã xác định được 3 xuất
xứ tốt nhất là Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld) (Khamis bin Selamat, 1991)[12] Song song với công tác cải thiện giống, các biện pháp kĩ thuật lâm sinh cũng được thử nghiệm nhằm chuyển hóa rừng trồng cung cấp nguyên liệu dăm và bột giấy có giá trị kinh tế thấp thành rừng trồng cung cấp gỗ xẻ với việc cắt tỉa cành và tỉa thưa, mục đích là tạo ra chiều cao dưới cành lớn (Hdc> 9m)
Khảo nghiệm giống tại một số nước nhiệt đới cho thấy, tăng trưởng của các giống Keo tai tượng biến động rất khác nhau, từ 20 – 44m3/ha/năm phụ thuộc vào giống, lập địa và biện pháp kỹ thuật lâm sinh (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [6] Keo tai tượng sinh trưởng nhanh hơn ở những nước gần xích đạo và chậm hơn ở các nước ở xa xích đạo Để có được các giống tốt như vậy, công tác cải thiện giống Keo tai tượng đã được chú trọng từ rất sớm và ở nhiều nước Các khảo nghiệm xuất xứ và quần thể chọn giống đã được xây dựng ở nhiều quốc gia Giai đoạn 1990 – 2000, các nghiên cứu cải thiện giống thường tập trung vào việc tìm ra những xuất xứ hay những dòng vô tính có năng suất cao Các khảo nghiệm xuất xứ ở một số nước đã cho thấy biến dị về sinh trưởng, độ thẳng thân
và một số tính chất về cành lá là rất lớn, đặc biệt là sự khác biệt về 3 vùng phân
bố tự nhiên của Keo tai tượng, cũng như sự khác nhau rõ rệt giữa các xuất xứ của cùng một vùng địa lý Các xuất xứ có nguồn gốc từ PNG có sinh trưởng nhanh hơn so với các xuất xứ có nguồn gốc từ Qld và NT Ở Malaysia, 5 xuất
xứ có triển vọng được xác định là Western Province (PNG), Claudie River (Qld), Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld) (Khamis bin Selamat, 1991)[12]
Giai đoạn 2000 – 2010, các nghiên cứu biến dị di truyền ở mức độ gia đình mới bắt đầu được chú trọng, nhằm cải thiện các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và tỷ trọng gỗ Các kết quả đã chỉ ra rằng biến dị di truyền về sinh trưởng và chất lượng thân cây của Keo tai tượng biến động từ thấp đến trung bình, trong khi biến dị di truyền là trung bình cho tỷ trọng gỗ Nhìn chung, tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chất lượng thân cây là tương quan
Trang 12thuận tức là cải thiện sinh trưởng cũng đồng thời cải thiện chất lượng thân cây Tăng thu di truyền thực tế của lô hạt thu từ vườn giống thế hệ 2 tại Indonesia đạt 3,1% - 5,2% về sinh trưởng và độ thẳng thân Tổng hợp 3 tính trạng này là tiền đề
sử dụng để chọn lọc gia đình Tương tác kiểu gen – hoàn cảnh cũng đã xác định là
có ý nghĩa giữa Sumatra và Kalimantan, Indonesia nhưng tương tác này phụ thuộc vào tuổi và tính trạng nghiên cứu
Sử dụng các chỉ thị phân tử vi vệ tinh (microsatellite) và chỉ thị đa hình các đoạn cắt giới hạn giải thích lý do của hiện tượng sản xuất hạt giống có chất lượng thấp tại vườn giống Keo tai tượng ở Subanjeriji cũng đã được nghiên cứu Các tác giả phát hiện: Các xuất xứ PNG với các quần thể lớn và phân bố rộng có tính đa dạng di truyền cao và hoàn toàn thụ phấn chéo, trong khi đó các xuất xứ phân bố nhỏ và rải rác thuộc vùng Queensland lại có tính đa dạng di truyền và tỷ
lệ thụ phấn chéo thấp; Tỷ lệ thụ phấn chéo có ảnh hưởng lớn tới chất lượng rừng trồng Bản đồ liên kết gen của 219 chỉ thị RFLP và 33 chỉ thị SSR trong 13 nhóm liên kết khác nhau cũng đã được xây dựng cho Keo tai tượng
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Khảo nghiệm xuất xứ
Công tác chọn giống Keo tai tượng đã được tiến hành từ đầu những năm
1980 nhiều loài keo đã được nhập nội vào Việt Nam cho các khảo nghiệm loài, xuất xứ và trồng thử Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ chức quốc tế tài trợ, trong đó quan trọng nhất là các dự án UNDP, FAO, PAM, SIDA, SAREC,
Khảo nghiệm ở Đá Chông - Ba Vì - Hà Tây năm 1982 với 4 xuất xứ của 4
loài Keo là Keo tai tượng (A mangium), xuất xứ: Daintree; Keo lá tràm (A auricuformis), xuất xứ Darwin; Keo lá liềm (A crassicarpa), xuất xứ Daintree; Keo đa thân (A
aulacocarpa), xuất xứ Atherton Số liệu sinh trưởng ở tuổi 8 cho thấy Keo tai
tượng đứng đầu bảng cả về chiều cao lẫn đường kính, cũng là loài có số thân trên cây ít nhất (92% cây có 1 thân) Tiếp đến là khảo nghiệm năm 1990, bao gồm 39 xuất xứ của 5 loài keo, trong đó có 9 xuất xứ của Keo tai tượng Kết quả
về sinh trưởng sau 4,5 năm cho thấy các xuất xứ Pongaki, Iron Range Ingham và
Trang 13Gubam của Keo tai tượng có sinh trưởng tốt nhất Trong các năm 1982, 1984 và
1986 một số xuất xứ Keo tai tượng đã được khảo nghiệm tại Hà Tây, Thái Nguyên và Vĩnh Phúc Kết quả cho thấy Keo tai tượng sinh trưởng tốt tại 2 địa điểm là Đá Chông (Hà Tây) và Hóa Thượng (Thái Nguyên) Kết quả khảo nghiệm cho thấy biến dị về sinh trưởng khác nhau rất lớn giữa các xuất xứ, sau 8 năm trồng tăng trưởng của xuất xứ Daintree vẫn đạt 2,37cm/năm về đường kính
và 1,93m/năm về chiều cao Trong khi chỉ sau 5 năm khảo nghiệm xuất xứ Dendros seed chỉ đạt tăng trưởng bình quân 1,18cm/năm về đường kính
và 0,99m/năm về chiều cao (Lê Đình Khả, 1996, 2003) [2], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [6]
Năm 1988 một số xuất xứ Keo tai tượng được tiếp tục khảo nghiệm tại Đại Lải, Vĩnh Phúc, kết quả cho thấy sinh trưởng của các xuất xứ khác nhau sau
3 năm thí nghiệm (Lê Đình Khả, 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[3] [6] Kết quả khảo nghiệm cho thấy, trong điều kiện lập địa tại Đại Lải, các xuất xứ có triển vọng là Hawkins Cresk, Kuranda và Kennedy
Năm 1990, 9 xuất xứ của Keo tai tượng cũng đã được khảo nghiệm tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây Sau 54 tháng thí nghiệm, đã tìm ra được một số xuất xứ
có triển vọng là Pongaki và Gubam (có nguồn gốc từ Papua New Guinea), Ingham và Iron Range có nguồn gốc từ Australia (Lê Đình Khả, 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[3] [6] Ngoài ra Keo tai tượng được đưa vào trồng thử nghiệm tại các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc… qua thử nghiệm chúng
đã chứng tỏ sức sống cao và sinh trưởng khá nhanh Khảo nghiệm năm 1990 tại Hàm Yên – Tuyên Quang, Phong Châu – Phú Thọ và Tam Đảo – Vĩnh Phúc cho thấy Keo lá liềm sinh trưởng tốt nhất ở Hàm Yên với năng suất đạt 17,7m3/ha/năm, tiếp đến là Keo tai tượng đạt khoảng 12m3/ha/năm Năm 2000
đã được công nhận 3 xuất xứ Pongaki, Iron Range và Cardwell là giống tiến bộ
kĩ thuật Trong báo cáo xin công nhận giống tiến bộ kĩ thuật cho một số xuất xứ Keo tai tượng của Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh tháng 4 năm 2005 cho thấy ở địa điểm khảo nghiệm Hàm Yên – Tuyên Quang xuất xứ sinh trưởng
có triển vọng là Cardwell SW Cairns, Herbert River Valley thuộc vùng giữa
Trang 14Queenland; Iron Range thuộc vùng cực Bắc Queensland Địa điểm Phú Thọ các xuất xứ có triển vọng là Shelburne, Iron Range thuộc vùng cực Bắc Queenland; xuất xứ Dimisisi, Gubam, Pongaki; Cardwell, Herbert River Valley thuộc vùng giữa Queenland; Địa điểm Vĩnh Phúc xuất xứ có triển vọng là Rex - Cassowary, Herbert River Valley
Bên cạnh đó việc nghiên cứu khảo nghiệm loài và xuất xứ cũng được thực hiện ở phía Nam, năm 1989 và 1990 Trên cơ sở hợp tác giữa Trung tâm giống
và Trung tâm Khoa học kỹ thuật La Ngà, một bộ giống gồm 8 xuất xứ Keo tai tượng đã được đưa vào thử nghiệm tại La Ngà, Đồng Nai, nơi mà lượng mưa bình quân năm dưới 2000mm, nhiệt độ bình quân năm khoảng 25oC Đất feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét, đá ong và có kết von tầng mặt, tầng đất dày, dễ thoát nước, đất nghèo đạm, lân (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003; Lê Đình Khả, 2003) [3] [6] Kết quả sau 20 tháng thí nghiệm các xuất xứ được đánh giá là
có triển vọng là Hawkins Creek, Bronte, Kennedy và Cardwell Tăng trưởng của các xuất xứ tốt đạt 3,85 m/năm về chiều cao và 4,5cm/năm về đường kính là kết quả rất có triển vọng cho rừng trồng Xuất xứ đứng đầu về sinh trưởng là Hawkins Creek Tuy nhiên, kết quả này chưa được phân tích thống kê xem sự sai khác về sinh trưởng đã đạt mức có ý nghĩa hay chưa
Tuy nhiên các bộ giống tham gia khảo nghiệm chưa thật đồng bộ, song sau 10 năm khảo nghiệm đã có thể thấy xuất xứ có sinh trưởng tốt nhất ở cả Bầu Bàng và Sông Mây là Deri – Deri (PNG), ở Bầu Bàng xuất xứ sinh trưởng nhanh còn có Harbert Valley (Qld), Carwell (Qld) và Tully region (Qld) và Pascore R (Qld) (Lê Đình Khả, 2003) [3] Một khảo nghiệm khác cho Keo tai tượng ở Bầu Bàng được đánh giá ở giai đoạn 7 tuổi cho thấy các xuất xứ sinh trưởng tốt là Kennedy River (Qld) và Cardwell (Qld) với thể tích thân cây tương ứng là 66,9dm3
/cây và 52,1dm3/cây Trong khi các xuất xứ Mossman (Qld) và Ingham (Qld) có thể tích thân cây 34 – 35dm3/cây Còn giống địa phương Đồng Nai của Keo tai tượng có thể tích thân cây là 21dm3/cây (Nguyễn Hoàng Nghĩa,
Lê Đình Khả, 2000)[7]
Trang 15Năm 1990, một khảo nghiệm với 15 xuất xứ Keo tai tượng cũng đã được thực hiện tại La Ngà, Đồng Nai Kết quả khảo nghiệm cho thấy các xuất xứ có triển vọng là Cardwell, Mossman Rgion và Bloomfield-Ayton (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[6]
Năm 1988, 11 xuất xứ của Keo tai tượng đã được khảo nghiệm tại Bầu Bàng, Bình Phước, nơi có độ cao sao với mặt nước biển khoảng 50m, vị trí địa lý: vĩ độ 11o15’ Bắc, kinh độ 106o38’ Đông Lượng mưa bình quân năm 2.175mm, Nhiệt độ bình quân năm khoảng 26,5oC Đất cát pha được hình thành trên tàn tích phù sa cổ, có phèn tiềm tàng tích tụ ở tầng sét dưới sâu, dễ nổi lên tầng mặt Kết quả khảo nghiệm cho thấy, các xuất xứ có triển vọng tại đây là Kennedy, Cardwell, Kuranda, Bronte, Hawkins creek (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[6]
Năm 1993, Khảo nghiệm ở Tà Pạ - Tri Tôn và Núi Cấm - Tịnh Biên - An Giang, một số loài keo vùng thấp và keo chịu hạn đã được trồng thử nghiệm Kết quả sau 8 năm trồng cho thấy hai xuất xứ Bamidebun của Keo lá liềm và Derideri của Keo tai tượng có sinh trưởng khá ở An Giang Kết quả này cũng rất phù hợp với kết quả mà Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thu được trong nhiều khảo nghiệm trên cả nước
Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của 39 xuất xứ thuộc 5 loài keo vùng thấp, trong đó có 9 xuất xứ Keo tai tượng, ở giai đoạn 17 tuổi tại Đá Chông (Hà Nội) cho thấy tỷ lệ mục ruột của Keo tai tượng 50,8 – 96,6%, trong đó Piru Ceram là xuất xứ có thể mục ruột thấp nhất (50,8%) và có tỷ lệ cây hoàn toàn không mục ruột cao nhất (49,2%), song lại có sinh trưởng kém nhất Tỷ lệ cây hoàn toàn không mục ruột ở Keo tai tượng là 3,4% (xuất xứ Townsville) đến 49,2% (xuất
xứ Piru Ceram) Pongaki là xuất xứ có sinh trưởng nhanh nhất và có tỷ lệ cây hoàn toàn không mục ruột 45,6%
1.2.2.2 Chọn lọc cây trội, khảo nghiệm hậu thế và khảo nghiệm dòng vô tính
Năm 1993, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành khảo nghiệm hậu thế của 10 cây trội Keo tai tượng ở Cẩm Quỳ Hà - Tây Quần thể gốc để chọn lọc cây trội là 10 ha rừng Keo tai tượng 6 tuổi được trồng năm
1986, 10 cây trội đã được chọn lọc đều có sinh trưởng nhanh hơn quần thể gốc,
Trang 16dáng thân đẹp, tròn đều, không sâu bệnh, đã được đưa vào khảo nghiệm Kết quả ban đầu về khảo nghiệm hậu thế 30 tháng tuổi cho thấy cây mẹ có ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng chiều cao và đường kính của các cây con Hậu thế của các cây mẹ khác nhau có sinh trưởng khác biệt nhau Kết quả khảo nghiệm này đã chọn được 5 cây mẹ cho hậu thế sinh trưởng tốt
Kế thừa các kết quả nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ, năm 1996 - 1997 trong khuôn khổ dự án FORTIP về cải thiện giống cây rừng, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và sản phẩm rừng của CSIRO xây dựng được 2 khảo nghiệm hậu thế kết hợp làm vườn giống hữu tính thế hệ 1 tại Ba Vì, Hà Nội (3 ha với 84 gia đình thuộc 7 xuất xứ) và Chơn Thành, Bình Phước (3 ha với 140 gia đình thuộc 7 xuất xứ) (Hà Huy Thịnh và cs, 2005)[8] Các gia đình cây trội này đều thuộc các xuất xứ tốt đã qua khảo nghiệm ở Việt Nam và các nước trong khu vực Đây là nền tảng ban đầu rất quan trọng cho công tác nghiên cứu cải thiện giống Keo tai tượng ở nước
ta trong những năm sau này
Trên cơ sở nền tảng ban đầu này, các nghiên cứu chuyên sâu về chọn lọc gia đình và cây trội, xây dựng khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm dòng vô tính, khảo nghiệm tăng thu di truyền cũng như xây dựng các rừng giống, vườn giống
đã được tiến hành Cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1999 - 2000: đã chọn lọc hơn 300 cây trội từ các gia đình có sinh trưởng tốt và hình dạng thân đẹp từ các khảo nghiệm hậu thế tại Ba Vì và Chơn Thành cũng như các rừng giống tại Ba Vì và Đông Hà Chọn lọc cây trội ở giai đoạn này chú ý nhiều về sinh trưởng chứ chưa kết hợp với tính chất gỗ Các cây trội sau khi được chọn lọc đã được dẫn dòng bằng giâm hom, chiết cành và ghép đồng thời tiến hành thu hái hạt giống
- Giai đoạn 2000 - 2005: Từ các nguồn vật liệu giống thu thập được năm
2001 - 2003 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã xây dựng được 8 ha khảo nghiệm dòng vô tính kết hợp làm vườn giống vô tính tại Bầu Bàng (Bình Dương), Đồng Hới (Quảng Bình) và Cầu Hai (Phú Thọ) Kết quả đánh giá bước đầu cho thấy mặc dù đều được chọn lọc từ các gia đình sinh trưởng tốt nhưng
Trang 17các dòng vô tính vẫn có sự phân hóa rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2005)[8] Năm 2002, vườn giống hữu tính tại Ba Vì
đã được tỉa thưa di truyền để cung cấp hạt giống có chất lượng di truyền cao cho trồng rừng Năm 2002 - 2005, một số khảo nghiệm tăng thu di truyền đã được xây dựng tại Ba Vì (Hà Nội), Đông Hà (Quảng Trị), Lương Sơn (Hòa Bình) sử dụng hạt giống thu từ các cây trội chọn lọc trong vườn giống, hạt từ các xuất xứ nguyên sản và hạt giống đại trà, kết quả đánh giá ở giai đoạn 3 - 5 tuổi cho thấy các lô hạt cây trội có sinh trưởng vượt trội so với các xuất xứ nguyên sản và lô hạt đại trà (Hà Huy Thịnh và cs, 2005)[8]
Trong giai đoạn 2006 - 2010 nhiều khảo nghiệm hậu thế thế hệ hai cũng
đã được xây dựng tại Sơn Dương (Tuyên Quang), Ba Vì (Hà Nội), Đồng Hợp (Nghệ An) và Bình Dương Năm 2008, một khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại (Ba Vì – Hà Nội) được xây dựng với 3 ha từ 112 gia đình Keo tai tượng Nguồn vật liệu để xây dựng vườn giống thế hệ 2 là hạt của các cây trội được chọn từ 24 gia đình trong vườn giống thế hệ 1 tạ Ba Vì (Hà Tây cũ), 71 gia đình trong vườn giống thế hệ 1,5 tại Bầu Bàng (Bình Dương) và 17 lô hạt từ nơi nguyên sản Kết quả đánh giá bước đầu cho thấy mặc dù đều được chọn lọc từ các gia đình sinh trưởng tốt nhưng các dòng vô tính vẫn có sự phân hóa rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây (Hà Huy Thịnh và cs, 2010)[10] Cũng tại năm này tại Sơn Dương – Tuyên Quang, từ các lô hạt của những cá thể tốt trong những gia đình tốt nhất được chọn lọc từ vườn giống thế hệ 1 xây dựng trong giai đoạn 1996 –
1997 tại Việt Nam và từ vườn giống (CSO) Bầu Bàng, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã xây dựng được 2 ha khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 với 70 gia đình Keo tai tượng Đối với khảo nghiệm này sự phân hóa thể hiện chưa thực sự
Trang 18Năm 2011 – 2015 tiếp tục tạo ra tổ hợp lai đôi và lai ba qua khảo nghiệm
đã chọn được 6 dòng keo lai nhân tạo đầu tiên được tiến hành nhân giống vô
tính và được khảo nghiệm trên một số vùng sinh thái trên cả nước
1.3 Một số nhận định
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, Keo tai tượng đóng vai trò tương đối lớn trong trồng rừng ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác Chính vì thế, các nghiên cứu về Keo tai tượng đã được công
bố rất nhiều liên quan đến tất cả các khía cạnh từ nghiên cứu cơ bản về loài, chọn và cải thiện giống đến các kĩ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng gỗ Keo tai tượng Các kết quả nổi bật ở Việt Nam có thể nhấn mạnh lại là các nghiên cứu về khảo nghiệm giống từ đó đã công nhận được một số giống Keo tai tượng
là giống tiến bộ kĩ thuật, trong đó có 01 giống kháng bệnh M5
Những nghiên cứu về Keo tai tượng tương đối phong phú và đa dạng Tuy nhiên, công tác cải thiện giống cho loài cây này còn chưa nhiều Các nghiên cứu
về giống Keo tai tượng trong thời gian qua mới chỉ tập trung vào sinh trưởng và chất lượng thân, và ở mức độ thấp (biến dị xuất xứ) Chính vì vậy nghiên cứu này sẽ đánh giá đặc điểm biến dị và các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây của Keo tai tượng ở mức độ gia đình, dòng vô tính góp phần nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng Keo tai tượng ở Việt Nam Đây cũng chính là cơ sở
lý luận và thực tiễn để xác định mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm biến dị các gia đình keo Tai tượng (Acacia mangium
Wild) trong vườn giống thế hệ hai tại Ba Vì - Hà Nội)”
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Khu vực Cẩm Quỳ thuộc xã Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội, có tọa độ địa lý từ
2100’0” đến 2100’7” độ vĩ Bắc, 10500’0” đến 10500’25” độ kinh Đông, độ cao trung bình 25m
+ Phía Bắc giáp thôn Bằng Tạ, xã Cẩm Lĩnh
+ Phía Nam giáp thôn 2 và thôn 5 xã Ba Trại
+ Phía Tây giáp thôn Bằng Y, xã Sơn Đà
+ Phía Đông giáp thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh
2.2 Địa hình
Cẩm Quỳ là vùng bán sơn địa có những đồi bát úp liên tục không bị chia cắt và tương đối đồng nhất Độ cao bình quân khoảng 40m, đồi cao nhất có độ cao là 62m, đồi thấp nhất có độ cao 20m Độ dốc bình quân 8 – 100
Bảng 2.1 Đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu
Đạm (%)
Chất dễ tiêu (ppm)
Cation trao đổi (me/100g)
Chua thủy phân (me/100g)
Thành phần cơ giới
0.02-0.002 <0.002
0-10 3,5 3,70 0,162 2,22 7,24 2,26 1,03 19,61 30,1 41,1 28,8 11-30 3,5 2,62 0,142 1,65 6,11 1,03 0,61 14,14 32,3 34,9 32,9 31-50 3,6 1,59 0,129 1,42 5,43 0,62 0,64 11,84 36,5 30,7 32,8
(Nguồn: Mai Trung Kiên, 2014)[5]
Số liệu ở bảng 2.1 cho thấy đất đai tại Ba Vì, Hà Nội có độ phì kém, có độ chua tương đối lớn (pHKCL = 3,5 – 3,6), tầng đất mỏng (<50cm) Ngoài ra đất
ở Ba Vì còn bị đá ong hóa, nghèo dinh dưỡng và có hàm lượng cation nhôm trao đổi khá cao, đất chứa nhiều đá lẫn
Trang 202.4 Khí hậu thủy văn
Số liệu diễn biến khí hậu của khu vực nghiên cứu được thu thập tại trạm theo dõi khí tượng thủy văn của Trung tâm thực nghiệm và chuyển giao giống cây rừng, được thể hiện tại bảng 2.2
Bảng 2.2 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu
Tổng lượng
mưa
Tháng mưa
>100
mm
Lượng bốc hơi (mm)
Nhiệt độ ( o C)
TB năm
TB ngày cao nhất của tháng nóng nhất
TB ngày thấp nhất của tháng lạnh nhất
Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng Đông Bắc Bộ, miền Bắc Việt Nam: Khí hậu nhiệt đới gió mùa có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, đặc trưng mùa đông khô, rét và mùa xuân có mưa phùn.Nhiệt độ cao nhất là 37,70
C, nhiệt độ thấp nhất 13,10C Lượng mưa bình quân cả năm là 1680mm, mưa thường tập trung vào tháng 6,7, 8, lượng bốc hơi bình quân hàng năm 959mm
Trang 21CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được các đặc điểm biến dị về sinh trưởng và chất lượng của các gia đình Keo tai tượng trong vườn giống thế hệ 2 tại Ba Vì – Hà Nội
- Đề xuất được các phương pháp tỉa thưa vườn giống
- Bước đầu chọn lọc được các gia đình Keo tai tượng có triển vọng trong vườn giống
- Bước đầu chọn lọc được các cây trội trong vườn giống
3.2 Nội dung nghiên cứu
- N g c ứu đặc điểm b i ến dị của vườn giống thế hệ 2 K eo tai tượng tại B a V ì
+ Biến dị về tỷ lệ sống và sinh trưởng giữa các gia đình
+ Biến dị về các chỉ tiêu chất lượng thân cây giữa các gia đình
- Đề xuất biện pháp tỉa thưa vườn giống thế hệ 2
- Chọn lọc cây trội Keo tai tượng
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu của đề tài là 90 gia đình Keo tai tượng tại vườn giống thế hệ 2 tại Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội
Khảo nghiệm được xây dựng năm 2014, được thiết kế bằng phần mềm Cycdesign 2.0 theo hàng - cột với sự tham gia của 90 gia đình, 8 lần lặp, 3 cây/ô trồng thành một hàng Khoảng cách trồng: 3x2m, mật độ 1.660cây/ha Sau khi trồng một tháng tiến hàng chăm sóc, vun gốc và trồng dặm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên: khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, tài nguyên rừng, đất và các bản đồ chuyên dùng…, các tài liệu liên quan về lịch sử trồng rừng trong khu vực nghiên cứu
- Kế thừa và sử dụng hiện trường bố trí thí nghiệm của Viện nghiên cứu giống và công nghệ sinh học Lâm nghiệp
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 223.4.2.1 Điều tra ngoài thực địa
Điều tra sơ thám toàn bộ địa hình nghiên cứu của khu vực cần điều tra để nắm bắt được những đặc điểm cơ bản đối tượng nghiên cứu như: địa hình, tình hình sinh trưởng chung của rừng
3.4.2.2 Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng
Điều tra tất cả các cây trong các ô của khu khảo nghiệm theo kỹ thuật đo được trình bày trong giáo trình Điều tra rừng (Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Dao, 1997) [1] và giáo trình Giống cây rừng (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4] , trong đó:
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): đo bằng thước đo cao (đơn vị: m)
- Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m so với mặt đất (D1,3): đo bằng thước kẹp kính (đơn vị: cm)
3.4.2.3 Điều tra các chỉ tiêu chất lượng thân cây
Điều tra tất cả các cây trong khảo nghiệm, cụ thể như sau:
a) Độ thẳng thân (Dtt): được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp, từ
1 – 5 điểm (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003) [4]:
+ Cây rất cong 1 điểm
b) Độ nhỏ cành (Dnc): Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp, từ
1 – 5 điểm (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003)[4] :
+ 5 điểm - cành rất nhỏ: đường kính gốc cành <1/10 đường kính thân chính
+ 4 điểm - cành nhỏ: đường kính gốc cành từ 1/9 - 1/7 đường kính thân chính
+ 3 điểm-cành trung bình: đường kính gốc cành từ 1/6-1/5 đường kính thân chính
Trang 23+ 2 điểm - cành lớn: đường kính gốc cành từ 1/4 - 1/3 đường kính thân chính
+ 1 điểm - cành rất lớn: đường kính gốc cành >1/3 đường kính thân chính
c) Độ duy trì trục thân (Dttt): Được thực hiện theo phương pháp của
Luangviriyasaeng và Pinyopusarerk (2002)[13] Mức độ duy trì trục thân được xác định bằng mục trắc với những cành có độ lớn bằng ≥ 1/3 trục thân và cho điểm theo 6 cấp, từ 1 – 6 điểm :
+ Cấp 1: chia cành, nhánh ngay sát gốc của trục thân chính 1 điểm
+ Cấp 2: chia cành, nhánh tại vị trí 1 /4 thân chính 2 điểm
+ Cấp 3: chia cành, nhánh tại vị trí 1 /2 thân chính 3 điểm
+ Cấp 4: chia cành, nhánh tại vị trí 3 /4 thân chính 4 điểm
+ Cấp 5: chia cành, nhánh tại vị trí gần ngọn 5 điểm
+ Cấp 6: không phân nhánh hoặc phân nhánh nhỏ gần ngọn 6 điểm
d) Sức khoẻ : Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp, từ 1 – 5
điểm (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003)[4]:
+ Cây rất kém phát triển: ngọn bị khô, teo hoặc mất ngọn chính,tán rất thưa,lá vàng úa : 5 điểm
+ Cây kém phát triển: ngọn chính cong queo, thiếu sức sống, tán lá thưa, lá xanh nhạt : 4 điểm
+ Cây phát triển trung bình: ngọn phát triển bình thường, tán lá vừa phải : 3 điểm + Cây phát triển khá: ngọn chính phát triển khá, tán lá cân đối, lá xanh : 2 điểm + Cây rất phát triển: ngọn chính rất phát triển, cây khỏe mạnh có sức sống tán lá cân đối, lá xanh thẫm : 1 điểm
Trang 24- Hvn là chiều cao vút ngọn
- f là hình số (giả định là 0,5)
b) Đánh giá chỉ số chất lượng tổng hợp (Icl) theo Lê Đình Khả (1996)[2] đƣợc
đánh giá theo công thức:
d) Kiểm tra sai dị
- So sánh tỉ lệ sống của các gia đình Keo tai tượng tại khu vực bằng tiêu chuẩn
- So sánh sai dị giữa các trung bình mẫu của các gia đinh Keo tại tượng bằng tiêu chuẩn Fisher (tiêu chuẩn F)
Số liệu đƣợc sử lý bằng phần mềm SPSS (16.0), kết quả kiểm tra sai dị