1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng mô hình dịch vụ logistics trong hoạt động giao nhận than tại công ty kho vận hòn gai vinacomin

116 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng mô hình dịch vụ logistics trong hoạt động giao nhận than tại công ty Kho vận Hòn Gai - Vinacomin" là Công trình ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN THAN TẠI

CÔNG TY KHO VẬN HÒN GAI - VINACOMIN”

Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp

Mã số: 60.31.09

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Thị Bích Ngọc

Hà Nội - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng mô hình

dịch vụ logistics trong hoạt động giao nhận than tại công ty Kho vận Hòn Gai - Vinacomin" là Công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả

nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Hà nội ngày 26 tháng 09 năm 2012

Tác giả

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

Trang 3

vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than 4

1.1 Cơ sở lý luận về logistics 4 1.2 Thực tiễn và xu thế phát triển hoạt động Logistics trên thế giới và ở Việt Nam21 1.3 Dịch vụ giao nhận hàng hóa nói chung và giao nhận than nói riêng 28 1.4 Mô hình dịch vụ Logistics với hoạt động giao nhận 32 1.5 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về Logistics 34

Chương 2: Thực trạng hoạt động giao nhận than và tính khả thi của việc ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than tại Công ty Kho vận Hòn Gai – Vinacomin 36

2.1 Giới thiệu về công ty Kho vận Hòn Gai 36 2.2 Giới thiệu về hoạt động giao nhận than tại Vinacomin và công ty Kho vận Hòn Gai 40 2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giao nhận than 53 2.4 Đánh giá thực trạng hoạt động giao nhận than tại công ty Kho vận Hòn Gai 56 2.5 Tính khả thi của việc áp dụng mô hình dịch vụ Logistics của Công ty Kho vận Hòn Gai 66

Chương 3: Định hướng và giải pháp ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than tại Công ty Kho vận Hòn Gai 68

Trang 4

3.1 Định hướng ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận

than 68

3.2 Ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than 69

3.3 Giải pháp ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than 76

Kết luận và kiến nghị 103

Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả 105

Tài liệu tham khảo 106

Phụ lục 107

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

trang

Bảng 2.1: Ngành nghề kinh doanh của công ty 37 Bảng 2.2: Thống kê máy móc thiết bị phục vụ tiêu thụ của công ty 57 Bảng 2.3: Bảng thống kê máy móc thiết bị của cụm cảng Nam Cầu Trắng 58 Bảng 2.4: Bảng phân tích số lượng và chất lượng lao động của bộ phận sản xuất 60 Bảng 2.5: Bảng kết quả giao nhận than của công ty Kho vận Hòn Gai 63 Bảng 2.6: Tình hình tồn kho của công ty Kho vận Hòn Gai 64 Bảng 2.7: Tình hình hao hụt than theo các nguyên nhân 65 Bảng 3.1: Bảng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động logistics của công ty Kho vận Hòn Gai 99

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

trang

Hình 1.1: Lịch sử phát triển logistics từ năm 1950 đến nay 7

Hình 1.2 Các bộ phận cơ bản của Logistics 9

Hình 1.3 Mối quan hệ giữa logistics và quản trị chuỗi cung ứng 13

Hình 1 4: Mô hình nhà cung cấp quản lý hàng tồn kho (VMI) 33

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Cty kho vận Hòn Gai – Vinacomin 39

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý sản xuất 46

Hình 2.3: Các dạng giao nhận than 52

Hình 3.1: Mô hình VMI giữa công ty kho vận Hòn Gai và các doanh nghiệp khai thác trên địa bàn được giao 70

Hình 3.2: Mô hình VMI giữa công ty kho vận Hòn Gai và các hộ tiêu thụ 73

Hình 3.3: Sơ đồ tổ chức phòng điều hành tiêu thụ (hiện nay) 83

Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức phòng điều hành tiêu thụ (sau khi thay đổi) 84

Hình 3.5: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý (thay đổi) 86

Hình 3.6 Mô hình đánh giá chuỗi cung ứng của doanh nghiệp A 93

Hình 3.7 Mô hình đánh giá chuỗi cung ứng của doanh nghiệp B 93

Hình 3.8: Các chỉ tiêu đánh giá trong bảng điểm cân bằng 95

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Trong chuỗi dõy chuyền cung ứng của doanh nghiệp núi chung, hoạt động giao nhận là một mắt xớch quan trọng và khụng thể thiếu Đặc biệt, là với cỏc doanh nghiệp cú chức năng, nhiệm vụ là giao nhận hàng húa như cỏc cụng ty Kho vận Hoạt động giao nhận ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đỳng hạn cỏc hợp đồng của doanh nghiệp và ảnh hưởng một cỏch giỏn tiếp đến hoạt động kho bói, chi phớ sản xuất và tiờu thụ của doanh nghiệp Do đú, nếu hoạt động giao nhận được thực hiện một cỏch khoa học và hợp lý thỡ sẽ giỳp doanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh hiệu quả với chi phớ sản xuất thấp và đỳng thời gian và ngược lại Một giải phỏp khỏ mới mẻ và hiệu quả hiện nay tại Việt Nam đú chớnh là dịch vụ Logistics Việc vận dụng mụ hỡnh dịch vụ logistics sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nối dài hơn nữa chuỗi giỏ trị của mỡnh để cú thể hoạt động và phỏt triển một cỏch bền vững, nõng cao đời sống cụng nhõn viờn trong cụng ty

Tuy nhiờn, khả năng ỏp dụng mụ hỡnh dịch vụ logistics tựy thuộc vào đặc thự riờng của mỗi doanh nghiệp Ngành than Việt Nam cú những đặc thự riờng trong sản xuất, chế biến và tiờu thụ do cơ chế quản lý của Nhà nước Chớnh vỡ vậy mà hoạt động giao nhận than được coi như “độc quyền” và gõy khụng ớt lóng phớ cho cụng tỏc vận chuyển, lưu kho và bốc rút Hoạt động giao nhận theo cỏch làm từ trước tới nay cũn nặng tớnh kinh nghiệm và gõy tổn thất khụng nhỏ cho ngành than núi riờng và cho tài nguyờn của tổ quốc

Do đú, để làm hạn chế tỡnh trạng này và tăng hiệu quả hoạt động của cụng ty

Kho vận Hũn Gia, tỏc giả lựa chọn đề tài: “Nghiờn cứu ứng dụng mụ hỡnh dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than tại Cụng ty Kho vận Hũn Gai – Vinacomin” làm luận văn thạc sĩ của mỡnh

Nếu có hiệu quả, đây sẽ là tiền đề để Vinacomin áp dụng mở rộng trên cả tập

đoàn

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu lý luận về logistics và thực trạng hoạt động giao nhận than tại công ty Kho vận Hòn Gai từ đó xây dựng căn cứ khoa học cho những giải pháp áp dụng dịch vụ Logistics vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận than nói chung và công ty Kho vận Hòn Gai nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giao nhận than tại công ty Kho vận Hòn Gai – Vinacomin

Phạm vi nghiên cứu: Công ty Kho vận Hòn Gai - Vinacomin

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan nghiên cứu về Logistics và mô hình dịch vụ logistics trong hoạt

động giao nhận

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác giao nhận than tại Công ty Kho vận

Hòn Gai – Vinacomin

- Các giải pháp để ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics vào hoạt động giao

nhận than ở công ty Kho vận Hòn Gai

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả tiến hành khảo sát, thu thập các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của

đề tài, sau đó sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và mô hình hóa

để giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc hoàn thiện phương pháp luận về Logistics và dịch vụ Logistics

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả phân tích và giải pháp ứng dụng dịch vụ Logistics có ý nghĩa tham khảo đối với các doanh nghiệp Kho vận và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành than

7 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan lý luận về Logistics và thực tiễn ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than

Chương 2: Thực trạng hoạt động giao nhận than và tính khả thi của việc ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than tại Công ty Kho vận Hòn Gai – Vinacomin

Chương 3: Định hướng và giải pháp ứng dụng mô hình dịch vụ Logistics trong hoạt động giao nhận than tại Công ty Kho vận Hòn Gai - Vinacomin

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Bích Ngọc, đồng thời tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, các nhà khoa học trong và ngoài trường Qua đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, các cô, các nhà khoa học trong và ngoài trường đã giúp đỡ tác giả hoàn thành bản luận văn này

Tác giả

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ THỰC TIỄN

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN THAN

1.1 Cơ sở lý luận về logistics

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động logistics

Trong kho tàng ngôn ngữ của thế giới, thuật ngữ Logistics mới chỉ được sử dụng trong vài thế kỷ gần đây, nhưng thực sự logistics đã đồng hành cùng loài người từ khi con người biết tích trữ lương thực, phân chia cái nào dùng ngay, cái nào để dành, biết vận chuyển, trao đổi những vật phẩm làm ra Có thể tổng hợp được những dấu mốc sau đây: [1]

Khoảng 2700 năm trước Công nguyên

Kỹ thuật vận chuyển và xử lý nguyên vật liệu trong quá trình xây dựng các kim

tự tháp Ai Cập – những khối đá nặng hàng tấn được vận chuyển từ xa đến và được lắp ghép ngay tại công trường Đặc biệt, trong quá trình xây dựng kim tự tháp Giza, cao 146 mét, nặng 6 triệu tấn, người Ai cập cổ đại chắc chắn phải có những giải pháp logistics và các công cụ kỹ thuật đặc biệt để vận chuyển hàng triệu khối đá lớn

và ghép chúng lại một cách hoàn hảo, với độ chính xác cao.\

Khoảng 300 năm trước Công nguyên

Người Hy Lạp cổ phát kiến ra tàu có mái chèo – công cụ quan trọng, đặt nền móng cho thương mại xuyên lục địa phát triển Tàu có mái chèo là giải pháp logistics, giúp việc vận chuyển vượt đại dương được thực hiện nhanh chóng, với khối lượng lớn và an toàn hơn

Khoảng năm 1200

Vào năm 1188, nghiệp đoàn Hanseatic, tổ chức liên kết các nhà vận tải biển đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Hamburg, Đức Sử dụng phối hợp các loại phương tiện vận tải khác nhau, đặc biệt tàu gắn hệ thống bánh răng có thể leo dốc,

[1]PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân,2009 Logistics những vấn đề cơ bản NXB Lao động

Trang 12

Hanseatic đã tổ chức vận chuyển hàng hóa trên địa bàn rộng lớn, từ Hắc Hải đến biển Bắc Sự liên kết đã giúp Hanseatic hoạt động ngày càng hiệu quả hơn

Khoảng năm 1500

Dịch vụ bưu chính với cam kết giao hàng đúng hạn lần đầu tiên ra đời ở châu

Âu Những bức thư, bưu kiện, bưu phẩm được giao đến tay người nhận trong thời hạn quy định ở Paris, Madrid, Vienna, Vatican, Trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, những cát cứ phong kiến chia cắt lục địa châu Âu thành trăm nghìn lãnh địa nhỏ, thì việc giao hàng đúng hạn quả là phi thường

Khoảng những năm 1800

Việc phát minh ra động cơ chạy bằng hơi nước và các ứng dụng của nó trong các phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy, đã mở ra kỷ nguyên phát triển mới cho ngành Logistics

Những năm 1940

Để phục vụ cho các cuộc thế chiến, đặc biệt là chiến tranh thế giới thứ hai, các bên tham chiến đã vận dụng rất nhiều giải pháp để vận chuyển binh lính, lương thực, khí tài, quân trang, Logistics – hậu cần quân đội đã khẳng định vai trò đặc biệt của mình, trong một số trường hợp logistics có thể làm thay đổi cục diện chiến trường

Tóm lại, trước những năm 1950 công việc logistics chỉ đơn thuần là một hoạt

động chức năng đơn lẻ Trong khi các lĩnh vực marketing và quản trị sản xuất đã có những chuyển biến rất lớn lao thì vẫn chưa hình thành một quan điểm khoa học về quản trị logistics một cách hiệu quả

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản lý cuối thế kỷ 20 mới đưa logistics lên một tầm cao mới

Giai đoạn 1950 – 1960, Logistics tại chỗ (workplace logistics) ra đời Logistics

tại chỗ là dòng vận động của nguyên vật liệu tại một vị trí làm việc Mục đích là hợp lý hóa các hoạt động độc lập của một cá nhân hay của một dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp Lý thuyết và các nguyên tắc hoạt động của logistics tại chỗ được đưa

ra cho những nhân công làm việc trong lĩnh vực công nghiệp trong và sau chiến

Trang 13

tranh thế giới thứ II Điểm nổi bật của logistics tại chỗ là tính tổ chức lao động có khoa học

Giai đoạn 1960 – 1970, do máy móc không đồng nhất nên vấn đề cần giải quyết

là đảm bảo đúng và đủ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất đại trà và dây chuyền lắp ráp máy móc Từ yêu cầu đó, logistics cơ sở sản xuất được nhắc tới Logistics cơ sở sản xuất (Facility logistics) là dòng vận động của nguyên liệu giữa các xưởng làm việc trong nội bộ một cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất đó có thể là 1 nhà máy, 1 trạm làm việc trung chuyển, 1 nhà kho, hoặc 1 trung tâm phân phối

Giai đoạn 1970 – 1980, Logistics công ty ra đời và chính thức được áp dụng

trong kinh doanh Giai đoạn này, logistics gắn liền với thuật ngữ phân phối vật chất Logistics công ty là dòng vận động của nguyên vật liệu và thông tin giữa các cơ sở sản xuất và các quá trình sản xuất trong một công ty Với các công ty sản xuất thì hoạt động logistics diễn ra giữa các nhà máy và các kho chứa hàng, với một đại lý bán buôn thì là giữa các đại lý phân phối của nó, còn với một đại lý bán lẻ thì đó là giữa đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ của mình Logistics kinh doanh trở thành quá trình mà mục tiêu chung là tạo ra và duy trì một chính sách dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phí logistics thấp

Giai đoạn 1980 – 1990, Logistics chuỗi cung ứng phát triển Quan điểm này

nhìn nhận logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty trong một chuỗi thống nhất Đó là mạng lưới các cơ sở hạ tầng, các phương tiện cùng với hệ thống thông tin được kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó Các hoạt động logistics được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng

Ngày nay, Logistics toàn cầu phát triển mạnh mẽ Logistics toàn cầu là dòng

vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tiền tệ giữa các quốc gia Nó liên kết các nhà cung ứng của các nhà cung ứng với khách hàng của khách hàng trên toàn thế giới Đó là quá trình toàn cầu hóa trong nền kinh tế tri thức, việc mở rộng các khối thương mại và việc mua bán qua mạng Logistics toàn cầu phức tạp hơn nhiều so với logistics trong nước bởi sự đa dạng phức tạp trong luật chơi, đối thủ cạnh tranh,

Trang 14

ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hóa và những rào cản khác trong môi trường kinh doanh quốc tế

Hình 1.1: Lịch sử phát triển logistics từ năm 1950 đến nay 1.1.2.Các khái niệm

1.1.2.1 Khái niệm Logistics

Tác giả sử dụng thuật ngữ Logistics vì chúng ta cũng chưa có một thuật ngữ bằng tiếng Việt tương đương Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất,

phù hợp để dịch từ Logistics sang tiếng Việt Có người dịch là hậu cần, hoặc là tiếp

vận, hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ, thậm chí là vận trù Nhưng tất cả các cách dịch đó đều chưa thỏa đáng, chưa phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản chất của Logistics Vì vậy tác giả giữ nguyên thuật ngữ Logistics không dịch sang tiếng Việt

và bổ sung thêm vào vốn từ tiếng Việt của chúng ta

Hiện nay, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về Logistics cả trong nước và nước ngoài, nhưng chưa có một khái niệm thống nhất Có thể nói, có bao nhiêu sách về Logistics, có bao nhiêu người nghiên cứu về Logistics thì có bấy nhiêu khái niệm

Logistics sản xuất

Logistics công ty

Logistics cung ứng

Logistics toàn cầu

Trang 15

Do đó, để đưa ra một khái niệm chính xác, đầy đủ về Logistics thì cần phải nắm được các quá trình phát triển, các ứng dụng của Logistics hay là các quan điểm của các tác giả đã nghiên cứu về Logistics

Đầu tiên về thuật ngữ “Logistics” Logistics theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistique” trong tiếng Pháp “Logistique” lại có gốc từ từ

“Loger” nghĩa là nơi đóng quân Và ở một góc độ nhất định, từ này có mối liên hệ với từ “Logistic” trong toán học

Bởi vì ban đầu Logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Napoleon đã từng định nghĩa: “Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội”

Do đó, trong một số từ điển, thuật ngữ “Logistics” có nghĩa là: tổ chức lo việc cung ứng dịch vụ cho mọi cuộc hành quân hỗn hợp, ngành hậu cần (trong quân sự)

Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng Anh trong cuốn “Oxford Advances

Learners Dictionary of Current English, A.S Hornby Fifth Edition, Oxford University Press, 1995”: "Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ

đối với một hoạt động phức hợp nào đó"

Từ điển Websters định nghĩa: “Logistics là quá trình thu mua, bảo quản, phân

phối và thay thế con người, thiết bị”

Theo tạp chí Logisticsworld, 1997: “Logistics là một môn khoa học của việc

hoạch định, tổ chức, quản lý và thực hiện các hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ”

Theo Council of Logistics Management: “Logistics là sự quản lý, kiểm soát các

nguồn lực ở trạng thái động và tĩnh, là một bộ phận của chuỗi cung ứng, bao gồm quá trình hoạch định, quản lý, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm nhất về chi phí và thời gian các dòng chảy xuôi chiều cũng như ngược chiều, từ điểm tiền sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu khách hàng, quy trình này bao hàm cả các hoạt động đầu vào, đầu ra, bên trong cũng như bên ngoài của tổ chức”

Trang 16

Theo quan điểm của PGS TS Đoàn Thị Hồng Vân thì: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [2]

Hình 1.2 đã thể hiện được nội dung khái niệm của PGS TS Đoàn Thị Hồng Vân

Hình 1.2 Các bộ phận cơ bản của Logistics

Nguồn: Logistics những vấn đề cơ bản

Phụ tùng

Quá trình sản xuất

Kho lưu trữ thành phẩm

Bến bãi chứa T.T phân phối Nguyên vật liệu

LOGISTICS

Cung ứng

Quản trị vật tư

Phân phối

Dòng chu chuyển vận tải

Dòng thông tin lưu thông

Trang 17

là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [3]

Khái niệm này cho thấy logistics bao gồm nhiều khái niệm, cho phép tổ chức có thể vận dụng các nguyên lý, cách nghĩ và hoạt động trong lĩnh vực của mình một cách sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả

Mặt khác, theo khái niệm này, Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức:

- Cấp độ thứ 1: tối ưu hóa vị trí: là lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, ở đâu, khi nào? và vận chuyển đi đâu?

- Cấp độ thứ 2: tối ưu hóa vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng

Theo Liên Hợp Quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm, cho tới tay người tiêu

dùng theo yêu cầu của khách hàng

Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực

và nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc

Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, dịch vụ từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng [4

]

Vậy, từ những khái niệm trên có thể rút ra một số điểm chung như sau:

- Logistics là quá trình quản lý luồng vận động của vật chất và thông tin nhằm đạt đến sự tối ưu

- Nói đến Logistics là đề cập đến toàn bộ quá trình cung ứng từ điểm đầu tiên nhất đến điểm cuối cùng trong hoạt động của doanh nghiệp

- Logistics là xét trên toàn bộ hệ thống chứ không chỉ tối ưu hóa ở từng khâu, tức có mối liên hệ chặt chẽ, liên tục ở tất cả các khâu

[3] Ma Shuo - Logistics and Supply Chain Managerment – 1999

[4] Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ 1988

Trang 18

Mặt khác, theo sự phát triển thì Logistics được phát triển qua 3 giai đoạn (theo

ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ủy ban Kinh

tế và Xã hội châu á Thái Bình Dương):

Giai đoạn 1: Phân phối vật chất

Vào những năm 60, 70 của thế kỷ thứ 20, người ta bắt đầu quan tâm đến vấn đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo phân phối sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả Những hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hoá, quản lý tồn kho, bao bì

đóng gói, phân loại, dán nhãn những hoạt động nêu trên được gọi là phân phối

sản phẩm vật chất hay còn có tên gọi là logistics đầu ra

Giai đoạn 2: Hệ thống logistics

Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), để tiết kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này Sự kết hợp đó được gọi là hệ thống logistics

Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng

Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động

từ người cung cấp đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra, làm tăng thêm giá trị sản phẩm Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp

chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, người tiêu dùng và các bên có liên

quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung cấp công nghệ thông tin (IT -Information Technology)

Theo giai đoạn phát triển của Logistics có thể rút ra một số đặc điểm của nó như sau:

- Logistics là một quá trình: Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là

một quá trình, là một chuỗi các hoạt động liên tục có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau được thực hiện một cách có hệ thống, có hoạch định, kiểm soát

Trang 19

và hoàn thiện Logistics bao gồm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ đầu vào cho đến người tiêu dùng cuối cùng, tức gồm cả sản xuất và ngoài sản xuất

- Logistics là một chuỗi cung ứng: Logistics là một hệ thống vô cùng phức tạp,

kết hợp nhiều công đoạn với thời gian và chi phí hợp lý nhất

- Logistics bao gồm cả dòng chảy đầu vào, đầu ra, xuôi chiều và ngược chiều

- Mục đích của Logistics là làm cho doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả nhất, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và với chi phí là thấp nhất

Tóm lại, từ những đặc điểm rút ra và các khái niệm trên, tác giả tự đưa ra một khái niệm về Logistics như sau:

“ Logistics là quá trình tối ưu hóa toàn bộ dây chuyền cung ứng, từ điểm đầu của quá trình sản xuất cho đến người tiêu dùng cuối cùng và quá trình ngược lại, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng với tổng chi phí thấp nhất”

1.1.2.2 Khái niệm quản trị logistics

“Quản trị logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát có hiệu quả việc chu chuyển và dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin có liên quan, từ điểm đầu đến điểm cuối cùng với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng”.[5]

Với khái niệm logistics kể trên thì quản trị logistics có phạm vi rất rộng với các nội dung chủ yếu: Dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, dự trữ, quản trị vật tư, vận tải, kho bãi, quản trị chi phí

1.1.2.3 Khái niệm dịch vụ Logistics

Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao

[5] PGS TS Đoàn Thị Hồng Vân - Quản trị Logistics – NXB Thống Kê 2006

Trang 20

1.1.3 Một số khái niệm cần phân biệt với logistics

1.1.3.1 Phân biệt logistics với quản trị chuỗi cung ứng (Supply chain Management

– SCM)

Hình 1.3 cho thấy, có những quan điểm sau: (1) SCM là một phần của logistics; (2) logistics là một phần của SCM; (3) logistics chỉ là một bộ phận nhỏ của SCM; (4) logistics cũng là SCM và ngược lại; (5) giữa SCM và logistics có phần chung,

cụ thể trong SCM có logistics và ngược lại, trong logistics có SCM Theo quan điểm cá nhân, tôi ủng hộ quan điểm thứ 5 Để lý giải điều này ta sẽ xem lại các khái niệm logistics và SCM

Hình 1.3 Mối quan hệ giữa logistics và quản trị chuỗi cung ứng

Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ

nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế" và "Quản trị logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực, hiệu quả hoạt động vận chuyển, lưu trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng với mục đích thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Điều đó có nghĩa là logistics được hiểu theo nghĩa rộng (xét trong phạm vi nền

kinh tế quốc dân), nó bao gồm mọi hoạt động kinh doanh liên quan đến vận tải

(đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường thuỷ nội địa ), lưu kho, lưu bãi, sắp xếp hàng hóa sẵn sàng cho quá trình vận tải, bao bì đóng gói, mã hiệu, nhãn

hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầu của người dùng, điều cân nhấn mạnh là

Trang 21

logistics tối ưu hóa các hoạt động trên nhằm giúp cho quá trình thực hiện một cách hiệu quả

Chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức tham gia vào dòng vận động của nguồn tài nguyên đầu vào và thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng

cuối cùng và các hoạt động của những tổ chức đó Trong chuỗi cung ứng, hoạt động

logistics của mỗi mắt xích (mỗi đơn vị) là quá trình hoạch định, triển khai và kiểm tra kiểm soát một cách có hiệu lực và hiệu quả dòng hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm đầu vào của mắt xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp nhằm mục đích đáp ứng các chuẩn mực, yêu cầu của mắt xích kế tiếp và của toàn chuỗi

Do vậy, chuỗi cung ứng là chuỗi của các hoạt động logistics - hoạt động tối ưu hóa, nhằm nâng cao khả năng

Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung cấp, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong công ty và giữa các công ty với nhau Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và gắn bó Bên cạnh

đó, còn là những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin

Như vậy, so với khái niệm quản trị chuỗi cung ứng thì khái niệm logistics theo nghĩa rộng gần như tương đương, nhưng cần chú ý Logistics nhấn mạnh đến tính tối ưu của quá trình, còn chuỗi cung ứng chỉ nói đến quá trình, đến các mối liên kết Còn nếu xét riêng từng doanh nghiệp, thì logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời điểm, lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu của quá trình cung ứng cho đến tay người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế

Trang 22

Còn quản trị chuỗi cung ứng gồm cả quá trình logistics bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm cả khách hàng và các nhà cung cấp cấp, cấp 2 : do đó quản tri chuỗi cung ứng là khái niệm rộng hơn logistics của một doanh nghiệp

Tóm lại, sự khác biệt giữa quản trị logistics (LM) và quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là:

- Về tầm ảnh hưởng: LM có ảnh hưởng ngắn hạn và trung hạn, còn SCM có tầm ảnh hưởng dài hạn

- Về mục tiêu: LM mong muốn đạt đến giảm chi phí logistics nhưng tăng chất lượng dịch vụ còn SCM lại đặt mục tiêu ở giảm chi phí toàn thể dựa trên tăng cường khả năng cộng tác và phối hợp, do đó tăng hiệu quả trên toàn bộ hoạt động

1.1.3.2 Phân biệt Logistics và phân phối

Quá trình phân phối là khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một tổ chức (người sản xuất, kinh doanh hay bất kỳ một người nào khác có hàng hoá); Nó bao gồm sự vận chuyển hàng hoá bằng các loại phương tiện khác nhau, từ địa điểm này sang địa điểm khác, từ nước nọ sang nước kia, trong đó có sự phối hợp giữa các hoạt động và các chức năng khác nhau, nhằm đảm bảo chu chuyển hàng hoá liên

tục từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, quá trình phân phối và hoạt động logistics có liên quan mật thiết

với nhau, nếu thiếu một kế hoạch khoa học và sự quản lý chặt chẽ sát sao thì quá trình chu chuyển hàng hoá, dịch vụ phức tạp sẽ không thể thực hiện nhịp nhàng, liên tục Chính vì vậy, người ta đã ví toàn bộ quá trình phân phối là một "băng tải” hàng hoá chuyển động không ngừng dưới sự tổ chức và giám sát của công nghệ

Trang 23

logistics Logistics là một công nghệ quản lý, kiểm soát toàn bộ quá trình phân phối, sản xuất, tiêu thụ một cách đồng bộ Một công nghệ như vậy theo sát và đẩy nhanh hoạt động nhờ các luồng thông tin Đến lượt mình, những luồng thông tin lại cho phép giám sát được vận động thực của hàng hoá Tổ chức dịch vụ logistics đối với toàn bộ quá trình phân phối từ khâu cung ứng đến khâu tiêu thụ được thực hiện trên

cơ sở nhu cầu thực tế

1.1.4 Vai trò của logistics với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp logistics có vai trò rất to lớn Peter Ducker đã từng viết: “Logistics là nguồn động lực cho đổi mới và cơ hội mới mà chúng ta chưa hề chạm đến Đó chính là “thềm lục địa tiềm ẩn” của cả nền kinh tế” Với các doanh nghiệp Việt Nam, thì điều này càng đặc biệt đúng, bởi chúng ta hiểu biết chưa đầy

đủ và ít vận dụng logistics

Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp được thể hiện:

Logistics giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá

trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics, ví dụ: chọn sai vị trí, chọn nguồn tài nguyên cung cấp sai, dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn tài nguyên, nhân công, vốn, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh, tốt nhất Và logistics toàn cầu tất yếu hình thành và phát triển

Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp chủ động trong việc

chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau, Chủ động trong

Trang 24

việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất Doanh nghiệp khi ứng dụng logistics sẽ tối ưu hóa được quá trình vận chuyển, chi phí và thời gian, tối ưu hóa lượng hàng lưu kho, nên sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể các khoản chi phí không hợp lý, góp phần giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Logistics còn góp phần giảm phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứng từ Theo

các chuyên gia ngoại thương, giấy tờ rườm rà chiếm một khoản phí không nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyển Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm nhiệm việc ký một hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để đưa hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics Đứng ở góc độ này, logistics được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hóa và tập trung

Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là

marketing hỗn hợp (4P – Right Product, Right Price, Proper Promotion and Right Place) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp Sản phẩm chỉ có thể làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định

1.1.5 Các nội dung kinh doanh của dịch vụ logistics

Dịch vụ Logistics theo quy định tại Điều 233, Luật Thương Mại, 2005 có các nội dung sau:

Các dịch vụ Logistics chủ yếu:

- Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;

- Dịch vụ kho bãi và lưu trữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;

- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập

kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;

Trang 25

- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container

Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải:

Các dịch vụ logistics liên quan khác:

- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;

- Dịch vụ bưu chính;

- Dịch vụ thương mại bán buôn;

- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;

- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác

1.1.6 Phân loại logistics

Logistics được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Dưới đây là một số cách phân loại phổ biến:

- Phân loạt theo các hình thức Logistics

Cho đến nay trên thế giới có các hình thức Logistics sau:

Logistics bên thứ nhất (1PL - First Party Logistics) - người chủ sở hữu hàng

hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của

bản thân Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho

chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics

Trang 26

First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm

và kỹ năng chuyên môn để quản lý và Vận hành hoạt động logistics

Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics) - người cung cấp dịch vụ

logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong

chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán ) để

đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán

Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics) là người thay mặt cho chủ

hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm đến quy định Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt

chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin và có tính tích hợp vào dây

chuyền cung ứng của khách hàng

Logistics bên thứ tư (4PL - Fourtth Patty Logistics)- là người tích hợp

(integrator) - người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất

khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics,

quản trị vận tải 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ

nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng

Gần đây, cùng với sự phát triển của Thương mại điện tử, người ta đã nói đến

khái niệm Logistics bên thứ năm (5PL) 5PL phát triển nhằm phục vụ cho Thương

mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL, đứng ra quản lý toàn chuỗi cung ứng trên nền tảng Thương mại điện tử Nhà cung cấp các dịch vụ Logistics là các chuyên gia hàng đầu trong việc ứng dụng công nghệ khoa học tiên tiến nhất, không những xử lý hệ thống thông tin linh hoạt mà họ còn phát ra các

Trang 27

thông tin giúp khách hàng một cách hoàn hảo nhất về quản lý nguồn cung ứng lẫn nhu cầu sản phẩm (đầu vào lẫn đầu ra), nâng tầm quản lý logistics lên một tiêu chuẩn mới, họ có thể thiết kế và vận hành toàn bộ dây chuyền cung ứng sản phẩm Thậm chí một công ty không cần có bất cứ một thiết bị nào, chỉ cần có ý tưởng và

hành động, mọi công việc được nhà cung cấp dịch vụ 5PL thực hiện (An Approach

towards overall supply chain efficiency – Hai Lu & Yirong Su)

- Phân loại theo hướng vận động vật chất

Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài

nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn ) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất

Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành

phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp

Logistics ngược hay còn gọi là Logistics thu hồi (reverse logistics) là quá trình

thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường

phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý

- Theo quá trình nghiệp vụ

Quá trình mua hàng là các hoạt động liên quan đến việc tạo ra các sản phẩm

và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài Mục tiêu chung của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp

Quá trình hỗ trợ sản xuất tập trung vào hoạt động quản trị dòng dự trữ một

cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra

Quá trình phân phối sản phẩm ra thị trường liên quan đến việc cung cấp

các dịch vụ khách hàng Mục tiêu cơ bản của phân phối là tạo ra doanh thu qua việc cung cấp mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược ở mức chi phí thấp nhất

Trang 28

- Phân loại theo đối tượng hàng hóa

Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG logistics) là quá trình logỉstics cho

hàng tiêu dùng có thời hạn sử đụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phẩm

Logistics ngành ôtô (automotive logistics) là quá trình Logistics phục vụ cho

ngành ôtô

Logistics hóa chất (cllemical logistics) là hoạt động logistics phục vụ cho ngành

hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm

Logistics hàng điện tử (electronic logistics)

Logistics dầu khí (petroleum logistics)

1.2 Thực tiễn và xu thế phát triển hoạt động Logistics trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Thực tiễn và xu thế phát triển của hoạt động logistics trên thế giới

Hoạt động Logistics trên thế giới hiện nay đang phát triển ngày càng nhanh chóng, biến đổi không ngừng và tạo thành một mạng lưới phát triển toàn cầu

(logistics toàn cầu) Trên thế giới có rất nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ

logistics thành công như: DHL logistics, Maersk logistics, NYK logistics, Dịch vụ của các công ty này trải rộng trên phạm vi toàn thế giới Hoạt động logistics không chỉ là hoạt động trong phạm vi một công ty mà còn là mối quan tâm của rất nhiều các quốc gia Vì hoạt động này làm giảm đáng kể chi phí và tăng GDP cho các quốc gia này Điển hình đó là Singapore, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc

Xu thế của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới nên làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ và đương nhiên sẽ kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ Xu thế mới của thời đại dẫn đến bước phát triển tất yếu của logistics – logistics toàn cầu Vì các tập đoàn, công ty đặt trụ sở và phục vụ cho nhiều thị trường ở các nước khác nhau, nên phải thiết lập hệ thống logistics toàn cầu để cung cấp sản phẩm

và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng

Và theo dự báo, trong vài thập niên đầu thế kỷ 21 logistics sẽ phát triển theo 3

xu hướng chính:

Trang 29

Thứ nhất, xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử sẽ ngày

càng phổ biến và sâu rộng hơn trong các lĩnh vực của logistics, như: hệ thống thông tin Quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu, công nghệ nhận dạng bằng tần số Radio, vì thông tin được truyền càng nhanh và chính xác thì các quyết định trong hệ thống logistics càng hiệu quả

Thứ hai, phương pháp quản lý logistics kéo (Pull) ngày càng phát triển mạnh

mẽ và dần thay thế cho phương pháp quản lý logistics đẩy (Push) theo truyền thống Phương pháp logistics đẩy là phương pháp tổ chức sản xuất theo dự báo nhu cầu thị trường Phương pháp này tạo ra hàng tồn kho và đẩy ra thị trường để đáp ứng nhu cầu thực tế Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, có nhiều thời gian để sản xuất, hạ giá thành sản phẩm nhờ lợi thế về quy mô và đường cong kinh nghiệm Nhưng có nhược điểm là tạo khối lượng hàng tồn kho lớn, chu

kỳ sản xuất dài, chi phí dự trữ cao, có những trường hợp hàng không bán được do

dự báo nhu cầu không chính xác

Phương pháp logistics kéo ngược lại với phương pháp logistics đẩy Phương pháp này hoạch định sản xuất dựa trên nhu cầu và đơn hàng thực tế của thị trường,

có nghĩa là nhu cầu của khách hàng “kéo” hàng từ sản xuất về phía thị trường Phương pháp kéo có ưu điểm là giảm thiểu khối lượng và chi phí tồn kho, rút ngắn chu trình sản xuất Nhưng phương pháp này đòi hỏi phải đáp ứng được những yêu cầu của thị trường, tổ chức linh hoạt do phải đpá ứng nhiều đơn hàng có quy mô nhỏ, phải tổ chức quản lý tốt hệ thống thông tin, chu trình sản xuất được quản lý chặt chẽ, khoa học, có khả năng đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt về tiến độ, thời gian giao hàng,

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã đẩy vòng đời sản phẩm trở nên ngắn hơn, tác động lớn đến việc hoạch định và tổ chức sản xuất Nếu như trước kia, vòng đời sản phẩm kéo dài từ 5 đến 10 năm thì ưu tiên số một của các công ty

là tiêu chuẩn hóa sản phẩm, tổ chức sản xuất theo dây chuyền, sản xuất theo phương pháp Đẩy với số lượng lớn để hạ giá thành sản phẩm Nhưng hiện nay, vòng đời của sản phẩm ngắn hơn, vấn đề sống còn không phải là việc mở rộng quy mô sản xuất

Trang 30

tới mức tối đa, mà là phải linh hoạt thay đổi quy trình sản xuất theo nhu cầu thực tế

Sự biến đổi đó dẫn đến phải áp dụng phương pháp quản lý logistics Kéo nhằm tối

ưu hóa toàn hệ thống logistics (từ cung ứng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho đến sản xuất, lưu thông và tiêu thụ) thay vì chỉ tối ưu hóa trong sản xuất nhưng lại làm tăng chi phí trong lưu thông (do tăng tồn kho) như trước đây Chính

vì vậy, ngày càng có nhiều công ty đa quốc gia chuyển từ phương pháp logistics Đẩy sang phương pháp Kéo

Thứ ba, xu hướng thuê dịch vụ logistics từ các công ty Logistics chuyên nghiệp

ngày càng phổ biến

Nếu như trước đây, các chủ sở hữu hàng hóa lớn thường tự mình đứng ra tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân thì giờ đây việc đi thuê các dịch vụ logistics ở bên ngoài ngày càng trở nên phổ biến Các công ty có xu hướng sáp nhập lại với nhau hoặc công ty này mua lại công ty khác

để lớn mạnh hơn, có sức cạnh tranh cao hơn trên phạm vi toàn cầu Quy mô công ty ngày càng lớn, phạm vi hoạt động ngày càng rộng, thì hoạt động logistics càng phức tạp, đòi hỏi chi phí đầu tư và tính chuyên nghiệp ngày càng cao Tự tổ chức hoạt động logistics theo kiểu khép kín trong nội bộ từng công ty đòi hỏi chi phí lớn dẫn đến hiệu quả thấp, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng nguyên vật liệu và phân phối sản phẩm Chính vì vậy, ngày càng có nhiều công ty chuyển từ tự tổ chức hoạt động logistics sang thuê dịch vụ logistics từ các công ty logistics chuyên nghiệp Còn đối với các công ty nhỏ và vừa thì việc sử dụng dịch vụ của các công ty chuyên nghiệp

là nhu cầu tất yếu

Mặt khác, khi sử dụng dịch vụ của các công ty logistics chuyên nghiệp, công ty

có thể được giúp: thâm nhập thị trường mới, tiếp cận công nghệ mới và được cung cấp những thông tin kịp thời, chính xác về nguồn cung cấp cũng như thị trường tiêu thụ

Đó là 3 xu hướng phát triển logistics thế giới trong thời gian tới, trong đó có cả

ở Việt Nam

Trang 31

1.2.2 Thực tiễn và xu thế phát triển của hoạt động logistics tại Việt Nam

1.2.2.1 Thực tiễn hoạt động logistics tại Việt Nam

Trên thế giới, logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ Nhưng tại Việt Nam, logistics mới bắt đầu được nhìn nhận như một công cụ sắc bén đem lại thành công cho doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập và chắc chắn logistics sẽ phát triển trong tương lai không xa

Theo ngân hàng Thế giới (WB), hiệu quả hoạt động logistics Việt Nam ở mức trung bình, xếp thứ 53 thế giới với năng lực tổng hợp đạt 2,96; riêng cơ sở hạ tầng ở mức thấp nhất 2,56 theo thang điểm 5

Mặc dù còn sơ khai, song thị trường logistics đã có sức hấp dẫn Trong vài năm gần đây, số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ngành nghề liên quan đến logistics tăng lên nhanh chóng và cũng cung cấp các dịch vụ 1PL đến 3PL Theo thống kê ở Việt Nam hiện có khoảng hơn 800 công ty giao nhận chính thức đang hoạt động (thực tế có trên 1000 công ty tham gia vào lĩnh vực này), trong đó có khoảng 18% là công ty nhà nước, 70% là công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân, 10% các đơn vị chưa có giấy phép, 2% công ty logistics do nước ngoài đầu tư vốn Đa số các công ty đều có quy mô vừa và nhỏ, vốn đăng ký bình quân 1,5 tỷ đồng

Mặc dù có nhiều doanh nghiệp Việt Nam được hình thành nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu của thị trường dịch vụ logistics Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài Điều này thựcsự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển

Mặt khác, doanh nghiệp Việt Nam thiếu nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và hiểu biết luật pháp quốc tế Do đó, khó có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các công ty logistics Và các công ty logistics khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp logistics nước ngoài ngay ở thị trường nội địa

Trang 32

Giá cả dịch vụ logistics tại Việt Nam tương đối rẻ so với một số nước khác, nhưng chất lượng dịch vụ lại chưa cao và phát triển chưa bền vững Do đó, các doanh nghiệp ở trong nước ít dùng dịch vụ của doanh nghiệp logistics nội

Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam mới đóng vai trò như những nhà cung cấp dịch

vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài, như đảm nhận việc khai báo hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi, Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam phát triển manh mún, nhỏ lẻ, không những không có sự hợp tác với nhau mà còn cạnh tranh với nhau trong phân khúc thị trường cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty nước ngoài ở thị trường nội địa

Một thực trạng nữa không thể không nhắc tới đó là hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý Hệ thống

cơ sở hạ tầng giao thông của VN bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200

km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container

Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng quốc tế Các sân bay quốc tế như TSN, Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông Tuy nhiên, đường sắt VN vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà

Trang 33

Nội - TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng

Với tất cả những khiếm khuyết trong hệ thống cơ sở hạ tầng như trên nên hoạt động logistics tại Việt Nam khó có thể phát triển mạnh, liên hoàn vì logistics là gắn với cơ sở hạ tầng Sự phát triển manh mún của logistics như trên cũng vì một phần

do hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta còn chưa tốt

1.2.2.2 Vai trò của hoạt động logistics tại Việt Nam

Hoạt động logistics có vai trò rất quan trọng đối với mọi nền kinh tế, trong đó

có Việt Nam Logistics là chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Nếu xem xét ở góc độ tổng thể, có thể thấy logistics

là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một chi phí nhất định Vì vậy, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội

Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ khi chuỗi logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng

Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập kinh tế thế giới của nền kinh tế Khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia càng được rút ngắn khi lượng hàng tiêu thụ giữa các quốc gia càng lớn Mà điều này có được nhờ logistics

Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế Vì nhờ có logistics, các quốc gia sản xuất các sản phẩm với chi phí thấp hơn thỏa mãn khách hàng tốt hơn

Mặt khác, tại Việt nam chi phí logistics so với GDP là 25%, trong khi các nước phát triển chỉ từ 10-15% Trong chi phí logistics của Việt Nam phần lớn là giá trị hàng tồn kho Chỉ cần chúng ta tiết kiệm được 1% chi phí logistics, đất nước sẽ có một khoản tiền không nhỏ, hàng trăm triệu đô

1.2.2.3 Xu thế phát triển của hoạt động logistics tại Việt Nam

Trang 34

Trong quá trình đàm phán gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết cho nước ngoài được thiết lập ngay các doanh nghiệp liên doanh, với tỷ lệ góp vốn 49-51%, để thực hiện kinh doanh các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi, Ba năm sau, tỷ lệ góp vốn của nước ngoài sẽ tăng lên và họ có thể thiết lập các công ty 100% vốn sau 5-7 năm Với áp lực cạnh tranh lớn như vậy, Việt Nam không thể hoạt động manh mún, nhỏ lẻ như trước được

Do đó, xu thế tất yếu trong giai đoạn tới sẽ là sự sáp nhập giữa các công ty logistics và vận tải Việt Nam với nhau hoặc Việt Nam với đối tác nước ngoài để nâng cao năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn có vốn nước ngoài

Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics)

sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn Dự báo, hàng container qua cảng biển Việt Nam đến năm 2020 sẽ lên đến 7,7 triệu TEU

Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200

tỷ USD Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn

Những năm gần đây, vận tải biển VN đang có những bước phát triển vượt đáng kể Hiện 90% hàng hóa XNK được vận chuyển bằng đường biển Đặc biệt, lĩnh vực vận chuyển container luôn đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ số trong những năm gần đây

Mặt khác, Việt Nam nằm gọn giữa khu vực bao bởi bán kính 2 giờ bay từ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Đây là khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới

Do đó cơ hội cho logistics Việt Nam là vô cùng lớn Hơn nữa, Nhà nước ta đang rất quan tâm tới ngành dịch vụ đầy tiềm năng này với tham vọng Việt Nam trở thành một trung tâm logistics của khu vực như Singapore Hiện chính phủ Việt Nam

Trang 35

và các nhà đầu tư quốc tế đang triển khai một loạt dự án xây dựng các cụm cảng nước sâu như ở khu vực Cái Mép - Thị Vải ở phía Nam cũng như Hải Phòng ở phía Bắc

Và Việt Nam cũng xác định phát triển ngành công nghệ thông tin như một ngành công nghiệp mũi nhọn của nước ta Do đó, trong thời gian tới sẽ có nhiều hơn nữa doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics ra đời với quy mô ngày càng lớn

và dịch vụ do các doanh nghiệp này cung cấp sẽ đa dạng hơn, hoàn thiện hơn trở thành một chuỗi cung ứng hoàn hảo Việt Nam sẽ dần cung cấp những dịch vụ hoàn thiện hơn như 4PL, 5PL

1.3 Dịch vụ giao nhận hàng hóa nói chung và giao nhận than nói riêng

1.3.1 Khái niệm, vai trò và nội dung của dịch vụ giao nhận hàng hóa

1.3.1.1 Khái niệm của dịch vụ giao nhận hàng hóa

Hoạt động giao nhận hàng hóa là một bộ phận của hoạt động logistics Tuy chỉ

là một khâu trong hoạt động logistics nhưng là khâu quan trọng Vậy giao nhận là gì?

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về hoạt động giao nhận hàng hóa

Theo Quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA):

“Dịch vụ giao nhận là bất cứ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”

Theo điều 163 Luật Thương mại Việt Nam: “Dịch vụ giao nhận hàng hóa là

hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)” Như vậy, về cơ bản: giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng)

Trang 36

1.3.1.2 Đặc điểm của hoạt động giao nhận hàng hóa

Không tạo ra sản phẩm vật chất: chỉ tác động làm cho đối tượng thay đổi vị trí

về mặt không gian chứ không thay đổi đối tượng đó

Mang tính thụ động: Do phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, các quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về pháp luật, tập quán của nước người xuất khẩu, nhập khẩu, nước thứ ba

Mang tính thời vụ: hoạt động giao nhận phụ thuộc vào hoạt động xuất nhập khẩu

Mà hoạt động xuất nhập khẩu mang tính thời vụ nên hoạt động giao nhận mang tính thời

vụ

Phụ thuộc vào cơ sở vật chất và trình độ của người giao nhận

1.3.1.3 Vai trò của giao nhận hàng hóa

Vai trò quan trọng của giao nhận hàng hóa ngày càng được thể hiện rõ trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, đó là:

Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự tham gia của người gửi cũng như người nhận tác nghiệp Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải tận dụng tối đa và hiệu quả sử dụng của các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác

Giao nhận giúp giảm giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu do giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt chi phí như: chi phí đi lại, chi phí đào tạo nhân công, chi phí cơ hội,

1.3.1.4 Nội dung hoạt động giao nhận hàng hóa

Hoạt động giao nhận hàng hóa do người giao nhận hàng hóa thực hiện Do đó, nội dung hoạt động của hoạt động giao nhận hàng hóa cũng chính là phạm vi dịch

vụ của người giao nhận Phạm vi dịch vụ của người giao nhận gồm:

Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở, gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp

Tổ chức xếp dỡ, chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng

Tư vấn, nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến hàng hóa

Trang 37

Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước

Làm thủ tục nhận, gửi hàng, thủ tục hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch

Mua bảo hiểm cho hàng hóa, thanh toán thu đổi ngoại tệ

Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận hàng; nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận hàng

Thu xếp chuyển tải hàng hóa Thông báo tổn thất với người chuyên chở

Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa, lưu kho, bảo quản hàng hóa

Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, lưu kho, lưu bái

Thông báo tình hình đi và đến của phương tiện vận tải, giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường

Ngoài ra, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu của chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình xây dựng lớn (giao nhận công trình), vận chuyển hàng triển lãm

Thêm vào đó người giao nhận còn đóng vai trong MTO (Ministry of Transportation of Ontario) là bất kỳ một hợp đồng vận tải đa phương thức và nhận trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó như là một người chuyên chở và phát hành cả chứng từ vận tải

1.3.2 Hoạt động giao nhận than

1.3.2.1 Đặc điểm của hoạt động giao nhận than

Hoạt động giao nhận than là một lĩnh vực cụ thể trong giao nhận hàng hóa Đây cũng là loại hàng hóa đặc biệt do các đặc điểm riêng về quá trình hình thành cũng như hình thái vật chất và tác dụng của nó Do vậy, hoạt động giao nhận than là một hoạt động giao nhận hàng hóa đặc biệt

Hoạt động giao nhận than không chỉ mang những đặc điểm như dịch vụ giao nhận hàng hóa mà còn có những đặc điểm riêng:

Tại Việt Nam, than là hàng hóa được sản xuất và kinh doanh độc quyền bởi tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Vinacomin Do đó, hoạt động giao nhận than có đặc điểm khác với các hoạt động giao nhận hàng hóa khác

Trang 38

là sự độc quyền cung hàng hóa của Vinacomin với các đại diện là các công ty kho vận Các công ty kho vận này sẽ là đầu mối nhận than từ các công ty, xí nghiệp khai thác than, và các công ty này cũng là đầu mối giao than cho các công ty tiêu thụ than khác hoặc trực tiếp giao than đến khách hàng Nhưng tất cả các hoạt động đều

do Vinacomin chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện

Mặt khác, nguồn cung than hiện nay đang tập trung chủ yếu tại khu vực Quảng Ninh, do đó, các công ty kho vận cũng tập trung trong vùng Quảng Ninh, gồm: công ty kho vận Đá bạc (khu vực Uông Bí), Công ty kho vận Hòn Gai (Khu vực Hòn Gai – Hoành bồ), công ty kho vận và cảng Cẩm Phả (khu vực cẩm phả- Mông Dương) Do đó, điểm bắt đầu giao than đến các hộ tiêu thụ hay các công ty kinh doanh than khác đều xuất phát từ các cảng thuộc các công ty kho vận trong khu vực Quảng Ninh

Đặc điểm giao thông trong giao nhận than phụ thuộc vào đặc điểm giao thông của vùng Quảng Ninh Quảng Ninh có sông ngòi nhiều, hệ thống đường sắt kéo dài

và đường bộ được đầu tư khá tốt Do đó, than có thể được vận chuyển bằng cả ba đường, nhưng vận chuyển đường thủy và đường sắt là chủ yếu, hạn chế sử dụng đường bộ

Than có dạng vật chất khác với các hàng hóa khác là dạng cục hoặc bùn Do

đó, không thể vận chuyển than bằng các phương tiện thông thường như hàng hóa khác mà phải bằng các phương tiện có thùng chứa

Các công ty kho vận chỉ thực hiện hoạt động giao nhận than và không khai thác, do đó hoạt động giao nhận than mang tính thụ động, vừa phụ thuộc vào nguồn cung than, vừa phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng

1.3.2.2 Vai trò của hoạt động giao nhận than

Hoạt động giao nhận than có vai trò phân phối than đến các hộ tiêu thụ một cách nhanh chóng nhất mà tiết kiệm chi phí nhất, góp phần phát triển kinh tế đất nước

Trang 39

Hoạt động giao nhận than cũng có vai trò như hệ thống kiểm soát lượng than tiêu thụ trong và ngoài nước của Vinacomin và Nhà nước, tránh sự thất thoát do xuất than tiểu ngạch, xuất than lậu

1.4 Mô hình dịch vụ logistics với hoạt động giao nhận

Hoạt động giao nhận là một trong nhiều hoạt động của dịch vụ logistics Và với mỗi một doanh nghiệp thực hiện hoạt động này lại có riêng một mô hình hoạt động Tuy vậy, một mô hình tổng hợp chung cho tất cả các doanh nghiệp lại hầu như không có

Do đó, tác giả tìm hiểu một số mô hình được nhiều doanh nghiệp đang áp dụng để ứng dụng vào hoạt động giao nhận than của công ty Kho vận Hòn Gai Một trong số đó là mô hình quản lý tồn kho bởi nhà cung cấp (VMI – Vendor Managed Inventory) Mô hình này đã được một số doanh nghiệp lớn tại nước ngoài

áp dụng nhưng tại Việt Nam thì mô hình này mới chỉ là trên lý thuyết và đang trong giai đoạn nghiên cứu

Mô hình quản lý tồn kho bởi nhà cung cấp (VMI) là phương thức tối ưu hóa hoạt động của chuỗi cung ứng, trong đó nhà cung cấp chịu trách nhiệm về mức độ lưu kho của nhà bán lẻ Nhà cung cấp được tiếp cận với dữ liệu về hàng hóa trong kho của nhà bán lẻ và chịu trách nhiệm điều phối các đơn đặt hàng

Khi các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng sử dụng mô hình này thì các doanh nghiệp sẽ hợp tác với nhau với sự trao đổi thông tin tốt hơn, các quy trình và hoạt động phối hợp cũng được cải tiến Người bán sẽ quản lý toàn bộ quy trình bổ sung hàng hóa, và chịu trách nhiệm kiểm soát lượng hàng tồn kho của nhà bán lẻ Nói cách khác, nhà cung cấp sẽ giữ lượng hàng tồn kho của nhà bán lẻ trong kho của mình để nhà bán lẻ giải quyết những công việc khác là làm thế nào để bán được nhiều hàng hơn Với thay đổi này, các nhà cung cấp chuyển mối quan tâm của mình

từ việc làm các nhà bán lẻ mua nhiều hàng hơn sang giúp họ bán được nhiều hơn

Để đạt được điều này, nhà bán lẻ cho phép nhà cung cấp tiếp cận kho hàng cùng với các thông tin về lượng cầu (một cách cơ học hoặc qua hệ thống điện tử tự động) rồi xác lập các mục tiêu cho những mặt hàng sẵn có Nhà cung cấp sẽ tự động thường xuyên

Trang 40

đưa ra quyết định mới về lượng hàng, cách thức và thời gian giao hàng Kết quả là thay

vì chờ nhà bán lẻ đặt hàng, nhà cung cấp tự điều tiết các giao dịch cung ứng

VMI được xây dựng nhằm xóa bỏ hoặc giảm thiểu sự thiếu hụt trong cung ứng hàng cũng như cắt giảm chi phí cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng Theo đó, thước đo hiệu quả của nhà cung cấp không phải là thời gian giao hàng mà

là lượng hàng sẵn có và mức độ quay vòng của chúng

Hình 1 4: Mô hình nhà cung cấp quản lý hàng tồn kho (VMI) [ 6 ]

Nhà máy

Trung tâm phân phối của DN sản xuất

Kho doanh nghiệp bán lẻ

Trung tâm phân

phối của DN bán

lẻ

Các đơn đặt hàng thông thường Các hoạt động dịch chuyển hàng ngày Xác nhận đơn đặt hàng

Lên kế hoạch sản xuất

Sản phẩm

Hàng hóa trên đường vận chuyển

Hàng hóa trên đường vận

chuyển

Doanh số bán lẻ hàng ngày Nhận

kho và

vận

chuyển

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm