1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng học liệu e learning đáp ứng yêu cầu phát triển chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên tiểu học

221 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 5,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu - Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiêncứu các chính sách cấp quốc gia, đồng thời xem xét việc thực hiện chínhsách này ở cấp trường cấp

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận án, tác giả đã nhậnđược sự chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Quý thầy cô giáo, các nhàkhoa học, đồng nghiệp, bạn bè và người thân

Tác giả luận án chân thành cảm ơn: Lãnh đạo Viện Khoa học Giáo dụcViệt Nam, Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng, các Quý thầy cô, các nhà khoahọc của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã tận tâm giảng dạy, giúp đỡ tôitrong quá trình giảng dạy, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Tôi cũng xin cảm ơn Thường trực Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam, lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Viện Công nhân và Công Đoàn

đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm

vụ nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới: Cố GS TSKH

Vũ Ngọc Hải, PGS TS Phan Văn Nhân và PGS TS Lê Phước Minh, nhữngngười hướng dẫn khoa học đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quátrình thực hiện Luận án

Tôi xin tri ân sự khích lệ, ủng hộ nhiệt tình của gia đình, người thân, bạn

bè và đồng nghiệp trong thời gian thực hiện Luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả Luận án

Vũ Thị Loan

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận án

Vũ Thị Loan

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

3.1 Khách thể nghiên cứu 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Nội dung nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phương pháp tiếp cận 4

6.2 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

8 Luận điểm bảo vệ 6

9 Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu 6

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam 6

10 Những đóng góp mới của luận án 6

11 Bố cục của luận án 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Nghiên cứu về GDĐH trong thời kỳ HNQT 8

1.1.2 Nghiên cứu về chính sách và chính sách GDĐH 10

1.1.3 Nghiên cứu về chính sách XNK DV GDĐH 12

1.2 Chính sách và đánh giá chính sách 14

1.2.1 Khái niệm chính sách 14

1.2.2 Đánh giá chính sách 21

Trang 4

1.3 Dịch vụ giáo dục đại học và nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học 28

1.3.1 Dịch vụ giáo dục đại học 2

8 1.3.2 Nhập khẩu dịch vụ GDĐH 3

3 1.4 Hội nhập quốc tế và những yêu cầu đối với NKDV GDĐH 35

1.4.1 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế GDĐH 3

5 1.4.2 Những ảnh hưởng và yêu cầu NKDV GDĐH trong thời kỳ hội nhập…

37 1.5 Chính sách và đánh giá chính sách NKDV GDĐH 42

1.5.1 Chính sách nhập khẩu dịch vụ GDĐH 4

2 1.5.2 Đánh giá chính sách NKDV GDĐH 4

2 1.6 Các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chính sách NKDV GDĐH 47

1.6.1 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến chính sách NKDV GDĐH 47

1.6.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chính sách NKDV GDĐH 47

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 55

2.1 Khái quát về GDĐH và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của GDĐH Việt Nam 55 2.1.1 GDĐH Việt Nam sau khi gia nhập WTO 55

2.1.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của GDĐH Việt Nam 56

2.1.3 Đánh giá chung về khả năng đáp ứng nhu cầu XH của GDĐH Việt Nam 60

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng chính sách NKDV GDĐH Việt Nam 61

2.2.1 Mục đích khảo sát 61

2.2.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 61

2.2.3 Nội dung và phương pháp khảo sát 62

2.2.4 Xử lý số liệu khảo sát 62

2.3 Thực trạng chính sách NKDV GDĐH Việt Nam 62

2.3.1 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách NKDV GDĐH 62

2.3.2 Thực trạng thực hiện sách NKDV GDĐH 72

2.3.3 Thực trạng tác động của các chính sách NKDV GDĐH 95

2.3.4 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng 10

Trang 5

iv

Trang 6

2.4 Đánh giá chung về thực trạng thực hiện và tác động của chính sách NKDV

GDĐH Việt Nam 106

2.5 Chính sách NKDV GDĐH của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 108 2.5.1 Hàn Quốc 108

2.5.2 Ấn Độ 109

2.5.3 Singapore 111

2.5.4 Trung Quốc 112

2.5.5 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 114

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HNQT 117

3.1 Định hướng về nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học 117

3.2 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 120

3.2.1 Đảm bảo đúng pháp luật và thẩm quyền 120

3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 120

3.2.3 Đảm bảo tính cấp thiết 121

3.3 Giải pháp hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH ở Việt Nam trong thời kỳ HNQT 122

3.3.1 Nâng cao nhận thức cho các chủ thể quản lý các cấp về tầm quan trọng của NKDV GDĐH trong thời kỳ HNQT 122

3.3.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế quản lý hoạt động NKDV GDĐH trong thời kỳ HNQT 124

3.3.3 Xây dựng kế hoạch tổng thể NKDV GDĐH Việt Nam trong thời kỳ HNQT 131 3.3.4 Đề xuất hệ thống tiêu chuẩn, thang, chỉ số và quy trình đánh giá chính sách NKDV GDĐH 133

3.3.5 Tăng cường năng lực của các chủ thể thực hiện chính sách NKDV GDDH 143 3.4 Khảo nghiệm và thử nghiệm giải pháp 147

3.4.1 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 147

3.4.2 Tổ chức thử nghiệm một giải pháp đã đề xuất 153

Kết luận và khuyến nghị 159

1 Kết luận 159

2 Một số khuyến nghị 161

Trang 7

2.2 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 162

2.3 Đối với các cơ quan nghiên cứu và cơ sở giáo dục đào tạo đại học: 162

Danh mục tài liệu tham khảo 163

Phụ lục 2.1: Tỷ lệ biết về những văn bản liên quan đến NKDV GDĐH 172

Phụ lục 2.2: Danh mục các chương trình dự án nguồn vốn ODA cho giáo dục đại học và sau đại học 173

Phụ lục 2.3: Danh sách các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt từ năm 2009-2014 173

Phụ lục 2.4: Số lượng các chư ơng trình LKĐT p hân bố theo quốc gia 207

Phụ lục 2.5: Phiếu khảo sát : Dùng cho SV đã và đang hưởng thụ chương trình đào tạo với nước ngoài của Việt Nam 207

Phụ lục 2.6: Phiếu khảo sát: Dùng cho Lãnh đạo các trường Đại học 214

Phụ lục 2.7: Phiếu khảo sát: Dùng cho Cán bộ quản lý, Giảng viên các trường Đại học 221

Phụ lục 2.8: Phiếu khảo sát: Dùng cho người sử dụng nhân lực là cựu sinh viên đã thụ hưởng các chương trình đào tạo với nước ngoài của Việt Nam 228

Hệ thống văn bản pháp quy được ban hành để chỉ đạo thực hiện NKDV GDĐH 231

Báo cáo kết quả thử nghiệm

Trang 8

DANH MỤC TỪ

VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

(The Asian Development Bank)

Bộ GD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ KH & ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư

GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

(General Agreement on Trade in Services)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

Trang 9

vii

Trang 10

NCKH Nghiên cứu khoa học

NCS Nghiên cứu sinh

NKGD Nhập khẩu giáo dục

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(Organization for Economic Co-operation and Development)

WB Ngân hàng thế giới (World Bank)

WTO Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)XKDV Xuất khẩu dịch vụ

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH

BẢNG

Bảng 1.1: Khái niệm về các thuật ngữ liên quan đến đánh giá 26Bảng 1.2: So sánh giữa đánh giá đối chiếu và theo tiêu chí 27Bảng 1.3: GDĐH trong Hệ thống phân loại dịch vụ của WTO 30

Bảng 1.4: Nhận diện các hoạt động NKDV GDĐH theo 4 phương thức cungcấp dịch vụ của GATS/WTO 35Bảng 1.5: Khung đánh giá tổ chức, thực hiện và tác động của chính sáchNKDV GDĐH 44Bảng 2.1: Số trường CĐ, ĐH trên cả nước giai đoạn 2000-2014 57Bảng 2.2: Đội ngũ GV các trường CĐ, ĐH giai đoạn 2009-2013 59Bảng 2.3: Ý kiến đánh giá về các văn bản pháp quy đã được ban hành chỉ đạothực hiện chính sách NKDV GDĐH 71Bảng 2.4: Thống kê số chương trình liên kết theo địa phương 93Bảng 2.5: Tổng hợp mức độ hài lòng của các đối tượng hưởng lợi từchính sách NKDV GDĐH 95Bảng 2.6: Đánh giá của người sử dụng lao động về mức độ ưu tiên đối với SVtham gia chương trình từ NKDV GDĐH 99Bảng 2.7: Đánh giá về CL của SV tốt nghiệp từ các CTNK GDĐH .100Bảng 2.8: Đánh giá mức độ đáp ứng của các điều kiện đảm bảo thực hiệnchính sách về NKDV GDĐH 102Bảng 2.9: Đánh giá của lãnh đạo các trường đại học về mức độảnh hưởng của các yếu tố đến NKDV GDĐH 103 Bảng 2.10: Đánh giá của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các yếu tốđến NKDV GDĐH 104 Bảng 2.11: Đánh giá của SV về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến NKDVGDĐH 105Bảng 2.12: Ý kiến đánh giá về chính sách NKDV GDĐH ở Việt Nam

106 Bảng 3.1: Thang đo tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số đánh giá chính sách NKDVGDĐH 137 Bảng 3.2: Ý kiến đánh giá của chuyên gia quản lý giáo dục về sự cần thiết củacác giải pháp được đưa ra trong luận án 148 Bảng 3.3: Tỷ lệ ý kiến các chuyên gia về giải pháp “Nâng cao nhận thức cho các chủ thể quản lý về tầm quan trọng của nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại họctrong thời kỳ HNQT ” 150

Trang 12

Bảng 3.4: Tỷ lệ ý kiến các chuyên gia về giải pháp “Hoàn thiện hệ thống văn

bản quy phạm pháp luật và cơ chế quản lý hoạt động NKDV GDĐH trongthời kỳ HNQT ” 150 Bảng 3.5: Ý kiến các chuyên gia về giải pháp: “Xây dựng kế hoạch tổng thểNKDV GDĐH Việt Nam trong thời kỳ HNQT” 151 Bảng 3.6: Ý kiến các chuyên gia về giải pháp “Đề xuất hệ thống tiêu chuẩn,thang và chỉ số đánh giá chính sách NKDV GDĐH" 152

Bảng 3.7: Ý kiến các chuyên gia về giải pháp “Tăng cường năng lực củachủ thể thực hiện chính sách NKDV GDĐH” 153Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả đánh giá chính sách "Khuyến khích mởrộng hợp tác song phương" theo Hệ thống tiêu chí đề xuất 155

Hình 2.3: Tỷ lệ GV có trình độ SĐH giai đoạn 2001 – 2012 60

Hình 2.4 Số lượng các CT LKĐT được phê duyệt giai đoạn 2009-2014

78Hình 2.5: Cơ cấu hệ đào tạo liên kết 78Hình 2.6: Cơ cấu ngành nghề liên kết 79Hình 2.7: Số lượng các chương trình LKĐT phân bố theo quốc gia 80

Hình 2.8: Tỷ lệ cấp bằng cho các chương trình liên kết 81Hình 2.9: Ý kiến đánh giá của sinh viên về giáo viên nước ngoài 86Hình 2.10: Đánh giá của SV về giáo viên Việt Nam 87Hình 2.11: Đánh giá về cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và tài liệu giảng dạy 89Hình 2.12: Ý kiến đánh giá về các điều kiện NKCT của cơ sở GDĐHViệt Nam 90Hình 2.13: Ý kiến đánh giá về các dịch vụ nhập khẩu 98Hình 2.14: Tỷ lệ ý kiến về sử dụng học viên sau khi tốt nghiệp 98Hình 2.15: Đánh giá về “giá trị gia tăng” của CSĐT Việt Nam khiNKDV GDĐH 101Hình 2.16: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến NKDV GDĐH 105

SƠ ĐỒ:

Trang 13

x

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chứcthương mại thế giới WTO và bắt đầu thực hiện các cam kết GATS, trong đógiáo dục là một trong mười hai ngành dịch vụ mà Việt Nam có cam kết.Trên thực tế, khi đưa ra bản chào dịch vụ đa phương, mức cam kết của ViệtNam là khá sâu và rộng đối với GDĐH Theo đó, ta mở cửa cho phép cácnhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường GDĐH trong các lĩnh vực

kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa họckinh doanh, kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế Sự hiện diện thươngmại của các CSGD nước ngoài là không hạn chế đối với các CSLK kể từngày Việt Nam gia nhập WTO và cũng không hạn chế đối với các cơ sở100% vốn nước ngoài kể từ sau ngày 1/1/2009

Việt Nam có một thị trường DV GDĐH khá hấp dẫn với các nước XKGDĐH, với khoảng trên dưới 1 triệu học sinh tốt nghiệp trung học phổthông hàng năm Hiện nay, hệ thống GDĐH trong nước chưa đáp ứng đượcyêu cầu về các DV GDĐH, nhất là chất lượng GDĐH; chưa đáp ứng đượcnhu cầu học tập đa dạng về hình thức, về chất lượng cho nhiều nhóm ngườihọc khác nhau, nhất là đối với nhóm đối tượng có khả năng chi trả Sốlượng HS, SV Việt Nam đi du học nước ngoài ngày càng tăng, đặc biệt làkhoảng 15 năm trở lại đây Bên cạnh đó, các nhà cung cấp DV GDĐH nướcngoài cũng đang hướng đến thị trường Việt Nam qua phương thức 3 và 4trong cam kết GATS Với chính sách mở cửa về kinh tế, với sự bùng nổ vềnhu cầu NNL chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhiềuhoạt động NKNV GDĐH đã được thực thi

Hàng năm, ước tính Chính phủ và người dân Việt Nam chi hàng nghìn

tỉ đồng để NKDV GDĐH từ các nước Mỹ, Úc, Anh, Pháp, Canada, Đức,Nhật, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Malaysia, Trung Quốc cho khoảng70,000 SV Việt Nam du học nước ngoài Nguồn kinh phí này chủ yếu là từ nguồn kinh phí tự túc của người học

Bên cạnh đó, Việt Nam NK khá nhiều các CTĐT, mời các giáo sư, nhànghiên cứu, chuyên gia và triển khai hoạt động đào tạo tại Việt Nam Hoạt động

NK này được tiến hành bởi CSĐT Việt Nam gồm cả công lập, tư nhân,

Trang 15

và nhà đầu tư nước ngoài Một số hoạt động NK nằm ngoài, một phần thậm chí có thể là hoàn toàn, sự kiểm soát của Nhà nước.

Tuy nhiên, nhiều chính sách quản lý NK GDĐH Việt Nam vẫn xem DV GDĐH không phải là một ngành dịch vụ và đặc biệt chính sách NKDV GDĐH

ở Việt Nam không phải là chính sách chuyên biệt Hệ thống các định chế pháp

lý chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết thực tiễn sinh động của hoạt động NKnày Cơ chế quản lý còn quá tập trung, quan liêu, xin cho và thiếu hệ thốnggiám sát chất lượng một cách hiệu quả Cơ chế và các chính sách quản lý hoạtđộng NKDV GDĐH còn nhiều bất cập trong bối cảnh toàn cầu hóa HNQT Bêncạnh các hoạt động NK có sự điều tiết và kiểm soát bởi Nhà nước, còn có nhiềuhoạt động diễn ra tự phát, bị động bởi nhà XK vì mục tiêu lợi nhuận, có cáchành vi “lừa đảo” người học… Do vậy, đã xảy ra không ít sự việc đáng tiếc,gây hậu quả cho người học, làm nhiễu loạn thị trường DV GDĐH

Mặc dù đã có nhiều Hội thảo, Hội nghị, tọa đàm xung quanh những cơhội và thách thức đặt ra cho nền GDĐH khi Việt Nam gia nhập WTO, đã cónhiều diễn đàn trên các trang thông tin điện tử thảo luận về vấn đề này,nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nào về chính sáchNKDV GDĐH của các quốc gia và bài học khả năng áp dụng cho Việt Nam,vẫn vắng bóng những nghiên cứu đủ sâu để đo lường những tác động củaWTO/GATS đối với hệ thống GDĐH Việt Nam Do vậy, Việt Nam cầnnhiều hơn nữa các nghiên cứu chuyên sâu để từ đó đề xuất các chính sáchhữu hiệu, phù hợp, góp phần tăng cường quản lý các hoạt động NKDV

GDĐH trong bối cảnh đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Những phân tích trên là lý do để tôi chọn đề tài luận án tiến sỹ về “Chính sách nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở Việt Nam”.

Trang 16

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách NKDV GDĐH của Việt Nam

4 Giả thuyết khoa học

Việt Nam đã ban hành và thực thi chính sách về NKDV GDĐH, tuynhiên, các chính sách này còn một số mặt hạn chế nên chưa đáp ứng đượcyêu cầu HNQT Nếu vận dụng các phương thức cung cấp dịch vụ được quyđịnh trong Hiệp đinh GATS và kinh nghiệm các quốc gia, sẽ đề xuất các giảipháp hoàn thiện các chính sách NKDV GDĐH, đảm bảo tính cần thiết, khảthi nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐH trong thời kỳ HNQT

5 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

5.1. Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về chính sách NKDV GDĐH trong thời kỳ HNQT

- Kinh nghiệm của một số nước về chính sách NKDV GDĐH, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Thực trạng hoạt động NKDV GDĐH và chính sách NKDV GDĐH ởViệt Nam sau khi gia nhập WTO

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH trong thời

kỳ HNQT ở Việt Nam

- Khảo nghiệm, thăm dò tính cần thiết, tính khả thi một một giải pháp

và thử nghiệm một giải pháp được đề xuất trong khuôn khổ luận án

5.2. Phạm vi nghiên cứu

- Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiêncứu các chính sách cấp quốc gia, đồng thời xem xét việc thực hiện chínhsách này ở cấp trường (cấp cơ sở) về NKDV GDĐH

- Chính sách NKDV GDĐH được tiếp cận 4 theo phương thức: cungcấp qua biên giới; tiêu dùng ở nước ngoài; hiện diện thương mại; hiện diệnthể nhân

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức, thực hiện và tácđộng của các chính sách NKDV GDĐH từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO

- Nghiên cứu khảo nghiệm sự cần thiết và khả thi một số chính sáchNKDV GDĐH tại một số trường ĐH công lập ở Việt Nam: ĐH Ngoạithương, ĐH Kinh tế Quốc dân ĐH Hà Nội, ĐH Đà Nẵng và ĐH Thươngmại, ĐH Giáo dục - ĐH quốc gia Hà Nội

- Tổ chức thử nghiệm một giải pháp đã đề xuất

Trang 17

6 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp tiếp cận

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch

sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về phát triển, QLGD trong thời kỳ HNQT Các tiếp cận trong nghiên cứu củaluận án là:

- Tiếp cận lịch sử - logic: Tiếp cận này cho phép khi nghiên cứu các

chính sách cần đặt nó vào bối cảnh lịch sử cụ thể, cũng như các mối liên hệ

và phát triển theo logic biện chứng của sự vật và hiện tượng Vì vậy, khinghiên cứu, chính sách NKDV GDĐH cần xem xét tính đặc thù của pháttriển GDĐH Việt Nam trong quá trình hội nhập ngày càng sâu và rộng vớithế giới

- Tiếp cận thị trường: Tiếp cận này cho phép khi nghiên cứu các chính

sách nói chung và chính sách phát triển giáo dục nói riêng cần đặt nó vàomột môi trường KTTT Giáo dục là một loại hình DV đặc biệt, vì vậy chínhsách NKDV GD cũng phải tuân theo các quy luật của KTTT Trong quátrình giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp cận thị trường là phươngpháp chủ đạo để xây dựng khung lý luận nghiên cứu vấn đề, đánh giá thựctrạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH

- Tiếp cận hội nhập và toàn cầu hóa: Tiếp cận này cho phép khi nghiên

cứu các chính sách nói chung và chính sách phát triển giáo dục nói riêng cầnxem xét nó theo những chuẩn mực và luật chơi quốc tế Đây là phương pháptiếp cận chủ đạo trong việc lựa chọn những nội dung và hình thức NKDVGDDH phù hợp với những quy định của các hiệp định thương mại và dịch

vụ mà Việt Nam đã tham gia ký kết với quốc tế, nhưng vẫn đảm bảo bản sắcdân tộc của Việt Nam

- Tiếp cận thực tiễn: Nghiên cứu chính sách NKDV GDĐH của một số

nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore và Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay cũng như các hình thức NK DVGD theo quan điểmthương mại hóa của WTO

- Tiếp cận phân tích chính sách: Được sử dụng để phân tích các chính

sách NKDV GDĐH theo chu trình từ việc hoạch định, thực hiện, đánh giá vàđiều chỉnh chính sách

Trang 18

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ trên của luận án, các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu,

văn kiện của Đảng, Chính phủ về các chính sách NKDV GDĐH Phân tích,những tư liệu khoa học về chính sách NKDV GDĐH để xây dựng khung lýthuyết NKDV GDĐH thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và HNQT

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Cán bộ quản lý của các cơ

quan quản lý nhà nước về GDĐH, cán bộ quản lý và GV, những cựu SV,học viên cao học và NCS của các CSGD ĐH có áp dụng DVNK GDĐH.+ Phương pháp chuyên gia: Nhằm xác định đúng về thực trạng những

điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động NK và chính sách NKDV GDĐH ở ViệtNam, các tiêu chí thực hiện đánh giá chính sách NKDV GDĐH Việt Nam,các cách thức để khắc phục các yếu kém, thực hiện thành công công tác quản

lý hoạt động NKDV GDĐH ở Việt Nam Đồng thời, xin ý kiến các chuyêngia về sự phù hợp, cấp thiết và khả thi của các giải pháp về chính sách

NKDV GDĐH trong luận án

+ Phương pháp nghiên cứu điển hình: Lựa chon một số cơ sở GDĐH

điển hình trong việc thực hiện thành công hoặc thất bại trong việc triển khaicác hoạt động NKDV GDĐH, nghiên cứu sâu và rút ra những bài học kinhnghiệm trong việc áp dụng các chính sách trong quản lý lĩnh vực này

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Tổng kết kinh nghiệm

thực tiễn vận dụng các chính sách NKDV GDĐH thông qua các báo cáo tổng

kết về công tác này của các cơ quan quản lý GDĐH và của các cơ sở GDĐH.+ Phương pháp thống kê: Để xử lý các số liệu thống kê hiện có và kết

quả điều tra khảo sát thực trạng NKDV GDĐH

+ Phương pháp kiểm chứng và thử nghiệm: Trên cơ sở những giải pháp

đưa ra tác giả dự kiến kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các giảipháp thông qua ý kiến cán bộ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước vềGDĐH và các trường Ngoài ra, để chứng minh giả thuyết khoa học, đề tài

đã lựa chọn một số giải pháp được kiểm chứng có tính cấp thiết và khả thi cao đưa vào thử nghiệm

Trang 19

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các chính sách về NKDV GDĐH của Việt Nam bắt đầu từthời kỳ đổi mới đến thời điểm hiện nay, trong đó chủ yếu là giai đoạn sau khiViệt Nam gia nhập WTO Đồng thời, luận án nghiên cứu kinh nghiệm củamột số nước về NKDV GDĐH điển hình là Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore vàTrung Quốc

- Đánh giá thực trạng chính sách NKDV GDĐH của Việt Nam theo 4phương thức thực hiện: cung cấp qua biên giới; tiêu dùng ở nước ngoài;hiện diện thương mại; hiện diện thể nhân

- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH có hiệuquả, chất lượng, phục vụ cho mục tiêu hội nhập của đất nước

- Tổ chức thử nghiệm một giải pháp đã đề xuất

8 Luận điểm bảo vệ

- Chính sách NKDV GDĐH chỉ phù hợp với tiến trình HNQT khi việcban hành và thực thi cần phải tuân theo những quy luật của KTTT và nhữngđiều khoản quy định trong Hiệp định GATS

- Hoạt động NKDV GDĐH chỉ được cải thiện và phù hợp với sự pháttriển của giáo dục và tiến trình HNQT khi nó được tuân thủ theo khung đánhgiá chính sách phù hợp

- Chính sách NKDV GDĐH phải đảm bảo tính đồng bộ, khả thi, cần thiết

9 Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

10 Những đóng góp mới của luận án

- Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú thêm những

vấn đề lý luận về chính sách NKDV GDĐH trong bối cảnh HNQT Làm rõđặc tính của DV GDĐH; xây dựng khung lý thuyết đánh giá chính sáchNKDV GDĐH với Hệ thống tiêu chuẩn, thang, chỉ số và quy trình đánh giágồm 4 tiêu chuẩn, 11 tiêu chí và 42 chỉ số

- Về thực tiễn: Dựa trên khung lý thuyết để phân tích đánh giá toàn diện

thực trạng các chính sách NKDV GDĐH của Việt Nam; xem xét, phân tíchlàm rõ những điểm phù hợp và chưa phù hợp của các chính sách này và từnhững bài học kinh nghiệm quốc tế, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chínhsách NKDV GDĐH nước ta

Trang 20

- Về các đề xuất và kiến nghị: Luận án đã đề xuất các giải pháp hoàn

thiện các chính sách NKDV GDĐH Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, chấtlượng đào tạo NNL và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học trongthời kỳ HNQT

Trang 21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Quá trình HNQT đang diễn ra ở tất cả các quốc gia với quy mô và tốc

độ rất khác nhau Giáo dục không nằm ngoài những tác động này Vấn đềliên quan đến luận án đã được các nhà khoa học nghiên cứu và công bố tạinhiều công trình trong nước và trên thế giới Các nghiên cứu này có thể chiatheo một số tiêu thức cụ thể sau:

1.1.1 Nghiên cứu về GDĐH trong thời kỳ HNQT

Mary Louise Kearney, Giám đốc phụ trách ban thư ký UNESCO đã đềcập đến những thách thức hiện tại của GDĐH và SĐH như cung và cầu, chấtlượng và hiệu quả mang lại cho cả hai phía: CSGD và người được đào tạo;chính sách đổi mới CSHT và trình độ NNL Tác giả cũng nhấn mạnh vai tròngày càng tăng của các trường ĐH NCKH, đặc biệt là các nước OECD đã đầu

tư rất nhiều cho nghiên cứu ở các trường ĐH từ những năm 1990, trong đónghiên cứu ĐH, SĐH là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng trong GD.Diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”, 11-12/12/2006 tại Hà Nội, Philip Altbach cũng đã nghiên cứu và nhận định chung

về tác động của GATS “GATS tác động đến những vấn đề trung tâm củaGDĐH” như: tự chủ, ra quyết định, chính sách quốc gia… Và ông cũng nhậnđịnh những mặt trái của GATS: “Các thị trường mở, ít nhất trong GDĐH, thúcđẩy sự bình đẳng đang tồn tại Nếu biên giới giáo dục hoàn toàn được mở,những người cung cấp giáo dục mạnh nhất và giầu nhất sẽ thâm nhập mà không

bị giới hạn Các nước và các trường ĐH không đủ sức cạnh tranh sẽ rất khóphát triển Điều đó có nghĩa là các nước đang phát triển sẽ bị thiệt thòi Cáctrường ĐH địa phương sẽ khó cạnh tranh với những nhà cung cấp GDĐH xâydựng trường ở nước họ Các nhà cung cấp DV GDĐH nước ngoài sẽ chọn cácmảng béo bở dễ kiếm lời nhất của thị trường - thường là các ngành quản trịkinh doanh, CNTT, tài chính ngân hàng,… phần còn lại dành cho các trườngbản xứ Các lĩnh vực như khoa học cơ bản đòi hỏi các phòng thí nghiệm vàthiết bị tốn kém và không đem lại các điều kiện kiếm lợi trước mắt,

Trang 22

sẽ bị các nhà cung cấp nước ngoài bỏ qua…” Ông viết: “Toàn cầu hóa về trithức hiện vẫn đang hoạt động mạnh mẽ mà không cần phải khoác chiếc áocủa GATS và WTO Chúng ta sẽ tiến lên một sự toàn cầu hóa dựa trên sựbình đẳng chứ không phải chủ nghĩa thực dân mới” Ông đã chỉ ra những nétchính trong việc hoạch định chính sách GDĐH trong thời kỳ HNQT và camkết GATS [65].

Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của ChiristopherZiguras [95] và Mark A, Ashwill [106] mô tả về ảnh hưởng của GATS đốivới GDĐH của các nước đang phát triển ở châu Á, về chính sách của cácnước XNK DV GDĐH

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, đó là VũNgọc Hải [91] đã nghiên cứu vấn đề về quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội củacác trường ĐH Ông cho rằng: Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cáctrường ĐH ở nước ta hiện nay phải được coi là động lực chủ yếu, là đònbẩy để nhanh chóng phát triển GDĐH, là giải pháp cơ bản và hữu hiệu trongxóa bỏ cơ chế “xin cho” rơi rớt của chế độ tập trung, quan liêu, bao cấp vẫnđang tồn tại nặng nề hiện nay Giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm chocác trường ĐH của nước ta thì chắc chắn một điều là các trường có thể tựmình tạo ra cơ hội và đường đi ngắn nhất, hiệu quả nhất trong đào tạo NNLđáp ứng yêu cầu của HNQT

Tác giả Trần Văn Nhung [85] đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xâydựng giải pháp đào tạo cán bộ KHKT ở nước ngoài từ năm 1995 đến 2005”

Cơ quan chủ trì là Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Bộ GD & ĐT –

2000 Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ giai đoạn 2010 – 2020 của đất nước, nhómtác giả xây dựng các giải pháp đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật công nghệtại các CSĐT nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết TW2 của Đảng đến năm

2020 bằng ngân sách nhà nước kết hợp với sự giúp đỡ và hợp tác nướcngoài Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa đưa ra được những chính sách cho việcHTQT đối với GDĐH hay cụ thể hơn là đề tài chưa chỉ ra chính sách NKDVGDĐH cho Việt Nam trong thời kỳ HNQT một cách có hệ thống

Phạm Đỗ Nhật Tiến với nghiên cứu “Phát triển GDĐH Việt Nam trong bối cảnh nước ta gia nhập WTO” [62] đã nghiên cứu GDĐH Việt Nam sau

Trang 23

WTO với việc tích cực thực hiện các cam kết về GATS trong lĩnh vực giáodục Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng nền GDĐH nước ta phải thay đổi

để thích ứng với các điều kiện mới; yêu cầu thay đổi đã trở thành vấn đề toàncầu Ngoài ra, nghiên cứu của ông cũng đã đưa ra kịch bản về sự phát triểnGDĐH Việt Nam sau WTO là dựa trên giả thiết là bao giờ, như thế nào vàvới điều kiện gì Việt Nam sẽ mở cửa giáo dục theo các cam kết về GATS.Tác giả Bành Tiến Long [6], cũng đã đưa ra thực trạng quản lý nhà nước

về GDĐH thể hiện rất cụ thể trong Báo cáo tại diễn đàn quốc tế “Gia nhậpWTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”, Hà Nội, 12/2006: chiến lược, cơ chế,chính sách phát triển GDĐH không rõ ràng, mức độ chuẩn xác không cao;nhiều chính sách đã lạc hậu không đáp ứng kịp với sự phát triển KTXH; tư duyquản lý Nhà nước về GDĐH còn mang nặng quán tính của cơ chế bao cấp,mệnh lệnh chưa phù hợp với sự đổi mới của cơ chế kinh tế và HNQT; côngtác thống kê, thông tin rất yếu và thiếu chính xác; công tác kiểm tra, thanh tracòn mang nặng hình thức; hệ thống kiểm định và ĐBCL GDĐH vẫn chưa đánhgiá được chất lượng của các trường ĐH nước ta Từ thực trạng của nền giáodục nước nhà, ông đã đưa ra một số giải pháp cần phải thực hiện

1.1.2 Nghiên cứu về chính sách và chính sách GDĐH

Nghiên cứu về chính sách có công trình của Keely Brain (2007) [103].Tác giả nêu những tác động của toàn cầu hóa, CNTT và viễn thông đến cácquốc gia như dòng chảy nhân lực, khả năng tạo việc làm….Xã hội hiện đạiđòi hỏi những giá trị của các kỹ năng cao, các công việc phức tạp và sángtạo Như vậy, hiệu quả kinh tế của các nước phải dựa vào tri thức, kỹ năng,của nhân lực có trình độ

Các công trình nghiên cứu của Christopher Ziguras (2003) [97] Côngtrình mô tả ảnh hưởng của GATS đối với GDĐH của các nước đang pháttriển ở Châu Á và về chính sách của các nước XNK GD, về những tác độngtiềm tàng của chính sách như tài chính, ĐBCL, công nhận giá trị bằng cấp,tình trạng chảy máu chất xám và những câu hỏi đặt ra cho các nhà lãnh đạogiáo dục về vai trò của họ đối với nền giáo dục quốc gia

Heather Eggins [98] (2008), nghiên cứu “Các xu hướng và vấn đềtrong GDĐH” Ông đã đặt GDĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa, những ảnh

Trang 24

hưởng của nó đối với các nước trên thế giới nói chung và Châu Âu với sựphát triển của quá trình Bologa, những lợi thế do GDĐH, SĐH mang lại chocác nước khi đào tạo được nhân lực trình độ cao phục vụ cho chuỗi giá trịtoàn cầu Các chính sách công về GDĐH, SĐH, đặc biệt là đối với đào tạotiến sỹ của các quốc gia mới nổi, sức hút NNL chất lượng cao trên thế giớiđến các nước phát triển đã tác động như thế nào đến các chính sách ĐTĐH,SĐH của các nhà nước Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến dòng chảy SV ranước ngoài và hậu quả của nó Cuối cùng là một số giải pháp nâng cao vaitrò các trường ĐH, QLCL, cải tiến chương trình giảng dạy, chuyển dịchsang đào tạo tiến sỹ chuyên ngành.

Jane Knight [99] (2006), tác giả nghiên cứu “GDĐH xuyên biên giới,hướng dẫn thực hiện GATS về giáo dục xuyên biên giới” Jane Knight làmviệc tại trung tâm phát triển giáo dục quốc tế, Viện Ontario về nghiên cứugiáo dục, đại học Toronto, Canada Trong công trình nghiên cứu này, bêncạnh các vấn đề về chính sách, quy định, tác giả đặc biệt nghiên cứu về tínhphức tạp, rủi ro và các cơ hội bắt nguồn từ việc tăng cường chuyển dịchxuyên biên giới của các chương trình giáo dục và các nhà cung cấp giáo dục

Ở Việt Nam, mặc dù việc làm chính sách trong giáo dục là quan trọng,song ở nước ta còn ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Công trìnhnghiên cứu của Hà Thế Ngữ [40]: Ông nghiên cứu về chiến lược và dự báogiáo dục có thể được xem như công trình nghiên cứu mang tính quy mô và

hệ thống của nước nhà đầu tiên Song công trình của ông đã được gần 40năm, vì vậy cũng cần phải có những nghiên cứu mới, bổ sung để phù hợp vớigiai đoạn hiện nay và phù hợp với những cam kết quốc tế

Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, 2002 (đồng chủ biên) cuốn sách “Pháttriển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa” [37] Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của một đề tài cấp nhànước Tuy tập trung vào việc đào tạo nhân lực có trình độ cao cho CNTT,công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và tự động hóa, nhưng các tác giảnghiên cứu cơ sở phương pháp luận và phương pháp phát triển NNL KHCNnói chung, kinh nghiêm quốc tế về đào tạo NNL KHCN có trình độ cao nóiriêng Nhưng các tác giả chưa chỉ ra được cần phải có những chính sách ưutiên gì để đào tạo NNL cho những ngành ưu tiên đó

Trang 25

1.1.3 Nghiên cứu về chính sách XNK DV GDĐH

Mark A.Asawill (2006), [106] công trình nghiên cứu về “Sự lựa chọncác chương trình và đối tác nước ngoài” Ông đưa ra một số cảnh báo đốivới các nước tiếp nhận DV GDĐH hãy cẩn thận không chỉ với các cỗ máycấp bằng (degree mills) mà còn với các cỗ máy kiểm định công nhận(accredditation mills) Đặc biệt, ông đã chỉ ra chính sách HTQT trong giáodục là phải nhanh nhạy, sắc bén với thị trường Tuy nhiên, nghiên cứu củaông mới chỉ dừng lại ở việc mô tả, mang tính cảnh báo, chưa nghiên cứu vàđưa ra cụ thể một chính sách nào về GDĐH có yếu tố nước ngoài

Tiêu biểu trong nghiên cứu về chính sách XNK DV GDĐH là Hiệp ướcBologna [94] Hiệp ước này được Bộ trưởng giáo dục của 29 nước Châu

Âu ký vào năm 1999 và mở rộng cho các nước tham gia khi có nhu cầu Đếnnay, đã có 47 nước là thành viên của Hiệp ước Các quốc gia tham gia Hiệpước theo đuổi mục đích thành lập một khu vực GDĐH Châu Âu với cácchuẩn mực về bằng cấp và bảo đảm chất lượng có tính so sánh và tươngthích hơn trong toàn Châu Âu đến năm 2010

Ở Việt Nam, có công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Bá Lãm vàPhạm Thành Nghị về “Chính sách và kế hoạch trong QLGD” [36] Nội dungtrong cuốn sách bàn về các vấn đề lý luận của chính sách Các tác giả đãtrình bày các khái niệm cơ bản của chính sách, chiến lược, kế hoạch và mốiliên quan giữa các phạm trù này Cuốn sách mô tả sự phức tạp và đa dạngcủa phạm trù chính sách Các vấn đề về quy trình xây dựng chính sách, lập

kế hoạch chính sách cũng được đề cập đến trong cuốn sách Nhưng côngtrình mới chỉ dừng lại ở việc khái quát chứ chưa đánh giá chính sách cụ thể

về GDĐH Chưa đề cập đến chính sách NKDV GDĐH của Việt Nam trongthời kỳ HNQT

Trong cuốn chuyên khảo “Chính sách quản lý XNK GDĐH kinh nghiệmquốc tế và sự lựa chọn của Việt Nam” do Lê Phước Minh (chủ biên) [50], tácgiả cũng chỉ ra bối cảnh GDĐH trong và ngoài nước trong giai đoạn hiện nay,làm rõ các khái niệm, nhận thức khác biệt về các chính sách quản lý XNKGDĐH, thể hiện quan điểm, đường lối của một số quốc gia về lĩnh vực XNKGDĐH Tuy nhiên, tác giả cũng chưa phân tích, đánh giá được

Trang 26

một số tác động của các chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước ViệtNam về hoạt động XNK DV GDĐH hiện nay.

Cuốn sách [42] “XNK DV GDĐH của Việt Nam” do Hoàng Văn Châuchủ biên và nhóm tác giả: Vũ Thu Hiền, Đào Ngọc Tiến đã đề cập về DV,DVGD cũng chỉ ra kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển XNK giáodục; phân tích các hoạt động XNK như quy mô, hệ thống các trường ĐH vàđội ngũ giáo viên, nguồn vốn và các phương thức XNK DV GDĐH; địnhhướng và giải pháp phát triển GDĐH Việt Nam đến năm 2020 Tuy nhiên,nhóm tác giả cũng chưa phân tích, đánh giá tác động một cách cụ thể, chitiết của các chính sách XNK DV GDĐH của Việt Nam

Công trình mới nhất của Trần Khánh Đức (chủ biên) [84] Trong cuốnsách “Giáo dục và phát triển NNL trong thế kỷ XXI” đã đề cập đến các vấn

đề như KTTT và giáo dục trong khuôn khổ WTO, chính sách và chiến lượcphát triển giáo dục Nhưng tác giả chưa phân tích, đánh giá sâu ảnh hưởngcủa chính sách XNK DV GDĐH; chưa hệ thống hóa các chính sách NKDVGDĐH của Việt Nam trong thời kỳ HNQT

Luận án của Chu Trí Thắng [30] “Chính sách hợp tác nước ngoài vềđào tạo SĐH của Việt Nam trong thời kỳ HNQT” đã phân tích, đánh giá cácchính sách HTQT về đào tạo nhân lực SĐH của Việt Nam theo quan điểmHNQT, phát triển nhân lực, phát triển kinh tế, xã hội và đề xuất hoàn thiênchính sách HTQT về ĐT SĐH Tuy nhiên, tác giả chưa đánh giá đầy đủ cácnội dung của chính sách HTQT về đào tạo GDĐH trong thời HNQT

Gần đây một số Hội thảo khoa học về chính sách trong giáo dục đã

được tổ chức Có thể kể đến Hội thảo: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực

tiễn của các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về GD & ĐT trong bối cảnh nền KTTT định hướng XHCN” Hội thảo quốc tế: “Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ QLGD trong tiến trình đổi mới giáo dục” do Trường Đại

học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tại Hà Nội tháng 12/2009[88]

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về GDĐH Việt Nam trong bốicảnh HNQT của Nguyễn Công Giáp, nghiên cứu các giải pháp QLGD trongmôi trường hội nhập WTO (2008), Học Viện Quản lý giáo dục, Hà Nội [54],Phạm Phụ (2005), về khuôn mặt mới của GDĐH Việt Nam, Nxb ĐH

Trang 27

Quốc gia TP Hồ Chí Minh [64] và nhiều tác giả như Lâm Quang Thiệp,Phạm Đỗ Nhật Tiến Các tác giả đã mô tả bức tranh về toàn cầu hóa

HNQT, đồng thời cũng chỉ ra thuận lợi, khó khăn đối với GDĐH Việt Namkhi gia nhập WTO

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Mặc dù có nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm đến GDĐH vàđặc biệt là GDĐH trong thời kỳ HNQT, nhưng đến nay chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách hệ thống các chính sách NKDV GDĐH, chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng, các điều kiện,

cơ sở pháp lý xây dựng và hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH nâng caoCLĐT, góp phần phát triển NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu HNQT.Trong thời kỳ HNQT, NNL có trình độ cao được coi là chìa khóa vạnnăng của mỗi quốc gia trong phát triển bền vững: kinh tế, chính trị, văn hóa

và xã hội Trong quá trình nghiên cứu đã cho thấy nếu giáo dục nói chung vàđặc biệt là GDĐH biết tận dụng các thế mạnh của quá trình hội nhập sẽnhanh chóng đạt thành công trên mọi lĩnh vực Nhưng cũng có điểm cần lưuý: Quá trình hội nhập sẽ tạo nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít nhữngthách thức đối với mỗi quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển

Vì vậy, các nước đang phát triển phải chuẩn bị những chính sách hữu hiệu nhằm tận dụng quá trình toàn cầu hóa và HNQT này Nếu không chuẩn bị tốt, có nước sẽ rơi vào bẫy của các quốc gia lớn, các quốc gia phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách NKDV GDĐH của Việt Nam trong thời kỳ HNQT để tạo NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu HNQT, là hết sức cần thiết.

1.2 Chính sách và đánh giá chính sách

1.2.1 Khái niệm chính sách

1.2.1.1 Khái niệm

Theo ngôn ngữ quốc tế, chính sách - Policy - để chỉ những biện pháp rất

cụ thể, hướng đích với những điều kiện, những ràng buộc, những giới hạn đểthực hiện chủ trương, đường lối… của Nhà nước cầm quyền Chính sáchđược hiểu như công cụ của bộ máy cai trị, áp đặt lên hệ thống bị cai trị,trong phạm vi mà quyền lực cai trị cho phép

Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: “Chính sách là những chế tài

phải cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ được thực hiện trong một thời

Trang 28

gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [87] Định nghĩa này không chỉ giải thích tính hữu

hạn của chính sách, tính linh hoạt và tính mềm dẻo của chính sách, mà cònkhẳng định tính lịch sử, cụ thể, tính phù hợp với từng giai đoạn của chínhsách Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, mối tương quan giữa các lực lượng, mỗiđiều kiện để thực hiện… có thể sẽ khác đi, vì vậy, chính sách sẽ tùy theo đấy

mà thay đổi, để tăng thêm tính hiệu quả có thể đạt tới

Cuối thế kỷ XX, hai nhà khoa học K.James và J.S Coones, cũng đồng

quan điểm: “Chính sách là một công cụ có tính ước lệ và không rõ ràng,

hàm chứa nhiều nội dung phức tạp, được biểu hiện dưới nhiều góc độ, khía cạnh và diễn ra theo những chiều hướng khác nhau, nhưng có liên quan và tác động qua lại với nhau” [104] “Tính ước lệ và không rõ ràng” trong quan

điểm của K.James và J.S Coones được các tác giả lưu ý không phải trongmục đích cuối cùng, không phải về từng loại chính sách, cũng không phải về

ý nghĩa chính trị của nó, mà thiên nhiều về biện pháp, điều kiện và các nguồn lực thực hiện

Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra” [90] Như vậy, chính sách

có thể được phân theo các đối tượng quản lý Trong luận án chủ thể quản lý là nhà nước, do đó chính sách công là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa

mà nhà nước đưa ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình.

Trong thực tiễn nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách tồn tại nhiềucách tiếp cận khác nhau, phản ánh những góc nhìn khác nhau về các chính sách.Theo tác giả Guba (1984) (Dẫn theo Đặng Bá Lãm và Phạm Thành Nghị [36]

có tới 8 cách hiểu chính sách như sau: chính sách là các quyết định hiện hànhcủa cơ quan quản lý, dựa vào đó để điều hành, kiểm tra, phục vụ và tác động tớimọi việc trong phạm vi quyền lực của mình; chính sách là các tiêu chuẩn ứng

xử được đặc trưng bởi tính kiên định và quy tắc trong một số lĩnh vức chủ yếu;chính sách là sự định hướng các hành động mong muốn; chính sách là quy tắcứng xử đã được thừa nhận thông qua

Trang 29

các quyết định của chính quyền một cách chính thức; chính sách là sự xác nhậncác ý định và mục đích; chính sách là đầu ra, là kết quả tổng hợp của tất cả cáchành động, các quyết định và ứng xử của các cấp quản lý; chính sách là kết quảcủa hệ thống hoạch định và thực thi trong quản lý và cuối cùng chính sách làchiến lược dùng để giải quyết hoặc làm cho tốt hơn một vấn đề.

Tóm lại, khi định nghĩa về chính sách, các tài liệu khoa học trong vàngoài nước, tập trung trả lời những câu hỏi sau:

- Cần những điều kiện gì để thực hiện? Trong phạm vi nào?

Nghiên cứu các khái niệm trên, những giới hạn và các bối cảnh ra đời

một chính sách, tác giả xin nêu một nhận thức tổng quát: “Chính sách là cụ

thể hóa cách thức thực hiện các chủ trương, đường lối của nhà nước cầm quyền về một vấn đề cụ thể trong một thời gian nhất định”.

1.2.1.2 Phân loại chính sách

Thông thường khi giải quyết một vấn đề hoặc một lĩnh vực nào đó có thể

có nhiều loại chính sách khác nhau cùng giải quyết một vấn đề đặt ra trong thựctiễn Do vậy, cần phân loại các chính sách theo một số tiêu chí sau:

- Theo cấp ban hành chính sách, có chính sách quốc gia, chính sách cấpngành, chính sách địa phương Và có các chính sách quốc tế do các tổ chứcliên quốc gia, các tổ chức quốc tế ban hành

- Theo đối tượng thụ hưởng, người ta phân biệt chính sách chung, tức áp dụng chung cho mọi đối tượng và những chính sách cụ thể, riêng cho từng đối tượng.

- Theo thời gian liên quan đến hiệu lực của chính sách, có thể phân ra thành chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn, chính sách dài hạn

+ Chính sách ngắn hạn, thường là những quy định của pháp luật, đượcthực hiện trong một khoảng thời gian ngắn, đem lợi ích đến các đối tượng

mà nó điều chỉnh, bằng các nguồn lực ngắn hạn

+ Chính sách trung hạn là những quy định có hiệu lực trong trung hạn,điều chỉnh các vấn đề mà chính sách này nhắm đến, trong trung hạn hoặcbảo đảm lợi ích cho đối tượng thụ hưởng trong khoảng thời gian lớn hơnngắn hạn, nhưng chưa đủ để gọi là dài hạn

Trang 30

+ Chính sách dài hạn là khoảng thời gian dài để quy định cho một chínhsách nào đó, từ khi ban hành đến khi kết thúc Mọi yếu tố từ mục tiêu củachính sách, đến các điều kiện thực hiện, đối tượng tác động, hiệu lực thihành, lợi ích mang lại, những chi phí (gồm cả chi phí cơ hội)… đều có tínhdài hạn, tính chiến lược, liên quan đến các mục tiêu bền vững Chính sáchdài hạn, thường là của quốc gia, bao trùm ở nhiều lĩnh vực của xã hội, tácđộng đến nhiều đối tượng, trong quá trình thực thi.

- Phân loại theo các lĩnh vực liên quan, những đối tượng hoặc lĩnhvực chịu sự điều chỉnh của chính sách, ta thường gặp chính sách kinh tế,chính sách xã hội, chính sách GD & ĐT… Đây là những loại chính sách mà

sự phân biệt nó ngay từ tên gọi, tức đối tượng mà nó tác động, điều chỉnh.Phân loại theo tiêu thức này ta dễ dàng nhận thấy trực diện những hành động

mà chính sách có thể can thiệp, tác động Ở đây, không phân biệt đâu làchính sách ngắn, trung hoặc dài hạn, cũng không phân biệt phạm vi bao trùmcủa chính sách, mà chỉ xác định những đối tượng của lĩnh vực nào mà chínhsách vươn tới, tác động; hoặc có thể đánh giá lợi ích mà chính sách mang lạicho hoạt động gì? Lĩnh vực nào? Người ta cũng gọi đây là cách phân loạitheo tính chất can thiệp của chính sách đến các vấn đề của KTXH

1.2.1.3 Chính sách công

Xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau dẫn đến cách đặt tên và vai tròcủa mỗi chính sách là sẽ khác nhau Từ đó, dẫn đến việc phân loại chính sáchcũng rất khác nhau Trong các loại chính sách ta thường thấy có một loại chínhsách tương đối phổ biến đó là chính sách công Vậy chính sách công là gì?

Theo W.Jenkin - nhà kinh tế học Hoa Kỳ (1978) cho rằng: “Chính sách

công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [59] Quan niệm này của

W.Jenkin liên quan đến người (bộ phận quản lý) ban hành chính sách công,bất luận chính sách này được thực hiện ở khu vực công hay khu vực tưnhân? Đem lại lợi ích cho ai? Có hiệu lực lâu dài hay ngắn hạn? Một điểmnữa, cần chỉ ra là W.Jenkin quan niệm chính sách (mà ở đây là chính sáchcông) bao gồm tập hợp các biện pháp, các giải pháp, có liên quan mật thiết

Trang 31

với nhau, tác động đến mục tiêu cuối cùng của quản lý Theo

William.N.Dunn: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa

chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” Quan niệm này

của Dunn khẳng định rõ hơn xuất xứ của một chính sách công, đó là do cơquan nhà nước (tức cơ quan quyền lực công cộng) đề xuất, hoặc do các quanchức nhà nước khởi thảo trình ra Như vậy, đặc điểm cơ bản nhất của chínhsách công là người (hoặc cơ quan) đề xuất, phải là đại diện cho cơ quancông quyền gắn với lợi ích công cộng và về tính chất phải có tính công cộng.Chính sách công không cụ thể về thời gian hiệu lực, về các lĩnh vực mà nócan thiệp, nó chỉ nhấn mạnh đối tượng mà chính sách công can thiệp, và đặcbiệt, người (hoặc cơ quan) ban hành chính sách công, phải là cơ quan côngcộng có quyền lực - gọi tắt là cơ quan công quyền

Xem xét, mổ xẻ các hướng tiếp cận khác nhau của các học giả nướcngoài có thể tóm lược những đặc trưng cơ bản của chính sách công như sau:

- Thứ nhất, người ban hành chính sách công là nhà nước (hoặc cơ quan

do nhà nước chỉ định) Người thực hiện chính sách lại không nhất thiết chỉ

là các cơ quan nhà nước, các đơn vị đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, cácđối tượng chỉ mang lợi ích công cộng, mà bao hàm cả các đối tượng tưnhân, những cơ quan hành động theo lợi ích của từng nhóm dân cư, tấtnhiên, các lợi ích này không đối lập nhau, không loại trừ lẫn nhau Giữa khuvực tư nhân và khu vực công chịu sự điều chỉnh của chính sách công, đều cómột mục đích Do vậy, chính sách công sẽ gồm nhiều quyết định không bàitrừ lẫn nhau, đem lại lợi ích chung cho các đối tượng mà nó tác động

- Thứ hai, chính sách công là những quyết định hành động, tức là nó đã

vượt qua quá trình hoạch định chính sách, chỉ còn tổ chức thực thi và đánhgiá hiệu quả thực hiện chính sách thôi Các chính sách công thường tác độngtrực tiếp lên đối tượng quản lý, đặt ra yêu cầu, quy trình để thực hiện, chứtuyệt nhiên không còn phải khảo sát, thử nghiệm Người ta nhìn vào chínhsách công là thấy được các chuỗi hành động kế tiếp nhau, tác động vào đốitượng quản lý đến khi đạt mục đích cuối cùng

- Thứ ba, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.

Các quyết định của chính sách công chính là quyết định hành động, được thể

Trang 32

hiện trong những văn bản Luật, các quy định dưới luật, các điều kiện thựchiện, những đối tượng mà chính sách hướng tới…

1.2.1.4 Chu trình chính sách

Chu trình được hiểu là thời gian cần thiết để hoàn thành một vòngquay, sau đó lặp lại vòng tiếp theo, kể cả các sự kiện, những diễn tiến và kếtquả đạt được khi thực hiện một công việc nào đấy Trong thực tiễn quản lýkinh tế - xã hội, các quy định, chính sách, giải pháp đều tuân theo một chutrình nhất định Có 03 bước công việc cho một chu trình đó là: Hoạch định,thực thi và đánh giá Không giống một số chu trình khác, chu trình chínhsách đòi hỏi thực hiện nghiêm các công đoạn trên, theo một thứ tự đã định.Không thể thay thế bước phân tích cho khâu thực thi; cũng không thể thaythế hoạch định cho đánh giá Đây chính là căn cứ khoa học cho những đềxuất đổi mới, tiến bộ Đây cũng là quy trình thúc đẩy mọi sự vật phát triển.Chu trình chính sách có thể cụ thể hóa bằng Hình 1.1:

Thứ nhất, hoạch định chính sách là khâu quan trọng bậc nhất, ở chỗ, đề

xuất chuẩn có kết quả, hiệu quả, đem lại lợi ích lớn; đề xuất không chuẩn tổn phí nguồn lực, mất hiệu quả, thậm chí tạo ra hiệu quả ngược, hiệu quả

-âm, làm xáo trộn và mất ổn định xã hội Vì tầm quan trọng của nó, người ta

đề xuất quy trình hoạch định chính sách, gồm một số bước:

Trang 33

xác định sự cần thiết khách quan, tính cấp bách phải hoạch định chính sách;chỉ rõ nhân tố khách quan và chủ quan sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạchđịnh, đề xuất và tổ chức thực thi; dự thảo các phương án chính sách; thảoluận để lựa chọn phương án tốt nhất; thẩm định và hoàn thiện phương án lựachọn; nghị quyết ban hành chính sách.

Thứ hai, thực thi chính sách gồm tất cả các hoạt động triển khai trong

thực tiễn, đưa chính sách đến đối tượng có trách nhiệm thực thi; giải thíchnhững chỗ còn vướng mắc, bảo đảm các nguồn lực, các điều kiện để thựchiện; xem xét các khía cạnh khác nhau, khách quan và chủ quan có tác độngtrực tiếp đến khâu thực hiện; thúc đẩy các nhân tố hỗ trợ quá trình thực hiện

để bảo đảm kết quả cuối cùng của chính sách Nếu hoạch định là hình thànhchính sách, thì thực thi là hiện thực hóa những mong muốn, những kỳ vọngcủa chính sách trong đời sống KT - XH, làm cho chính sách có giá trị, khẳngđịnh tính đúng đắn, hợp lý, đáp ứng những đòi hỏi khách quan từ thực tiễn.Người ta sẽ nhìn thấy sức sống của chính sách từ khâu thực thi, đồng thờikhẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chính sách trong đời sống.Chính sách công có nhiều ý nghĩa với công chúng, đem lại hiệu quả và lợiích cho số đông, nên càng quan trọng Trong thực tế, ta đã chứng kiến cóchính sách chết yểu, có chính sách tồn tại lâu dài, cũng chính vì ý nghĩa đó

Thứ ba, đánh giá chính sách, mặc dù là khâu cuối cùng của quy trình,

nhưng có liên quan rất nhiều đến hoạch định và đặc biệt, thực thi chính sách

Có thể khâu hoạch định chưa hoàn hảo, những thực thi tốt, các giải pháp đềxuất đã tính hết đến các khả năng, bao quát được các khía cạnh khác nhaucủa thực tiễn, ứng phó rất tốt với những thay đổi của thực tại khách quan,chắc chắn sẽ có kết quả tốt Như vậy, đánh giá chính sách được hiểu nhưchứng minh tính hữu ích của các biện pháp đưa ra, hoặc chỉ rõ những chỗthiếu hoàn thiện của khâu hoạch định, đặc biệt là khâu thực thi chính sách.Tuy nhiên, cần hiểu chính xác, là khi chính sách đã được triển khai, đủ để cóthể cho những kết quả đầu tiên, thì chính sách đó cần phải được đánh giá

Trang 34

1.2.2 Đánh giá chính sách

1.2.2.1 Khái niệm đánh giá

Đánh giá là việc xem xét, rà soát một cách có hệ thống và khách quan về

kế hoạch, chương trình, dự án đang triển khai hoặc đã hoàn thành Đánh giágiúp làm rõ việc tuân thủ, thực hiện trách nhiệm giải trình về những khó khăn,vướng mắc nảy sinh nhằm tìm biện pháp khắc phục hoặc phòng ngừa Đánh giá

là một phần trọng yếu của công tác quản trị quốc gia hiệu quả nhằm cải thiệntính tính minh bạch, trách nhiệm việc ra quyết định được thông tin đầy đủ Do

đó, đánh giá cũng là công cụ cho cải cách khu vực công

Thuật ngữ “đánh giá” được đặt trong bối cảnh phát triển và được sử

dụng theo định nghĩa của Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC) của OECD là: “sựđánh giá có hệ thống và khách quan về dự án, chương trình hoặc chính sáchđang tiến hành hoặc đã hòan thành về thiết kế, việc thực hiện và kết quả củachúng với mục đích xác định mức độ phù hợp và đạt được mục tiêu, tínhhiệu quả và hiệu lực trong phát triển, tác động và tính bền vững”

Đánh giá phải cung cấp được thông tin đáng tin cậy và hữu ích, chophép lồng ghép các bài học đã rút ra được trong quá trình ra quyết định.Đánh giá một cách có hệ thống các dự án, chương trình, thể chế và chínhsách là điều có ý nghĩa sống còn nhằm nâng cao tính trách nhiệm với kết quảhoạt động, việc rút ra các bài học cần thiết và hiệu chỉnh chính sách trongkhu vực công [53] Thành công cuối cùng của đánh giá phụ thuộc vào việc

các nhà lập kế hoạch và ra quyết định đã sử dụng các phát hiện của công tác

đánh giá và các bài học rút ra hữu hiệu đến đâu để hoàn thiện việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch Vì thế, việc xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa một bên là công tác đánh giá và bên kia là việc hoạch định chính sách, cải cách, lập kế hoạch và ngân sách là điều cần thiết.

Theo Nguyễn Trung Thắng và Hoàng Hồng Hạnh: “Đánh giátác đông ̣ chính sách là dự báo những tác động có thể xảy ra của một dự thảo chính sách hoặc đo lường , phân tích các tác động về KT - XH, môi trường đã xảy

ra sau khi thực hiện môṭchinh́ sách đa ̃ban hành” [58]

1.2.2.2 Mục đích của đánh giá

Mục đích của đánh giá là trả lời các câu hỏi: “Vì sao”, tức là cái gì gây

ra các thay đổi; “Như thế nào”, tức là tiến trình nào dẫn đến các kết quảthành công hay thất bại; “Việc tuân thủ và trách nhiệm đến đâu”, tức là làm

Trang 35

rõ các hoạt động đã lên kế hoạch có được thực hiện theo kế hoạch hay không

(i) Đánh giá, kiểm tra định kỳ 5 tiêu chí liên quan đến tình hình thựchiện là: tính thích hợp, hiệu suất; hiệu quả; ảnh hưởng/tác động và tính bềnvững (của một hoạt động, chương trình, dự án);

(ii) Phân tích và làm rõ sự tương quan giữa kết quả đạt được trên thực

tế so với mục tiêu đã nêu trong văn bản được cấp thẩm quyền phê duyệt;

khuyến nghị các hành động khắc phục, giải quyết phòng ngừa hiệu quả;(iv) Đảm bảo tuân thủ các quy trình, thủ tục pháp lý;

(v) Cung cấp thông tin cho các bên liên quan về kết quả và tác động củachương trình, dự án (kết quả tác động đó có bền vững không?);

(vi) Rút ra bài học kinh nghiệm cho việc lập kế hoạch và thiết kế các hoạt động chương trình, dự án tiếp theo và hoàn thiện các chính sách phát triển;(vii) Tạo điều kiện thực hiện trách nhiệm giải trình, bao gồm cả việc cung cấp thông tin cho công chúng

Ngoài ra, theo Jean [44], mục tiêu chính của đánh giá chính sách công

là thông tin về việc đưa ra quyết định nhằm trả lời câu hỏi: Điều gì đã và sẽdiễn ra nếu chính sách không được triển khai? Khi đó, khó khăn nằm ở việclựa chọn một kịch bản đối chứng để đối chiếu với chính sách có liên quannhằm đánh giá những tác động quan sát được hay những tác động kỳ vọng

1.2.2.3 Phương pháp tiếp cận đánh giá

Lý thuyết đánh giá chính sách công được nhiều nhà khoa học tiếp cậntheo nhiều hướng khác nhau Có thể tóm lược các cách tiếp cận đánh giáchính sách như sau:

Thứ nhất, tiếp cận trước – sau:

Theo Jean [44], có hai cách tiếp cận truyền thống trong đánh chính sách

là: Một là, cách tiếp cận sau: là cách tiếp cận mang tính thực chứng Đây

là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai Cách tiếp cậnnày dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng Nó

áp dụng các phương pháp kiểm nghiệm hay bán kiểm nghiệm phỏng theocác ngành khoa học khác và áp dụng cho các chương trình cung cấp dịch vụtối thiểu, các chương trình hội nhập nghề nghiệp…

Trang 36

Hai là, cách tiếp cận trước: thiên về đánh giá các chính sách kinh tế vĩ

mô Đây là cách tiếp cận mang tính chuẩn tắc: người ta nghiên cứu tác độngtiềm năng của các chính sách sẽ được triển khai Phương pháp này dựa vàocác mô hình kinh tế vĩ mô xác định các nhóm tác nhân đại diện, một sốnhóm hộ gia đình, những nông dân nghèo… Đôi khi kết hợp với các mô hình

mô phỏng vi mô Phương pháp này tiến hành phân tích ở cấp độ sâu hơn.Cách tiếp cận này quan tâm đến các chính sách cơ cấu” [44]

Nguyễn Trung Thắng và Hoàng Hồng Hạnh cũng đưa ra: “Đánh giá tácđộng chính sách gồm hai loại:

(i) Đánh giá tác động chính sách trước khi ban hành là hoạt động phân tích, dự báo những tác động có thể có của chính sách sắp được ban hành.(ii) Đánh giá tác động sau khi ban hành chính sách là việc rà soát, xemxét các tác động do việc thực thi chính sách sau khi ban hành đã tạo ra, làm

cơ sở để chỉnh sửa, hoàn thiện hoặc bãi bỏ chính sách” [58]

Thứ hai, tiếp cận "đáp ứng nhu cầu":

Đã có nhiều bài học kinh nghiệm trên thế giới, cũng như ở Việt Nam về

sự thành công và thất bại trong thực thi các chính sách công Không thiếunhững chính sách được hoạch định và thực thi theo ý kiến chủ quan củangười lãnh đạo hay người làm chính sách dựa trên những đánh giá chủ quancủa họ về nhu cầu hay sự cần thiết phải thực thi chính sách đó Điều này đưatới một số chính sách thiếu bền vững do chúng được hoạch định và thực thi

mà không đáp ứng nhu cầu của người hưởng lợi Nhằm khắc phục vấn đềchính sách không đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, các nước đã hướngđến tiếp cận nhu cầu trong chính sách công

Một là, những ai có nhu cầu và hưởng lợi trong chính sách:

- Những người trực tiếp hưởng lợi: Những người có liên quan trực tiếpđến chính sách

- Những người gián tiếp hưởng lợi: Những người có liên quan gián tiếp đến chính sách

Hai là, các yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu của người hưởng lợi trong chính sách: - Các đặc trưng KT - XH;

- Thu nhập của hộ gia đình;

- Các đặc trưng của của các bên liên đới;

- Thái độ của các bên tham gia đối với chính sách

Trang 37

Ba là, những điều kiện cơ bản cần thiết của chính sách hướng đến người hưởng lợi trực tiếp:

- Người hưởng lợi trực tiếp phải được thông tin về chi phí, lợi ích và rủi ro;

- Người hưởng lợi trực tiếp phải tự nguyện và có khả năng bầy tỏ nguyện vọng của họ;

- Sự đóng góp có ý nghĩa (bằng tiền, bằng thời gian) cho phép gia tăngquyền lực của khách hàng như loại dịch vụ, mức độ và cách thức dịch vụđược cung cấp

Thứ ba, tiếp cận theo chu trình chính sách

Chu trình chính sách bao gồm ba khâu: Hoạch định, thực thi và đánhgiá chính sách Phân tích đánh giá chính sách là xem xét lại toàn bộ các khâutrong chu trình chính sách, từ việc hoạch định, thực thi và đánh giá chínhsách nhằm đưa ra những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với thực tiễn

1.2.2.4 Nội dung đánh giá chính sách

Phối hợp 3 cách tiếp cận ở trên để xác định nội dung đánh giá chính sách như sau:

Thứ nhất, đánh giá việc hoạch định chính sách:

Đánh giá việc hoạch định chính sách là các công việc từ khảo sát, tập hợp

tư liệu thực tế, đề xuất (bao gồm vấn đề trọng tâm của chính sách, mục tiêuphải giải quyết, các nhiệm vụ phải thực hiện, những khả năng can thiệp củachính sách để lựa chọn phương án tốt nhất, chi phí thực hiện và kết quả, dựđoán hiệu quả, đề xuất tập phương án để lựa chọn phương án tối ưu…) Bêncạnh đó, còn là xem xét chính sách có phù hợp với nhu cầu định hướng pháttriển Tiêu chí đánh giá hoạch định chính sách cần trả lời các câu hỏi sau:

(i) Mục tiêu của chính sách có được xây dựng dựa trên nhu cầu của xã hội? (ii) Nội dung của chính sách có được xây dựng dựa trên phân tích thực

trạng và dự báo nhu cầu tương lai?

(iii) Nội dung chính sách có được xem xét điều chỉnh phù hợp với định hướng phát triển theo các giai đoạn khác nhau?

(iv) Các nhà quản lý là thành viên chính thức của nhóm hoạch định chính sách? (v) Các nhà quản lý được tham gia vào quá trình xây dựng các mục tiêu của chính sách? (vi) Các bên liên quan được tham gia/tham vấn trong quá trình xây dựng chính sách? (vii) Văn bản chính sách được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng?

Trang 38

Thứ hai, Đánh giá việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách:

Các tiêu chí dùng để đánh giá việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách, cần trả lời các câu hỏi:

(i) Việc tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp thực hiện được thực hiện như thế nào?

- Thành lập Ban chỉ đạo; xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách -

Thiết lập và vận hành hệ thống quản lý triển khai chính sách

- Phân công nhân sự và phân công trách nhiệm để thực thi chính

sách - Xây dựng cơ chế phối hợp thực hiện chính sách

(ii) Hướng dẫn thực hiện chính sách?

- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách

- Tập huấn cho các cán bộ, đơn vị thực thi chính sách

- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền về chính sách

- Ra thông cáo báo chí về chính sách

- Truyền thông về chính sách

Thứ ba, đánh giá việc thực hiện chính sách:

Triển khai thực hiện chính sách có tầm quan trọng, vì những khó khănnảy sinh trong quá trình thực thi chính sách sẽ dẫn đến việc điều chỉnh mụctiêu và nội dung của chính sách Mặt khác, thực hiện chính sách là quá trình

cụ thể hóa những ý tưởng của chính sách vốn mang tính trừu tượng vàothực tiễn sinh động nên thông tin ngược nhận được trong quá trình triểnkhai chính sách sẽ giúp đánh giá lại các mặt của quyết định chính sách vàthay đổi chính sách này Các tiêu chí dùng để đánh giá thực hiện chính sáchbao gồm các thông tin nhằm trả lời những câu hỏi sau:

- Các hoạt động cơ bản để thực hiện chính sách là gì?

- Có tạo ra các sự thay đổi không?

- Chính sách có đến đối tượng mục tiêu hay không?

- Khách hàng/người hưởng lợi có hài lòng không?

- Các nguồn lực về CSVC và tài chính có đảm bảo không?

- Nhân sự và phân công trách nhiệm để thực hiện chính sách như thế nào?

- Sự hiểu biết để triển khai chính sách có đảm bảo không?

Trang 39

- Hệ thống quản lý triển khai chính sách được thiết lập và vận hành như thế nào?

- Sự ủng hộ của các bên có liên quan ra sao?

- Những vấn đề gặp phải trong triển khai chính sách?

Thứ tư, đánh giá tác động của chính sách :

Đánh giá tác động của chính sách mới xuất hiện trong những năm gần

đây [44] “Đánh giá tác động” là một thuật ngữ nằm trong hệ thống các thuật

ngữ giám sát và đánh giá chương trình/dự án/chính sách Bởi vậy, cần phânbiệt giữa đánh giá tác động với các các cấp độ khác của giám sát và đánh giá.Khái niệm về các thuật ngữ chung được trình bày trong Bảng 1.1

Bảng 1.1: Khái niệm về các thuật ngữ liên quan đến đánh giá

Các nguồn lực tài chính, Nhân lực, chuyên môn kỹĐầu vào nhân lực và vật liệu sử dụng thuật; Trang thiết bị; Các

trong các dự án/ chương nguồn tài chính…

Là những ảnh hưởng hoặc Ví dụ: Các kỹ năng đượcKết quả Kết thay đổi ngắn hạn hoặc trung cải thiện; Các cơ hội nghềKết cấp độ 2 quả hạn đạt được từ các đầu ra nghiệp mới

Những hệ quả lâu dài của Ví dụ: Cải thiện đời sống,Kết quả Tác chương trình (kết quả kéo nâng cao chất lượng NNLcấp độ 3 động theo từ một sự việc), có thể đáp ứng yêu cầu của xã

là những ảnh hưởng tích cực hội trong thời kỳ HNQT.hoặc tiêu cực

(Nguồn: Dựa theo Giám sát và Đánh giá - Hướng dẫn của Yumi Sera

và Susan Beaudry, 2007; Bộ phận Phát triển Xã hội - Ngân hàng Thế

giới).

Trang 40

1.2.2.5 Phương pháp đánh giá

Có 2 cách đánh giá:

Thứ nhất, đánh giá đối chiếu: là đánh giá có sự so sánh việc thực hiện

của một cá nhân/tập thể về một nhiệm vụ xác định liên quan tới việc thựchiện của những cá nhân/tập thể khác cùng hoàn thành nhiệm vụ đó;

Thứ hai, đánh giá theo tiêu chí: là đánh giá dựa theo một số chuẩn mực

nhất định Sự khác biệt giữa hai loại đánh giá đối chiếu và đánh giá theo tiêu

chí được minh hoạ trong Bảng 1.2 (xem Bảng 1.2).

Bảng 1.2: So sánh giữa đánh giá đối chiếu và theo tiêu chí

Đánh giá đối chiếu Đánh giá theo tiêu chí

Đưa ra một công cụ so sánh việc Để xác định việc thực thi củathực hiện của các cá nhân, tập thể các cá nhân, tập thể so với cáctheo một hệ các nhiệm vụ đã định tiêu chí (mục tiêu) đã định

Sử Là một dụng cụ chọn lựa để Là một "trở ngại" để quyết địnhdụng chọn giữa các cá nhân, tập thể xem liệu một cá nhân, tập thể

cạnh tranh để có được các nguồn đã dành được đủ kiến thức hay

cấp độ hướng dẫn mới chưa.Nội dung có thể xác định bằng Nội dung phải được định racác mục tiêu chung bằng các mục tiêu cụ thể

Nội dung đánh giá không nhất Nội dung đánh giá phải gắnthiết phải gắn chặt với các mục chặt với các mục tiêu đã đề ra.tiêu nhất định nào đó

Mối liên quan giữa các phần Mối quan hệ giữa các phầnNội đánh giá và các mục tiêu có thể đánh giá và các mục tiêu phải

Các phần đánh giá thường là Tất cả các mục tiêu đã nêu cầnmột ví dụ đại diện cho một tập được đánh giá qua các phần;thể lớn hơn, một giả định đưa ra nếu chỉ đưa ra mô hình các

là thực thi theo một đại diện là mục tiêu là không thích hợp

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w