Để có được cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp của Tản Đà đối với nền văn học Việt Nam thế kỷ XX nói chung và giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX nói riêng, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề t
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các cứ liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Lệ Thủy
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 15
5 Bố cục luận văn 15
CHƯƠNG 1 TẢN ĐÀ TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 16
1.1.CUỘCĐỜIVÀSỰNGHIỆPVĂNCHƯƠNGTẢNĐÀ 16
1.1.1 Cuộc đời 16
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 19
1.2.TẢNĐÀTRONGLỊCHSỬVĂNHỌC-BÁOCHÍVIỆTNAMĐẦUTHẾ KỶXX 28
1.2.1 Đặc điểm văn hoá - xã hội và văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX 28
1.2.2 Tản Đà - người mang “làn gió mới” cho văn học Việt Nam 37
1.2.3 Những đóng góp nổi bật của Tản Đà đối với văn học, báo chí Việt Nam 39
Tiểu kết: 41
CHƯƠNG 2, TẢN ĐÀ - NGƯỜI MỞ ĐẦU LỐI TRUYỆN “LỊCH SỬ - GIẢ TƯỞNG” TRONG VĂN XUÔI QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX 43
2.1.THẾGIỚITHỰC–MỘNGTRONGVĂNXUÔITẢNĐÀ 43
2.1.1 Không - thời gian được nhào nặn từ kinh nghiệm thực tế, từ kiến thức sách vở, từ những mơ mộng phiêu diêu 44
2.1.2 Thế giới mộng ảo được biến thành hiện thực và được nhìn nhận bằng một cái nhìn gián cách 47
Trang 42.2.2 Những giai nhân, những nhân vật văn chương trong văn của Tản Đà
57
Tiểu kết: 66
CHƯƠNG 3 TẢN ĐÀ – NGƯỜI THỂ NGHIỆM MỘT LỐI VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI 68
3.1.TÍNHHIỆNĐẠITRONGVĂNXUÔITẢNĐÀ 69
3.1.1 Cốt truyện mới mẻ, hiện đại 70
3.1.2 Năng lực tưởng tượng, hư cấu tuyệt vời 76
3.2.GIỌNGĐIỆU,NGÔNNGỮĐỘCĐÁOCỦAVĂNXUÔITẢNĐÀ 80
3.2.1 Lối văn kể chuyện, nặng về lối văn nói, khẩu ngữ 81
3.2.2 Chất thơ trong văn xuôi Tản Đà 86
Tiểu kết: 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong dòng chảy lịch sử của văn học Việt Nam, Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu là một trường hợp rất đặc biệt, một hiện tượng độc đáo trên văn đàn Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ XX Những đóng góp của Tản
Đà đối với văn học Việt Nam trong thế kỷ XX đã quá hiển nhiên Mở đầu
cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân trong bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà đã viết những lời trân trọng về thi sĩ Tản Đà: “Anh em ở đây, tuy
người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ hai mươi Trên hội Tao Đàn, chỉ Tiên sinh là người của hai thế kỷ Tiên sinh sẽ đại diện cho một lớp người để chứng giám công việc ở người kế tiếp Ở địa vị ấy còn
có ai xứng đáng hơn Tiên sinh Đôi bài thơ của Tiên sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước, đã có một giọng phóng túng riêng Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa”
Bên cạnh mảng thơ mang đầy “hồn dân tộc”, sự nghiệp văn chương của Tản Đà cũng cần phải kể đến văn xuôi, không chỉ có một mà hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau Trong văn học Việt Nam, ông là một trong số ít những người đầu tiên lấy “mình” làm nhân vật trung tâm trong tác phẩm và ông cũng là văn sĩ chuyên nghiệp đầu tiên sống bằng lao động sáng tạo, bằng tài năng nghệ thuật của mình Những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu
của Tản Đà có thể kể đến Thề non nước (truyện ngắn), Giấc mộng con I và Giấc mộng con II (tiểu thuyết), Trần ai tri kỷ (truyện ngắn),
Tản Đà là người có công rất lớn trong việc đưa văn xuôi Việt Nam đi vào quỹ đạo của văn học hiện đại Tản Đà là nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên của văn xuôi Việt Nam Trong buổi văn chương quốc ngữ còn ở giai đoạn
Trang 6phôi thai thì Tản Đà đã xông xáo tìm tòi và thử nghiệm ở nhiều lĩnh vực và nhiều thể loại
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của Tản
Đà Tuy nhiên, phần lớn các công trình bàn nhiều về thơ ca Tản Đà, rất ít các nghiên cứu về văn xuôi của ông, nếu có thì cũng dừng lại ở những nhận định, những bài viết sơ lược, không chuyên sâu Chúng ta còn thiếu nhiều công trình nghiên cứu có quy mô, chất lượng về văn xuôi Tản Đà và những đóng góp của văn xuôi Tản Đà trong tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Để có được cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp của Tản Đà đối với nền văn học Việt Nam thế kỷ XX nói chung và giai đoạn nửa đầu thế kỷ
XX nói riêng, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài "Vai trò Tản Đà trong quá trình vận động của văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX" nhằm tiếp tục khẳng
định vai trò của Tản Đà - người đã có công trong việc chuyển tiếp giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử văn học Việt Nam, có thể nói Tản Đà là một trong những nhà thơ, nhà văn “phức tạp” nhất, bản thân là “khối mâu thuẩn lớn” (Tầm Dương), vì thế người ta ngại nghiên cứu về ông Người đương thời viết về Tản Đà với tư cách là những người bạn nghề, thường luận bàn về một vấn đề nào đó chứ ít đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ văn của ông Sau khi Tản Đà mất, giới nghiên cứu mới bắt đầu tìm hiểu về ông với tư cách là một tác gia Từ đó đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Tản Đà Hầu hết các bài viết về Tản Đà đều đề cập đến những đóng góp về văn chương của Tản Đà trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, đặc biệt là mảng thơ ca
Trang 7Một trong những bài viết sớm nhất về Tản Đà có lẽ là của Phạm Quỳnh Năm 1918, trên báo Nam Phong, học giả Phạm Quỳnh đã có bài viết
về Tản Đà với tiêu đề Mộng hay mị Trong bài viết này, tác giả đã thể hiện
một thái độ thân thiện, gần gũi nhưng hết sức kính trọng Tản Đà Phạm Quỳnh viết: “Ông là một bực thiên tài có một không hai trong nước Nam, bởi khí thiêng của sông núi mà chung đúc nên” [5, tr.166] Đánh giá về sự nghiệp văn chương của Tản Đà, Phạm Quỳnh cho rằng: “Ông Khắc Hiếu từ khi xuất bản tập Khối tình con, được mấy bài thơ văn từ khúc có giọng mới, có ý lạ, được quốc dân nhiều người cổ võ, cũng là để tưởng lệ mà mong cho cái văn
nghiệp của ông ngày tinh tiến mãi lên” [5, tr.166]
Vào năm 1933, Thiếu Sơn có bài Ông Nguyễn Khắc Hiếu; cũng trong năm này, Chất Dương Hằng Tự Quán có bài Ấm Hiếu không thể làm tú khôi hay là một cái ti – hiệu – luận giữa Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu Cả
Thiếu Sơn và Chất Dương Hằng Tự Quản đều chủ yếu đánh giá về “bản tính” của con người Tản Đà, phân tích về chí khí của nhà nho, cái ngông nghênh, cá tính của thi nhân nhưng họ cũng không quên ca ngợi cái tài hoa trong thi ca của Tản Đà Và Thiếu Sơn đã viết rằng: “Tản Đà tiên sinh là một nhà thi sĩ vậy Ông đã có cái khí tiết thanh cao, lại có cái tâm hồn lãng mạn; ông đã có cái tánh tình đa cảm, lại có cây viết nên thơ” [5, tr 196]
Năm 1939 là năm mà các nhà nghiên cứu viết về ông nhiều nhất Có đến 16 bài viết của các nhà nghiên cứu nói về Tản Đà Nổi bật trong số đó có
Ngô Tất Tố với bài Tản Đà ở Nam Kì (ở Tao Đàn); Nguyễn Tuân với bài Tản Đà một kiếm khách (Tao Đàn, số tháng 7); Lan Khai với Phác họa hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà (Tao Đàn, số tháng 7); Phan Khôi với bài Tôi với Tản Đà thi sĩ (Tao Đàn, số 9,10); Lâm Tuyền Khách Một tháng với Tản
Đà (Ngày nay, số 171); Trương Tửu với Sự thai nghén một thiên tài Nguyễn Khắc Hiếu (Tao Đàn, số đặc san về Tản Đà); Nguyễn Triệu Luật với bài văn
Trang 8Tản Đà (Tao Đàn, số 16) và bài Ảnh hưởng của Tản Đà đối với nhà văn lớp sau (Tao Đàn, số đặc san về Tản Đà); Một vài kỷ niệm về yêu thơ Tản Đà (Tao Đàn); đến Lê Thanh trong bài Mộng và mộng; Nguyễn Xuân Huy Tản
Đà dịch văn và Trúc Khuê Ngô Văn Triện với bài Tản Đà triết học (Tao Đàn,
số đặc san về Tản Đà) Tất cả những bài viết trên đây đều có một điểm chung là ca ngợi về cuộc đời, sự nghiệp về tài năng và sự đóng góp của Tản
Đà – Nguyễn Khắc Hiếu đối với văn chương nói chung, thi ca nói riêng; khẳng định vai trò quan trọng của một thi sĩ có tính chất cầu nối giữa hai thời
kỳ văn học Đặc biệt các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến uy tín của Tản Đà với giới văn nghệ và ảnh hưởng của ông đối với tiến trình hiện đại hóa văn học nước ta mà rõ ràng nhất là sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới Các nhà nghiên cứu đều tỏ ra thương tiếc khi nhà thơ ra đi, nước nhà mất đi một nghệ
sĩ tài giỏi đang vào độ sung sức, đang ở đỉnh cao trí tuệ, bạn bè mất đi một đồng nghiệp lớn
Nhà Thơ Xuân Diệu cũng là người rất hâm mộ Tản Đà, với bài Công thi sĩ Tản Đà, Xuân Diệu đã khẳng định: “Tản Đà là người thứ nhất đã có can
đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái “tôi””[5, tr 227] Dù cái Tôi ấy “vô tâm” mà có, khi “ông tự nhiên để cho bản ngã mình tràn ra ngoài khuôn khổ” thì Tản Đà vẫn “có một bản ngã”
[5, tr 228] Và trong lời giới thiệu cho tập Thơ Tản Đà, chính Xuân Diệu đã
khẳng định thơ Tản Đà là “những hoa quả đầu mùa của chủ nghĩa lãng mạn” [3, tr 29] Ông đã đọc đúng tên cho cái bản ngã thể hiện trong thơ Tản Đà Ông viết tiếp “Là người thi sĩ đầu tiên trong thơ Việt Nam hiện đại, là cái mầm thứ nhất của thơ chân thành, Tản Đà còn là một thi sĩ rất An Nam, có
thể nói là hoàn toàn An Nam, đó là một điều không dễ” Cuối bài viết Công của thi sĩ Tản Đà, tác giả kết luận: “Thơ Tản Đà xuống tới những lớp dưới xã
hội, đi đến mọi hạng người, những bài hát xóm bình khang, những câu xẩm
Trang 9của người hát dạo mãi mãi truyền đi một cách mặn mà thấm thía cái “tài tình” của Tản Đà thi sĩ” [5, tr.228-229]
Hoài Thanh – Hoài Chân trong thi nhân Việt Nam rất đề cao thơ ca Tản
Đà, đánh giá rất đúng về vai trò của Tản Đà trong việc góp công xây dựng một nền thơ ca hiện đại: “Tản Đà là người đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi” [22, tr.11] Tất cả những thành tố đó đã tạo nên vai trò của Tản Đà trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX
Đáng chú ý hơn cả là một số bài viết, bài nghiên cứu của các nhà thơ, nhà văn cùng thời đánh giá về vai trò và công sức của Tản Đà đối với văn
chương của dân tộc Trước hết là nhà văn Nguyễn Tuân với bài Chén rượu vĩnh biệt Qua bài viết, chúng ta thấy rõ hơn cuộc đời, tính cách của Tản Đà
Mặc dù là người nổi tiếng về “ngông nghênh”, “khinh bạc”, nhưng với bạn
bè, dù chênh lệch nhau đến vài chục tuổi, ông vẫn luôn luôn trân trọng tình huynh đệ, anh em thân mật
Trương Tửu, trong bài Những cái hay của Thơ Tản Đà, đã đánh giá cao
về tư tưởng và nghệ thuật thơ của Tản Đà Trương Tửu đã hết lòng đề cao, tán dương Tản Đà bằng những từ ngữ, lời lẽ rất ấn tượng: “Những thi tứ chớp nhoáng của Tản Đà” hay “ Những chữ thần trong thơ Tản Đà” Nhà nghiên cứu viết: “Thơ Tản Đà sở dĩ chịu được cái đọc bởi nó có một cái gì hơn cái bề mặt Nó có bề sâu Nó như cuộc sống Nó là một tinh hoa nay tôi ngụp lặn vào cái tinh hoa ấy” [5, tr.183] Khi nói về cách sử dụng từ ngữ, sữ dụng câu chữ, Trương Tửu đã hết lời khen Tản Đà, ông cho rằng: “Tản Đà điều khiển cái máy từ ngữ Việt Nam với một tự chủ đứng trên tất cả các lời khen Tiên sinh hiểu kĩ then chốt bí mật của nó, hơn tất cả các thi sĩ hiện đại Tiên sinh
Trang 10nhận được giá trị thi tính của mỗi chữ, mỗi âm thanh, mỗi vần điệu, như nhà
kỹ sư tiên đoán được lực lượng và hiệu quả của từng luồng điện” [5, tr.189]
Khi phân tích và chứng minh chữ thần trong Thơ Tản Đà, Trương Tửu đã dẫn
chứng rằng: “Hôm nay, tôi muốn dẫn ra đây một vài chữ thần của Tản Đà để
các bạn cùng thưởng thức Chữ chơi trong bài Từ khúc Tiễn chân lưu, Nguyễn, chữ mở trong bài Thăm mả cũ bên đường, chữ tà tà trong bài Cảm thu tiễn thu” [5, tr.190]
Với Nguyễn Mạnh Bổng, hoàn cảnh xuất thân của Tản Đà đã được đánh giá như một thuận lợi đến với nhà thơ Được sinh ra trong một gia đình
có truyền thống học hành, quan chức, vì vậy, ngay từ nhỏ Tản Đà đã được chăm sóc và cho học hành một cách chu đáo Nguyễn Mạnh Bổng đã nhận xét
về Tản Đà: “Vì tiên sinh là một người đã lấy cái ý muốn làm “Á châu Khổng phu tử chi đồ” từ lúc bé, nên phàm cái gì trái với đạo đức Khổng – Mạnh, tiên
sinh đều cho là một sự không trong sạch cả” [5, tr.283] Năm 1951, Ngô Bằng Giực trong bài Góp phần tìm hiểu Tản Đà đã phân tích và đánh giá cao về ý
chí tự vươn lên, ý thức tự khẳng định chính bản thân mình của Tản Đà Mặc
dù đã qua mấy kỳ thi vẫn không đỗ đạt nhưng Tản Đà không chán đời một cách tuyệt vọng Có thể Tản Đà nghĩ, lẽ đương nhiên việc thi cử thì có đỗ, có trượt Và Tản Đà đã đứng dậy, “Tản Đà tiên sinh cũng vẫn là đáng khen vì có nghị lực chứ không như những hạng tục tử khi thất vọng thì chán đến nỗi tự hủy cả thân thế Trái lại, tuy tiên sinh sao khi hỏng thi, có mượn rượu tiêu sầu, nhưng vẫn lấy văn chương làm khiển hứng Vì vậy, tiên sinh có bỏ thi,
mà không bỏ cái chí tự tạo lấy sự nghiệp, sự nghiệp này là sự nghiệp văn chương của những bậc văn hào thi sĩ muốn lưu danh đời đời” [5, tr.305]
Với tiêu đề Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu – Thân thế, sự nghiệp văn chương, viết năm 1958, Hà Như Chi đã có một bài viết khá công phu và xác
đáng để đánh giá về Tản Đà Ở bài viết này, tác giả đề cập đến nhiều thể loại
Trang 11văn học mà Tản Đà đã sáng tác, đã để lại cho đời Đặc biệt đánh giá về con người Tản Đà, Hà Như Chi đã viết: “Trong tư tưởng của Tản Đà, trọng tâm vẫn là luân lý, đạo đức Đối với ông lương tri là biết đâu là thiện, đâu là ác, có lương tâm là quan niệm được điều thiện, để hướng dẫn hành động, lương
năng là hoạt động để thực hiện điều thiện” [5, tr.320] Những đóng góp của
Tản Đà với nền văn học dân tộc không ai là không công nhận, nhưng về những thú vui của thi nhân thì cũng không phải ai cũng cảm thông Hà Như Chi bên cạnh việc đưa ra nhận xét khái quát về thơ Tản Đà và có chứng minh
khá rõ, thì tác giả còn nói về “thú ăn chơi” của thi sĩ, ông đã cho rằng Tản Đà
“tôn thờ khoái lạc” Cũng đồng quan điểm như Hà Như Chi, trong bài Nguyễn Khắc Hiếu, Vũ Ngọc Phan đã viết: “ Nếu đọc tất cả thơ của Tản Đà, ta sẽ
thấy ông có một tư tưởng rõ rệt: ông theo chủ nghĩa khoái lạc, ông theo chủ nghĩa vật chất, thờ tình yêu, ham chơi, ham rượu ” [5, tr.266] Đành rằng, trong cách sinh hoạt của Tản Đà cũng có một số điểm không thật đúng nhưng nếu đòi hỏi Tản Đà phải thay đổi thì chúng ta làm gì còn có một Tản Đà – nhà thơ nữa Chúng ta yêu thơ ông thì cũng nên tôn trọng những cái riêng rất con người ấy của ông
Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (xuất bản lần thứ nhất
năm 1961 của nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội, tái bản năm 1987), Nguyễn Đình Chú đặc biệt quan tâm đến phong cách Tản Đà và tính chất quá độ trong nghệ thuật thơ của ông Nguyễn Đình Chú đã nhấn mạnh đến vấn đề “Nội dung ảnh hưởng của Tản Đà đối với Xuân Diệu, cũng là nội dung ảnh hưởng của ông đối với những người khác Họ là những thanh niên tiểu tư sản (phần lớn là tiểu tư sản học sinh), bế tắc, ngạt thở trước cuộc đời, muốn tìm cảm giác nhẹ nhàng để an ủi lòng mình Thơ Tản Đà một phần đã đáp ứng được cái yêu cầu đó Ngoài ra, người ta thích Tản Đà cũng là thích cái nghệ thuật điêu luyện giàu nhạc điệu của ông” Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh, 50
Trang 12năm ngày mất thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Đình Chú đã có bài viết với tựa đề Đến với Tản Đà đăng trên báo Văn nghệ, số ra ngày 15 tháng 7 năm 1989, sau này được in trong Tuyển tập Tản Đà Qua bài viết trên Nguyễn Đình Chú đã khẳng định: “Tản Đà nhà thơ của hai thế kỷ”; tuy nhiên Nguyễn Đình Chú vẫn tự nhận rằng: “Dù mình rất yêu Tản Đà, nhưng với Tản Đà, mình vẫn khó
tiếp cận, khó nắm bắt quá” [5, tr 693] Cũng trong bài viết trên đây, Nguyễn Đình Chú đã đưa ra nhiều dẫn chứng để so sánh Tản Đà với một số nhà thơ khác; đồng thời nhắc lại sự việc hối lỗi của không ít nhà thơ đương thời khi nhìn nhận và đánh giá về Tản Đà- Nguyễn Khắc Hiếu lúc thi sĩ còn sống
Trần Ngọc Vương trong Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung có bài bình luận về “Tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân qua nhà thơ Tản Đà” Nét đặc sắc của thơ Tản Đà được tác giả đánh giá
cao chính bởi tính chất giao thời giữa hai nền thơ ca cổ điển – hiện đại Tản
Đà là đại diện cuối cùng giữ được vẻ đẹp của thơ ca truyền thống và là người đầu tiên dạo bước dạo đầu cho sự ra đời của phong trào Thơ mới Cũng như
Phạm Văn Diêu với bài viết Ngôn ngữ trong thơ Tản Đà trong Tản Đà tác phẩm và lời bình chủ yếu tập trung khai thác nét đặc sắc của thơ Tản Đà về
hình thức thể hiện rõ ở ngôn ngữ và giọng điệu thơ, với “cái vẻ tự nhiên” và
“dạt dào tình cảm” thơ Tản Đà dễ đi sâu vào cảm nhận người đọc Trong cuốn
Tản Đà thơ và đời, Nguyễn Khắc Xương cung cấp cho chúng ta những thông
tin rất tỉ mỉ về quê hương, về gia thế, về những bước trưởng thành của cuộc đời Tản Đà Bên cạnh đó, ông cũng nói đến một “Tản Đà - hưởng lạc” [32,
tr.80], “Tản Đà-một cách ngông” [32, tr.99] Và ông khẳng định “ Tản Đà là
điển hình cuối cùng của nho sĩ quân tử và nhi sĩ tài tử, là điển hình đầu tiên của nghệ sĩ chuyên nghiệp kiểu mới, của nghệ sĩ lãng mạn dân chủ tư sản” [32, tr.114]
Trang 13Tầm Dương với đầu đề Tản Đà – khối mâu thuẫn lớn cũng đã đặt ra
nhiều vấn đề về văn thơ của Tản Đà Tuy nhiên vấn đề đáng quan tâm nhất theo Tầm Dương vẫn là những vấn đề thuộc về kỹ thuật văn chương của Tản
Đà Ông đánh giá cao Tản Đà trong tư cách người chịu khó tìm tòi hình thức nghệ thuật mới để thể hiện nội dung, tư tưởng của mình
Trong bài Hữu – Vô tương tác trong thi pháp Tản Đà, Tầm Dương lại
đi sâu khám phá những phương diện khác của Tản Đà khi hành nghề “bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu” Theo Tầm Dương, Tản Đà là một người có tính cách rất đa dạng Trong nhà thơ này, dường như có đến ba loại nhân cách chủ yếu, đó là: “Con người suy tưởng, con người hành động và con người vui chơi, suy tưởng qua triết thuyết Thiên lương hành động nhập thế với hoài bão lớn” [5, tr.455] Đối với nghệ thuật thi ca của Tản Đà, Tầm Dương đã phân tích và dẫn chứng một cách cụ thể về những cảm hứng của Tản Đà trong sáng tác đó là: cảm hứng lịch sử, cảm hứng thế sự, cảm hứng đời tư và cảm hứng vũ trụ Trong thơ của Tản Đà, giữa kỹ thuật và cảm hứng, giữa cái hữu
và cái vô luôn tác động, quan hệ với nhau một cách biện chứng “Xem xét những bài thơ thuộc loại đặc sắc của Tản Đà, ta thấy không khi nào chúng
“trơ gốc bật rễ” chỉ toàn cái có, mà thường xuyên dành cho người đọc những vùng không, nhằm khơi gợi hoạt động đồng sáng tạo” [5, tr.457] Tầm Dương rút ra kết luận: “Tản Đà là hiện tượng văn chương buổi giao thời của một xã hội phức tạp, do đó trong thơ ông ít nhiều có mặt hầu như tất cả những cảm hứng thơ đương đại: lịch sử như thơ yêu nước, thế sự như thơ hiện thực, đời
tư như thơ lãng mạn và tồn tại song song với các thi hứng phần nào có tính cách tân ấy làm một cảm hứng thơ truyền thống: cảm hứng vũ trụ” [5, tr.463]
Trần Đình Hượu cũng là một trong những người đã dành nhiều thời
gian và công sức nghiên cứu về Tản Đà Trong chương: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, được in trong tập sách Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời (nhà xuất
Trang 14bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988), tác giả đã khảo sát rất kỹ lưỡng từ cuộc đời đến sự nghiệp văn chương của Tản Đà và đưa ra những nhận định, đánh giá hết sức sắc sảo Nhà nghiên cứu tỏ rõ sự trân trọng
về những đóng góp to lớn của Tản Đà đối với văn chương nước nhà Trần Đình Hượu khẳng định: Tản Đà là “Nhà nho tài tử, nhà văn chuyên nghiệp”,
là “Nhà nho đem văn chương bán phố phường” Có thể dễ dàng hiểu điều nhà nghiên cứu muốn chứng minh công của Tản Đà trong việc góp phần chuyên nghiệp hóa văn chương là rất lớn Trần Đình Hượu đã kết luận về Tản Đà rằng đây là một người “ái quốc bằng đạo đức” và là nhà thơ rất thành công ở
đề tài “non nước”
Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học Việt Nam - Tập II đánh giá:
“Tản Đà đã khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế
kỷ Văn xuôi Tản Đà với giọng triết lý trữ tình sâu sắc, với sự khơi mở của một tâm trạng, ngay khi lần đầu đăng trên Đông dương tạp chí đã làm cho bạn đọc cảm thấy một sự mới lạ so với những bài văn xuôi đương thời Sau này trên An nam tạp chí, chính ông đề xuất Việt Nam nhị thập thế kỷ - xã hội ba đào kí và tự mình khai bút và đó là bước phôi thai của những truyện ngắn hiện thực mà Nguyễn Công Hoan sẽ thừa hưởng để đạt được một thành tựu rực rỡ” [5, tr.476] Tầm Dương trong bài Tản Đà – nhà văn hoá tiền đạo đã
nhấn mạnh ý nghĩa mở đầu văn chương quốc ngữ, khai phá chủ nghĩa lãng mạn ở Tản Đà…[2, tr.383]
*
* * Khi đánh giá về thi ca Tản Đà, đa số các nhà phê bình, các nhà thơ đều dành cho Tản Đà những mỹ từ hay nhất, dành cho ông sự thán phục Nhưng khi bàn về văn xuôi Tản Đà, có rất nhiều ý kiến khác nhau, tán dương có, phản đối có, chê trách có nhưng không thể phủ nhận rằng văn xuôi Tản Đà có
Trang 15đóng góp lớn trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
Ngô Bằng Giực trong bài Góp phần tìm hiểu Tản Đà nhận xét: “Văn
vần thì xưa nay chưa ai viết được nhiều lối như tiên sinh còn văn xuôi thì xuôi mà có thi điệu, đã ly lỳ lỗi lạc lại giãi tưởng tư tưởng Đông Tây, cũng hay về phương diện nghệ thuật như văn vần mà lại còn bổ ích cho đời hơn văn vần về đường thực tế” [30, tr.264] Cũng như Xuân Diệu là người thích thú với văn xuôi Tản Đà bởi ông cho rằng: “muốn tìm bản ngã của Tản Đà phải tìm ở văn xuôi, một bản ngã hiện diện phô bày, xuyên suốt mọi tác phẩm, bản ngã sừng sững đứng, tự khẳng định, độc đáo, gai góc, sắc cạnh, một bản ngã lần đầu tự xưng danh, nói về mình, đặt mình làm nhân vật trung
tâm của tác phẩm, lấy mình đối thoại với người đọc mình” (Tựa tuyển tập Tản
Đà)
Trong cuốn Văn học Việt Nam giai đoạn 1900-1930 của Trần Đình
Hượu đã đánh giá: “Đối với Tản Đà văn xuôi là chỗ tinh túy nhất của ông, nhưng đối với mọi người Tản Đà chỉ là nhà thơ, thơ mới chính là tài năng của ông”, và “Về văn xuôi thành công của Tản Đà không lớn như trong thơ” [11, tr.86], nhưng Trần Đình Hượu cũng thừa nhận: “Bằng cách nói cái nếm trải của riêng mình Tản Đà đã chuyển sang nhìn cuộc sống, nói về cuộc sống cụ thể, bình thường của con người trong xã hội Điều đó làm ông gặp các nhà văn lớp sau” [11, tr.87]
Phải thừa nhận rằng trong văn xuôi của Tản Đà chứa đựng một nội dung tư tưởng lớn và cả sự quyết liệt, thiết tha trong hành trình đi đến hiện đại không kém gì văn vần Đúng như lời nhận xét của Nguyễn Tiến Lãng trong
bài Văn xuôi Tản Đà “Tôi dám quả quyết mà đáp rằng: giá trị văn xuôi của
Tản Đà không kém gì văn vần của Tản Đà” [30, tr 245]
Trang 16Năm 2003, trong cuốn Giáo trình Văn học Việt Nam, Nguyễn Phong Nam đã có một chương viết về Cuộc đời và sự nghiệp văn chương; vai trò, vị trí của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu đối với lịch sử văn học dân tộc Ở phần
nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương, tác giả cho rằng: “Tản Đà
là tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ trung đại sang thời kỳ hiện đại Ông là gạch nối giữa hai thế hệ nhà văn, là mẫu nhà nho tài tử cuối cùng của một nghìn năm văn học phong kiến cũng
đồng thời là nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam” [19, tr.140]
Đánh giá về vị trí của Tản Đà trong lịch sử văn học dân tộc, Nguyễn Phong Nam đề cập và luận bàn từ những nét có tính chất “cá tính” của Tản Đà như
tính cách, lối sống, quan niệm tình yêu và kế cả cái “ngông” mà trời đã “phú”
cho từ nhỏ đến ảnh hưởng của ông đối với văn chương dân tộc; ảnh hưởng của nhà thơ đến lớp thi sĩ cầm bút đương thời cả về sáng tác và lối sống Theo Nguyễn Phong Nam “Tản Đà là người đã để lại ảnh hưởng đáng kể cho
sự hình thành của văn học Việt Nam hiện đại Trước hết, ông đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thơ ca dân tộc Tản Đà có công lớn trong việc thúc đẩy nhanh sự xuất hiện của một “thời đại thi ca mới” [19, tr 145]
Có thể nói, từ trước tới nay, việc nghiên cứu về Tản Đà là một hoạt động rất sôi nổi, thu hút rất nhiều người tham gia Tất cả đều tập trung đánh giá cao về nhân cách và văn tài của ông trên mọi phương diện sáng tác, đặc biệt là thi ca Công trình nghiên cứu gần như đầy đủ nhất về cuộc
đời và sự nghiệp sáng tác của Tản Đà là Tản Đà về tác gia và tác phẩm
Đây là công trình tập hợp nhiều nhất các bài nghiên cứu phê bình, bình luận về tư tưởng, quan niệm văn chương Tản Đà
Dù trực tiếp hay gián tiếp, hay sự tự ý thức về đối tượng có khác nhau, song bản thân vấn đề văn xuôi trong sáng tác của Tản Đà vẫn là đối tượng khảo sát tiềm tàng của các nhà nghiên cứu Ở trong nước, từ trước
Trang 17cách mạng tháng Tám cho đến nay, đã có hàng chục bài báo, công trình viết về vấn đề này hoặc về một tác phẩm văn xuôi, hoặc liên quan ít nhiều đến những vấn đề chung của văn xuôi Tản Đà
Tản Đà xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn với Khối tình con, sau đó
là Giấc mộng con, Thần tiền và cuối cùng là Giấc mộng lớn Thời kỳ đầu
người ta đón nhận ông bằng tất cả sự háo hức, nhiệt thành của cái tinh thần yêu chuộng cái mới và người ta xem ông là “một văn tài” đem đến “cơn gió lạ” giữa cái buổi đầy u uất của xã hội Công chúng tư sản hoan nghênh Tản
Đà vì ông đã nói hộ một phần của họ tâm trạng thời đại, đó là nhu cầu khẳng định mình Chính thời điểm ấy Phạm Quỳnh là người cho rằng Tản
Đà đã “dựng ra một văn phái mới” và không ngớt lời tán tụng ông Thế
nhưng chẳng bao lâu sau cuốn Giấc mộng con ra đời thì người ta lại bắt
gặp một sự phê phán khác và khá quyết liệt của Phạm Quỳnh Thế rồi một thời gian dài, người ta đã lãng quên văn xuôi của ông, nhất là khi những tiểu thuyết mới ra đời, người ta lại càng nhanh chóng lãng quên ngay cây cầu bắc qua bến cũ Mãi đến khi Tản Đà mất năm 1939, cả văn đàn mới
giật mình Cũng trong năm này, Lê Thanh trong cuốn Thi sĩ Tản Đà đã nói
đến cái ảnh hưởng của văn xuôi Tản Đà với các văn sĩ đương thời Càng về sau, người ta càng chú ý đến văn xuôi Tản Đà, và có nhiều ý kiến khen chê khác nhau
Qua nghiên cứu lịch sử vấn đề về một số công trình nghiên cứu phê bình, một số ý kiến nhận định về văn chương của Tản Đà trong suốt thế kỷ qua, bước đầu chúng tôi có một số nhận xét chung như sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu về Tản Đà đã có nhiều thay đổi theo sự biến động thăng trầm của lịch sử - xã hội Việt Nam trong suốt thế kỷ qua
Và do đó, không phải lúc nào những đóng góp nghệ thuật của ông cũng
Trang 18được ghi nhận, khẳng định Mặc dù vậy, sự quan tâm của các nhà phê bình nghiên cứu những năm gần đây và các nhà văn, nhà thơ qua các thời kỳ đã cho thấy rõ được vai trò của Tản Đà trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ
XX
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về Tản Đà chủ yếu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về lĩnh vực thơ của ông Rất ít công trình nghiên cứu về vai trò của Tản Đà trong văn xuôi đầu thế kỷ XX Không thể khẳng định là mọi chuyện về Tản Đà đã được giới nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ, giải quyết thấu đáo Trái lại, Tản Đà là một con người rất đặc biệt, một tài năng rất đa dạng cho nên vẫn còn nhiều vấn đề thuộc về tư tưởng, tài năng nghệ thuật của ông chưa được nắm bắt đầy đủ, nhất là mảng văn xuôi Do đó, cần đặt
ra vấn đề nghiên cứu dành cho lĩnh vực này một cách thoả đáng để có cái nhìn toàn diện hơn, có sự đánh giá đầy đủ hơn đối với Tản Đà Đó là nội dung mà luận văn này đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà, về những đóng góp của Tản Đà đối với lĩnh vực văn xuôi trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX qua những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của Tản Đà Trên cơ sở đó làm rõ hơn những đóng góp của ông trong việc khai mở lối truyện “lịch sử - giả tưởng” trong văn xuôi quốc ngữ cũng như là nhà văn tiên phong trong thể nghiệm lối văn xuôi hiện đại
Các tác phẩm được tập trung khảo sát gồm:
- Giấc mộng con I
- Giấc mộng con II
- Giấc mộng lớn
Trang 19- Thề non nước
- Trần ai tri kỷ
4 Phương pháp nghiên cứu
Tản Đà là một hiện tượng văn học rất phức tạp Để tiếp cận và nghiên cứu về Tản Đà cần phải vận dụng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp phân tích, đối chiếu: Đây là phương pháp nhằm tìm hiểu, phát hiện những đặc điểm của văn xuôi Tản Đà qua đó làm rõ vai trò của ông trong quá trình vận động của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Phương pháp hệ thống: Tức là nghiên cứu văn học với tư cách là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau như chủ đề, hình tượng nhân vật, phong cách, ngôn ngữ trong các tác phẩm văn xuôi của Tản
Đà Phương pháp này cho phép chúng tôi khảo sát, lý giải các vấn đề một cách trọn vẹn và thấu đáo hơn
- Và một số phương pháp bổ trợ khác
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Tản Đà trong bối cảnh văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Chương 2: Tản Đà – người mở đầu lối truyện “lịch sử - giả tưởng” trong văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX
Chương 3: Tản Đà – người thể nghiệm một lối văn xuôi hiện đại
Trang 20Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1889 (nhằm ngày 20 tháng 4 năm Mậu Tý) tại làng Khuê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay là thành phố Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình quan lại phong kiến suy tàn Thân sinh là Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân thời
Tự Đức, từng giữ chức tri huyện Lý Nhân, phủ Xuân Trường, thăng chức đến
Án sát Ninh Bình và từng giữ chức Ngự sử Mẹ ông là bà Nhữ Thị Nghiêm nổi tiếng tài sắc, giỏi văn chương, từng làm khá nhiều thơ Nôm Bà kết duyên với Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường
Năm Tản Đà lên ba tuổi thì Nguyễn Danh Kế qua đời; năm ông lên bốn tuổi thì cũng là năm mẹ bỏ nhà, trở lại nếp sống với một đào hát
Bị mồ côi cha từ khi còn quá nhỏ, lại thiếu bàn tay ôm ấp, che chở, chăm sóc của người mẹ, nhưng thật may mắn, Nguyễn Khắc Hiếu được người anh cùng cha khác mẹ là Phó bảng, tri huyện Nguyễn Tái Tích nuôi dạy, kèm cặp và nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp Theo hồi ký thì
5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết, 6 tuổi
học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi
Trang 21làm thơ văn Ông thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây
Tản Đà là người thông minh, hiểu sâu về Hán học và đa tài, nhưng lại không có duyên với khoa cử Năm 1907, Tản Đà theo anh ra Hà Nội học tại trường Quy Thức ở phố Gia Ngư Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định nhưng bị trượt trong lần đi thi đầu tiên này Năm 1912 (Nhâm Tý) ông đi thi Hương vẫn hỏng Mấy lần thi trượt, trở về Hà Nội, chứng kiến cảnh người yêu đi lấy chồng ông đâm ra chán nản, lâm vào thế tuyệt vọng Vừa thất bại trên khoa cử, vừa thất bại trên tình trường ông lâm vào nỗi bế tắc tinh thần Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến văn chương Tản
Đà
Nhờ sự giới thiệu của anh rể là Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc" Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này
Đến năm 1915, lần đầu tiên tác phẩm của Tản Đà được ra mắt bạn đọc
trên Đông Dương tạp chí Đây là cột mốc mở đầu trong sự nghiệp văn
chương của Tản Đà Cũng trong năm này ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng,
con gái một người tri huyện ở Hà Đông và bắt đầu có bài viết trên Đông Dương tạp chí với chuyên mục Một lối văn Nôm Năm 1916, sau khi người
anh cả Nguyễn Tái Tích qua đời, gia đình trở nên nghèo túng và thiếu thốn,
ông phải tự xoay xở kiếm sống Ông tiếp tục cộng tác với tờ Đông Dương tạp chí và lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà và chính thức
Trang 22chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp
Ngoài viết văn, làm thơ, ông còn viết tuồng, dựng vở cho các rạp Tản
Đà là người rất tích cực viết bài cho các báo như Đông Dương tạp chí, Nam phong
Năm 1925, khi phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân dấy lên mạnh mẽ ở nhiều vùng của đất nước, ông tham gia hoạt động xã hội tích cực hơn, xông xáo hơn và viết bài trên nhiều báo thể hiện tinh thần này Tháng 2 năm 1928, Tản Đà chuyển đến vùng Yên Lập thuộc tỉnh Vĩnh Yên định cư, nhưng chưa được bao lâu, bị quan lại địa phương gây khó dễ, ông lại phải xuống Hải Phòng, rồi trở về Hà Nội
Năm 1937, Tản Đà chuyển về sống ở làng Hà Tri (Hà Đông) Thời gian này Tản Đà tham gia dịch thuật, viết báo, làm thơ Tại đây, ông lại xung khắc với giới chức dịch địa phương, bị chúng thù ghét, gây khó dễ nên lại phải chuyển ra Hà Nội mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng kiêm cả xem lý số Hà lạc để kiếm sống Đây cũng là quãng thời gian khó khăn nhất của ông Tuy nhiên với cốt cách của một nhà nho tài tử, dù trong hoàn cảnh nào, lối sống phong cách của ông vẫn không thay đổi Ông luôn thể hiện một phong thái tự tại, ung dung, hào hoa ngay cả trong cơn túng quẫn
Do ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới và phong trào “Tân học”, Tản
Đà, con người thuộc phe “cựu học”, làm thơ cũ đã dần dần trở nên cô độc Tên tuổi ông gần như bị đẩy lùi vào dĩ vãng, nhường chỗ cho các nhà thơ mới Với việc "An Nam tạp chí" đình bản vĩnh viễn, cuộc sống của Tản Đà vốn nghèo túng lại càng trở nên thiếu thốn hơn Những năm cuối đời Tản Đà bỗng được mọi người quan tâm trở lại Phe "Thơ mới" sau chiến thắng, đã không còn đả kích Tản Đà Họ bắt đầu lật lại những gì Tản Đà đã cống hiến
Trang 23xưa nay, họ ca ngợi Tản Đà, xem ông như một ông Thánh của làng thơ
Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu mất vào ngày 07 tháng 06 năm 1939 tại
Hà Nội trong sự thương tiếc của bạn bè, đồng nghiệp và độc giả yêu mến ông Sau khi qua đời, thi hài ông được người thân và bạn bè mai táng tại nghĩa trang Quảng Thiện, Hà Nội
Năm 1941, Hoài Thanh và Hoài Chân trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam, đã cung kính đặt Tản Đà lên ngồi ghế "chủ suý” của hội tao đàn, coi
ông như một người mở lối cho thi ca Việt Nam bước vào một thời đại mới
Cuộc đời của Tản Đà giống như một bản nhạc, lúc trầm, lúc bổng Chính trong hoàn cảnh cuộc sống như vậy, những trải nghiệm cuộc đời tưởng chừng như không thể vượt qua ấy đã cho Tản Đà thêm nghị lực, thêm kinh nghiệm sống để sáng tác nên những áng văn chương hay như vậy Có người tiếc thay cho Tản Đà, ước cho ông được sinh ra trong một hoàn cảnh khác, có cuộc sống sung túc hơn, giàu sang hơn Nhưng nếu điều đó xảy ra thật, chưa chắc chúng ta đã có một Tản Đà với những câu văn như ám ảnh lòng người như thế
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Với một di sản tác phẩm khá đồ sộ gồm thơ, văn xuôi, kịch bản sân khấu, tác phẩm báo chí, tác phẩm dịch thuật, Tản Đà xứng đáng được coi là hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong lịch sử văn học nước nhà, sau Nguyễn Khuyến, Tú Xương, những con người đại diện cho lớp nhà văn kiểu truyền thống thì Tản Đà là một kiểu mẫu nhà văn mang tính chất chuyển tiếp Nếu không có sự xuất hiện của Tản Đà thì lịch sử văn chương chúng ta rõ ràng sẽ lộ ra một khoảng trống lớn Nếu không có Tản
Đà, người dạo bản nhạc mở đầu thì phong trào Thơ Mới 1932-1945, nói như Hoài Thanh, sẽ trở nên một hiện tượng “lạc loài”
Trang 24- Thơ ca Tản Đà
Từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1930, văn đàn Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà Kể cả khi
phong trào Thơ mới xảy ra, thì Tản Đà, sau khi bị "phái thơ mới” đả kích kịch
liệt lại được chính những người đả kích mời về ngồi chiếu trên Trong cuốn
Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã đặt bài tưởng niệm Tản Đà
lên những trang đầu, với lời lẽ tôn kính
Thơ cũng là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phong phú của Tản Đà Ông sáng tác rất nhiều thơ, nhiều thể loại Thơ ông hay diễn tả cảm giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri kỷ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, gần gũi đời sống hiện thực
Tản Đà luôn thể hiện một tinh thần, một thái độ lao động nghiêm túc, không mệt mỏi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Điều này được thể hiện rất rõ không chỉ ở số lượng tác phẩm đồ sộ, mà còn thể hiện trên từng tác
phẩm thi ca của ông Năm 1916 ông xuất bản cuốn Khối tình con I Tiếp sau tác phẩm mở đầu này là một loạt các tác phẩm lần lượt ra đời như: Giấc mộng con I (1917), Giấc mộng con II (1932), Khối tình con II (1918), Khối tình con III (1932), Lên sáu (1919), Lên tám (1920), Giấc mộng lớn (1928), Thề non nước (1932), Tản Đà xuân sắc (1934),…
Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông Nhưng rõ ràng, ông là nhà thơ đã có tư tưởng cách tân, có nhiều tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ:
Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh,
Trang 25Một phút trần ai
Cửa động Đầu non Đường lối cũ Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi
(Tống biệt)
Trong thời buổi mà lối thơ niêm luật gò bó đang còn phổ biến, thì lối
thơ như bài Tống biệt này của Tản Đà quả thật là mới, rất mới! Chính cái
sự mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ ấy đã tạo nên “một giọng phóng túng riêng” trong phong cách thơ Tản Đà
Loại thơ phóng túng của Tản Đà còn nhiều, đọc những bài như thế,
có thể liên tưởng đến giọng thơ Nguyễn Công Trứ, Tú Xương Song cũng
đúng như các tác giả Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “Cái dáng điệu ngang
tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có
vẻ vay mượn” Cái phóng túng, cái ngang tàng ấy chính cũng là cái ngông
mà Tản Đà đã tự nhận
Nhưng bao trùm và sâu lắng trong hồn thơ Tản Đà vẫn là cái điệu buồn vẩn vơ, cái nỗi sầu man mác và cái tình bâng khuâng, những yếu tố muôn đời của chủ nghĩa lãng mạn, nhưng mang sắc thái riêng của Tản Đà
Đó là “chủ nghĩa lãng mạn Tản Đà”
Mùa thu là mùa gợi buồn cho thi tứ và cũng là mùa muôn thuở của thi ca lãng mạn Nhưng thơ thu của Tản Đà không phải chỉ có buồn mà còn
có nhớ, một nỗi buồn nhớ vơ vẩn, bâng khuâng:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi, Trần giới em nay chán nửa rồi
Trang 26Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
(Muốn làm thằng Cuội)
Trong thực tế, Tản Đà không phải là con người thoát ly, nhắm mắt trước thời cuộc Thơ ông cũng không hiếm những bài hướng vào hiện thực
xã hội, bộc lộ những tình cảm yêu nước, thương nòi:
Này những ai, này những ai,
Ai có nghe rằng việc thủy tai, Tỉnh Bắc, tỉnh Đông cùng tỉnh Thái, Ruộng ngập nhà chìm thây chết trôi
(Khuyên người giúp dân lụt)
Là một người dân mất nước, lo cho vận mệnh của tổ quốc, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của những phong trào yêu nước những năm đầu thế kỷ, Tản Đà có những vần thơ cảm khái, nói đến các anh hùng dân tộc, nói đến dân vong quốc, nói đến nòi giống Tiên Rồng thể hiện tư tưởng yêu nước
một cách kín đáo Tiêu biểu cho dòng thơ này của Tản Đà là bài Thề non nước, một bài thơ đã đi sâu vào lòng người và được lưu truyền rộng rãi
trong các tầng lớp nhân dân
Tản Đà là nhà thơ của xứ Đoài như ông đã tự khẳng định: "Tôi là người gì? ở phía Nam Đông Á, ở phía bắc Việt Nam, ở phía tây Bắc Kỳ,
một người làm văn ở tỉnh Sơn Tây vậy!” (Giấc mộng lớn) Nhưng vượt
khỏi "Đà Giang, Tản Lĩnh nước non quê”, Tản Đà còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báo tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Đúng như Nguyễn Tuân đã nhận xét: “Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ súy; trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi Hội chủ; mà làng văn làng báo
Trang 27xứ này ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?” Và Tản Đà cũng hoàn toàn xứng đáng như đánh giá của nhà thơ Xuân Diệu: “Tản Đà là người thi
sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”
Ngoài thơ tự sáng tác, thơ dịch của Tản Đà cũng được đánh giá rất cao Những bài thơ lục bát dịch từ thơ Đường của Tản Đà thường được cho
là hay hơn các bản dịch khác, có bài hay hơn cả nguyên tác, vì sự tự nhiên, không bị gò bó mà chuyển tải cả tâm hồn mình vào đó
- Văn xuôi Tản Đà
Văn xuôi của Tản Đà không được thành công như văn vần của ông,
vì vậy khi nghiên cứu về Tản Đà các nhà nghiên cứu thường ít chú ý đến văn xuôi, mà tập trung chủ yếu vào thơ ca Tuy nhiên cần phải thấy rằng, chính Tản Đà là một trong số ít những người tiên phong trong việc sử dụng chữ quốc ngữ để sáng tác văn xuôi
Các tác phẩm tiêu biểu của Tản Đà gồm: Giấc mộng con I (tiểu thuyết, 1917), Thề non nước (truyện ngắn, 1920), Chuyện thế gian I và II (1922-1924), Giấc mộng lớn (nhật ký, 1932), Giấc mộng con tập II (du kí, 1932), Trần ai tri kỷ (truyện ngắn, 1932), Liệt nữ truyện (1938), Kiếp phong trần (truyện ngắn) và một số tác phẩm khác
Tản Đà là người học chữ Hán, theo lối học cử nghiệp, vốn quen thuộc với văn sách, với phú, với lối văn tứ lục, với thơ luật Đường thế mà ông viết văn xuôi lại rất hay, rất sắc sảo, rất nhuần nhuyễn, thuần thục
Năm 1917, khi tác phẩm Giấc mộng con I ra đời, Dương Bá Trạc đề tựa
cho Tản Đà đã phải khen: "Mới mươi mười lăm năm nay, sĩ phu trong nước mới có cái khuynh hướng về văn quốc âm, giọng Hàn Thuyên, hồn Đại Việt đã lập lòe một tia lửa sáng xuất hiện trong văn giới hoàn cầu Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Sơn Tây, chính là một tay kiện tướng trên trường hàn
Trang 28mặc ấy!" Giấc mộng con I cũng như Giấc mộng con II là hai tập du ký tưởng tượng, có thể coi đây là tiểu thuyết viễn tưởng của Tản Đà Qua hai
cuộc viễn du tưởng tượng, tác giả muốn đưa mọi người đến những thế giới
lý tưởng, diệu kỳ, đến với những cảnh sắc tươi đẹp, gặp gỡ những nhân vật tài hoa Ở đó chỉ có cái đẹp, cái cao thượng, tình yêu thương và lòng tôn trọng lẫn nhau, khác hẳn cái xã hội xấu xa nơi trần giới Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực phê phán lại vừa có ý nghĩa lãng mạn, thể hiện những ước vọng nhân văn của tác giả
Tản Đà là người có một trí tưởng tượng rất phong phú, song nhiều khi mơ mộng, tưởng tượng chỉ là những yếu tố thi pháp trong cá tính sáng tạo của ông, và điều đó không hề làm giảm giá trị phản ánh hiện thực xã
hội và ý nghĩa phê phán của tác phẩm Trường hợp tiểu thuyết Thần tiền
chẳng hạn, là như vậy Ở đấy, với giọng văn châm biếm hài hước, tác giả
đã mượn lời hai chị em đồng tiền nói với nhau để tố cáo thói ăn tiền bẩn thỉu của bọn quan lại: “Khi đã vào trong cửa quan, trên thời quan nha, dưới thời lính tráng, dân sự, mà các ông ấy để mình nằm trần truồng ra trước công đường Lúc ấy thẹn phải chết Ngồi đấy, rồi thấy quan cũng thét mắng luôn, nhưng về các dân sự chứ không phải là quát mắng mình, mà mình thỉnh thoảng thấy quan nhìn mình thời nó như có ý thương yêu lắm!” Cách kể chuyện như vậy thật là hóm hỉnh và hấp dẫn
Tuy nhiên, trong nhiều bài văn ngắn, tùy bút, bút ký, nghị luận, ngọn bút Tản Đà có khi chẳng cần bóng gió mà đả kích trực diện vào bọn quan lại bất lương, vào tầng lớp trên vô liêm sỉ, đồng thời tỏ ý bênh vực những người nghèo khổ, lương thiện, ca ngợi lòng yêu nước, thương nòi Chẳng
hạn trong tạp văn Thế nào là hạng người hạ lưu trong xã hội, đăng ở Đông
Pháp thời báo năm 1927, Tản Đà viết: “Nay nghĩ như những người quan cao chức lớn, cửa rộng nhà to, mũ áo đai cân, mề đay kim khánh mà gian
Trang 29tham, xiểm nịnh, bất nghĩa vô lương, hút máu mủ của dân thứ để nuôi béo
vợ con, hiến vợ con cho người ta để giữ bền phú quý, như thế có phải là hạng người hạ lưu hay không?” Hoặc một đoạn khác ông viết: “Nếu trong
hạ đẳng xã hội ta mà có những ai biết thờ cha kính mẹ, yêu nước thương nòi, thời tức là người thượng lưu vậy” Tác giả lấy đạo đức con người mà không lấy sự giàu nghèo làm tiêu chuẩn để phân biệt thượng lưu, hạ lưu Trong xã hội phong kiến thực dân, đạo đức suy đồi, luân thường đảo ngược, cái ác đang ngự trị, cái lợi cái danh đang chi phối cuộc sống mà Tản
Đà lại công nhiên viết trên báo như vậy, chứng tỏ ông là một nhà văn, nhà báo đầy khí phách, đầy dũng khí
Năm 1932, Giấc mộng lớn vừa mới phát hành đã gây được sự chú ý
của bạn đọc Tác phẩm này được trình bày như là hồi ký, ghi chép lại phần nào cuộc đời của tác giả về những kỷ niệm, những thăng trầm từ tuổi thiếu niên cho đến những năm gần cuối đời Mở đầu tác phẩm là những kỷ niệm, những sự kiện của bản thân đã trải qua “Kí ức nhà văn dừng kĩ ở những chi tiết bộc lộ rõ nhất thiên hướng, cá tính của mình Cái cuộc đời – giấc mộng này được nhìn nhận, quan sát qua nhãn quan của một người lịch lãm
và có phần mỏi mệt khi đã nếm trải đủ vị cuộc đời ” Tác phẩm Giấc mộng lớn hấp dẫn bởi cách viết của Tản Đà với những mẫu kí sự giàu chất nghệ
thuật của một nhà văn lớn; những câu chuyện trong tác phẩm được sắp xếp
rất logic về mặt thời gian Thế giới Giấc mộng lớn là thế giới tập hợp của
nhiều khái niệm cả về không gian, thời gian đến vấn đề tư tưởng Đọc
Giấc mộng lớn chúng ta thấy, đây là một tác phẩm rất mới lạ, dẫu rằng qua
tác phẩm này ông muốn thể hiện sự khát khao đối với tự do, muốn phá vỡ một sự ràng buộc phi lí để bước tới một quan niệm mới về cuộc sống của con người
Một tác phẩm văn xuôi quan trọng khác của ông là Thề non nước Ở
Trang 30tiểu thuyết này, cốt truyện có vẻ như dung dị hơn Giá trị đáng kể của cuốn sách có lẽ được nằm ở những ý tứ của hình tượng nước non và đôi lứa
thông qua câu chuyện về mối tình giữa một tao nhân với cô đào Thề non nước phần nào đã thể hiện sự lãng mạn trong tư tưởng của nhà thơ
Văn xuôi Tản Đà còn có những thiên tùy bút, bút ký, tiểu phẩm, chan chứa tình cảm nhân đạo chủ nghĩa, thể hiện sự thông cảm sâu sắc với những nỗi khổ nhục của đồng bào Đó chính là loại văn mà Tản Đà gọi là
“văn vị đời” Các bài Cảnh nhà nghèo lấy vợ, Cảnh túng đi vay tiền là
những tác phẩm như vậy
Thực ra, văn xuôi của Tản Đà chưa phải là thể loại thành công như thơ ca, nhưng so với những nhà văn đương thời, thì văn xuôi của ông có những dấu ấn đáng kể Lối thể hiện của ông trong tác phẩm đã bắt nhịp được với thời cuộc mới, hoàn toàn khác với những cái của thời kỳ trước mà các văn sĩ khác chưa thể hiện được Tản Đà là người đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn từ ngữ và âm điệu khi thể hiện trong tác phẩm Rõ ràng Tản
Đà là một tài năng rất đa dạng Đối với văn xuôi, dù đây chưa phải là phần đóng góp lớn nhất của ông đối với văn học nước nhà; nhưng qua các tác phẩm văn xuôi mà ông để lại, chúng ta thấy rõ cá tính, phong cách sáng tác của một con người có am hiểu sâu sắc đối với đời sống xã hội Cũng như hiểu rất rõ khát vọng về cái đẹp và tâm tư, tình cảm của người dân, mà ông
là người luôn luôn muốn chia sẻ Văn xuôi Tản Đà chan chứa tình cảm nhân đạo, thể hiện sự thông cảm sâu sắc đối với người cùng khổ trong xã hội Văn xuôi của ông đã đề cập đến nhiều vấn đề của xã hội thời bấy giờ
và được diễn tả qua những trang viết giàu tính nghệ thuật, hấp dẫn, sáng tạo đầy cá tính riêng Chính vì thế mà không chỉ trong thơ, ngay ở văn xuôi, Tản Đà là một trong những người tiên phong để hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam
Trang 31Đối với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn, Tản Đà đã có những thử nghiệm bước đầu Tuy nhiên, khả năng phản ánh, tái hiện diện mạo về hiện thực của chúng vẫn còn nhiều hạn chế Nhưng dù sao thì việc tìm đến với những thể loại như truyện ngắn và tiểu thuyết của Tản Đà tự thân nó là một
sự kiện văn học, bởi đây chưa phải là những thể loại văn học truyền thống
mà hoàn toàn còn rất mới mẻ Thi sĩ Tản Đà không phải là nhà nho đầu tiên hòa nhập vào cuộc sống chốn đô thị mới, nhưng ông thuộc về thế hệ những người cảm nhận được một cách rõ ràng, cụ thể áp lực của nhu cầu cách tân đổi mới văn học Là nghệ sĩ có cá tính sáng tạo mạnh mẽ, biết tiếp thu một cách khôn ngoan thành tựu văn học truyền thống và văn học nước ngoài, ông đã vượt qua được sức ép đó và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn xuôi nước nhà
Nhìn chung, văn xuôi Tản Đà đã đề cập đến nhiều vấn đề của xã hội đương thời, bằng một lối văn giàu tính nghệ thuật, hấp dẫn, sáng tạo, mới
cho Đông Pháp thời báo, rồi Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy, báo
Trang 32Sống, báo Hữu ích, hay báo Sài Gòn, Ngày nay, Có thể nói, ở hầu khắp
các tờ báo liên quan đến văn học đều thấy bài viết với bút danh Tản Đà
Tản Đà còn là người hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực sân khấu Những vở kịch ông soạn rất giàu chất văn học, có những vở tạo được tiếng
vang như Người cá, Tây Thi, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, Dương Quý Phi
Rõ ràng Tản Đà là một tài năng rất đa dạng Suốt một chặng đường dài cầm bút, Tản Đà đã để lại một di sản văn chương đồ sộ gồm nhiều thể loại khác nhau Ông là người có nhiều cống hiến quan trọng cho sự vận động, phát triển của văn chương dân tộc giai đoạn đầu thế kỷ XX
1.2 TẢN ĐÀ TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC - BÁO CHÍ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
1.2.1 Đặc điểm văn hoá - xã hội và văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX
- Đặc điểm văn hóa – xã hội đầu thế kỷ XX
Hiện thực đời sống xã hội không chỉ là đối tượng phản ánh một nền văn học nhất định mà còn là nhân tố làm nảy sinh chính nền văn học ấy Theo mối quan hệ biện chứng này thì vào đầu thế kỷ XX, xã hội nước ta đã xuất hiện đầy đủ tiền đề cho một nền văn học hiện đại ra đời
Đến đầu thập kỷ 30 của thế kỷ này, thực dân Pháp đã thực hiện ở Việt Nam hai cuộc khai thác thuộc địa lớn nhằm bù đắp những thiệt hại kinh tế ở chính quốc do cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất gây ra, xã hội Việt Nam do
đó cũng biến đổi theo Các đô thị mọc lên rất nhanh theo đà phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Việc buôn bán bắt đầu sôi động ở các thành phố lớn Bộ máy viên chức của thực dân và phong kiến đã có qui mô hoàn chỉnh
Trang 33Một tầng lớp tiểu tư sản được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đến đầu thập kỷ 30 đã phát triển đông đảo và chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong dân số các đô thị Theo thống kê niên giám của Đông Dương năm 1932
- 1933, số trí thức tân học bao gồm học sinh, sinh viên và viên chức đã lên tới
35 vạn người
Có thể nói, thắng lợi của thực dân Pháp trong cuộc chiến được khởi phát từ giữa thế kỷ XIX về thực chất là sự thắng thế của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến Chính vì thế mà tác động của nó đối với xã hội Việt Nam là hết sức lớn lao Mô hình làng xã cổ truyền ở nông thôn thay đổi về tổ chức, thiết chế, nông dân bị thay đổi nhanh chóng Trong xã hội xuất hiện ngày càng nhiều các tầng lớp cư dân khác như công nhân, thợ thủ công, tiểu thương, công chức… Và khi các cộng đồng cư dân bị xáo trộn tận gốc như thế thì sự ổn định về văn hóa cũng không còn, do đó kéo theo sự chuyển biến về ý thức, tư tưởng Tư tưởng Nho giáo lâm vào con đường bế tắc trầm trọng, nhiều nguồn tư tưởng khác nhau bắt đầu xuất hiện Sự xuất hiện của những tư tưởng mới lạ như tư tưởng dân chủ tư sản, tư tưởng duy tân, tư tưởng XHCN… theo nhiều con đường, nhiều phương thức khác nhau du nhập vào Việt Nam khiến cho tình hình tư tưởng xã hội hết sức đa dạng, phong phú, phức tạp Trong quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hoá, chủ thể văn hoá Việt Nam xuất hiện những thái độ khác nhau đối với văn hoá Đông – Tây Một số cho rằng cần phải kết hợp để Âu hoá hoàn toàn Một bộ phận khác nhìn nhận những mặt trái của văn hoá phương Tây để phê phán đi theo văn hoá phương Tây là không thoả đáng Từ những thái độ khác nhau với văn hoá Đông – Tây, chủ thể văn hoá Việt Nam phân hoá thành hai trường phái văn hoá: phái cựu học và phái tân học Nền văn minh vật chất mà phương tây đem đến cho
xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là nhân tố làm nên sự biến động diễn ra trong đời sống tinh thần Tất cả lý tưởng thẩm mỹ của thời đại đã bị phá vỡ, thay
Trang 34đổi Tất nhiên ở đây cũng cần nhìn vấn đề ở một góc độ khác: đồng thời với việc phá vỡ những cương thường đạo lý phong kiến, yếu tố tư sản đã góp phần giải phóng cá nhân, mang lại ít nhiều tự do cho người phụ nữ, và cho những lứa đôi yêu nhau, lấy nhau, mở cửa để các nhà Nho An Nam có điều kiện nhìn rộng ra thế giới bên ngoài cộng đồng của họ… Nói chung, nó cũng
đã mang lại ít nhiều đổi mới trong cuộc sống và xã hội
Năm 1915, thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt buộc phải bãi
bỏ thi Hương ở Bắc Kỳ Năm 1919 khoa thi Hội cuối cùng ở Huế đã kết thúc chế độ khoa thi cử phong kiến Từ đây, trong các trường học, học sinh bắt đầu say sưa với văn hoá Pháp mà đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp
Sự tiếp xúc văn hoá trên đây đã đem đến cho tầng lớp thanh niên tiểu
tư sản thành thị những năm 30 của thế kỷ này những tình cảm mới, những rung động mới Họ yêu đương mơ mộng, vui buồn không giống các cụ ngày xưa nữa Điều này đã được Lưu Trọng Lư nêu lên công khai trong buổi diễn thuyết ở nhà Học Hội Quy Nhơn hồi tháng 6 năm 1934: “Các cụ ta ưa những màu đỏ chót ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như làm một điều tội lỗi ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu ”
Sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây và lối sống đô thị hoá cũng làm cho ý thức cá nhân nảy nở và phát triển rất nhanh lấn át ý thức cộng đồng xưa
cũ Những con người trong xã hội ngày càng muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình trong gia đình và cả ngoài xã hội, điều này được biểu hiện rất
Trang 35rõ trong văn học Vì vậy, một quan niệm mới về văn chương cũng đồng thời xuất hiện Họ cho rằng những quy phạm chặt chẽ của thi pháp cổ đã trở thành vật cản trên chặng đường tự do dân chủ hoá nền văn học nước nhà Họ lên tiếng chống lại sự trói buộc trái tự nhiên của thi pháp cổ mang tính phi ngã đã một thời là mẫu mực cho các sáng tác văn chương nghệ thuật Họ đòi hỏi một
sự cách tân để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ mới và để kích thích cá tính sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật văn chương
Có thể nói, lối sống đô thị hoá và sự tiếp xúc văn hoá phương Tây của một số tầng lớp dân chúng Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ này là tiền đề quan trọng cho xu hướng hiện đại hoá đời sống xã hội, trong đó có văn học Ngoài ra, góp phần không nhỏ vào sự đổi mới của xã hội nói chung
và văn nghệ nói riêng còn phải kể đến vai trò của báo chí
Từ năm 1913, báo chí bắt đầu đổi mới và có khuynh hướng, chương trình rõ rệt hơn, hình thức báo chí cũng được cải tiến Báo chí thời nay được xuất bản bằng các thứ tiếng Tàu, Pháp, quốc ngữ và đôi khi cả chữ Nôm nữa
Về sau, những trí thức tân học của ta đã cổ động cho chữ quốc ngữ và dùng
nó làm phương tiện phổ biến Văn hoá, khoa học tiến bộ góp phần thúc đẩy bánh xe lịch sử tiến lên Chính báo chí đã hoạt động sôi nổi khiến chính quyền thực dân và Chính phủ Nam triều phải bãi bỏ chế độ thi cử lỗi thời làm cho nền Hán học ở Việt Nam sụp đổ hoàn toàn Báo chí cũng là diễn đàn để các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trao đổi ý kiến đánh giá tác phẩm, phổ biến lý luận kinh nghiệm sáng tác Đặc biệt, báo chí còn góp phần đấu tranh cho sự thắng lợi của văn hoá tiến bộ, cho sự toàn thắng của chữ quốc ngữ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học
Tham gia vào công cuộc đổi mới có một số trí thức Hán học chịu ảnh hưởng của sinh hoạt đô thị tư sản và văn hoá phương Tây thông qua tân thư
Trang 36Trung Quốc như Tản Đà, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách, Phan Khôi, nhưng chủ yếu vẫn là tầng lớp trí thức tân học Những cây bút này đã tạo nên trên văn đàn công khai ở Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ hai trào lưu văn học là văn học hiện thực và văn học lãng mạn chủ nghĩa Hai trào lưu này đều đấu tranh thoát khỏi hệ thống thi pháp cổ trung đại và đã thực sự đóng góp có hiệu quả vào tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam
Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến đầu những năm 30, bối cảnh xã hội cũng như tư tưởng, ý thức hệ của các tầng lớp xã hội càng chuyển biến một cách sôi động hơn Vai trò của giai cấp thống trị nhà nước phong kiến cũng như ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với đời sống xã hội ngày càng bị suy giảm, thu hẹp Trong lối sống người Việt đã chịu ảnh hưởng của kinh tế hàng hoá, đồng tiền chiếm vị trí trọng yếu trong đời sống phá vỡ quan hệ luân thường truyền thống, tình nghĩa bị lép vế trước lợi nhuận Cách nhìn nhận phong tục tập quán đã khác trước Một mặt tôn vinh bản sắc tinh tế riêng biệt của văn hoá dân tộc qua các lễ hội, sinh hoạt gia đình, tình làng nghĩa xóm, đạo thầy trò, nghĩa cha con, vợ chồng, đề cao sự khoáng đạt bao dung, thuỷ chung nhân hậu của văn hoá truyền thống Mặt khác đã phê phán nhẹ nhàng những hủ tục lạc hậu Đây là lúc xuất hiện nhiều
tổ chức, phong trào chính trị quan trọng: phong trào yêu nước, phong trào dân chủ, phong trào công nhân, nông dân, phong trào tư sản, tiểu tư sản thành thị… Có thể nói lúc này, ở nước ta đang diễn ra một quá trình thử nghiệm, tìm kiếm ý thức hệ phù hợp với xã hội Việt Nam Điều đặc biệt là trong cuộc tìm tòi, gạn lọc đầy gian nan này người ta đã tìm thấy một hướng đi triển vọng Tư tưởng dân chủ đã được phát hiện và nó nhanh chóng trở thành một luồng tư tưởng mới đầy sinh khí
Những đặc điểm văn hóa - xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX còn được thể hiện ở các cuộc đấu tranh yêu nước và phong trào cách mạng của nhân
Trang 37dân ta Nhiều nhà yêu nước đã xuất ngoại tìm đường cứu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc Phong trào đấu tranh đòi độc lập tự chủ, cải cách xã hội, chống sưu thuế diễn ra khắp mọi nơi Phong trào yêu nước của nhân dân ta giai đoạn đầu thế kỷ XX đã có một bước chuyển quan trọng Đây là sự chuyển biến về quy mô và tính chất Điều này có tác động rất lớn đối với đời sống xã hội và nó chi phối mạnh mẽ đến quy luật vận động văn chương giai đoạn này
- Đặc điểm Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trước sự biến chuyển của đời sống xã hội, văn học phải thay đổi để hợp thời Người đọc cần những thông tin nhanh, thực tế và còn mang tính giải trí Và như thế tự thân nền văn học phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại Văn học lúc này cần có những hình thức mới để biểu đạt những thay đổi đến trong cuộc sống Và bản thân nó đã thực sự khủng hoảng Sự khủng hoảng dễ nhận thấy là sự suy tàn của văn chương chữ Hán, vốn là phương tiện
để lập thân trên con đường khoa cử nay đã không còn vì sự tan vỡ của chế độ khoa cử phong kiến Sự suy tàn ấy kéo theo sự suy tàn của văn chương chữ Hán Nôm Lúc này nền văn học tồn tại cả cái cũ và cái mới, hai lực lượng sáng tác, hai phương pháp thể hiện, hai quan niệm sáng tác, hai loại công chúng… Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xen hai yếu tố cũ và mới trong sáng tác của một tác giả, có khi trong cùng một tác phẩm Hai yếu tố cũ và mới ở cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn và phổ biến trên khắp các thể loại
Cuộc sống thay đổi đòi hỏi văn học cũng phải thay đổi để phản ánh đúng với thực tế cuộc sống Vì thế, văn học Việt Nam đã chuyển mình theo một xu hướng mới - một giai đoạn văn học mang tính chất giao thời Nói đến tính chất giao thời quá độ, chuyển tiếp của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào của
Trang 38đời sống cũng có nghĩa là thừa nhận sự thiếu ổn định, chưa định hình và văn học cũng thế Tuy nhiên không thể coi đó là một đặc điểm Có thể nêu lên một cách ngắn gọn, khái quát đặc điểm văn học giai đoạn này đó chính là tính chất quá độ, chuyển tiếp trên tất cả các phương diện
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, cuộc sống đã bắt đầu có những thay đổi khác trước, nền văn học đang chuyển biến với nhiều biến đổi sâu sắc Bên cạnh quan niệm xã hội luân thường với con người đạo đức và chức năng của thời đại cũ vẫn được gìn giữ trong ký ức của công chúng thưởng thức văn học
và những tác giả sáng tác văn chương thì ý thức về một quan niệm văn học mới cũng dần hình thành trong các sáng tác của người viết có trí thức mới, chịu ảnh hưởng của văn minh, văn học phương Tây Ở giai đoạn đầu thế kỷ
XX, do tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây, có nhiều tác giả viết tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… Đó là những thể loại mới – thể loại văn học hiện đại Dù không tránh khỏi những hạn chế nhất định do thời đại và lịch sử tác động nhưng các tác giả vẫn cố gắng thoát khỏi những đặc tính của văn học trung đại mà điển hình là tính ước lệ khi xây dựng thế giới nhân vật Về mặt nghệ thuật, họ đã có những đổi mới đáng kể, tuy trong nội dung họ vẫn tiếp tục thể hiện những vấn đề đạo lý trong quan niệm Nho giáo và dù đạo lý đó
có phần nào vượt ra ngoài, tiến gần đến đạo lý bình dân của người lao động
Đây là giai đoạn mà văn đoàn tồn tại nhiều xu hướng, nhiều dòng mạch nhất Trong đó nổi bật hơn hẳn là xu hướng văn chương yêu nước Dòng văn chương này theo sát diễn biến chính trị - xã hội, mang đậm dấu ấn lịch sử cụ thể Những gương mặt tiêu biểu cho xu hướng này là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Đặng Nguyên Cẩn,… Đặc biệt từ những năm 20 đã xuất hiện tên tuổi của nhà cách mạng, nhà văn yêu nước Nguyễn Ái Quốc Mỗi người một phong cách nhưng tất cả đã góp phần làm rộ lên một khuynh hướng văn học yêu nước mạnh mẽ với nhiều thành tựu đáng kể
Trang 39Xu hướng văn học hiện thực cũng bắt đầu lộ diện trong giai đoạn này nhưng chưa thành một dòng, một trào lưu thật rành mạch Một loạt các tác phẩm văn xuôi xuất hiện đã có những thay đổi nhằm thoát ly khỏi lối mòn cũ, xây dựng một lối văn mới đậm dấu tích của cuộc sống, gần gũi với cuộc đời thực Hầu hết các tác phẩm theo xu hướng này đã chọn hiện thực xã hội làm đối tượng phản ánh, nhà văn có ý thức dựng nên những hình tượng gần gũi với đời sống thực, nhất là những cảnh sống của nhân dân, những mâu thuẫn của xã hội, những vấn đề có tính đạo đức thế sự Những nỗ lực của họ phần nhiều chưa thành công, chỉ mới dừng lại ở mức sơ khai, ý tưởng nhưng đó là những khởi động tích cực cho một trào lưu hiện thực sẽ có trong tương lai
Bên cạnh xu hướng hiện thực, xu hướng lãng mạn cũng phát triển khá mạnh và có nhiều thành tựu nổi bật Nhìn chung, đây là dòng văn chương có khuynh hướng thoát ly thực tế, muốn vượt ra khỏi những ràng buộc thông thường của cuộc sống Xu hướng văn học này bao gồm nhiều biểu hiện khác nhau: tình yêu đôi lứa, tuyệt đối hóa cái tôi cá thể, khát vọng hòa nhập vào thiên nhiên… Xu hướng này được hình thành từ nhiều nguyên nhân nhưng cái chính vẫn là sự bế tắc về
tư tưởng, sử ảnh hưởng của các luồng tư tưởng phương tây hiện đại, văn hóa, văn học Pháp Lớp nhà văn, nhà thơ đầu tiên đại diện cho xu hướng này là Tản Đà, Trần Tuấn Khải tiếp sau là Đông Hồ, Hoàng Ngọc Phách,…
Có một mảng văn chương khác tuy không thành dòng nhưng số lượng khá nhiều do một bộ phận nho sĩ xu thời, một số nhà văn lầm lạc hoặc những tri thức Tây học, thành viên trong bộ máy nh à nước sáng tác Họ là những người ít nhiều dính dáng đến thực dân Pháp nên tác phẩm họ viết ra chủ yếu nhằm biện hộ cho hành vi của bản thân, thanh minh cho chính sách thuộc địa của thực dân Pháp, tuyên truyền
Trang 40mối quan hệ Pháp – Việt Trên thực tế, giá trị của những tác phẩm này không đáng kể
Ngoài các xu hướng, các dòng văn học đã nêu vẫn còn nhiều bộ phận khác tồn tại trong giai đoạn đầu thế kỷ XX Đây là mảng sáng tác của nhà Nho lỗi thời, những người cảm thấy không còn phù hợp với cuộc sống nên quay lưng lại với cuộc sống để giữ gìn thiên lương, tiết tháo…
Rõ ràng, hoàn cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng rất lớn đến tính chất văn học giai đoạn này Tính thuần nhất vốn có của văn học trung đại bị phá vỡ do có nhiều kiểu nhà văn xuất hiện, hình thành và phát triển nhiều xu hướng, nhiều dòng, nhiều nhà văn chuyên nghiệp ra đời, bắt đầu manh nha tầng lớp trí thức mới… tạo nên sự đa dạng, phức tạp của một giai đoạn văn học
Về hình thức thể loại thì có thơ ca, văn xuôi, văn học sân khấu nhất là kịch, văn học dịch, nghiên cứu, phê bình văn học… trong đó thành tựu thơ ca và văn xuôi là đáng chú ý đem lại giá trị, ý thức sáng tác đổi mới cao không chỉ ở nội dung mà cả nghệ thuật
Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là một giai đoạn văn học mang tính chất giao thời, chuyển tiếp giữa hai thời đại Xét về quan niệm, về
ý thức nghệ thuật có sự đan xen, chuyển tiếp giữa những quan điểm truyền thống và hiện đại Trên bình diện thi pháp, tính chuyển tiếp đó càng bộc lộ rõ, các nhà văn giai đoạn này đều có ý thức xác lập cho mình một phương thức, một cung cách thể hiện mới mẻ Nhiều nỗ lực nhằm cách tân hình thức văn chương dân tộc đã được tìm tòi, thử nghiệm Từ các yếu tố thuộc ngôn từ nghệ thuật, thế giới hình tượng cho đến thể loại đều được cố gắng cải cách cho phù hợp với tinh thần