1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố cá ở hạ lưu sông cái, thành phố nha trang và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững

159 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 32,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN CÔNG THỊNH NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, THÀNH PHỐ NHA TRANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH THÁI HỌC Đà Nẵng – Nă

Trang 1

TRẦN CÔNG THỊNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, THÀNH PHỐ NHA TRANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

SỬ DỤNG BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH THÁI HỌC

Đà Nẵng – Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

TRẦN CÔNG THỊNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ

Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, THÀNH PHỐ NHA TRANG VÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 84.20.120

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS VÕ VĂN PHÚ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy giáo PGS.TS Võ Văn Phú Việc sử dụng các số liệu, tài liệu cho luận văn đều được dẫn nguồn hoặc chú thích theo tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

TRẦN CÔNG THỊNH

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Kính xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Võ Văn Phú đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài

để hoàn thành luận văn này

Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Sinh Môi trường, phòng Đào tạo, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

đã tham gia giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Hải dương học, các đồng nghiệp tại phòng Động vật có xương sống biển, phòng Thủy địa hóa, phòng Địa chất - địa mạo đã luôn tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Xin chân thành cám ơn Đề tài VAST06.03/18-19 "Nghiên cứu cơ chế lưu giữ lại và quá trình phát tán của nguồn giống cá (trứng cá-cá bột) trong vịnh Nha Trang” đã hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện luận văn này

Cho tôi gửi lời cám ơn sâu sắc đến những ngư dân sống ven bờ sông Cái, Nha Trang đã giúp tôi thu thập mẫu vật, chia sẻ các nguồn thông tin cần thiết để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần trong suốt thời gian hoàn thành luận văn

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 01 năm 2020

TRẦN CÔNG THỊNH

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 LƯỢC SỬ VỀ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở các thủy vực nội địa Việt Nam 4

1.1.2 Nghiên cứu cá ở Khánh Hòa 8

1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 9

1.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 9

1.2.2 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội trong khu vực 16

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 18

2.1.1 Địa điểm 18

2.1.2 Thời gian thực hiện 19

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.2.1 Phương pháp xác định và đánh giá chất lượng môi trường nước 19

2.2.2 Phương pháp xác định thành phần loài cá 20

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu phân bố cá 23

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu đề xuất hướng phát triển bền vững 23

2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 24

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI 26

3.1.1 Nhiệt độ nước tầng mặt 26

Trang 8

3.1.2 Độ mặn 27

3.1.3 Nồng độ oxy hòa tan 29

3.1.4 Giá trị pH 31

3.1.5 Độ đục 32

3.1.6 Nhu cầu oxy sinh hóa 33

3.1.7 Nhu cầu oxy hóa học 35

3.2 THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, NHA TRANG 36

3.2.1 Danh lục thành phần loài cá 36

3.2.2 Cấu trúc thành phần loài cá 42

3.2.3 Nhóm cá ưu thế ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 47

3.2.4 Nhóm loài cá ghi nhận có nguy cơ tuyệt chủng, cần được bảo vệ và bảo tồn 48

3.2.5 Những loài cá ngoại lai ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 50

3.2.6 So sánh khu hệ cá ở hạ lưu sông Cái và khu hệ cá của các sông khác 52

3.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁC LOÀI CÁ Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, NHA TRANG 57

3.3.1 Các nhóm sinh thái cá 57

3.3.2 Phân bố cá theo thời gian 59

3.3.3 Phân bố cá theo không gian 62

3.3.4 Các nhóm cá di cư ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 66

3.4 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG NGUỒN LỢI CÁ Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI, NHA TRANG 68

3.4.1 Những giá trị của nguồn lợi cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 68

3.4.2 Tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi cá ở hạ lưu sông Cái 72

3.4.3 Đánh giá tình hình nuôi thả cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 74

3.4.4 Những nhóm giải pháp đề xuất bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở hạ lưu sông Cái 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

1.1 Danh sách các công trình nghiên cứu nổi bật về khu hệ cá thủy vực

2.1 Danh sách vị trí thu mẫu cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 18

3.1 Danh lục thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 37 3.2 Số lượng taxa có trong các bộ cá ở hạ lưu sông Cái 42 3.3 Số lượng giống, loài trong các họ cá ở hạ lưu sông Cái 45 3.4 Số lượng và tỉ lệ % số loài trong các giống cá ở hạ lưu sông Cái 46 3.5 Danh sách loài cá ở hạ lưu sông Cái cần được bảo vệ, bảo tồn 49

3.6 Số lượng các bậc taxon ở các nghiên cứu trước và sau khi được cập

3.11 Tỉ lệ % các nhóm cá thích nghi theo độ mặn ở các vị trí khảo sát trên

3.12 Hệ số gần gũi Sorencen về thành phần loài cá giữa các vị trí thu mẫu 65 3.13 Danh sách các loài cá kinh tế ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 69 3.14 Danh sách các loài cá ở hạ lưu sông Cái thuộc Danh mục giống thuỷ

sản được phép sản xuất, kinh doanh (theo QĐ 57/2008/QĐ-BNN) 70 3.15 Thống kê các loại nghề khai thác cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 73 3.16 Kích thước, giá bán các nhóm cá phổ biến ở hạ lưu sông Cái 73

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số

1.1 Biểu đồ thể hiện nhiệt độ trung bình các năm ở thành phố Nha Trang 11 1.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng năm 2018 ở thành phố Nha Trang 12 1.3 Biểu đồ thể hiện số giờ nắng các năm ở thành phố Nha Trang 12 1.4 Biểu đồ thể hiện số giờ nắng các tháng trong năm 2018 ở Nha Trang 13 1.5 Biểu đồ thống kê tổng lương mưa các năm ở Nha Trang 14

1.6 Biểu đồ thống kê tổng lượng mưa hàng tháng của năm 2018 ở Nha

1.7 Biểu đồ thống kê độ ẩm không khí tại Nha Trang qua các năm 15 1.8 Biểu đồ thống kê độ ẩm không khí tại Nha Trang các tháng năm 2018 15 1.9 Hoa gió từ tháng 1 đến tháng 12 tại trạm Nha Trang (1990-2014) 16 2.1 Sơ đồ vị trí thu mẫu ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 18

2.4 Các chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá 23 3.1 Nhiệt độ nước tầng mặt trung bình ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 26 3.2 Độ mặn nước tầng mặt lúc triều cao ở hạ lưu sông Cái 28 3.3 Độ mặn nước tầng mặt lúc triều thấp ở hạ lưu sông Cái 29 3.4 Đập tạm ngăn mặn ở chân cầu Vĩnh Phương vào mùa khô và mùa mưa 29 3.5 Nồng độ oxy hòa tan nước tầng mặt lúc triều cao ở hạ lưu sông Cái 30 3.6 Nồng độ oxy hòa tan nước tầng mặt lúc triều thấp ở hạ lưu sông Cái 30 3.7 Giá trị pH nước tầng mặt ở hạ lưu sông Cái (triều cao) 31

Trang 11

3.8 Giá trị pH nước tầng mặt hạ lưu sông Cái (triều thấp) 32 3.9 Biến thiên độ đục môi trường nước ở hạ lưu sông Cái 33 3.10 Biểu đồ biến động BOD5 ở hạ lưu sông Cái (triều cao) 34 3.11 Biểu đồ biến động BOD5 ở hạ lưu sông Cái (triều thấp) 35

3.13 Biểu đồ số lượng các taxa trong thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái 43 3.14 Những loài cá quý hiếm ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang 49 3.15 Tỉ lệ % loài cá ở hạ lưu sông Cái cần được bảo tồn theo IUCN (2019) 50 3.16 Tỉ lệ % các bậc taxon của 10 khu hệ cá được so sánh 54 3.17 Chỉ số giống nhau (Bray-Curtis Similarity index) giữa các khu hệ cá 56 3.18 Biểu đồ thể hiện số lượng loài trong các nhóm cá thích nghi độ mặn 58 3.19 Biểu đồ biểu diễn số lượng loài các nhóm cá thích nghi theo sinh cư 59 3.20 Biểu diễn số lượng taxon cá ở hạ lưu sông Cái qua các đợt thu mẫu 60 3.21 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ nhóm cá thích nghi theo độ mặn qua các đợt thu 61 3.22 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ nhóm cá thích nghi theo tầng nước qua các đợt thu 61 3.23 Số lượng loài cá ở các vị trí khảo sát trên hạ lưu sông Cái 63

3.24 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % các nhóm cá thích nghi theo độ mặn ở các vị trí

3.25 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % các nhóm cá thích nghi theo tầng nước ở các vị

3.26 Chỉ số giống nhau về thành phần loài giữa các vị trí thu mẫu 65 3.27 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các nhóm cá di cư ở hạ lưu sông Cái 67

3.29 Hoạt động gia cố đập tạm Vĩnh Phương và xây dựng kè bờ sông Cái 75

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sông Cái (tên khác: sông Phú Lộc, sông Cù) là sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa với chiều dài khoảng 84 km, có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế -

xã hội tỉnh Khánh Hòa Sông chảy đến thôn Xuân Lạc, xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang thì chia làm hai nhánh: Nhánh thứ nhất chảy theo hướng Đông-Nam, men theo chân núi Đồng Bò, chảy xuống Trường Đông, Vĩnh Trường và chảy ra Cửa Bé Vào mùa khô, nhánh này thường khô hạn; dòng chính chỉ hiện rõ vào mùa lũ Nhánh thứ hai chảy xiên theo hướng Đông - Bắc (đây là nhánh chính của sông Cái) từ Xuân Lạc,

xã Vĩnh Ngọc đổ ra cửa Đại Cù Huân, tức Cửa Lớn (cầu Trần Phú) Nhánh thứ hai được xem như là vùng hạ lưu sông Cái trên địa phận thành phố Nha Trang, chuyển tiếp giữa vùng nước ngọt sông Cái và khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, là nơi ương dưỡng, cung cấp nguồn dinh dưỡng lớn cho các đàn cá ở biển ven bờ

Vùng hạ lưu sông Cái thuộc địa phận thành phố Nha Trang được tính từ cầu gỗ Diên Phú (xã Vĩnh Trung) đến Cửa Lớn, có thể chia làm 3 khu vực: (1) Khu vực từ cầu gỗ Diên Phú đến đập tràn (cầu Vĩnh Phương): là khu vực nước ngọt hầu như tất cả các tháng trong năm; (2) Khu vực từ đập tràn (cầu Vĩnh Phương) đến cầu Đường Sắt:

là khu vực có sự biến động về độ mặn nước từ ngọt sang lợ (theo mùa); (3) Khu vực từ cầu Đường Sắt đến Cửa Lớn (cầu Trần Phú): khu vực thường xuyên chịu tác động của xâm nhập mặn từ biển

Vùng hạ lưu sông này chịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu đại dương So với các vùng phía Bắc, vùng này

có mùa đông ít lạnh hơn, mùa khô nóng kéo dài hơn; so với các vùng phía Nam thì mùa mưa muộn hơn Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8, trong mùa khô xuất hiện thời kỳ mưa tiểu mãn vào khoảng trung tuần tháng 5 đến hạ tuần tháng 6; mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào trung tuần tháng 12 Chính vì vậy, hiện tượng xâm nhập mặn thường xuyên xảy ra ở đây Tuy đã có công trình ngăn mặn là đập tràn gần cầu Vĩnh Phương nhưng do biến đổi khí hậu và sự phát triển ồ ạt các công trình xây dựng ở đầu nguồn, cùng với tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh ở hai

Trang 13

bên bờ sông dẫn đến suy giảm nghiêm trọng lưu lượng và chất lượng nước, ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và đa dạng của nguồn lợi thủy sinh vật, đặc biệt là cá

Ở tỉnh Khánh Hòa, việc nghiên cứu về cá đã diễn ra từ khá sớm, đa số các công trình chủ yếu tập trung vào các rạn san hô, vùng vịnh và ven biển Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sự đa dạng thành phần loài cũng như đặc điểm phân bố của các loài cá ở các thủy vực nội địa, đặc biệt là vùng hạ lưu sông Cái

Nhằm đánh giá sự đa dạng, đặc điểm phân bố, hiện trạng sử dụng nguồn lợi cá, cũng như đưa ra được các cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nhằm phát huy được tiềm năng để sử dụng bền vững nguồn lợi ở khu vực này Chúng tôi thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố cá ở hạ lưu sông Cái, thành phố Nha Trang và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững”

- Xác định được thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

- Hiểu rõ đặc tính phân bố của các loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

- Đề xuất được một số nhóm giải pháp cơ bản để sử dụng bền vững nguồn lợi cá

ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá một số đặc điểm môi trường nước ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

- Xác định thành phần loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các loài cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

- Đề xuất hướng sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài cá và hoạt động khai thác, nuôi thả cá ở hạ lưu sông Cái, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Phạm vi nghiên cứu: Hạ lưu sông Cái thuộc địa phận thành phố Nha Trang

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp xác định và đánh giá chất lượng nước, xác định thành phần loài cá, phân bố cá, đề xuất hướng phát triển bền vững nghề cá….Thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2010, Primer 5.0, Past 4.06; Xây dựng các sơ đồ phân bố các yếu tố môi trường bằng phần mềm Map Info 15.0

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho những định hướng nghiên cứu, quản lý, sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở sông Cái, Nha Trang

- Ý nghĩa thực tiễn: Thông tin từ kết quả nghiên cứu sẽ làm dẫn liệu khoa học cho việc xây dựng quy chế quản lý, khai thác nguồn lợi cá và là cơ sở cho việc quy hoạch các công trình trên sông Cái, Nha Trang

7 Cấu trúc của luận văn

Gồm 5 phần chính

- Mở đầu

- Chương 1: Tổng quan tài liệu

- Chương 2: Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 LƯỢC SỬ VỀ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở các thủy vực nội địa Việt Nam

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có thềm lục địa dài và rộng lớn, hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá dày đặc mang tính chất đặc trưng của các hệ sinh thái nhiệt đới với sự đa dạng và phong phú các loài thủy sinh vật Vì vậy, nghiên cứu về hệ sinh vật thủy sinh nói chung và khu hệ cá nói riêng ở nước ta đã và đang rất được chú trọng

Nghiên cứu về cá ở Việt Nam được bắt đầu từ khá sớm, công trình nghiên cứu

cá đầu tiên có thể kể đến là của H.E Sauvage (1881) trong ấn phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”, tác giả đã thống kê được

139 loài chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam Năm

1884, tác giả đã mô tả 10 loài cá ở sông Hồng (Hà Nội), trong đó có 7 loài mới [25] Vaillant (1891) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu Năm 1929, Tirant và cộng sự đã công bố thành phần loài và mô tả 70 loài cá ở sông Hương (Huế) trong đó

có 5 loài mới mà ông đã thu thập mẫu vật từ năm 1883 Ngoài ra, còn có các tác giả người nước ngoài khác như J Henry (1856), Pellagin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P Worman (1925), Gruvel (1925), P Chabanaud (1926), R Bourret (1927),… cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các sông suối và đầm phá ven biển nước ta [13]

P Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937) đã có nhiều nghiên cứu về cá ở các

sông suối miền Bắc Việt Nam và phát hiện sự có mặt của cá Chình Nhật (Anguilla japonica) ở sông Hồng [84] Năm 1937, một công trình tổng hợp về cá nước ngọt

miền Bắc Việt Nam của P Chevey và J Lemasson - “Góp phần nghiên cứu về các loài

cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” đã giới thiệu 17 họ, 98 loài; đây được xem là công trình nghiên cứu tổng hợp đầy đủ nhất về cá lúc bấy giờ [13]

Mặc dù, việc nghiên cứu cá nội địa ở nước ta được đề cập từ rất sớm, nhưng đa

số các công trình đều của các tác giả người nước ngoài như: Anh, Pháp, Mỹ, Trung

Trang 16

Quốc, Việc nghiên cứu về cá ở trong thời gian này chỉ mới dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài còn về phương pháp khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ nguồn lợi chưa được thực hiện nhiều

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), việc nghiên cứu cá bị gián đoạn Sau hiệp định Gernever 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục kháng chiến chống Mỹ, công tác nghiên cứu cá được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành, tập trung chủ yếu ở miền Bắc

Giai đoạn 1955 -1975, nhiều công trình tiêu biểu về cá của các tác giả như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959): “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông Bôi” và “Dẫn liệu

sơ bộ ngư giới Ngòi Thia” (1960); Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961): “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962): “Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; Nguyễn Văn Hảo (1964): “Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba Bể”; Hoàng Duy Hiệp và Nguyễn Duy Hảo (1964): “Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Thao”; Mai Đình Yên (1966): “Đặc điểm sinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam”; Đoàn Lệ Hoa, Phạm Văn Doãn (1971): “Sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã”; P Bananescu (1967, 1970, 1971): “Nghiên cứu phân họ cá Mương (Cultrinae)” Những nghiên cứu này đã được tổng hợp trong “Các loài cá kinh tế nước ngọt Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) [89]

Trong thời gian này, một số công trình nghiên cứu về cá do người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện ở miền Nam như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir (1965); M Yamamura (1966), Kawamoto và cộng sự (1972) [107]; Y Taki (1974) [124]

Sau năm 1975, kế thừa thành quả của những giai đoạn trước, công tác nghiên cứu cá được phát triển rộng khắp trên cả nước Nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm sinh học các loài đã được triển khai, lấp dần các điểm trắng chưa được điều tra

Ở miền Bắc, Mai Đình Yên (1978) đã thông kê danh mục, mô tả, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và giá trị kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc trong tác phẩm: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam” [90]

Trang 17

Ở miền Nam, Mai Đình Yên và cộng sự (1992) khi nghiên cứu “Thành phần loài cá sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai” đã xác định được 255 loài [91] Ngoài ra, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) khi nghiên cứu khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long đã xác định 137 loài [36]

Một số nghiên cứu cá tiêu biểu ở miền Trung và Tây Nguyên, kể đến như: Dương Tuấn (1979): “Đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá đầm Châu Trúc” (39 loài); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994): “Thành phần loài ở một số sông suối Tây Nguyên” (82 loài) [24]

Võ Văn Phú (1995, 1997) khi nghiên cứu “Thành phần các loài cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế” đã xác định được 163 loài thuộc 95 giống nằm trong 60 họ và 17 bộ [42]; đây được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về khu hệ cá đầm phá vào thời gian này

Từ năm 2000 đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các lưu vực sông trên khắp cả nước Đa số kết quả nghiên cứu đã đưa ra được danh mục thành phần loài cá cho các thủy vực (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Danh sách các công trình nghiên cứu nổi bật về khu hệ cá thủy vực nội

địa ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay

Số loài xác định

Nguồn

1 2001 Võ Văn Phú, Trần Hồng Đỉnh Khu hệ cá Đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế 151 [43]

2 2001 Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Văn Lục Vùng ven biển – cửa sông

5 2005 Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh,

Nguyễn Ngọc Hoàng Tân Sông Tam Kỳ, Quảng Nam 83 [45]

6 2005 Võ Văn Phú Đầm phá Tam Giang- Cầu

Hai, Thừa Thiên Huế 171 [46]

7 2005 Võ Văn Phú, Nguyễn Minh Ty Sông Ba, Phú Yên 71 [48]

8 2005 Võ Văn Phú và cộng sự Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị 100 [47]

9 2006 Võ Văn Phú, Hồ Thị Thanh Tâm Sông Hàn, Đà Nẵng 108 [49]

10 2007 Võ Văn Phú, Hoàng Thị Long Viên Sông Bồ, Thừa Thiên Huế 145 [50]

11 2008 Võ Văn Phú, Nguyễn Thanh Đăng Sông Truồi, Phú Lộc, Thừa 105 [51]

Trang 18

TT Năm Tác giả Khu vực nghiên cứu

Số loài xác định

Nguồn

12 2008 Võ Văn Phú, Trần Thuỵ Cẩm Hà

Vùng cảnh quan hành lang xanh của hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị

79 [52]

13 2008 Nguyễn Thị Phi Loan Đầm Ô Loan, Phú Yên 134 [37]

14 2009 Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Thuận Sông Ô Lâu, Thừa Thiên Huế 109 [53]

15 2009 Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy

Vùng đất ngập nước ven biển tỉnh Quảng Nam 128 [72]

16 2010 Đinh Thị Phương Anh, Phan Thị

Hoa

Vùng biển Nam bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 164 [1]

17 2010 Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú Hệ thống sông Vu Gia –Thu Bồn, Quảng Nam 197 [2]

18 2010 Nguyễn Minh Ty Sông Ba, Phú Yên 182 [84]

19 2011 Tạ Thị Thủy và cộng sự Sông Ba Chẽ, Quảng Ninh 123 [79]

20 2012 Tống Xuân Tám Sông Sài Gòn, Tp Hồ Chí

Phạm Thị Ngọc Cúc Hạ lưu sông Hậu 113 [67]

24 2014 Cao Hoài Đức, Tống Xuân Tám,

Huỳnh Đặng Kim Thủy Sông Cái Lớn, Kiên Giang 117 [20]

25 2015 Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Thị

Thanh Thu

Sông Đầm, Tam Kỳ, Quảng

26 2015 Nguyen Huu Duc, Tran Duc Hau,

Nguyen Thanh Hai Sông Hồng, Yên Bái 110 [104]

27 2015 Nguyen Huu Duc, Vu Thi Thu

28 2015 Võ Văn Phú, Hoàng Đình Trung Đầm phá Tam Giang- Cầu

Hai, Thừa Thiên Huế 187 [54]

29 2015 Thái Ngọc Trí Đồng bằng sông Cửu Long 216 [81]

30 2015 Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành

33 2017 Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành

Nam, Nguyễn Đức Hải Cửa sông Cổ Chiên, Bến Tre 142 [32]

34 2018 Nguyễn Văn Giang Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng 202 [23]

35 2018 Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang,

Nguyễn Phi Uy Vũ Vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi 178 [73]

36 2019 Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Văn

37 2019 Nguyen Huu Duc, Ngo Thi Mai

Huong, Tran Duc Hau Hệ thống sông Hồng 563 [116]

38 2019 Nguyen Thanh Nam và cộng sự Vườn quốc gia Pù Luông,

39 2019 Nguyễn Văn Quân và cộng sự Vùng biển vịnh Hạ Long 460 [64]

40 2019 Hoàng Ngọc Thảo, Đỗ Thị Hoa, Hà Sông Chu, Thọ Xuân, Thanh 64 [69]

Trang 19

TT Năm Tác giả Khu vực nghiên cứu

Số loài xác định

42 2019 Hoàng Ngọc Thảo và cộng sự Hồ Vực Mấu và sông Hoàng Mai, Nghệ An 84 [70]

43 2019 Bùi Xuân Tuấn, Vũ Thị Phương

bố cá theo mùa ở sông Phó Đáy (Nguyen Huu Duc, Vu Thi Thu Huong, 2015) [103]; phân bố cá theo tầng nước và môi trường sống ở cửa sông Cổ Chiên (Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự, 2017) [32]; phân bố cá theo địa lý, địa hình, theo hệ sinh thái thủy vực, theo tầng nước ở sông Bằng Giang - Kỳ Cùng (Nguyễn Văn Giang, 2018) [23],

tổng quan phân bố cá Mọm Scaphiodonichthys acanthopterus (Huỳnh Kim Thành và

cộng sự, 2019) [68]

1.1.2 Nghiên cứu cá ở Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hoà có địa hình phân hóa khá phức tạp cùng với sự ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có sự phong phú về sinh cảnh, là tiền đề cho sự

đa dạng về hệ động - thực vật Vì vậy, việc nghiên cứu về động - thực vật nói chung và

về cá nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm, Nguyễn Hữu Dực (1995): “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ” với sông Thu Bồn (Quảng Nam) gồm

58 loài, sông Trà Khúc (Quảng Ngãi) 47 loài, sông Vệ (Quảng Ngãi) 34 loài, sông Côn (Bình Định) 43 loài, sông Ba (Phú Yên) 48 loài, trong đó ghi nhận sông Cái (Khánh Hòa) có 25 loài [18] Tuy nhiên, kể từ đó đến nay thì hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài cá ở lưu vực sông này

Gần đây, công tác nghiên cứu về cá ở Khánh Hòa nói chung, Nha Trang nói riêng đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn, tập trung chủ yếu ở các rạn san hô, vũng vịnh, ven biển Một số công trình khoa học tiêu biểu đã được công bố như: Vo Si Tuan

Trang 20

và cộng sự (2002) tổng hợp từ các nghiên cứu hệ động - thực vật ở vịnh Nha Trang từ năm 1931-2001 ghi nhận 796 loài cá, thuộc 351 giống và 125 họ, trong đó có 336 loài

cá rạn [125] Riêng cá rạn ở vịnh Nha Trang, Võ Sĩ Tuấn và cộng sự (2005) xác định được 225 loài [83] Nguyễn Phi Uy Vũ và cộng sự (2007) “Thành phần loài cá thường gặp của một số nghề khai thác cá đáy và gần đáy ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa”,

đã thống kê được 263 loài thuộc 161 giống, 92 họ và 19 bộ [88] Cao Xuân Dũng (2010) “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Nghạnh” [21] Trần Văn Phước (2011) “Hiện trạng nguồn lợi thủy sản khai thác bằng nò sáo tại thôn Tân Đảo - đầm Nha Phu - tỉnh Khánh Hòa” đã xác định được 55 loài cá, thuộc 27 giống, 9 bộ; chủ yếu

là nhóm cá thích nghi nước mặn [61] Võ Văn Quang và cộng sự (2013) “Đặc điểm quần xã và hiện trạng nguồn lợi cá vùng Bình Cang và Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa” đã ghi nhận 190 loài cá, thuộc 62 họ, 13 bộ [65] Trần Thị Hồng Hoa và cộng sự (2014)

“Thành phần loài cá khai thác ở vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa” xác định được 351 loài, 215 giống, 19 bộ, 100 họ [28]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cá ở các thủy vực nội địa tỉnh Khánh Hoà vẫn còn ít, đặc biệt do tiềm năng về cá biển của địa phương rất lớn nên các công trình nghiên cứu ở đây chú trọng nhiều hơn về cá biển Do vậy, chưa đánh giá đúng

mức về tiềm năng về nguồn lợi cá ở sông ngòi và các thủy vực nội địa khác

1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Sông Cái còn được biết với tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù, là sông lớn nhất Khánh Hòa, với chiều dài 84 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m (Tây Bắc xã Khánh Thượng (huyện Khánh Sơn), chảy theo hướng Tây - Đông qua hai huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển Lưu vực sông khoảng 2.000 km2, bao trùm toàn bộ Thành phố Nha Trang, huyện Diên Khánh, Khánh Vĩnh

và một phần diện tích của huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa và MaĐrăk tỉnh ĐăkLăk Phía Bắc giáp lưu vực sông Dinh Ninh Hòa, phía Nam giáp lưu vực sông Cái Phan Rang, phía Tây giáp lưu vực sông Đăkrông, phía Đông giáp Biển Đông [78]

Trang 21

Khu vực nghiên cứu là đoạn hạ lưu sông thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km, chảy qua các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Phương, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, phường Ngọc Hiệp, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vĩnh Phước và đổ ra biển

1.2.1.2 Địa hình

Nhìn chung, địa hình lưu vực sông Cái có xu hướng dốc từ Tây sang Đông, khu vực trung du có độ cao phổ biến từ 10 đến 25 m, khu vực đồng bằng có độ cao phổ biến từ 2 đến 10 m Độ dốc trung bình vùng núi là 16 % , trung bình chung của lưu vực 2,8 % Hầu hết, địa hình lưu vực sông bị chia cắt nhiều bởi nhiều ngọn núi nhỏ, vùng ven biển có những dãy núi đâm ngang ra biển Cụ thể, khu vực đồng bằng và trung du xen kẽ những đỉnh núi nhỏ có độ cao từ 40 đến 50 m, cá biệt có đỉnh núi Chín Khúc có độ cao 592,6 m, xen kẽ là các quả đồi nhỏ có độ cao 20 đến 30 m [78]

1.2.1.3 Thủy văn

Sông Cái là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và cho sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ, nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt dân cư của thành phố Nha Trang, Lưu lượng nước bình quân: Q0=55,70 m3/s; lưu lượng nước mùa kiệt: Qk=7,32 m3/s [10]

Sông chịu ảnh hưởng lớn bởi chế độ thủy triều và các đợt sóng từ vịnh Nha Trang Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc, khu vực ngoài khơi vịnh Nha Trang bị sóng tác động mạnh, với độ cao sóng hữu hiệu xấp xỉ 2 m, còn tại dải ven bờ phía Nam vịnh Nha Trang bị che chắn bởi nhiều đảo nên sóng có độ cao hữu hiệu nhỏ hơn 0,5 m, dải ven bờ từ Ba Làng đến Quảng Trường có độ cao sóng từ 1 - 1,5 m Thời kỳ gió mùa Tây Nam, khu vực ngoài khơi vịnh Nha Trang cũng có sóng với độ cao hữu hiệu xấp

xỉ 2 m, còn tại dải ven bờ có sóng tác động với độ cao sóng hữu hiệu nhỏ hơn 1 m Có thể nói, sóng trong vịnh và vùng cửa sông Cái chịu ảnh hưởng sâu sắc chế độ thủy văn

ở vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ [10]

Độ cao mực nước tại vùng hạ lưu sông Cái phụ thuộc nhiều vào chế độ thủy triều hỗn hợp, thiên về nhật triều (nhật triều không đều), trong một tháng có khoảng 20

Trang 22

mực nước và các tháng 6, 7, 8 luôn xuất hiện cực tiểu mực nước Mực nước nhỏ nhất trong năm được ghi nhận ở trạm Cầu Đá (Nha Trang) là 0,04 m, trung bình là 1,24 m, cao nhất là 2,38 m Trong năm 2019, biên độ triều dao động thủy triều từ 0,26 m đến 2,18 m, thời gian triều lên thường kéo dài hơn thời gian triều rút [10]

1.2.1.4 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu quyết định đến sự phân bố cũng như quá trình sinh trưởng phát triển của sinh vật Các loài cá cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của điều kiện khí hậu lên đời sống hằng ngày Khu vực nghiên cứu nằm trong thành phố Nha Trang, chịu sự chi phối của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng của khí hậu đại dương, tương đối ôn hòa, phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão [10]

a Nhiệt độ

Thành phố Nha Trang có nền nhiệt tương đối ổn định, so với các vùng phía Bắc thì mùa đông ít lạnh hơn, mùa khô nóng kéo dài hơn; so với các vùng phía Nam thì mùa mưa muộn hơn Nhiệt độ không khí ở thành phố Nha Trang tương đối cao, ổn định qua các năm (hình 1.1) Năm 2018, nhiệt độ trung bình ghi nhận tại trạm quan trắc thành phố Nha Trang là 27,4 oC, trung bình cao nhất vào tháng 8 (29,9 oC), trung bình thấp nhất vào tháng 2 (24,1 oC) (hình 1.2)

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện nhiệt độ trung bình các năm ở thành phố Nha Trang

Trang 23

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng năm 2018 ở thành phố Nha Trang

Trong những năm gần đây, tổng số giờ nắng ghi nhận tại Nha Trang khá cao, trên 2.300 giờ nắng/năm Năm 2018, tổng số giờ nắng ghi nhận là 2.502 giờ, trung bình mỗi tháng có 208,5 giờ Có thể thấy, hầu hết các tháng có tổng số giờ nắng trên

200 giờ, trung bình mỗi ngày có 6-7 giờ Về mùa khô, số giờ nắng cao hơn mùa mƣa, trung bình tháng có 218,6 giờ nắng, mỗi ngày trung bình có từ 7- 9 giờ Vào mùa mƣa, trung bình tháng có 187,9 giờ nắng, mỗi ngày có trung bình 5- 7 giờ

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.3 Biểu đồ thể hiện số giờ nắng các năm ở thành phố Nha Trang

Trang 24

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.4 Biểu đồ thể hiện số giờ nắng các tháng trong năm 2018 ở Nha Trang

b Lượng mưa

Mưa là một yếu tố quan trọng, chi phối đến chế độ nước, dòng chảy của sông, tác động không nhỏ đến đời sống và phân bố của sinh vật, chi phối thời vụ, cơ cấu vật nuôi - cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp Mùa mưa

ở Nha Trang bắt đầu từ cuối tháng 9 và kết thúc vào trung tuần tháng 12, tập trung vào hai tháng 10 và 11, lượng mưa các tháng này thường chiếm trên 50 % tổng lượng mưa trong năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8, trong mùa khô xuất hiện thời kỳ mưa tiểu mãn vào khoảng trung tuần tháng 5 đến hạ tuần tháng 6

Thống kê năm 2018 cho thấy, tổng lượng mưa quan trắc ở Nha Trang là 1.769,8

mm, cao hơn so với năm 2017 (1.381 mm), nhưng thấp hơn năm 2016 (2.392,2 mm) Các tháng 9, 10, 11, 12 có tổng lượng mưa khá cao, nhất vào tháng 11 (với tổng lượng mưa đến 703 mm, chiếm 39,73 % tổng lượng mưa cả năm) Từ tháng 1 đến tháng 8, thời tiết Nha Trang khá khô, tổng lượng mưa hàng tháng đều dưới 100 mm, thậm chí chỉ có 6 mm (tháng 2) (hình 1.5 và 1.6)

Trang 25

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.5 Biểu đồ thống kê tổng lương mưa các năm ở Nha Trang

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.6 Biểu đồ thống kê tổng lượng mưa hàng tháng của năm 2018 ở Nha Trang

c Độ ẩm không khí

Với phía Đông tiếp giáp biển, thành phố Nha Trang có độ ẩm không khí khá cao, trung bình hàng năm trên 75 % Trong những năm gần đây, độ ẩm trung bình tương đối cao, dao động 77 - 80 % (hình 1.7)

Kết quả quan trắc độ ẩm tương đối năm 2018 ở khu vực này ghi nhận trung bình khoảng 78 %, các tháng mùa mưa (tháng 09 - tháng 12) có độ ẩm cao hơn các tháng mùa khô Độ ẩm không khí cao nhất vào các tháng 11, 12 với 83 %, thấp nhất vào tháng 8 (73 %) (hình 1.8)

Trang 26

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.7 Biểu đồ thống kê độ ẩm không khí tại Nha Trang qua các năm

Nguồn: Niên giám Thống kê Khánh Hòa 2018 [15]

Hình 1.8 Biểu đồ thống kê độ ẩm không khí tại Nha Trang các tháng năm 2018

d Gió

Chế độ gió ở Nha Trang nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung là sự luân chuyển các hướng gió theo hai mùa trong năm rất rõ rệt Mùa mưa chịu ảnh hưởng của tín phong Đông Bắc, với khí hậu thịnh hành là nhiệt đới Thái Bình Dương Mùa khô, gió đến theo hai luồng: một luồng từ phía Tây, Tây Nam thổi tới qua các dãy núi Campuchia và hạ Lào đã đem lại thời tiết khô nóng (thường gọi là gió Tây khô nóng) Luồng thứ hai là một phần của tín phong Nam bán cầu thổi đến theo hướng Nam hoặc Đông Nam, sau khi trải qua quãng đường dài trên biển, luồng không khí này đã đem lại thời tiết mát mẻ hơn vào các tháng cuối mùa khô (hình 1.9)

Trang 27

Hình 1.9 Hoa gió từ tháng 1 đến tháng 12 tại trạm Nha Trang (1990-2014)

1.2.2 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội trong khu vực

Hiện nay, ven hạ lưu sông Cái là nơi tập trung của nhiều khu du lịch, khu dân

cư đông đúc: Đảo Gà, tắm bùn Tháp Bà, Tháp Bà Ponaga, Champa Island, Mường Thanh; khu dân cư với mật độ cao của các xã/phường: Vĩnh Ngọc, Ngọc Hiệp, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vĩnh Phước Sự phát triển nhanh chóng các cơ sở hạ tầng, các khu đô thị dẫn đến sự tập trung dân về thành phố khá đông

Theo báo cáo tổng kết về điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố, tính đến ngày 01/04/2019, toàn thành phố có 111.898 hộ

Trang 28

(chưa tính hộ đặc thù), tổng số nhân khẩu 422.601 người sinh sống trên 8 xã, 19 phường (chiếm hơn 1/3 số dân toàn tỉnh Khánh Hòa) Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều, mật độ trung bình 1.683 người/km2

, tập trung tại các phường nội thành, khu vực đô thị có 285.788 người (chiếm 67,62 %), khu vực nông thôn có 136.813 người (chiếm 32,38 %); tỷ lệ giới tính 96,75 nam/100 nữ [130]

Về kinh tế, Tính riêng năm 2019, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 26.330 tỷ đồng, tăng 7,33 % so với năm 2018 Hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp cũng đóng vai trò lớn trong tỷ trọng kinh tế của thành phố, tổng giá trị sản xuất năm 2019 của các ngành này đạt 2.547,83 tỷ đồng, tăng 4,29 % so với năm trước Riêng về thủy sản, sản lượng đánh bắt cả năm của thành phố đạt 60.235,6 tấn (tăng 4,96 %) Với lợi thế được ưu đãi bởi các tài nguyên sẵn có (bãi biển dài và đẹp, khí hậu ôn hòa, nhiều danh lam thắng cảnh), Nha Trang là điểm thu hút khá đông lượng khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng Năm 2019, giá trị thương mại và dịch vụ ước đạt 81.674

tỷ, tăng 19,13 % so với năm 2018 Trong đó, tổng doanh thu du lịch ước đạt 24.258,6 tỷ đồng (tăng 20,95 %) Tổng số khách đến tham quan, lưu trú tại thành phố khoảng 6.556.000 lượt người, với khoảng 2.946.000 lượt khách quốc

tế [86] Sự phát triển mạnh của nền công nghiệp không khói này đã và đang ảnh hưởng đến các nguồn lợi tài nguyên và môi trường, tạo sức ép không nhỏ cho các nhà quản lý, các nhà khoa học cũng như toàn thể cộng đồng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Bảng 2.1 Danh sách vị trí thu mẫu cá ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

A1 Phường Vĩnh Phước, TP Nha Trang 602268,3 m E 1355837,6 m N

A2 Phường Ngọc Hiệp, TP Nha Trang 601427,4 m E 1356667,3 m N

A3 Phường Ngọc Hiệp, TP Nha Trang 601132,7 m E 1356141,1 m N

A4 Xã Vĩnh Ngọc, TP Nha Trang 599801,8 m E 1357020,5 m N

A5 Xã Vĩnh Ngọc, TP Nha Trang 598857,3 m E 1357978,0 m N

A6 Xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang 598293,8 m E 1356874,5 m N

A7 Xã Vĩnh Thạnh, TP Nha Trang 597107,7 m E 1356883,4 m N

A8 Xã Vĩnh Trung, TP Nha Trang 596490,3 m E 1356496,0 m N

A9 Xã Vĩnh Trung, TP Nha Trang 595160,8 m E 1356179,7 m N

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí thu mẫu ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

Trang 30

2.1.2 Thời gian thực hiện

Đề tài được thực hiện khảo sát thực tế, phân tích, xử lý và viết báo cáo từ tháng

7 đến tháng 12 năm 2019, cụ thể ở bảng 2.2:

Bảng 2.2 Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu

Tháng

7 8 9 10 11 12

1

Thu thập thông tin tổng quan về khu vực nghiên cứu, phân

bố cá trong khu vực từ ngư dân, cơ quan quản lý địa

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp xác định và đánh giá chất lượng môi trường nước

 Thông số nghiên cứu được lựa chọn và phân tích: theo QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, thực hiện thu mẫu nước 1 tháng/lần, gồm 07 thông số: Nhiệt độ, độ mặn, độ đục, pH, nồng độ oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5)

 Thu mẫu: Mẫu được thu thập theo TCVN 6663-6:2018 (ISO 5667-6:2014): Tiêu chuẩn quốc gia về hướng dẫn lấy mẫu nước sông và suối

Hình 2.2 Thiết bị đo đa yếu tố YSI PRO DSS (Mỹ)

Trang 31

Các thông số đo trực tiếp ngoài hiện trường: Nhiệt độ, độ mặn, độ đục, pH, DO bằng thiết bị đo đa yếu tố YSI PRO DSS (Mỹ).Trước khi tiến hành đo, các thiết bị được kiểm tra kỹ tình trạng hoạt động và chuẩn hóa nhằm tránh sai số khi thực hiện Mẫu nước thu để phân tích BOD5 được cho vào lọ thủy tinh nút mài 250 ml Mẫu

để phân tích COD cho vào chai nhựa 50 mml Trước đó, chai lọ đã được xử lý bằng hỗn hợp axit H2SO4 và K2Cr2O7, rửa sạch và tráng kỹ bằng nước cất 2 lần

 Bảo quản mẫu: Mẫu được bảo quản theo TCVN 6663-3:2016 (ISO 3:2012) Tiêu chuẩn quốc gia về hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu nước

5667-Với mẫu BOD5: cố định DO1 ngay tại hiện trường bằng dung dịch MnCl2 và hỗn hợp dung dịch NaOH và KI; mẫu DO5 được bảo quản trong tối ở nhiệt độ 20 oC

Mẫu phải được dán nhãn và ghi đầy đủ thông tin về trạm vị, ngày thu mẫu; được giữ lạnh trong thùng lạnh bảo quản, sau đó đưa về phòng thí nghiệm Thủy Địa Hóa - Viện Hải dương học để phân tích

 Phương pháp phân tích mẫu

Ngoài các thông số được xác định bằng thiệt bị đo nhanh ngay tại hiện trường: nhiệt độ, độ mặn, pH và độ đục; các thông số môi trường khác được phân tích trong phòng thí nghiệm:

Thông số BOD5 được phân tích, xác định trong phòng thí nghiệm theo phương pháp ủ bình đen (SMEWW 5210-B) Thông số COD được phân tích theo phương pháp hồi lưu mở (SMEWW 5220-B) [94]

Hai thông số BOD5 và COD được Thạc sỹ Lê Hùng Phú (phòng Thủy Địa Hóa) hướng dẫn phân tích

2.2.2 Phương pháp xác định thành phần loài cá

 Thu mẫu: Trực tiếp đánh bắt cùng với ngư dân tại các vị trí thu mẫu, tần suất 1 lần/tháng Tùy theo kích thước và mức độ thường gặp, mỗi loài thu 1 - 3 con Thu mua mẫu của ngư dân đánh cá trực tiếp tại các địa điểm nghiên cứu Đặt các thẩu bằng nhựa plastic có pha sẵn hóa chất định hình cho các hộ ngư dân đánh bắt cá tại các điểm

Trang 32

khảo sát để nhờ họ thường xuyên thu mẫu giúp trong thời gian nghiên cứu Thu gom mẫu định hình 1 tháng/lần; mẫu được đưa về phòng thí nghiệm Động vật có xương sống biển - Viện Hải dương học để phân tích và bảo quản

Thu mua mẫu cá ở các chợ, điểm lên cá, nơi mà những ngư dân đánh bắt cá ở hạ lưu sông Cái thường xuyên đến buôn bán, trao đổi: chợ Vĩnh Ngọc, chợ Vĩnh Phương, chợ Ga, chợ cá Xóm Cồn Các mẫu cá này đều được kiểm tra kỹ về địa điểm, thời gian

và loại nghề để chắc chắn chúng được khai thác ở các điểm nghiên cứu

 Xử lý mẫu: Mẫu cá được tiến hành xử lý, phân tích, bảo quản theo hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1973) [63], Motomura và Ishikawa (2013) [113]

Trong phòng thí nghiệm, mẫu vật được rửa sạch, đặt trên tấm xốp Dùng đinh ghim và dung dịch formol 10% để định hình các vây của cá Chụp hình mẫu bằng máy ảnh Canon 7D, độ phân giải 18.0 megapixel Bảo quản mẫu cá trong dung dịch formol 4-5 % Nếu cá lớn thì tiêm formol 10% và ổ bụng, cơ để tránh hư hỏng mẫu

Ghi nhãn mẫu gồm những thông tin: Số thứ tự của mẫu, tên địa phương, địa điểm thu mẫu, thời gian thu mẫu và người thu mẫu

 Định loại: Tài liệu định loại chính: Vương Dĩ Khang (1963) [35]; Kottelat M

(2001) [108]; Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005a, 2005b) [25], [26], [27]; Allen (2000) [93]; Eschmeyer và cộng sự (1998) [105]; Carpenter và Niem (2001) [99]; Nguyễn Nhật Thi (2000, 2008) [75], [76]; Matsuura và cộng sự (2000) [112]; Nguyễn Khắc Hường (2001) [33]; Nakabo (2002) [114]; Nguyễn Văn Lục và cộng sự (2007) [39]

Cập nhật tên khoa học loài theo: Froese & Pauly (2019) [128], WORSM (2019) [131]

Đối chiếu, xác định tên tiếng Việt theo: Mai Đình Yên (1978a, 1978b, 1992) [89], [90], [91]; Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi (1994) [57]; Nguyễn Hữu Phụng, Trần Hoài Lan (1994) [56]; Nguyễn Hữu Phụng và cộng sự (1995, 1997) [58], [59]; Nguyễn Hữu Phụng (1999) [60]; Nguyễn Khắc Hường (2001) [33]; Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005a, 2005b) [25], [26], [27]; Nguyễn Nhật Thi (2000, 2008) [75], [76];

Trang 33

Đỗ Thị Như Nhung (2007) [41]; Nguyễn Khắc Hường, Trương Sĩ Kỳ (2007) [34]; Nguyễn Văn Lục và cộng sự (2007) [39]

Sắp xếp theo hệ thống phân loại của Eschmeyer (1998) [105], cập nhật theo phiên bản điện tử của Eschmeyer và cộng sự (2019) [127]

Các chỉ tiêu hình thái sử dụng định loại: Chiều dài toàn thân cá tính từ mút mõm đến hết vây đuôi (TL), chiều dài chuẩn cá tính từ mút mõm đến gốc vây đuôi (SL), chiều dài đầu tính từ mút mõm đến hết nắp mang (HL), chiều cao lớn nhất của thân (BD), đường kính mắt (O), khoảng cách giữa 2 ổ mắt (OO), chiều dài gốc các vây lưng, vây hậu môn, chiều dài cuống đuôi, chiều cao cuống đuôi,…(hình 2.3)

Hình 2.3 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo hình thái ở cá

Các chỉ số đếm: Số lượng tia và gai vây lưng (D), số lượng tia và gai vây bụng (V), số lượng tia và gai vây ngực (P), Số lượng tia và gai vây hậu môn (A), số lượng tia và gai vây đuôi (C), Số lượng vảy đường bên (LL), số lược mang,… (hình 2.4)

Trang 34

Hình 2.4 Các chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá

Đo đạc các chỉ số bằng thước lá dài 1 m, có độ chia nhỏ nhất là 1 mm và thước kẹp 150 mm, độ chia nhỏ nhất 0,01 mm

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu phân bố cá

Căn cứ vào kết quả phân tích các đặc điểm môi trường nước ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang cùng với khối lượng mẫu cá được chúng tôi trực tiếp thu cùng với ngư dân tại các vị trí nghiên cứu Đồng thời, tiến hành ghi nhận năng suất và sản lượng đánh bắt của ngư dân qua các ngư cụ tại các vùng nước theo thời gian khác nhau, điều tra phỏng vấn phỏng vấn, quan trắc để ghi chép số liệu về sự hiện diện, mùa vụ của các loài cá được khai thác ở hạ lưu sông Cái Kết quả thu được sẽ mô phỏng vùng phân bố các nhóm cá theo thời gian và không gian bằng các biểu đồ, sơ đồ

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu đề xuất hướng phát triển bền vững

 Căn cứ vào nguồn số liệu về phương tiện khai thác thủy sản hàng năm được thu thập từ báo cáo của các cơ quan quản lý chuyên ngành địa phương trên địa bàn nghiên cứu

 Khảo sát và tham khảo thông tin sơ bộ về các loại nghề khai thác cá trên vùng nghiên cứu được cung cấp bởi các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương

 Điều tra, phỏng vấn ngư dân trực tiếp đánh bắt cá tại vùng nghiên cứu về: những loài thường gặp, tập tính di nhập,…của các loài cá được đánh bắt chính

Trang 35

 Điều tra, phỏng vấn về hiện trạng khai thác cá theo tài liệu hướng dẫn qui trình điều tra thu mẫu nghề cá của Stamatopoulos (2002) [121] bằng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp ngư dân trong vùng nghiên cứu về: đối tượng, loại nghề, mùa vụ, kích thước khai thác, mục đích sử dụng các đối tượng khai thác (Phụ lục 1) Tổng số phiếu điều tra là 50 phiếu, gồm: 30 phiếu điều tra các ngư dân đánh bắt ở vùng nước gần cửa biển, 15 phiếu điều tra ngư dân đánh bắt ở vùng nước từ đập tạm Vĩnh Phương đến Cầu Sắt và 5 phiếu từ các ngư dân khai thác ở vùng nước phía Tây đập tạm Vĩnh Phương

2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu

 Đánh giá mức quan hệ về thành phần loài cá với các khu hệ khác:

- Hệ số gần gũi của Sorencen (1984):

B A

C

 2

Trong đó: S: Hệ số gần gũi giữa 2 khu hệ; A: Số loài riêng của khu hệ cá A;

B: Số loài riêng của khu hệ cá B; C: Số loài chung của hai khu hệ

Hệ số gần gũi biến đổi từ 0 đến 1 Giá trị S càng gần đến 1, mối quan hệ giữa hai khu hệ càng lớn, thành phần loài trong 2 khu hệ càng giống nhau Ngược lại, giá trị

S gần với 0, mối quan hệ giữa hai khu hệ càng ít, thành phần loài trong hai khu hệ càng khác nhau

- Chỉ số giống nhau (Similarity index) theo công thức của Bray-Curtis (1957):

Trang 36

+ Nhóm cá nước ngọt điển hình (fresh)

+ Nhóm cá có nguồn gốc biển (marine)

+ Nhóm cá thích nghi ở nước lợ nhạt (brackish, fresh)

+ Nhóm cá thích nghi ở nước lợ mặn (brackish, marine)

+ Nhóm cá thích nghi ở nước lợ vừa (marine, brackish, fresh)

- Dựa theo tính thích nghi theo sinh cư (habitat) của loài, chia thành 5 nhóm (Froese & Pauly, 2019) [128]:

+ Cá sống tầng đáy (Demersal)

+ Cá sống tầng giữa (Benthopelagic)

+ Cá sống tầng nổi, xa bờ (Pelagic- oceanic)

+ Cá sống tầng nổi, ven bờ (Pelagic-neritic)

+ Cá có đời sống gắn liền với rạn san hô (Reef-associated)

- Dựa theo tập tính di cư của loài, chia khu hệ cá thành 6 nhóm theo Northcote (1984) [118]; Froese & Pauly (2019) [128]:

+ Cá có đời sống phần lớn ở biển, sinh sản ở nước ngọt (Anadromous) + Cá sinh sống nước lợ, sinh sản ở biển (Catadromous)

+ Cá di cư giữa nước ngọt và biển nhưng không phải để sinh sản (Amphidromous)

+ Cá chỉ di cư sinh sản trong nước ngọt (Potamodromous)

+ Cá chỉ di cư sinh sản trong biển (Oceanodromous)

+ Cá không di cư (Non-migratory)

 Xử lý, phân tích số liệu bằng phần mềm MS Excel 2010

 Phân tích mức độ giống nhau giữa các khu hệ bằng phần mềm Primer 5.0, PAST 4.01

 Thành lập bản đồ bằng phần mềm MapInfo 15.0

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HẠ LƯU SÔNG CÁI

3.1.1 Nhiệt độ nước tầng mặt

Nhiệt độ môi trường nước có tác động rất lớn đến đời sống, sự thích nghi của các nhóm thủy sinh vật đặc biệt là cá, chính vì vậy nhiệt độ được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến biến động số lượng thủy sinh vật trong thủy vực [97], [110], [122]

Kết quả quan trắc nhiệt độ nước tầng mặt vùng hạ lưu sông Cái ở 9 trạm khảo sát, liên tục 6 đợt từ tháng 07 đến tháng 12/2019 được thể hiện ở hình 3.2 và phụ lục

2 Theo đó, nhiệt độ nước tầng mặt dao động 24,6 - 32,2 oC, trung bình ở các đợt đo từ 25,1 - 31,5 oC Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được vào đợt đo tháng 7/2019 với nền nhiệt trung bình 31,5oC, dao động 30,9 - 32,0 oC Nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12, trung bình 25,1 oC, dao động 24,6 - 25,8 (hình 3.1 và phụ lục 2)

Hình 3.1 Nhiệt độ nước tầng mặt trung bình ở hạ lưu sông Cái, Nha Trang

Trang 38

Có thể thấy, nhiệt độ nước tầng mặt chịu tác động lớn từ nền nhiệt của không khí, nhiệt độ trung bình thường thấp hơn nhiệt độ không khí khoảng 2 - 3 oC Nhiệt độ nước không chênh lệch lớn giữa các điểm quan trắc trong cùng một đợt khảo sát, không phụ thuộc chế độ triều, nhưng biến động mạnh giữa các tháng và có tính chất mùa vụ rõ rệt Vào mùa khô (tháng 7 - tháng 8), nhiệt độ nước tầng mặt ghi nhận đều trên 30 oC, trung bình dao động từ 31,2 - 31,5 o

C Vào mùa mưa (tháng 9 - tháng 12), nhiệt độ nước giảm xuống rõ rệt, đa số giá trị ghi nhận dưới 29 oC, trung bình dao động từ 25,1 - 28,7 o

C (hình 3.1 và phụ lục 2)

3.1.2 Độ mặn

Độ mặn là yếu tố sinh thái có tầm quan trọng đáng kể, ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phân bố và phát triển của các loài sinh vật sống trong nước Đối với mỗi thủy vực ứng với nhóm nồng độ, thành phần muối hòa tan trong nước có một hệ thủy sinh vật đặc trưng tương ứng Dựa vào nồng độ muối hòa tan trong nước và thành phần khu hệ sinh vật tương ứng, các nhà khoa học đã chia nước thiên nhiên thành 4 nhóm chính: nước ngọt, nước lợ, nước mặn, nước quá mặn Trong đó, nhóm nước lợ còn được chia thành 3 nhóm nhỏ: nước lợ nhạt, lợ vừa, lợ mặn Tuy nhiên, việc phân chia giới hạn các loại nước trong thiên nhiên vẫn chưa được thống nhất [96], [101], [123]

Theo Võ Văn Phú và Hoàng Đình Trung (2017), nước tự nhiên ở Việt Nam gồm

3 nhóm chính: Nước ngọt có giới hạn trên nồng độ muối là 0,5 ‰, dưới dạng các sông, suối, ao, hồ; nước lợ có giới hạn về nồng độ muối tương đối rộng từ 0,5 - 30 ‰, trung bình 10 - 20 ‰, bao gồm các vùng nước cửa sông, đầm phá, ven biển; nước mặn có nồng độ muối trung bình là 35 ‰, giao động trong khoảng 30 - 47 ‰ Trong đó, nhóm tác giả còn chia nước lợ thành 3 nhóm: nước lợ mặn (18 - 30 ‰), lợ vừa (5 - 18 ‰), lợ nhạt (0,5 - 5 ‰) [55]

Kết quả quan trắc nước tầng mặt ở hạ lưu sông Cái được thể hiện ở hình 3.2 & 3.3 và phụ lục 2 Qua đó thấy rằng, độ mặn môi trường nước dao động từ 0 - 27,22 ‰,

có sự biến động lớn giữa các điểm quan trắc và các đợt khảo sát Giá trị độ mặn của nước giảm dần từ cửa biển vào nội địa, mùa khô cao hơn mùa mưa

Trang 39

Vùng nước phía Đông cầu Đường Sắt (vị trí A1-A3) chịu tác động mạnh bởi sự xâm nhập mặn Vào mùa khô (tháng 7 - 8) và tháng đầu mùa mưa (tháng 9), giá trị độ mặn ở đây khá cao, lúc triều cao: 14,92 - 27,22 ‰; lúc triều thấp: 9,33 - 13,74 ‰ Vào các tháng mưa nhiều (tháng 10 - 11), độ mặn nước ở đây giảm xuống rõ rệt; lúc triều cao: 7,73 - 10,95 ‰, triều thấp: 2,63 - 8,21 ‰

Đoạn sông từ cầu Đường Sắt đến khu du lịch Đảo Gà (vị trí A4, A5) là nơi giao thoa giữa nguồn nước ngọt và lợ Đợt đo tháng 7 - 9, độ mặn ở vị trí A4 lúc tiều cao: 5,62 - 6,28 ‰ , triều thấp: 2,18 - 4,67 ‰; ở vị trí A5 là 0,62 - 1,96 ‰ (triều cao) và 0,45 - 1,12 ‰ (triều thấp) Các tháng 10 - 12, độ mặn đo được ở 2 vị trí đều dưới 1,15

‰ Riêng lúc triều thấp vào các đợt đo tháng 10 -11, giá trị độ mặn ở vị trí A5 đều ở mức 0 ‰

Trong thời gian nghiên cứu, vùng nước từ phía Đông đập tràn ngăn mặn Vĩnh Phương (hình 3.4) đến cầu gỗ Diên Phú (vị trí A6 - A9) không chịu tác động bởi sự xâm nhập mặn, độ mặn nước ở khu vực này đều có giá trị là 0 ‰

Hình 3.2 Độ mặn nước tầng mặt lúc triều cao ở hạ lưu sông Cái

Trang 40

Hình 3.3 Độ mặn nước tầng mặt lúc triều thấp ở hạ lưu sông Cái

Hình 3.4 Đập tạm ngăn mặn ở chân cầu Vĩnh Phương vào mùa khô và mùa mưa

3.1.3 Nồng độ oxy hòa tan

Oxy hòa tan là thông số quan trọng của môi trường nước, quyết định đến các quá trình hóa học và sinh học xảy ra trong môi trường nước Trong thủy vực, yếu tố này quyết định đến sự sống còn, phát triển và phân bố của sinh vật, đặc biệt là cá [98], [106], [122]

Kết quả quan trắc môi trường nước ở hạ lưu sông Cái xác định nồng độ oxy hòa tan trong nước (DO) được thể hiện ở hình 3.5 & 3.6 và phụ lục 2 Giá trị DO ghi nhận trung bình 5,93 - 6,36 mg/l (triều cao), 5,98 - 6,39 mg/l (triều thấp) Tuy giá trị này có

sự biến động đáng kể nhưng đạt mốc A1 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm