Việc nghiên cứu và tìm ra các phương pháp khác nhau để làm thước đomức độ thích ứng của trẻ, đồng thời, đề ra những biện pháp tác động nhằm hình thành và phát triển sự thích ứng của trẻ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thu Hương
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu
và kết quả trong luận án là trung thực, chưa từng có ai công bố trong bất kỳ nghiêncứu nào
Tác giả của luận án
Vũ Thị Kiều Trang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯ NG 1: TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐẾN TRƯỜNG PHỔ THÔNG 8
1.1 Những nghiên cứu về thích ứng của con người nói chung 8
1.2 Những nghiên cứu về hoạt động chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông 15 CHƯ NG 2: C SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐẾN TRƯỜNG PHỔ THÔNG 23
2.1 Lý luận về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông 23
2.2 Hoạt động chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông 33
2.3 Thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông 50
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông 58
CHƯ NG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU 63
3.1 Tổ chức nghiên cứu 63
3.2 Phương pháp nghiên cứu 68
CHƯ NG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐẾN TRƯỜNG PHỔ THÔNG 89
4.1 Thực trạng thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông 89
4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ 5-6 trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông 121
4.3 Các biện pháp tác động 130
4.4 Phân tích trường hợp điển hình 131
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TR NH ĐÃ CÔNG BỐ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các tiêu chí đánh giá sự thích ứng 53
Bảng 3.1 Phân bố khách thể và địa bàn nghiên cứu 63
Bảng 3.2 Trình độ nghề nghiệp của cha mẹ và hoàn cảnh gia đình của trẻ 5-6 tuổi 66
Bảng 3.3 Các giai đoạn nghiên cứu luận án 67
Bảng 3.4 Độ tin cậy của bảng hỏi 1B dành cho giáo viên mầm non 70
Bảng 3.5 Đánh giá các biểu hiện thích ứng ở trẻ 5-6 tuổi của giáo viên 71
Bảng 3.6 Độ tin cậy của bảng hỏi 1B dành cho giáo viên 79
Bảng 3.7 Độ tin cậy của bảng hỏi dành cho phụ huynh 82
Bảng 4.1 Mức độ thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT 89
Bảng 4.2 Đánh giá của giáo viên về biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT 94
Bảng 4.3 Biểu hiện thích ứng về mặt nhận thức của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT 96
Bảng 4.4 Biểu hiện thích ứng về mặt nhận thức của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động chơi 97
Bảng 4.5 Biểu hiện thích ứng về mặt nhận thức của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động học 99 Bảng 4.6 Biểu hiện thích ứng về nhận thức của trẻ 5-6 tuổi trong sinh hoạt hàng ngày 101
Bảng 4.7 Biểu hiện thích ứng về mặt cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT 103
Bảng 4.8 Biểu hiện thích ứng về cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động chơi 103
Bảng 4.9 Biểu hiện thích ứng về cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động học 105 Bảng 4.10 Biểu hiện thích ứng về cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi trong sinh hoạt hàng
Trang 5Bảng 4.11 Biểu hiện thích ứng về mặt hành vi của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động
chuẩn bị đến trường PT 108
Bảng 4.12 Biểu hiện thích ứng về hành vi của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động chơi 109
Bảng 4.13 Biểu hiện thích ứng về hành vi của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động học 110
Bảng 4.14 Biểu hiện thích ứng về hành vi của trẻ 5-6 tuổi trong sinh hoạt hàng ngày 112
Bảng 4.16 So sánh sự khác biệt về các biểu hiện thích ứng giữa trẻ ở thành thị và nông thôn 115
Bảng 4.17 Biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phô thông thời điểm đầu năm học 117
Bảng 4.18 Tương quan giữa 4 yếu tố ảnh hưởng và các biểu hiện thích ứng 123
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của các yếu tố đơn nhất và hỗn hợp đến sự thích ứng chung 125 Bảng: 4.20 Ảnh hưởng của các yếu tố độc lập và hỗn hợp đến từng biểu hiện thích ứng 128
Bảng 4.21 Danh mục các bài tập tác động cho N.H.P 135
Bảng 4.22 Danh mục các bài tập tác động cho H.V.T 139
Bảng 4.23 Danh mục các bài tập tác động cho H.B.N 143
Trang 6Sơ đồ 4.1: Mối tương quan giữa các biểu hiện thích ứng của trẻ 120
Sơ đồ 4.2: Mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ 121
Đồ thị 4.3 So sánh điểm số trên từng biểu hiện thích ứng của 3 trường hợp 145
Trang 7Phổ thôngTrung bìnhTổng điểm
Trang 81.1 Trước cuộc sống xã hội đang vận động và biến đổi không ngừng như
hiện nay, để tồn tại và phát triển được, mỗi con người cần phải có sự thích ứng tốt
0 mọi cá nhân, mọi lứa tuổi khác nhau, có khả năng thâm nhập vào các điều kiện
hoạt động, biết nắm bắt, thay đổi cho phù hợp với những quy tắc và yêu cầu của
hoạt động nghĩa là phải có sự thích ứng với hoạt động Như vậy, thích ứng là một
trong những điều kiện để con người tham gia vào đời sống xã hội đầy biến động
một cách có hiệu quả Do vậy, việc nghiên cứu sự thích ứng là một trong những vấn
đề mà tâm lý học ứng dụng rất quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học
trước đây đã cho thấy, sự thích ứng, ngoài việc giúp cho mọi công việc đạt hiệu quả
cao hơn, tăng năng suất lao động xã hội còn giúp giảm stress và góp phần tích cực
vào quá trình phát triển nhân cách con người
Sự thích ứng chỉ xuất hiện khi con người gặp phải môi trường, hoàn cảnh
sống mới hoặc xuất hiện những trở ngại, khó khăn trong cuộc sống đòi hỏi con
người phải vượt qua Khi các cá nhân có được sự thích ứng với môi trường sống
mới họ sẽ tồn tại và phát triển trong môi trường đó
Theo nghiên cứu của J.Piaget [53], đặc trưng của cả hoạt động sinh học và
hoạt động tâm lý là tổ chức kinh nghiệm nhằm tạo ra sự thích nghi giữa cơ thể với
môi trường Ông cũng định nghĩa “thích nghi là sự thay đổi hoặc sửa lại cho hợp với
một sơ đồ, một ý tưởng hay một quan niệm hiện có để theo một kiến thức mới” và
ông tin rằng trẻ em học bằng cách tự sửa cho hợp với hoàn cảnh, để tồn tại và phát
triển bao gồm đồng hoá và điều ứng [11, tr 93]
Thật vậy, trẻ em nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng là một thành phần trong
Trang 9đó là việc vào học ở trường phổ thông Trẻ bước vào một môi trường xã hội mới,với những hoạt động mới Chính vì vậy, việc trẻ 5-6 tuổi có được sự thích ứng
1
Trang 10nhằm vượt qua những khó khăn, sự yếu thế của bản thân để hòa nhập, tồn tại vàphát triển trong môi trường xã hội mới là một điều hết sức quan trọng.
1.2 Chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi vào học ở trường phổ thông được các bậc cha
mẹ và nhà trường hết sức quan tâm Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầmnon 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 của Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành và đi vàothực tiễn với mục tiêu: chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếngViệt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1 [60] Tuynhiên, trong thực tế hiện nay, vẫn còn có bậc cha mẹ quan niệm rằng chuẩn bị chotrẻ vào lớp 1 chủ yếu là dạy cho các cháu biết đọc, biết viết, biết làm vài phéptính…[82], [83] Quan niệm đó dẫn đến tình trạng “nhồi nhét” kiến thức, cho trẻ 5tuổi học trước kiến thức lớp 1, gây ra áp lực học tập khiến trẻ sợ đi học
Bên cạnh đó, nhiều trẻ em do không được chuẩn bị chu đáo các điều kiện cầnthiết cho hoạt động học tập, nên khi bước vào lớp 1 trẻ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ,khó thích ứng với cuộc sống và hoạt động mới ở trường phổ thông [1] Những khókhăn tâm lý mà trẻ đầu lớp 1 thường gặp phải đó là: khó khăn trong việc thực hiện
nề nếp sinh hoạt và học tập, sự tự chủ khi chuyển trạng thái từ học sang chơi vàngược lại… [21] Do đó, giúp trẻ có được một tâm thế sẵn sàng, một hành trang đầy
đủ về mặt kiến thức để có thể thích ứng nhanh nhất với hành trình mới này cần đến
sự chuẩn bị công phu, tỷ mỷ của cha mẹ, cô giáo và những nhà nghiên cứu
Trong thực tế, có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về sự thích ứng của trẻ khibước vào học lớp 1 [45], hay những khó khăn tâm lý của trẻ khi học ở lớp 1 [21],những nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 [64] Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về
sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
1.3 Việc nghiên cứu và tìm ra các phương pháp khác nhau để làm thước đomức độ thích ứng của trẻ, đồng thời, đề ra những biện pháp tác động nhằm hình thành
và phát triển sự thích ứng của trẻ trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông làviệc làm cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu được đặt ra cả về lý luận và thực tiễn,
tôi lựa chọn vấn đề: “Nghiên cứu sự thích ứng của trẻ 5 - 6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
Trang 110.0 Sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT
có các biểu hiện gì và ở mức độ nào? Liệu có sự khác nhau về mức độ giữa các biểu hiện đó?
0.1 Liệu có những yếu tố nào tác động đến các biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT không?
0.2 Liệu có thể có những biện pháp tác động nào giúp trẻ 5-6 tuổi thích ứng tốt hơn với các hoạt động chuẩn bị đến trường PT không?
1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Xây dựng cơ sở lý luận về vấn đề thích ứng và thích ứng của trẻ 5-6 tuổitrong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông; làm rõ hệ thống khái niệm công cụ,biểu hiện thích ứng, tiêu chí đo lường và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng biểu hiện, mức độ thích ứng và những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông.
2.2.3 Nghiên cứu trường hợp trên 03 trẻ có biểu hiện khó thích ứng, xâydựng các bài tập can thiệp và đề xuất các biện pháp tâm lý giáo dục nhằm thúc đẩy
sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
0 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
0 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ và biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
Trang 123.2.2 Phạm vi về khách thể
Luận án được tiến hành nghiên cứu trên 370 khách thể gồm:
0120 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1110 giáo viên mầm non đang dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi
2120 phụ huynh của 120 trẻ được nghiên cứu
320 chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục mầm non
3.2.3 Phạm vi về địa bàn khảo sát
Chúng tôi tiên hành khảo sát trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, phạm vi khảosát là 15 trường mầm non gồm: 6 trường tại Thành phố Tuyên Quang và 9 trườngtại các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá - Tỉnh Tuyên Quang
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên ba phương pháp tiếp cận sau:
← Phương pháp tiếp cận liên ngành: Để kết quả nghiên cứu đảm bảotính khách quan và toàn diện về sự thích ứng của trẻ trong các hoạt động chuẩn bịđến trường phổ thông, đề tài cần có sự tiếp cận dưới góc độ của nhiều lĩnh vực khoahọc khác nhau như: giáo dục mầm non, sinh lý học, xã hội học… trong đó, tiếp cậntâm lý học là chủ đạo
← Phương pháp tiếp cận hệ thống: sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trongcác hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông cần được xem xét, đánh giá trong mốiquan hệ biện chứng, tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động: vui chơi, họctập, sinh hoạt hàng ngày và các yếu tố ảnh hưởng như: bản thân, gia đình, nhàtrường một cách toàn diện
← Phương pháp tiếp cận hoạt động: Hoạt động và sự phát triển của conngười có mối quan hệ khăng khít với nhau Đặc biệt là với trẻ em, trẻ chỉ có thể pháttriển tốt về mọi mặt khi được trực tiếp tham gia vào các hoạt động Do đó, để đảmbảo tính khoa học của các kết quả nghiên cứu, việc tìm hiểu sự thích ứng của trẻ 5-6tuổi phải được tiến hành trên cơ sở các hoạt động cụ thể của trẻ như: hoạt độngchơi, hoạt động học và sinh hoạt hàng ngày
Trang 13← Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
← Phương pháp quan sát
← Phương pháp chuyên gia
← Phương pháp phỏng vấn sâu
← Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân
← Phương pháp nghiên cứu trường hợp
← Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Về mặt lý luận
← Luận án góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về sự thíchứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT vào tâm lý học xãhội, tâm lý học sư phạm như: khái niệm thích ứng; khái niệm các hoạt động chuẩn
bị cho trẻ đến trường PT; khái niệm thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt độngchuẩn bị đến trường PT
← Luận án xác định được những biểu hiện của thích ứng bao gồm: thích
ứng về mặt nhận thức; thích ứng về mặt cảm xúc; thích ứng về mặt hành vi và các tiêu
chí
đánh giá sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT
← Luận án xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứngcủa trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT, đó là: sự phát triển thểchất của trẻ; tính tích cực của bản thân; quan hệ giữa cô giáo với trẻ, giữa trẻ với trẻtrong lớp mẫu giáo; sự quan tâm của gia đình
5.2 Về mặt thực tiễn
← Kết quả nghiên cứu thực trạng của luận án đã chỉ ra các mức độ và
biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trên 3 khía cạnh nhận thức, cảm xúc, hành vi Trong đó, mức độ biểu hiện thích ứng cao hơn là khía cạnh cảm xúc và hành vi, mức độ biểu hiện thấp hơn là khía cạnh nhận thức.
← Luận án đưa ra đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như:
sự phát triển thể chất của trẻ; tính tích cực của bản thân; mối quan hệ giữa cô giáovới trẻ, giữa trẻ với trẻ trong lớp mẫu giáo; sự quan tâm của gia đình đến sự thíchứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT Trong đó, yếu tố
Trang 145
Trang 15quan hệ giữa cô giáo với trẻ, giữa trẻ với trẻ trong lớp mẫu giáo" có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thích ứng của trẻ.
← Luận án xây dựng được hệ thống bài tập can thiệp và đề xuất cácbiện pháp tâm lý giáo dục nhằm thúc đẩy sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong cáchoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
← Kết quả nghiên cứu thực trạng dựa trên sự kết hợp của các phươngpháp định lượng và định tính giúp đưa ra một cách nhìn rõ ràng hơn về hệ thống cáchoạt động, các tri thức, các kĩ năng và thái độ mà gia đình và trường mầm non cầntrang bị cho trẻ trước khi tới trường PT Các hoạt động, tri thức, kĩ năng và thái độnày được xem là mục đích để nhà trường kết hợp với gia đình xây dựng các hoạtđộng chơi, hoạt động học, chế độ sinh hoạt phù hợp với trình độ phát triển của trẻ ở
độ tuổi mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng
← Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
← Luận án hệ thống hoá một số tri thức, bổ sung nguồn tài liệu chonghiên cứu, đào tạo về sự thích ứng của trẻ trước tuổi học Bên cạnh đó, góp phầnnâng cao hiểu biết của xã hội về khả năng thích ứng của trẻ 5-6 tuổi
← Luận án góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở khoahọc để xây dựng tiêu chí đánh giá về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạtđộng chuẩn bị đến trường PT
← Dựa trên các tiêu chí đánh giá của luận án sẽ giúp cho các nhànghiên cứu, các nhà giáo dục xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứngcủa trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT
Trang 16← Luận án cũng xác định được hệ thống bài tập can thiệp, các biệnpháp tâm lý giáo dục giúp cho các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ có thể vận dụngnhằm thúc đẩy sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đếntrường PT.
← Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích giúp chonhững nhà quản lý giáo dục mầm non, giáo viên mầm non, các bậc phụ huynh cóthể áp dụng để quản lý giáo dục tốt hơn; chăm sóc, giáo dục trẻ tốt hơn Đồng thời,tăng cường các biện pháp can thiệp sớm cho nhóm trẻ chuẩn bị tới trường
← Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu; kết luận và kiến nghị; danh mục công trình công bố; tài liệu tham khảo; phụ lục Luận án bao gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
Trang 17CHƯ NG 1 TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU
VỀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
CHUẨN BỊ ĐẾN TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Những nghiên cứu về thích ứng của con người nói chung
Thích ứng là một yếu tố tâm lý xã hội quan trọng giúp con người tồn tại và pháttriển trong môi trường sống Nếu con người càng dễ dàng thích ứng với sự biến đổi củamôi trường sống bao nhiêu thì có nghĩa là họ sẽ càng gặt hái được nhiều thành côngbấy nhiêu Vì thế, việc nghiên cứu để tìm ra những phương thức tác động giúp cho conngười dễ dàng có được sự thích ứng trong cuộc sống là vô cùng cần thiết Đã có rấtnhiều nhà nghiên cứu tâm lý nước ngoài quan tâm, tìm hiểu vấn đề này
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
← Nghiên cứu sự thích ứng với môi trường văn hóa, xã hội
Nhà tâm lý học người Anh Spencer H (1820-1903) là người đầu tiên đề cậpđến vấn đề thích ứng, các nghiên cứu của ông chịu nhiều ảnh hưởng của thuyết tiếnhoá Ông cho rằng, con người sống trong xã hội cũng giống như động vật sốngtrong tự nhiên, phải đấu tranh để tồn tại, chỉ người nào thích hợp nhất với môitrường thì mới sống sót [25] Như vậy, môi trường xã hội là điều kiện mang tínhquyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người
Với khái niệm “sốc văn hóa”, Oberg K nhà nhân chủng học người Mỹ, đãđưa ra những vấn đề về sức khỏe tinh thần, những cảm xúc tiêu cực như: cảm giácđánh mất bạn bè, địa vị, không thoải mái, sự khó khăn trong định hướng giá trị vàmâu thuẫn nội tâm, sẽ xuất hiện khi con người gia nhập vào một nền văn hóa mới
← Những khó khăn về điều kiện văn hoá xã hội mới sẽ khiến cho con người rơivào trạng thái mất thăng bằng trong cuộc sống, khó thích ứng với cuộc sống Để cóthể lấy lại thăng bằng và thích ứng với cuộc sống mới, đòi hỏi con người phải tựkhẳng định bản thân, chủ động hoà nhập vào cuộc sống xã hội
Các tác giả khác như: Adler P.S (1974), Jacobson E.H (1963) quan tâm nghiêncứu những khó khăn trong thích ứng với nền văn hóa mới của người dân nhập cư vàcũng xem sốc văn hóa như: sự bất an thường xuyên về chất lượng thực phẩm, nước
Trang 18uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc với người khác, mất ngủ, thiếu tự tin [96],[102] Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, sốc văn hóa cũng có tính tích cực nhấtđịnh, nó giúp cho con người nỗ lực tiếp nhận các giá trị văn hóa mới, hành vi mớiphù hợp với điều kiện văn hóa mới Có thể coi đây là sự thích ứng với nền văn hóa
mới Do vậy, Berry J.W đề xuất thay khái niệm sốc văn hóa (cultural shock) bằng khái niệm tiếp biến văn hóa - tiếp nhận và biến đổi văn hóa (acculturation) [100].
Một số nhà tâm lý khác nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên nước ngoàikhi học tập trong môi trường văn hóa mới Chẳng hạn, A Anumonye nghiên cứucác nguyên nhân gây hẫng hụt của sinh viên châu Phi khi học tập và nghiên cứu ởnước ngoài Theo tác giả, chính sự không thích ứng với môi trường văn hóa khiếnsinh viên gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập [95]
Singh K.A nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên Ấn Độ học tập tại Anh vànhận thấy rằng có sự thích ứng khác nhau giữa các nhóm sinh viên phụ thuộc vào địa vị
xã hội, lứa tuổi, phẩm chất tâm lý cá nhân, loại trường và thời hạn cư trú của họ [106]
Still R khi khảo sát sức khỏe tinh thần ở sinh viên Anh và sinh viên nước ngoàitại Hồng Kông đã nhận thấy, tỉ lệ sinh viên Anh có vấn đề về tâm lý là 14%, trong khi
tỉ lệ này ở sinh viên nước ngoài luôn cao hơn: sinh viên Ai Cập là 22,5%; sinh viênNigiêria là 28,1%; sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ là 21%; sinh viên Ấn Độ là 17,6%
[107] Nghiên cứu cho thấy, khi chuyển sang một môi trường xã hội mới, nền vănhoá mới thì sức khoẻ tinh thần của con người bị thay đổi
Trong điều kiện hội nhập, văn hoá và thích ứng biến đổi theo các xu hướngkhác nhau Mead M cho rằng có ba xu hướng thích ứng với các biến đổi văn hoá:
← Nền văn hoá hướng tới tổ tiên; (2) Nền văn hoá hiện đại; (3) Nền văn hoá tự do.Tác giả Berry (1970) lại chia ra bốn xu hướng thích ứng văn hoá trong hội nhập: (1)
Xu hướng đồng nhất hóa; (2) Xu hướng kết hợp; (3) Xu hướng bảo thủ, giữ gìn; (4)
Xu hướng tự do [dẫn theo14]
Nghiên cứu về sự thích ứng xã họi, tác giả Pêtorốpxky A V (1986) cho rằng, sựthích ứng xã họi là quá trình thích nghi tích cực với các điều kiẹn vạt chất, các tiêuchuẩn và giá trị xã họi của cá nhân hoạc tạp thể Ở đó, cá nhân hoặc tạp thể phải nắm
Trang 19Tác giả Vunphốp B D (1993) cho rằng, quá trình thích ứng là sự hoà hợp cácmối quan hẹ, sự giảm mâu thuẫn giữa con nguời với xung quanh Thích ứng chính làviẹc con nguời có sự cân bằng xã họi, khẳng định bản thân trong cuọc sống [114].
Như vậy, qua những nghiên cứu trên, có thể thấy rõ các bình diện khác nhau
← sự thích ứng của con người khi chuyển sang một môi trường văn hoá - xã hộimới Việc con người thích ứng tốt với sự biến đổi của nền văn hoá, với những chuẩnmực mới trong nền văn hoá sẽ là động lực cho họ phát triển, ngược lại việc không thíchứng với những thay đổi văn hoá sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và hoạtđộng của con người Sự thích ứng này được đánh giá và đo lường thông qua tính tíchcực, chủ động của bản thân cá nhân đối với nền văn hoá mới, chuẩn mực xã hội mới
← Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập
Trong các công trình nghiên cứu về thích ứng, những nghiên cứu về thíchứng với hoạt động học tập được các tác giả nước ngoài đề cập đến tương đối nhiều
Có thể kể đến các công trình sau:
Trong tác phẩm Psychology of learning and teaching (Tâm lý học học tập vàgiảng dạy) (1954), Bernard H.W cho rằng, người học và người dạy cần có sự phốihợp chặt chẽ với nhau; trong đó người học phải hình thành tính tích cực học tập,kiên nhẫn, chấp hành chuẩn mực…để thích ứng với việc học tập ở trường [98]
Nghiên cứu của Wendy S Grolnick và Richard M Ryan năm 1989 cho thấy:phong cách của bố mẹ có ảnh hưởng tới tính tự chủ, năng lực và sự thích ứng củacon cái Trong đó người mẹ có tác động đến thành tựu, năng lực và hành vi thíchứng của con nhiều hơn là bố [111]
Năm 1996, Thomas J.Dishion và Robert J.McMahon nghiên cứu về sự kiểmsoát của cha mẹ ảnh hưởng đến sự thích ứng của trẻ Nghiên cứu cho thấy sự kiểmsoát của cha mẹ phù hợp là cần thiết, nhưng chưa phải là điều kiện đủ cho cha mẹ
hỗ trợ sự thích ứng của trẻ em Những trẻ em có cả bố và mẹ kiểm soát đạt điểm caohơn so với những trẻ chỉ có bố hoặc mẹ kiểm soát [108]
Nghiên cứu của Yao-Ming WU (Đại học Quốc gia Đài Loan) năm 2000 vềảnh hưởng của việc quản lý lớp học tới sự thích ứng học tập của học sinh cho thấy:
có mối quan hệ tích cực giữa việc quản lý lớp học của giáo viên với sự thích ứnghọc tập của học sinh [113]
Trang 20Các tác giả Matthew J.Cook và Ming-Kung, Wei-Chin, Đại học Quốc gia ĐàiLoan đề cập đến ảnh hưởng của phong cách học tập tới sự thích ứng học tập củasinh viên [104].
Tác giả Xinyin Chen và Bo-shu Li (2000) nghiên cứu về ảnh hưởng của tâmtrạng thất vọng tới sự thích ứng ở trường học của trẻ em Trung Quốc Kết quả chothấy, sự thất vọng tác động âm tính tới các thành tựu học tập và tác động dương tínhtới việc tăng các khó khăn thích ứng của trẻ em Kết quả này giúp cho các bậc cha
mẹ và thầy, cô giáo lưu ý hơn trong việc giáo dục con em mình [112]
Đối với hoạt động học tập, ở các bậc học, lứa tuổi khác nhau, mức độ và khảnăng thích ứng là khác nhau Theo nghiên cứu của các tác giả trên, có thể thấy sựthích ứng của người học chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: sự phối hợp giữathầy và trò trong quá trình học tập; động cơ, thái độ của người học; sự phát triển các
hệ cơ quan trong cơ thể - cơ sở sinh lý; ảnh hưởng của cha mẹ; tác động môi trườnghọc tập; phương pháp giảng dạy của giáo viên; tâm trạng của người học…Mỗi tácgiả đi sâu nghiên cứu về một tác động, nhưng nhìn chung họ đều chỉ ra nhữngnguyên nhân, những tác động của các yếu tố trên; từ đó cho thấy mức độ thích ứng
và đưa ra biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
←nước ta cho đến nay việc nghiên cứu sự thích ứng với các hoạt động của conngười được các nhà tâm lý học dành nhiều sự quan tâm Các công trình nghiên cứu về
sự thích ứng của các tác giả Việt Nam cũng được tiến hành theo các hướng khác nhau
* Nghiên cứu sự thích ứng với môi trường văn hoá, xã hội
Đáng kể nhất trong lĩnh vực này là nghiên cứu của tác giả Vũ Dũng về “Sự thíchứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay” và “Thích ứng của cácnhóm yếu thế qua thay đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh và thay đổi việc làm, nghềnghiệp” Tác giả tìm hiểu về các nhóm xã hội yếu thế từ góc độ tâm lý học Nghiên cứuthấy rõ đời sống vật chất, tâm lý của các nhóm xã hội yếu thế, những thuận lợi và khókhăn mà họ gặp phải khi hòa nhập vào cuộc sống xã hội Tác giả đã điều tra thực trạng
và chỉ ra nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng xã hội của các nhóm xã
Trang 21hiện nay [15, tr.17] Bên cạnh đó, tác giả cũng có nghiên cứu về “Thích ứng của cácnhóm yếu thế qua thay đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh và thay đổi việc làm,nghề nghiệp” Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ thích ứng của các nhóm yếu thế
là thấp Họ không thay đổi hoạt động sản xuất của mình, chủ yếu vẫn sản xuất theocách truyền thống, các nhóm này cũng ít thay đổi về việc làm và nghề nghiệp [15]
Tác giả Lê Minh Thiện có nghiên cứu về “Một số vấn đề lý luận cơ bản về thíchứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế và các chính sách của Đảng, Nhà nước đối vớihọ” Nghiên cứu lý luận chỉ ra những vấn đề cơ bản về thích ứng xã hội, thích ứng xãhội của các nhóm yếu thế; các hình thức xã hội của các nhóm yếu thế bao gồm: thíchứng về mặt nhận thức, thích ứng về mặt hành vi Bên cạnh đó, tìm hiểu các chủ trươngchính sách của Đảng, Nhà nước đối với một số nhóm yếu thế [69]
Trong hướng nghiên cứu về thích ứng xã hội, tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng đã cónghiên cứu về “khả năng thích ứng với lối sống đô thị của dân cư ven đô” Kết quảnghiên cứu đã chỉ ra rằng: khả năng thích ứng với lối sống đô thị của người dân tùythuộc vào lứa tuổi Mức độ thích ứng của dân cư đối với lối sống đô thị ở từng vùngkhác nhau thùy thuộc vào mức độ đô thị hóa ở đó [24]
Những nghiên cứu về sự thích ứng với môi trường văn hoá xã hội chủ yếu đềcập đến khả năng thích ứng của con người trước sự thay đổi môi trường sống, thayđổi nghề nghiệp trong xã hội Các nghiên cứu này tập trung mô tả các mặt biểu hiện,mức độ thích ứng của các nhóm khách thể khác nhau trong những điều kiện xã hội
cụ thể cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới sự thích ứng Trước những điều kiện xãhội thay đổi, con người cần phải có những biến đổi tâm lý như nhận thức, hành
←để tồn tại và phát triển phù hợp với các điều kiện xã hội
← Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập
Trong các nghiên cứu về sự thích ứng, những nghiên cứu về thích ứng họctập được các tác giả trong nước rất quan tâm Các nghiên cứu đề cập đến thích ứnghọc tập ở các bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân
Với đề tài "Thích ứng học đuờng của sinh viên su phạm" (1982), tác giảNguyễn Ngọc Bích đã phân tích hiẹn trạng cũng như các yếu tố chủ quan, kháchquan ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên su phạm Qua đó, tác giả đưa raquan điểm cho rằng: sự thích ứng với truờng học và nghề nghiẹp của sinh viên là
Trang 22quá trình thích nghi, hài lòng với các hoạt đọng học tạp nghề nghiẹp trong hoàncảnh nhất định [3].
Tác giả Lê Ngọc Lan (2002) có nghiên cứu về “sự thích ứng với hoạt độnghọc tập của sinh viên” Theo tác giả, với thái độ tích cực thì đa số sinh viên đã dầnthích ứng được với tính chất và hình thức hoạt động học tập ở đại học Tuy nhiên,
sự thay đổi diễn ra không như nhau ở mọi sinh viên và cũng không như nhau ở mọi
mặt Khi thích ứng được với hoạt động học ở đại học, các sinh viên trở nên có trách nhiệm hơn trong học tập, sinh hoạt hàng ngày (50,87%), sinh viên trở nên tự tin trong hoạt động, bạo dạn hơn (35,08%), biết nhường nhịn, biết lắng nghe người khác, biết chia sẻ, chú ý đến nền nếp học tập (38,6%) [43].
Tác giả Đỗ Mạnh Tôn trong luận án tiến sỹ năm 1996 “Nghiên cứu sự thíchứng đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội” chorằng: việc thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quânđội là một phẩm chất phức hợp và cơ động của nhân cách học viên, biểu hiện ở quátrình người học tự tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện của mình dưới sự địnhhướng của người thầy và nhà trường [76]
Năm 2003, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thạc về “sự thích ứng vớihoạt động học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm mẫu giáo trung ương 1”cho thấy, việc sinh viên chưa thích ứng với hoạt động học tập là do nhiều nguyênnhân: học lực, môi trường mới, phương pháp học mới, thiếu giáo trình…Từ kết quảnghiên cứu này, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp tăng cường khả năng thíchứng cho sinh viên đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất [66]
Tác giả Nguyễn Xuân Thức nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động rèn luyệnnghiệp vụ sư phạm của sinh viên Đại học sư phạm Hà Nội trên ba mặt: nhận thức,thái độ và hành vi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mức
độ thích ứng và nguyên nhân chủ quan và khách quan của sự thích ứng với hoạtđộng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên [74]
Khi nghiên cứu về “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên nămthứ nhất người dân tộc thiểu số”, tác giả Nguyễn Thị Hoài nhận thấy, sinh viên
Trang 23ứng với hoạt động học tập như: nhận thức chậm, ngôn ngữ hạn chế, khó hoànhập… Tuy nhiên, nếu có các tác động tích cực từ phía nhà trường, giảng viên và
sự cố gắng của từng sinh viên thì mức độ thích ứng sẽ được cải thiện hơn [31]
Tác giả Dương Thị Thoan, trong “nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động họctập phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trườngĐại học Hồng Đức - Thanh Hóa”, chỉ ra thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến sựthích ứng với hoạt động học tập của sinh viên; từ đó, xác định được nguyên nhâncản trở sự thích ứng và có biện pháp tác động phù hợp [70]
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thanh Mai về “mức độ thích ứng với hoạt độnghọc tập của sinh viên hệ cao đẳng trường Đại học công nghiệp Hà Nội” năm 2008
đã kết luận: sinh viên hệ cao đẳng trường Đại học công nghiệp Hà Nội thích ứngkhông giống nhau với hoạt động học tập tại trường Mức độ thích ứng với hoạt độnghọc tập của sinh viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Mức độthích ứng với hoạt động học tập của sinh viên thay đổi theo chiều hướng tích cựctheo thời gian [50]
Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Huệ và Phan Thị Tâm đã có nghiên cứu "Một
số biện pháp đẩy nhanh tốc độ thích ứng với các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ chosinh viên các trường sư phạm kĩ thuật" Theo các tác giả, hiệu quả của việc rènluyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó khảnăng thích ứng của sinh viên với hoạt động này là yếu tố đóng vai trò quan trọng.Trên cơ sở đó, các tác giả đã xây dựng khái niệm về sự thích ứng với các hoạt độngrèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên các trường sư phạm kĩ thuật; đưa ra các chỉ số vềmức độ thích ứng Thông qua nghiên cứu thực trạng, nhóm tác giả đã đề ra các biệnpháp nâng cao mức độ thích ứng cho sinh viên gồm: nâng cao nhận thức; kích thíchđộng cơ tích cực; nâng cao dần mức độ thích ứng cho sinh viên trong quá trình tậpluyện; tổ chức các hội thi nghiệp vụ sư phạm [37]
Tác giả Vũ Thị Nho và cộng sự khi nghiên cứu về “Một số đặc điểm về sựthích nghi với học tập của học sinh đầu bậc tiểu học” cho rằng: quá trình thích nghivới học tập của học sinh đầu bậc tiểu học được thể hiện trên hai mặt là: sự thíchnghi với các mối quan hệ ở lớp học, trường học và thích nghi với chính những đòihỏi của học tập Theo nhóm tác giả, có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thích nghi
Trang 24của trẻ, bao gồm: quá trình giáo dục ở mẫu giáo; giáo dục gia đình; giáo viên tiểu học; môi trường sư phạm văn hoá; phương pháp dạy học [55].
Trong nghiên cứu "Phát triển nang lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng
Sư phạm", tác giả Dương Thị Nga (2012) đã phân tích vai trò của năng lực thích ứng nghề đối với sự phát triển nhân cách và quá trình phát triển nghề nghiẹp liên tục của người giáo viên trong xã họi hiẹn đại Xác định về mạt lý thuyế t những con đường
cơ bản phát triển nang lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm.Tác giả cũng mô tả được thực trạng nang lực thích ứng nghề của sinh viên Cao đẳng Sư phạm các tỉnh miền núi phía Bắc Đề xuất được mọt hẹ thống các biẹn pháp phát triển nang lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm, giúp sinh viên hiểu
rõ các yêu cầu của nghề nghiẹp và biến các yêu cầu đó thành nọi dung rèn luyẹn của bản thân, phát triển các phẩm chất, nang lực và kĩ nang nghề nghiẹp để có thể tham gia vào hoạt đọng rèn luyẹn nghề đạt kết quả cao [51]
Năm 2000, trong đề tài “Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh lớp1”, tác giả Phan Quốc Lâm đã chỉ ra thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và đề ra một
số biện pháp nhằm nâng cao sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1bằng việc tác động đến nhận thức và tác động tâm lý sư phạm của giáo viên trongquá trình dạy học [45]
Những nghiên cứu về sự thích ứng trong hoạt động học tập của các tác giảtương đối nhiều Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra thực trạng mức độ thích ứngtrong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, những yếu tố ảnh hưởng đến sựthích ứng cũng như các tác động nhằm thúc đẩy quá trình thích ứng của người học
1.2 Những nghiên cứu về hoạt động chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông
Đối với việc chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường PT, là vấn đề được thực hiệntrong cả quá trình giáo dục ở trường mầm non và ở gia đình, đặc biệt ở lớp mẫu giáolớn 5-6 tuổi việc chuẩn bị cho trẻ đến trường PT thu được kết quả chung và tích cựchơn Do vậy, việc học tập ở mẫu giáo được xem là tiền đề chuẩn bị cho trẻ học cókết quả tốt ở trường PT Do đó, việc chuẩn bị những điều kiện cần và đủ để trẻ 5-6tuổi có thể tự tin tham gia học tập ở trường PT là một việc làm cần thiết đối với giáo
Trang 251.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
← Nghiên cứu về nội dung chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông
Xorokina A.I trong cuốn “Giáo dục học mẫu giáo” (tập II) đã đánh giá cao
sự kế thừa giữa trường mẫu giáo và trường PT Theo tác giả, chỉ tiêu chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường PT là trình độ phát triển chung và có những tri thức cụ thể về thế giới xung quanh, phù hợp với kỹ xảo hoạt động trí tuệ, có khả năng tập trung chú ý, phát triển ngôn ngữ, biết nghe lời yêu cầu và làm việc trong tập thể [92, tr.
224-225] Đồng thời tác giả cũng đưa ra nghiên cứu của Uxova A.P cho rằng: vàocuối tuổi mẫu giáo, những trẻ được dạy dỗ tốt sẽ nắm được các tri thức khác nhau
về các hiện tượng xã hội, về lao động, về nhà trường PT Đây là cơ sở để trẻ tiếpnhận những kiến thức sẽ được học ở PT [92]
Trong tuyển tập các bài báo về “trường mẫu giáo và trường phổ thông” năm
1954, Liublinxkaia A.A khẳng định, nhiệm vụ ở trường mẫu giáo là đảm bảo mức phát triển toàn diện của trẻ em để có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ giáo
dục và giảng dạy ở trường PT Hệ thống giáo dục ở mẫu giáo gồm có những điềukiện rất quan trọng để chuẩn bị cho trẻ em học tập có kết quả ở trường PT [48]
Theo Usinxki K.D, việc nắm được ngôn ngữ là một chỉ số đáng tin cậy về
việc chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường PT Dạy tiếng mẹ đẻ có hệ thống thì mức độchuẩn bị để trẻ theo học ở trường PT được nâng cao lên [58]
Trong cuốn “tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm” (1972), tác giảLevitop N.D cho rằng việc trẻ mẫu giáo có tinh thần tốt để bước vào trường PT,phụ thuộc không chỉ vào tổ chức phương pháp và biện pháp giáo dục mà còn vàonhân cách của nhà giáo dục [46, tr.56]
Như vậy, việc chuẩn bị cho trẻ đến trường PT không chỉ ở những nội dung vềngôn ngữ, trí tuệ…mà còn chú trọng đến phương pháp, biện pháp giáo dục và sựquan tâm, chăm sóc của cha mẹ và giáo viên đối với trẻ Những thiếu sót trong việcchăm sóc, giáo dục trẻ có thể ảnh hưởng không tốt đến việc học tập ở trường PT saunày Với các nội dung cơ bản chuẩn bị cho trẻ đến trường PT, chúng tôi chọn lọc, kếthừa một số nội dung phù hợp để tiến hành nghiên cứu trong luận án của mình
← Nghiên cứu về các hoạt động chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông
Trang 26Xorokina A.I đề cao vai trò của hoạt động học tập trong chuẩn bị cho trẻ vàohọc lớp 1 Tác giả cho rằng, việc học tập ở trường mẫu giáo có ý nghĩa quan trọngđối với việc chuẩn bị cho trẻ em đi học ở trường PT Chính trong học tập có nhữngnét cơ bản của việc kế thừa giữa trường mẫu giáo và trường PT, vì trong học tập, trẻlĩnh hội được các kiến thức khác nhau, hình thành những năng lực trí tuệ và thái độtốt đối với việc học tập Trong học tập, trẻ nắm được những phương thức lĩnh hội trithức, kỹ xảo hoạt động trí tuệ Nội dung học tập có trình tự ở trường mẫu giáo, việctiến hành giờ học theo một thời gian nhất định… không chỉ giáo dục cho trẻ những
thói quen mà còn cả nhu cầu hoạt động trí tuệ Dạy trẻ trong các giờ học cho phép
giải quyết một trong những nhiệm vụ cơ bản của trường mẫu giáo và đảm bảo mộttrong những điều kiện cơ bản của việc giảng dạy có kết quả ở trường PT là pháttriển ngôn ngữ [92, tr.216]
Cũng đánh giá cao vai trò của hoạt động học tập trong việc chuẩn bị cho trẻ
đến trường PT, N.D Levitop cho rằng, ở tuổi mẫu giáo, học tập đã bắt đầu như làmột quá trình độc lập, như là hoạt động học tập đặc biệt Ở lớp mẫu giáo, trẻ em bắtđầu học các bài học có hệ thống để chuẩn bị đến trường Trẻ em càng lớn, kinhnghiệm sống càng tăng, nên có thể đặt ra các nhiệm vụ học tập sơ đẳng và dần dầndạy trẻ biết cách thực hiện một cách có hệ thống [46, tr.36]
Không chỉ coi trọng vai trò của hoạt động học tập, Levitop N.D còn cho rằng
tổ chức trò chơi, hoạt động lao động cũng góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị
cho trẻ đến trường Tác giả cũng chỉ ra điều này trong nghiên cứu của Tcatseva G.A
và các cộng sự: có thể bằng cách tổ chức trò chơi, các giờ học và hoạt động laođộng chuẩn bị tốt cho trẻ đi học, hình thành cái gọi là sự chuẩn bị về mặt ý chí để đihọc, mà không vượt quá khả năng của trẻ [46, tr.52]
Zazzo B và các cộng sự đã nghiên cứu về “Bước chuyển từ mẫu giáo lên lớp 1” (1990) cho thấy toàn diện quá trình thích ứng của trẻ lớp một với hoạt động học tập và sinh hoạt tập thể Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa sự thích ứng học tập của
trẻ với các mặt phát triển của nó như vận động, tính tự chủ, trí tuệ, giới tính, hoàn cảnhgia đình…, bước đầu đưa ra dự báo thích ứng của trẻ khi vào lớp một Tác giả cũng cho
Trang 27Có thể nói, việc chuẩn bị cho trẻ đến trường PT luôn là vấn đề được các nhànghiên cứu quan tâm Theo các tác giả, nội dung chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường
PT là chuẩn bị toàn diện về các mặt như: tri thức cụ thể về thế giới xung quanh, khảnăng tập trung chú ý; phát triển ngôn ngữ; phát triển thể lực; phát triển vận động…Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra những hoạt động chuẩn bị cho trẻ đến trường
PT như: hoạt động học tập, các trò chơi, hoạt động lao động Qua tìm hiểu nhữngnghiên cứu trên, chúng tôi có thể xem xét, kế thừa một số nghiên cứu về nội dung
và hoạt động chuẩn bị đến trường PT cho trẻ 5-6 tuổi để định hướng cho đề tàinghiên cứu của mình như: phát triển ngôn ngữ, sự chú ý… trong các hoạt động vuichơi, học tập để chuẩn bị cho trẻ đến trường PT
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả Vũ Thị Nho nghiên cứu về “ảnh hưởng của giáo dục mẫu giáo đếnkhả năng thích ứng với học tập của học sinh đầu tiểu học” và chỉ rõ vai trò của giáodục tiền học đường đối với khả năng thích ứng với hoạt động học tập của học sinhđầu tiểu học Theo tác giả, học sinh tiểu học sẽ có khả năng học tập tốt hơn, thíchứng nhanh hơn nếu được giáo dục đầy đủ ở trường mẫu giáo Tuy nhiên, việc chuẩn
bị ở trường mẫu giáo phải đúng hướng như: làm quen với học tập dưới dạng tròchơi, không dạy chữ, dạy tính toán như ở PT Tác giả nghiên cứu khả năng thíchứng với hoạt động học tập dựa trên 2 chỉ tiêu: (1) sự thích ứng của học sinh lớp 1với môi trường xã hội mới, gọi là thích ứng xã hội, biểu hiện ở chỉ tiêu: giao tiếpgiữa thầy và trò; giao tiếp giữa học sinh với học sinh; giao tiếp giữa học sinh với cácnhóm xã hội trong trường như nhóm bạn, tổ học tập…(2) Sự thích ứng của học sinhvới hoạt động học tập, gọi là thích ứng học tập biểu hiện ở chỉ tiêu: hứng thú vớihọc tập; những kỹ năng cơ bản với học tập; nề nếp học tập [56]
Tác giả Phạm Thị Đức khi nghiên cứu về vấn đề “chuẩn bị tâm lý cho trẻ vàolớp 1”, cho rằng cần chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi các điều kiện tâm lý như: tập cho trẻquen dần với chế độ học tập nghiêm ngặt ở trường PT; luyện cho trẻ ghi nhớ đầy đủ,chính xác những nhiệm vụ, những câu hỏi đưa ra trước khi hành động; hướng dẫntrẻ quan sát và giải thích các hiện tượng xung quanh; yêu cầu trẻ kể lại nhữngchuyện đã được nghe; rèn luyện khả năng chú ý thông qua các trò chơi Việc làm
Trang 28này góp phần tạo cho trẻ một tâm thế sẵn sàng đi học, xây dựng nề nếp học tập, giúptrẻ dễ dàng thích ứng với các hoạt động học tập ở trường PT [18].
Năm 1995, tác giả Phạm Thị Sửu và Nguyễn Ánh Tuyết trong một nghiêncứu về “chuẩn bị cho trẻ vào lớp một” đã chỉ ra những vấn đề cần chuẩn bị cho trẻbước vào học lớp 1 gồm: nhu cầu, lòng mong mỏi, tâm trạng náo nức được đi học;
sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày; khả năng chú ý có chủđịnh; tăng dần khả năng hoạt động trí óc; có hiểu biết nhất định về môi trường xungquanh; khả năng vận động; cách ứng xử với mọi người xung quanh; những thóiquen vệ sinh cá nhân Các tác giả cho rằng, nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạntrước cũng là sự chuẩn bị cho giai đoạn sau Tất cả những vấn đề trên cần đượcchuẩn bị trong suốt thời kỳ mẫu giáo nhưng tích cực nhất vào thời kỳ trẻ 5 tuổi vàđược tiến hành thường xuyên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp trong cáctrò chơi hoặc trong các hoạt động hấp dẫn mà trẻ yêu thích [64, tr.5-6]
Trong cuốn “Tâm lý học trẻ em” (1995), tác giả Ngô Công Hoàn đã chỉ ra
các nội dung tâm lý cần chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi vào lớp 1 Theo tác giả, trẻ em 5-6tuổi có những nhu cầu cơ bản như: nhu cầu nhận thức, nhu cầu giao tiếp, nhu cầuhoà nhập thích ứng vào một nhóm xã hội mới (lớp 1) Do đó, để đáp ứng các nhucầu này, người lớn cần chuẩn bị những nội dung tâm lý cần thiết cho trẻ như: trigiác, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy, xúc cảm Các nội dung trên cần phải đượcchuẩn bị từ những năm trước đó (tức là qua một quá trình), chứ không chỉ chuẩn bịriêng cho trẻ ở lớp mẫu giáo 5-6 tuổi [32], [33]
Năm 1996, tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga nghiên cứu đề tài “góp phần hoànthiện bộ trắc nghiệm đo lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1”[52] Đề tài xây dựng bộ công cụ thích hợp để đánh giá mức độ sẵn sàng đi học củahọc sinh khi vào lớp 1; trên cơ sở đó, giúp giáo viên nhanh chóng nắm được trình độcủa từng học sinh ngay từ đầu lớp 1 để có những biện pháp giúp đỡ kịp thời
Năm 1998, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và các cộng sự đã có nghiên cứu về
“chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường PT” Trong nghiên cứu này, các tác giả chỉ raquan điểm khoa học về việc chuẩn bị cho trẻ vào trường PT, đó là: chuẩn bị cho trẻ
Trang 29thông qua việc tổ chức các hoạt động ở trường mầm non như: hoạt động vui chơi,hoạt động mà trẻ yêu thích hay hoạt động gần giống tiết học [82].
Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm với nghiên cứu “mức độ chín muồi nhập họclớp một tiểu học ở trẻ 5 tuổi” (2005) đưa ra kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sởkhoa học cho việc đề xuất độ tuổi thích hợp vào lớp 1 bậc tiểu học trong bối cảnhmới Theo tác giả, sự chín muồi đến trường ở trẻ là tiền đề cần thiết nhất về các mặttâm lý - sinh lý, sự thích ứng xã hội đạt đến sự phát triển đầy đủ nhất để trẻ có thểchuyển sang giai đoạn mới thích ứng với học đường, chuyển từ hoạt động chơi giữvai trò chủ đạo sang hoạt động học tập giữ vai trò chủ đạo Việc chuẩn bị cho trẻ đihọc lớp 1 ở trường PT là chuẩn bị những tiền đề cần thiết, tạo cơ hội giúp trẻ đạt độchín muồi đến trường về mọi phương diện: trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm, giao tiếp…
để trẻ thích nghi với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường PT [80]
Năm 2008, tác giả Trần Thị Ngọc Chúc đã có nghiên cứu “cần chuẩn bịnhững gì cho trẻ vào lớp 1” Trong nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra các trắcnghiệm đánh giá mức độ phát triển về mọi mặt của trẻ, đồng thời có những lờikhuyên bổ ích dành cho các bậc phụ huynh trong việc chuẩn bị cho trẻ thích ứng vớihoạt động học tập khi vào lớp 1 [81]
Tác giả Vũ Ngọc Hà (2008), nghiên cứu sự “Chuẩn bị của gia đình cho trẻvào lớp 1 và ứng xử của cha mẹ với học sinh đầu lớp 1” đã khẳng định: hứng thúhọc tập của trẻ phụ thuộc chủ yếu vào sự chuẩn bị của gia đình cho trẻ vào lớp 1.Theo tác giả, các gia đình không nên thiên về chuẩn bị kỹ năng học tập mà nên kếthợp hài hoà với việc chuẩn bị tâm thế đi học cho trẻ [22]
Đặc biệt, đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010
← 2015 được ban hành [60], cùng với đó là việc ban hành quy định về bộ chuẩnphát triển trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015, gồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số.Với mục đích, hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chấtlượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1 Bộ chuẩnphát triển trẻ em năm tuổi là cơ sở để cụ thể hóa mục tiêu, nội dung chăm sóc, giáo dục,lựa chọn và điều chỉnh hoạt động chăm sóc, giáo dục cho phù hợp với trẻ mẫu giáo 5tuổi; là cơ sở để xây dựng bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5tuổi Đồng thời, là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền,
Trang 30hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em 5 tuổinhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em Trên cơ sở đó tạo sự thốngnhất trong chăm sóc, giáo dục trẻ giữa nhà trường, gia đình và xã hội [72].
Năm 2009, tác giả Nguyễn Ngọc Tài có đề tài nghiên cứu "Công tác chuẩn bịcho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại Sóc Trăng: thực trạng và giải pháp" Đề tài
đã chỉ ra thực trạng việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại tỉnh SócTrăng đó là: những khó khăn về cơ sở vật chất, về trình độ dân trí, về ngôn ngữ củangười Khmer trong việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào lớp1 Trên cơ sở đó đưa racác giải pháp để giúp địa phương thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộcKhmer vào lớp một Góp phần đảm bảo công tác Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độtuổi cho học sinh dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng nói riêng cũng như vùng Đồngbằng Sông Cửu Long nói chung [65]
Việc chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường PT được rất nhiều sự quan tâm củacác tác giả trong và ngoài nước Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào nhiều khíacạnh khác nhau về vấn đề này Việc chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường PT được cáctác giả đánh giá cao và coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục trẻ mầm non
Khi nghiên cứu về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bịđến trường PT, chúng tôi cũng đã quan tâm tìm hiểu để tổng quan những nghiên cứu
về sự thích ứng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi với các hoạt động ở trường mầm non Tuynhiên, những nghiên cứu về vấn đề này tương đối hiếm Do đó, tính đến thời điểmhiện tại, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào có liên quan đến vấn đề này
Trang 31Tiểu kết chương 1
Có thể thấy, qua những nghiên cứu trong và ngoài nước về các hoạt độngchuẩn bị cho trẻ mẫu giáo đến trường PT, các tác giả đều khẳng định vai trò vànhiệm vụ quan trọng của giáo dục trước tuổi học Khi tìm hiểu về những nghiên cứucủa các tác giả, chúng tôi nhận thấy hầu hết các nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò và nộidung cần chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, xây dựng các chuẩn, các trắc nghiệm để đánhgiá mức độ sẵn sàng của trẻ trước khi vào lớp 1 Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũngxác định các hoạt động được tổ chức để chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi vào lớp 1 như:hoạt động học tập, hoạt động vui chơi và các hoạt động mà trẻ yêu thích
Trên cơ sở tìm hiểu, kế thừa các vấn đề đã nghiên cứu ở trên, chúng tôi lựachọn nghiên cứu việc chuẩn bị cho trẻ đến trường PT theo một khía cạnh khác đó là:nghiên cứu sự thích ứng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đếntrường PT; cụ thể là sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi với các hoạt động vui chơi, hoạtđộng học và sinh hoạt hàng ngày được tổ chức tại trường mầm non
Trang 32CHƯ NG 2
C SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
VỀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
CHUẨN BỊ ĐẾN TRƯỜNG PHỔ THÔNG
2.1 Lý luận về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông
Mặc dù nội hàm của chúng có nhiều điểm giống nhau, nhưng chúng ta cần có
sự phân biệt hai khái niệm thích nghi và thích ứng Khái niệm thích nghi được dùngcho tất cả sinh vật (trong đó có con người) và thiên về góc độ sinh học Khái niệmthích ứng chủ yếu dùng cho con người và thiên về góc độ xã hội
Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn xen xét khái niệm thích ứng được nhìnnhận từ góc độ sinh học và tâm lý học
Trang 33(1809-Darwin đã viết: “Từ sự quan sát lâu dài các thói quen của sinh vật và thực
vật, tôi nhận ra rằng trong các hoàn cảnh sống, các chủng loại thích nghi thường được duy trì và các chủng loại không biết thích nghi sẽ bị tiêu diệt Kết quả của sự kiện này là các chủng loại mới được sinh ra”[6].
Như vậy, sự thích nghi là khả năng để sinh vật có thể tồn tại, sự thích nghiđược quyết định bởi các đặc tính của sinh vật với môi trường Trước những thay đổicủa môi trường sống, mọi sinh vật phải biến đổi những đặc tính của bản thân nhằmthích nghi và thể tồn tại trong môi trường đó được Quá trình thích nghi sinh họcdiễn ra lâu dài, từ thế hệ này sang thế hệ khác
J.Piaget (1896-1980) là một nhà sinh vật học trước khi đến với tâm lý họcnên những nghiên cứu của J.Piaget bắt đầu từ nghiên cứu sinh học Theo ông, yếu tốsinh học phát triển không chỉ do sự thuần thục của cơ thể (nội sinh) hay do ditruyền, mà còn do những biến cố xảy ra trong môi trường sống Sự phát triển sinh
học là một quá trình thích nghi Theo J.Piaget, thích nghi “là quá trình tạo lập sự cân bằng giữa hành động của cơ thể lên môi trường sống xung quanh Đó là quá trình tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường” [53, tr.379] Sự cân bằng giữa cơ
thể và môi trường hay giữa đồng hóa và điều ứng là cân bằng động, thường xuyên
bị phá vỡ và tái lập ở mức độ cao hơn Theo J.Piaget sự tác động qua lại giữa cơ thểvới môi trường dẫn tới hình thành thao tác trí khôn
Bên cạnh đó, điểm nổi bật trong sự phát triển của con người về mặt sinh học
đó là yếu tố di truyền, đó là là sự tái tạo ở thế hệ mới những đặc điểm giống với thế
hệ trước về mặt sinh học Dưới tác động của môi trường và hoạt động của cá thể,yếu tố di truyền bị biến đổi giúp cơ thể thích nghi với sự thay đổi của điều kiện sốngtrong môi trường tự nhiên và xã hội Di truyền có vai trò là tiền đề vật chất cho sựphát triển tâm lý [86]
Trong môi trường sống, sinh vật nói chung và con người nói riêng luôn đối mặtvới hàng loạt các thách thức khi phát triển Tuy nhiên, do được trang bị sự thích nghilinh hoạt như biến đổi kiểu hình, cấu tạo, chức năng, hành vi… của bản thân nên mọisinh vật có thể đáp ứng các điều kiện sống, thích nghi với các môi trường khác nhau
Tóm lại, thích ứng theo quan điểm sinh học là sự biến đổi cấu tạo, chức năngcủa cơ thể, biến đổi hành vi để con người tồn tại và phát triển
Trang 34b Từ góc độ tâm lý học
← Sự thích ứng theo phân tâm học
Đầu thế kỷ XX, một trường phái tâm lý mới xuất hiện bắt nguồn từ việc thực hànhlâm sàng, đó là phân tâm học do S.Freud (1856-1939) sáng lập, các đại diện khác đó làCarl Jung (1875-1961) và Alfred Adler (1870-1937) Cơ sở của sự thích ứng theo quanđiểm phân tâm học của S.Freud lý giải về sự vận hành của 3 hệ thống (cái ấy, cái tôi, cáisiêu tôi) trong nhân cách con người, chỉ ra quá trình thích ứng của con người trước nhữngkhó khăn của hiện thực [53] Hiện thực không phải khi nào cũng thống nhất với bản thân
con người Trong tình huống như vậy, cái ấy phải lùi bước, nhường chỗ cho cái tôi, đến khi đã có sự thích ứng nhất định thì cái siêu tôi xuất hiện và tự động điều chỉnh hành vi của
con người Tuy nhiên, để đạt được điều này thì bản thân 3 hệ thống này đặc biệt là cái ấy
và cái siêu tôi cũng có lúc xảy ra mâu thuẫn với nhau Chính sự xung đột bên trong giữachúng đã khiến cá nhân mất cân bằng và để thiết lập lại sự cân bằng về mặt tâm lý cá nhâncần tự hình thành nên các cơ chế phòng vệ nhằm giải quyết những xung đột ấy Cơ chếphòng vệ chính là quá trình con người (cái tôi) tự dồn nén cảm xúc, ham muốn (cái ấy) tạo
ra sự thăng bằng, điều chỉnh hành vi của bản thân để tuân thủ theo các chuẩn mực, các đòihỏi của tác động xung quanh (cái siêu tôi)
Theo S.Freud, trẻ em thường xuyên tìm cách giải tỏa những ấm ức, vướng mắc,nhưng không phải lúc nào cũng giải tỏa được trong thực tế mà có lúc phải tìm sự giảitỏa trong thế giới mơ tưởng, nơi mà không có quy tắc xã hội ràng buộc Nhờ đó, conngười giải tỏa được ấm ức dồn nén trong vô thức, giúp cho tinh thần ổn định để học tập
và thích ứng với những đòi hỏi của xã hội [dẫn theo [13], [53], [87] Như vậy, thíchứng theo quan niệm của phân tâm học đó là việc con người tự điều chỉnh cảm xúc
← Sự thích ứng theo tâm lý học hành vi
Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lý học thế giớiđầu thế kỷ XX với những đại diện như: Thorndike E.L.(1874-1949), Watson J.B.J(1878-1958), Tolman E.C (1886-1959), Hull K.L (1884-1952), Skinner B.F (1904-1990) Tâm lý học hành vi ra đời là một cuộc cách mạng, làm thay đổi cơ bản hệthống quan niệm về tâm lý học đương thời [dẫn theo 53, tr.21]
Trang 35hành động tích cực của cá thể, nhờ đó mà thiết lập được vị thế có lợi đối với môitrường và nhằm mục đích thích ứng với môi trường [dẫn theo 53, tr 43].
Watson J.B.J (1878-1958) quan điểm về sự thích ứng: một là, sự kiện quan sátđược mà các cơ thể con người và động vật thực sự thích ứng được với môi trường xungquanh, nhờ sự trợ giúp của các phương tiện cấp cho chúng theo đường di truyền haytiếp thu chúng một cách độc lập Sự thích ứng đó có thể thích hợp, hoặc không thíchhợp làm cho cơ thể khó duy trì được sự tồn tại của mình; hai là, một vài tác nhân kíchthích buộc cơ thể phải có phản ứng trả lời [dẫn theo 53, tr 65]
Theo thuyết hành vi nhận thức của Tolman E.C (1886-1959), hành vi là cómục đích Chỉ khi có nhận thức tâm lý, mục đích hoạt động cụ thể thì con ngườimới có thể thích ứng được với sự thay đổi của môi trường [dẫn theo 53]
Skinner B.F (1904-1990) cho rằng hành vi tạo tác là hành vi chủ động, tíchcực trước sự thay đổi của môi trường Hành vi giúp cho con người chủ động thíchứng với môi trường xung quanh Con người trước mỗi sự biến đổi của môi trườngđều phải cố gắng để tự điều chỉnh mình, củng cố hành vi, hoạt động của mình thôngqua những hành động lặp đi lặp lại với tần số và cường độ mạnh dần thì mới có thểthích ứng và hòa nhập với khó khăn [dẫn theo 53]
A Bandura (1925) chứng minh rằng con người cũng có thể tiếp thu tất cả cácdạng hành vi mà không trực tiếp nhận được một sự củng cố nào Bằng cách học vàphát triển thông qua quan sát những người có kinh nghiệm hơn với các hoạt độngquan trọng về văn hóa, người lớn có thể giúp trẻ em thích ứng với mọi hoàn cảnhmới, giúp chúng trong những cố gắng giải quyết vấn đề, hướng dẫn trẻ nhận tráchnhiệm về những hành vi của mình Với khái niệm “tự tin” (self-efficacy), Bandura,(1997), coi tự tin là niềm tin của đứa trẻ vào khả năng của bản thân nó làm tốt vàthành công trong những hoàn cảnh nhất định, là khả năng kiểm soát đối với nhữnghoạt động của chính nó để thành công Những trẻ em kém tự tin, trong nhiều tìnhhuống xã hội thường tự thể hiện là những đứa trẻ kém cỏi và có khả năng thích kémhơn so với trẻ tự tin [dẫn theo 11]
Như vậy, sự thích ứng theo tâm lý học hành vi là hành động tích cực, là sựquan sát, những phản ứng của mỗi cá thể đối với những tác động từ môi trườngnhằm giúp con người chủ động thích ứng với môi trường xung quanh
Trang 36← Sự thích ứng theo tâm lý học nhân văn
Trong tâm lý học nhân văn, Maslow A (1908-1970) và Rogers C (1902-1987)
đề cao cái tôi và những giá trị của nó trong sự phát triển người nói chung, trong tương
tác nói riêng Maslow A đã đưa ra khái niệm về một hệ thống thứ bậc của các nhu cầu [dẫn theo 62] Để đạt được sự thỏa mãn ở thứ bậc các nhu cầu, con người đều cần thiết
phải phấn đấu liên tục, quá trình phấn đấu đòi hỏi con người phải nỗ lực, thích ứng vàtìm cách tối ưu nhất Từ đó, giúp cho con người thỏa mãn từng nhu cầu, từ bậc thấp chotới bậc cao để đạt được sự tự thể hiện đầy đủ tiềm năng của bản thân
C.Rogers nghiên cứu về cái tôi - hình ảnh mà mọi người có về chính mình.Mỗi người được xem là đang phấn đấu không ngừng để duy trì và nâng cao toàn bộhữu thể của mình Do đó, phấn đấu để đạt được sự hiện thực hóa là mức độ thúc đẩy
cơ bản nhất, được gọi là sự phấn đấu của tổ chức cơ thể [dẫn theo 62]
Với tâm lý học nhân văn, thích ứng là quá trình con người cố gắng nỗ lực,vượt qua mọi khó khăn để thoả mãn nhu cầu của bản thân, để đáp ứng được nhữngthay đổi của hoàn cảnh sống và để hoàn thiện mình
* Sự thích ứng theo tâm lý học hoạt động
Tâm lý học hoạt động xuất hiện đầu thế kỷ XX, lấy chủ nghĩa Mác-Lêninlàm nền tảng thế giới quan Đại diện cho trường phái tâm lý này là các tên tuổi như:Vugotxki L.X (1896-1934), Leonchiev A.N (1903- 1979)…
Quan điểm của tâm lý học hoạt động cho rằng chỉ có trong hoạt động thì cácphẩm chất tâm lý của con người mới được hình thành, phát triển và biểu hiện rõ.Hoạt động bao gồm cả hoạt động vật chất và tinh thần [75], [86] Tuy nhiên, khôngphải cứ tham gia hoạt động là con người có thể thích ứng và tham gia hoạt độnggiống nhau là con người có mức độ thích ứng như nhau Theo các nhà tâm lý học,mức độ thích ứng của con người còn phụ thuộc vào chính tính tích cực của chủ thể.Thích ứng chính là quá trình con người tác động một cách tích cực vào môi trường,qua đó con người lĩnh hội kinh nghiệm, hình thành những phương thức hành vi mới.Theo J.Berry, thích ứng dẫn đến hai vấn đề là: duy trì thói quen hành vi, chuẩn mựccủa mình và biến đổi, tham gia vào các mối quan hệ, xâm nhập vào môi trường mới
Trang 37L.X Vugotxki đưa ra quan điểm mới về bản chất sự thích nghi của conngười Ông cho rằng: con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chếcân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ
sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nênmột hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới L.X Vugotxkigọi dạng thức hành vi này là “hành vi cao cấp” [dẫn theo 23, tr.130] Đây là hành vikhác biệt hẳn so với hành vi của động vật
Tâm lý học hoạt động nghiên cứu sự thích ứng trên cơ sở của hoạt động của conngười, đánh giá cao vai trò của tương tác giữa con người với môi trường, tạo nên nhữnghành vi mới, hành vi mang tính xã hội, hành vi cao cấp chỉ có ở con người Qua đó,giúp con người thích ứng với những điều kiện thay đổi của môi trường sống
← Sự thích ứng theo tâm lý học xã hội
Các nhà tâm lý như: F.Haider, L.Festings… đều cho rằng, các yếu tố cơ bảnthúc đẩy hành vi của cá nhân là nhu cầu tạo lập sự thích ứng, sự cân bằng trong cơcấu nhận thức của con người Việc sử dụng sự thích ứng về nhận thức như là cáchgiải thích cơ bản, mặc nhiên công nhận bản chất của con người là hướng đến trạngthái cân bằng [dẫn theo 85, tr.10]
Phân tích của Alfred Adler, Karen Horney, Eric Fromm, Harry Stack Sullivancho rằng cả xã hội và con người là các nhân tố quan trọng quyết định hành vi Các nhân
tố tâm lý và sinh học bên trong cũng có tầm quan trọng nhưng nó lại được cân bằng bởiảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài (các nhân tố xã hội) [dẫn theo 62]
Theo Karen Horney (1885-1952) “con người có thể thay đổi và tiếp tục thay đổichừng nào con người còn sống” [dẫn theo 62, tr 223] Bà đề cao vai trò của cha mẹ với
sự phát triển và thích nghi của mỗi con người Theo bà, nếu đứa trẻ thiếu tình yêu và sựhiểu biết từ cha mẹ thì sẽ bị “dập tắt khả năng thích nghi và đương đầu với thế giới”[dẫn theo 62, tr 225] Điều này hạn chế khả năng thay đổi và hợp nhất các kinh nghiệmmới của đứa trẻ, khiến đứa trẻ không phát triển, có thể dẫn tới chứng nhiễu tâm
Nghiên cứu của U.Tomax và F.Znahecki đã chứng minh sự thích ứng phụthuộc vào hai yếu tố: sự phụ thuộc vào cá nhân với tổ chức xã hội và sự phụ thuộcvào tổ chức xã hội đối với cá nhân Sự phụ thuộc này thể hiện tác động qua lại giữanhân cách và xã hội Sự tương tác giữa con người - xã hội là hai chiều: con người
Trang 38ảnh hưởng và thay đổi xã hội trong khi xã hội định hình và thay đổi hành vi của cánhân Do đó, cả xã hội và con người đều linh hoạt và có thể được thay đổi Các nhàtâm lý học này cũng nêu quan niệm bản thân tiêu biểu cho cá tính duy nhất của conngười với tư cách là một thực thể Sự hiện diện của bản thân, có nghĩa là cá nhân sẽkhông đầu hàng các áp lực, họ sẽ thích nghi được và vẫn có khả năng thay đổi thếgiới một cách sáng tạo để đáp ứng các nhu cầu của riêng mình [dẫn theo 62, tr.212]
Tâm lý học xã hội cho rằng, sự thích ứng của con người là do tương tác haichiều giữa con người và xã hội Sự tương tác này dẫn đến những thay đổi hành vikhiến cho con người có thể thích ứng tốt với môi trường xung quanh
Trong những nghiên cứu về tâm lý xã hội ở Việt Nam, chúng tôi quan tâm tớinghiên cứu của tác giả Vũ Dũng về thích ứng xã hội của các nhóm yếu thế ở nước tahiện nay, tác giả đã đưa ra khái niệm: thích ứng là sự biến đổi tâm lý của chủ thể nhằm
vượt qua những khó khăn, trở ngại để tồn tại và phát triển trong môi trường sống.
Từ khái niệm trên, cần chú ý một số điểm:
← Sự biến đổi tâm lý của chủ thể Đó là sự biến đổi về nhận thức, thái độ
và hành vi của chủ thể cho phù hợp với đối tượng, phương tiện, điều kiện hoạt động mới
← Thích ứng chỉ xuất hiện khi con người gặp phải môi trường, hoàncảnh sống mới Khi môi trường đó xuất hiện những trở ngại, khó khăn đòi hỏi conngười phải vượt qua
← Khi con người thích ứng được với môi trường sống mới có nghĩa là con người có thể tồn tại và phát triển được trong môi trường đó [14, tr.57-58]
Căn cứ vào những quan điểm trên về sự thích ứng, chúng tôi lựa chọn đưa ra
khái niệm thích ứng với tư cách là khái niệm công cụ của đề tài như sau: Thích ứng
là một quá trình biến đổi tâm lý ở chủ thể cho phù hợp với đối tượng, phương tiện, điều kiện hoạt động, giúp chủ thể dễ dàng hoà nhập với bối cảnh mới và được biểu hiện ở nhận thức, cảm xúc và hành vi.
2.1.1.2 Biểu hiện của sự thích ứng tâm
lý a Thích ứng về mặt nhận thức
Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và
Trang 39quanh và đối với chính bản thân mình Nhờ nhận thức mà con người làm chủ được
tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được chính bản thân mình [86, tr 88]
Thích ứng về mặt nhận thức là quá trình biến đổi các quá trình nhận thức cảmtính, nhận thức lý tính ở chủ thể cho phù hợp với đối tượng, phương tiện, điều kiện hoạtđộng, biểu hiện qua sự tự tin, chủ định và hiệu quả của hoạt động nhận thức
Biểu hiện thích ứng về mặt nhận thức đó là việc con người có thể thay đổicách suy nghĩ, hiểu biết về chính bản thân mình, về các vấn đề xung quanh
Thứ nhất là sự thay đổi suy nghĩ và hiểu biết của con người về khả năng củachính bản thân mình; con người hiểu được mình có những mặt mạnh nào, còn hạnchế ở những mặt nào để có thể tự tin lựa chọn và thực hiện các hoạt động một cách
có chủ định, phù hợp với khả năng của mình
Thứ hai là sự thay đổi nhận thức để tìm hiểu các vấn đề tự nhiên, xã hội xungquanh được đầy đủ và chính xác hơn
Thích ứng về mặt nhận thức rất quan trọng vì sự thích ứng này là cơ sở địnhhướng cho sự thích về mặt tình cảm (nhận thức là cơ sở của cảm xúc, chi phối cảmxúc) và thích ứng về mặt hành vi của mỗi cá nhân Bởi nếu con người không thíchứng về nhận thức tức là khó khăn trong việc hiểu biết về thế giới xung quanh thì sẽgặp khó khăn trong hoà nhập với cuộc sống
b Thích ứng về mặt cảm xúc
Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người với sự vật hiện tượng cóliên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu cá nhân Nói cáchkhác, cảm xúc là những rung động của con người đối với hiện thực, trong quá trìnhtác động tương hỗ với môi trường xung quanh và trong quá trình thoả mãn nhu cầu.Cảm xúc là phản ứng của con người, gắn liền với hoạt động có định hướng và sựthích nghi Cảm xúc của con người chính là xúc cảm được ý thức hoá [16]
Cảm xúc thể hiện qua cử chỉ, hành vi, điệu bộ và những phản ứng về mặt sinh
lý nên có thể dễ dàng nhận biết như cảm xúc: vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên,thích thú
Căn cứ vào tính chất cảm xúc có thể chia thành 2 loại: cảm xúc tích cực vàcảm xúc tiêu cực Căn cứ vào biểu hiện và nội dung, có thể chia cảm xúc thành 6loại cơ bản: vui, buồn, sợ hãi, giận dữ, ngạc nhiên và ghê tởm [16]
Trang 40Xúc động và tâm trạng là hai mặt phản ánh của cảm xúc Hai mặt này xácđịnh cường độ, tính ổn định và tính ý thức cao hay thấp của cảm xúc Xúc động làmột dạng của xúc cảm có cường độ rất mạnh, xảy ra trong một thời gian ngắn và khixảy ra con người thường không làm chủ được bản thân, không ý thức được hậu quảhành động của mình Tâm trạng là một dạng cảm xúc có cường độ vừa phải vàtương đối yếu, tồn tại trong khoảng thời gian tương đối lâu dài [86].
Thích ứng về mặt cảm xúc là một quá trình biến đổi trạng thái tâm lý theochiều hướng tích cực, thể hiện rung cảm của con người đối với những sự vật, hiệntượng cho phù hợp với đối tượng, phương tiện, điều kiện hoạt động và được thểhiện qua sự tự tin, chủ định và hiệu quả của hoạt động
Biểu hiện thích ứng về mặt cảm xúc là sự biển đổi trạng thái tâm lý, sự rungcảm, những tâm trạng của chủ thể đối với con người, sự vật, hiện tượng xungquanh; thể hiện qua sự tự tin, vui vẻ, thích thú, hăng hái, cởi mở trong giao tiếp; tíchcực và có chủ định trong tìm hiểu khám phá môi trường xung quanh
có ý thức, có mục đích và có chủ tâm của con người
Thích ứng về hành vi là thích ứng quan trọng nhất của con người Vì hành vi
là kết quả của quá trình nhận thức, xúc cảm và thái độ của con người Thích ứng vềhành vi thể hiện việc con người vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoà nhập vớihoàn cảnh sống [14] Mỗi con người đều có hoàn cảnh sống khác nhau như: điềukiện tình thần; điều kiện vật chất; môi trường làm việc, học tập; tham gia các hoạtđộng khác nhau: như lao động, học tập, vui chơi, sinh hoạt… Trước những thay đổicủa điều kiện, của những hoạt động trong của cuộc sống như vậy mỗi con người cầnthay đổi hành vi của bản thân để hoà nhập, tồn tại và phát triển