1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ 5 6 tuổi thông qua trò chơi nặn

113 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về sự phát triển tâm lý của trẻ, các nhà Tâm lý học đã chỉ ra rằng: Sự hình thành và phát triển tâm lý nói chung, khả năng sáng tạo nóiriêng ở trẻ Mẫu giáo là cơ sở, là tiền đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ THANH HUYỀN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ

5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI NẶN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Khanh

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 9

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN 4

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu: 4

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về sáng tạo: 8

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài: 8

1.2.2 Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của sáng tạo: 13

1.2.3 Trí thông minh và sáng tạo: 17

1.2.4 Cảm xúc và sáng tạo: 19

1.2.5 Quá trình sáng tạo: 21

1.2.6 Tiêu chí sáng tạo: 25

1.2.7 Nhân cách sáng tạo 28

1.3 Một số vấn đề lý luận chung về sáng tạo ở trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi: 30

1.3.1 Sáng tạo của trẻ: 30

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động vui chơi và khả năng phát triển trí sáng tạo của trẻ: 33

1.4 Khái quát chung về hoạt động tạo hình: 37

1.4.1 Hoạt động tạo hình: 37

1.4.2 Các thành tố tâm lý trong sáng tạo nghệ thuật tạo hình: 39

1.4.3 Trò chơi tạo hình nói chung và trò chơi nặn nói riêng trong trường mầm non. 41

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 45

2.1 Vài nét về khách thể và cơ sở thực nghiệm: 45

2.1.1 Khách thể thực nghiệm: 45

2.1.2 Vài nét về cơ sở thực nghiệm: 45

2.2 Mục đích thực nghiệm: 46

2.3 Tổ chức quá trình thực nghiệm điêù tra khả năng sáng taọ cuả trẻ : 47

2.3.1.Thời gian tổ chức điều tra: 47

2.3.2 Công cụ sử dụng trong quá trình điều tra: 47

2.4 Quá trình chuẩn bị thử nghiệm tác động sư phạm: 48

2.4.1 Phân tích những bất hợp lý trong cách tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi ở các trường Mầm non hiện nay: 48

2.4.2 Một vài biện pháp cải tiến cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi, nhằm cải thiện một bước khả năng sáng tạo của trẻ 51

Trang 3

2.5 Quá trình tiến hành thử nghiệm tác động sư phạm: 52

2.5.1 Những cải tiến trong cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi: 52

2.5.2 Hình thành lớp đối chứng và lớp thực nghiệm: 67

2.5.3 Lựa chọn giáo viên cho các lớp thực nghiệm và đối chứng 67

2.5.4 Thảo luận về giáo án cải tiến giữa tác giả luận văn và giáo viên thực nghiệm: 67

2.5.5 Giáo viên thực nghiệm triển khai giáo án cải tiến khi tổ chức trò chơi nặn cho trẻ 68

2.5.6 Ghi biên bản trong quá trình giáo viên thực nghiệm tổ chức trò chơi nặn cho trẻ 68

2.5.7 Rút kinh nghiệm sau mỗi lần kết thúc việc triển khai một giáo án cải tiến giữa tác giả luận văn và giáo viên thực nghiệm 69

2.5.8 Đánh giá chung việc thực hiện ý đồ cải tiến cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi 70

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 71

3.1 Phân tích kết quả thực nghiệm điều tra trước khi tiến hành thực nghiệm tác động sư phạm: 71

3.1.1 Công cụ và cách thức tiến hành điều tra: 71

3.1.2 Kết quả khảo sát thực trạng phát triển khả năng sáng tạo của trẻ trước khi tiến hành thực nghiệm tác động sư phạm: 73

3.1.3 San bằng trình độ lớp thực nghiệm và lớp đối chứng: 86

3.2 Phân tích kết quả thực nghiệm điều tra sau khi tiến hành thực nghiệm tác động sư phạm: 89 3.2.1 Công cụ và cách thức tiến hành điều tra: 89

3.2.2 Kết quả điều tra lần thứ hai sau khi tiến hành thử nghiệm tác động sư phạm: 90

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109

2

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Hoạt động sáng tạo của con người là một hoạt động rất cần thiết chocuộc sống, là một động lực phát triển của xã hội loài người Hơn lúc nào hết,ngày nay trong xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, đất nước ta cần có một độingũ những người lao động thông minh, sáng tạo đủ sức đưa sự phát triển củanước nhà lên những tầm cao mới của thời đại Điều đó phụ thuộc rất nhiềuvào sự nghiệp giáo dục nói chung, trong đó Giáo dục Mầm non có vị trí đặcbiệt quan trọng

Nghiên cứu về sự phát triển tâm lý của trẻ, các nhà Tâm lý học đã chỉ

ra rằng: Sự hình thành và phát triển tâm lý nói chung, khả năng sáng tạo nóiriêng ở trẻ Mẫu giáo là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển mạnh đội ngũ nhữngngười lao động thông minh, sáng tạo sau này

Hoạt động chủ đạo của trẻ Mẫu giáo là hoạt động vui chơi Thông quahoạt động này, các chức năng tâm lý như tư duy, tưởng tượng, tình cảm, khảnăng sáng tạo của trẻ đều được phát triển và đạt tới những trình độ mới.Trong các hoạt động vui chơi thì các trò chơi tạo hình như vẽ, nặn, có vai tròđặc biệt quan trọng trong sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ Thông quatrò chơi nặn, trẻ cảm nhận được về thế giới xung quanh, mở rộng thêm hiểubiết về sự vật, hiện tượng ở quanh trẻ, trẻ học cách thể hiện những hiểu biết,suy nghĩ, thái độ, tình cảm của mình qua hình khối, dáng vẻ, bố cục, màu sắcv.v Trong khi nặn trẻ tự do tưởng tượng những điều mình mơ ước, tự do tìmkiếm, thử nghiệm và nhờ đó mà thỏa mãn nhu cầu khám phá cái chưa biết.Qua đó, ở trẻ đặc biệt được hình thành và phát triển tư duy trực quan hìnhtượng và trí sáng tạo Ở đây, một câu hỏi được đặt ra là: Trong những điềukiện nào thì trò chơi nặn ở tuổi mẫu giáo sẽ có tác dụng mạnh mẽ nhất đến sựphát triển sự sáng tạo của trẻ Chúng tôi cho rằng: Trò chơi nặn ở tuổi mẫu

Trang 5

giáo sẽ có tác dụng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển trí sáng tạo của trẻ khi chúng được tổ chức, hướng dẫn và điều khiển một cách thật sự khoa học.

Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu

khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi thông qua trò chơi nặn"

làm đề tài luận văn tốt nghiệp trình độ cao học của mình

2 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu.

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nhằm phát hiện khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 5  6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi nặn

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 5  6 tuổi thông qua trò chơinặn

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn đi sâu nghiên cứu vấn đề sau:

2.3.1 Nghiên cứu những tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận

của luận văn

2.3.2 Khảo sát thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 56

tuổi thông qua trò chơi nặn (Thực hiện cả trước và sau khi tiếnhành thử nghiệm tác động sư phạm)

2.3.3 Thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm cải thiện khả năng

sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi thông qua trò chơi nặn.2.3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm cải

thiện khả năng sáng tạo ở trẻ

2.4 Giả thuyết nghiên cứu:

Trang 6

Trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi đã bộc lộ khả năng sáng tạo thông qua hoạtđộng tạo hình, song thực tế khả năng này bộc lộ chưa cao, nếu có biện pháptác động sư phạm phù hợp thì khả năng sáng tạo này của trẻ sẽ được cải thiện.

Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn ở những môi trường khác nhau,cũng như gới tính khác nhau là khác nhau

2.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:

Do điều kiện hạn chế về thời gian và trình độ chúng tôi chỉ tiến hành đềtài ở hai Trường Mầm non Hoa Hồng và Trường Mầm non Kim Giang

Khả năng sáng tạo của trẻ được bộc lộ trong nhiều hoạt động khácnhau, nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổithông qua trò chơi nặn

2.6 Khách thể nghiên cưú: 120 trẻ ở độ tuổi từ 5 đến 6 tuổi ở 2 trường mầm

non Hoa hồng và trường mầm non Kim giang

2.7 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp điều tra thực trạng khả năng sáng tạo trước và sau khi tiến

hành thử nghiệm tác động sư phạm bằng trắc nghiệm của E P.Torrance

Phương pháp thử nghiệm tác động sư phạm

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Phương pháp quan sát: Sử dụng trong suốt quá trình thực nghiệm, có ghi

biên bản để tìm hiểu hành vi của trẻ khi làm bài trắc nghiệm vàtrong giờ tổ chức trò chơi nặn của giáo viên thực nghiệm

Phương pháp xử lý thống kê toán học: Đánh giá theo thang điểm đưa ra

và xử lý các kết quả thu được từ trắc nghiệm

Trang 7

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN 1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Vấn đề sáng tạo có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cuộc sống, bởi vậy nóthu hút được nhiều quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học

Vào cuối thế kỷ thứ 3 các nhà toán học, triết học lớn thời đó đã cố gắngxây dựng lý thuyết về sáng tạo nhưng không thành Khi nói đến sáng tạo,người ta thường đề cập đến thiên tài trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật,văn học, v.v… Như Lêona Đờ Vinci, Vangốc, Mozart, v.v Và nguồn tư liệuduy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo của họ là tiểu sử, hồi ký, các tác phẩmvăn học nghệ thuật Qua đó, người ta chỉ mô tả, giải thích mà chưa đi sâu vàonghiên cứu bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo

Mười sáu thế kỷ tiếp theo, từ Thế kỷ IV đến Thế kỷ XX, khoa học sángtạo hầu như bị lãng quên

Vào thế kỷ 19 các nhà xã hội học đã có những đóng góp đáng kể đầutiên trong việc gải quyết vấn đề sáng tạo Họ cho rằng, bản chất của tính tíchcực sáng tạo là ở hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kíchthích khả năng sáng tạo

Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, vấn đề sáng tạo được chú ý nghiên cứumạnh, do yêu cầu về tài năng cho sự phát triển kinh tế, kỹ thuật của các nước.Sau đây là một vài nét về nghiên cứu sáng tạo ở một số nước trên thế giới

 Ở nước Mỹ:

Nước Mỹ là một nước có tiềm lực mạnh về khoa học kỹ thuật và kinh

tế, do đó có điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất để tiến hành nghiên cứu

về sáng tạo

Trang 8

Năm 1934 cuốn sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo được xuất bản là của

A Osborn Ông là một nhà kinh doanh nhưng rất quan tâm tới lĩnh vực sángtạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo Ông đã cho ra đời 4 cuốn sách về lĩnh vực này

và đã được tái bản 26 lần Một trong các cuốn sách đó là “Ứng dụng của ýtưởng khoáng đạt” Ông cho rằng, thành công của ông trong kinh doanh lànhờ sự phát minh ra phương pháp tạo ra cho mình tự nghĩ ra nhiều ý tưởng,ông gọi phương pháp đó là tập kích não (phương pháp này dựa trên cơ sở củahoạt động sáng tạo)

Năm 1944 William Gardon  Nhà nghiên cứu sáng tạo người Mỹ Nghiên cứu về tư duy sáng tạo, về tâm lý và thực tiễn sáng chế đã đưa ra luậnđiểm chung về việc kích thích tư duy sáng tạo Từ 1953  1959, ông đề xuấtphương pháp sáng tạo với cái tên Xinetic (nghĩa là kết hợp các yếu tố khácchủng loại) Vào giữa thế kỷ 20, các nhà Tâm lý học Mỹ bắt đầu nghiên cứuvấn đề sáng tạo một cách có hệ thống

Năm 1959 J Guilford  Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp ở miền namCalifornia  là nhà Tâm lý học có công đầu tiên trong việc khẳng định sự tồntại của trí sáng tạo Ông đưa ra mô hình trí tuệ gồm 120 thành tố, trong đó có

61 thành tố thông minh và 59 thành tố sáng tạo Ông cho rằng, sáng tạo có vaitrò quan trọng trong mọi hoạt động tạo ra những giá trị mới chưa từng cótrong kinh nghiệm cá nhân, hoặc chưa từng có trong kinh nghiệm xã hội.Đồng thời ông khuyến khích các nhà Tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đềnày, theo hướng tìm cách trả lời những câu hỏi: Có thể nhận biết khả năngsáng tạo của con người không? Nếu có thì bằng con đường nào? Có thể pháttriển được tiềm năng sáng tạo của con người không? Và bằng con đường nào?

Từ đó ở Mỹ xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo Cókhoảng 14 nhóm nghiên cứu về vấn đề này thuộc phạm vi tâm lý giáo dục vànhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo liên tiếp được xuất bản Nội dung củacác công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động

Trang 9

sáng tạo như: Những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệtgiữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo,thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo, kíchthích hoạt động sáng tạo Chính phủ Mỹ cũng rất quan tâm tới việc đầu tư choviệc nghiên cứu và phát triển khả năng sáng tạo Mỗi năm ngân sách nước Mỹdành 3 tỷ USD cho việc nghiên cứu, phát hiện và bồi dưỡng tài năng sáng tạocủa thế hệ trẻ nước Mỹ.

 Ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu:

Các nhà Tâm lý học ở các nước này rất quan tâm đến vấn đề sáng tạo.Những nghiên cứu của họ về sáng tạo dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong những năm 1960  1980nhiều hội thảo, hội nghị về sáng tạo, tư duy sáng tạo đã được tổ chức ởMatxcơva, Budapest, Praha…

Ở Liên Xô (cũ), nhà Tâm lý học A N Luk có công trình “Tâm lý họcsáng tạo” nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của hoạt động sáng tạo, V

N Puskin nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư duy sáng tạo,mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo với vô thức Các nhà Tâm lý học X L.Rubistein và L X Vưgôtxki nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy vàtưởng tượng trong hoạt động sáng tạo, đánh giá sự có mặt tất yếu của tưởngtượng sáng tạo trong hoạt động tư duy

Bên cạnh các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ), các nhà Tâm lý học TiệpKhắc (cũ), Ba Lan, Đức, Bungari cũng rất quan tâm nghiên cứu Tâm lý họcsáng tạo cả về lý luận và thực nghiệm

Năm 1984, nhà Tâm lý học người Đức thuộc trường phái Heller ởMuenchen là Erika Landau, trong cuốn sách của mình “Creatives Erleben” đãkhẳng định: “Trí sáng tạo là một thuộc tính bổ sung, mở rộng trí thông minh.Theo Bà, trí sáng tạo được hình thành dựa trên trí thông minh, nó mở rộng và

Trang 10

nâng cao trí thông minh bằng cách tìm ra mối quan hệ mới giữa những thôngtin đã biết”.

M Ar Naudôp - Viện sỹ Hàn lâm, một nhà bác học Bungari nổi tiếng 

Có công trình nghiên cứu về bản chất sáng tạo văn học Trong tác phẩm “Tâm

lý học sáng tạo văn học”, ông đã đề cập tới các vấn đề quá trình sáng tạo, cácyếu tố ý thức của sáng tạo văn học và vấn đề cảm hứng sáng tác dưới góc độduy vật biện chứng

Ngoài ra, còn các công trình nghiên cứu của N G Alêchxayep, I Ia.Dener và E M Miarski, v.v… về tư duy sáng tạo trong nhà trường

 Ở Việt Nam:

Vấn đề sáng tạo ở nước ta được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Trongcác Nghị quyết của Trung ương Đảng tại các cuộc Hội nghị đều đề cập đến:

“…tập trung sức nâng cao chất lượng dạy học, trang bị đủ kiến thức cần thiết

đi đôi với tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của học sinh…” Ở nước ta, có rất

nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng khuyến khích tài năng sángtạo Các ngành nghề đều phát động sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm nâng caonăng suất lao động Ngành Giáo dục, thường tổ chức Hội thi sáng tạo về Đồdùng dạy học, thi sáng tác Văn học, Âm nhạc v.v Năm 1990, Viện Khoahọc Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ quan khoa học đầu tiên ởnước ta tiến hành nghiên cứu về khả năng sáng tạo của học sinh Các côngtrình nghiên cứu này quan tâm tới bản chất, cấu trúc của Tâm lý sáng tạo,phương pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo và con đường giáo dục,phát huy khả năng sáng tạo của người Việt Nam

Tuy nhiên, ở nước ta chưa có một công trình khoa học nào đánh giábằng phương pháp kỹ thuật đáng tin cậy, có quy mô về khả năng sáng tạo củangười Việt Nam ở các độ tuổi khác nhau, mà mới sử dụng một số trắc nghiệmcủa nước ngoài để nghiên cứu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về sángtạo ở nước ta còn rất ít, một số các tác giả có tập bài giảng về Tâm lý học sáng

Trang 11

tạo cho đào tạo sau đại học như của tác giả Nguyễn Huy Tú, Vũ Kim Thanh,v.v Một số các công trình nghiên cứu về sáng tạo khoa học kỹ thuật như củatác giả Phan Dũng, Dương Xuân Bảo, Nguyễn Châu…

Về vấn đề sáng tạo của trẻ mẫu giáo, có một số các công trình nghiêncứu của các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn Các tác giả này

đề cập đến vấn đề sáng tạo của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi Hoạtđộng vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Thông qua trò chơi cácchức năng tâm lý của trẻ được phát triển Các tác giả khẳng định: Hoạt độngvui chơi đã làm nảy sinh trí tưởng tượng, mà trí tưởng tượng là yếu tố cơ bảncủa hoạt động sáng tạo

Luận văn Tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Thủy nghiên cứu: “Ảnh hưởngcủa tri giác đối với tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáolớn 56 tuổi” Bằng thực nghiệm tác giả đã chứng minh được tri giác là yếu

tố quyết định ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển trí tưởng tượng sángtạo của trẻ trong hoạt động tạo hình

Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thu Hương nghiên cứu: “Tiềm năngsáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động âm nhạc của trẻ 56 tuổi” Tácgiả chỉ ra rằng, nếu tổ chức tốt đời sống và môi trường sống của trẻ sẽ tạo ởchúng nhu cầu và khả năng sáng tạo

Vấn đề nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo thông qua hoạtđộng tạo hình là rất cần thiết, mang ý nghĩa thực tiễn, bởi hiện nay, vấn đề đổimới nội dung và phương pháp cho phù hợp với xu thế ngày nay đang là vấn

đề cấp thiết của giáo dục nói chung và của giáo dục mầm non nói riêng

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về sáng tạo:

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:

 Khái niệm sáng tạo.

Trang 12

Theo quan điểm duy tâm, sáng tạo được xem là một quá trình vô thức,tiền định, trong đó yếu tố ngẫu nhiên đóng vai trò chủ yếu Platon coi sáng tạo

là trạng thái tâm linh quyến rũ Phân tâm học coi bản năng tình dục là nguyênnhân và động lực của mọi hoạt động sáng tạo của con người

Trong những nghiên cứu của mình, khái niệm sáng tạo cũng được nhiềunhà Tâm lý học theo quan điểm Macxit đề cập tới L X Vưgôtxki trong cuốn

“Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” đã khẳng định: “Sự sángtạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, màcòn ở cả những nơi mà con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi để tạo ramột cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sángtạo của các thiên tài” [ 34; 5]

Theo X L Rubistein thì sáng tạo là hoạt động của con người tạo ranhững giá trị vật chất và tinh thần mới mang ý nghĩa xã hội, hay nói một cáchkhác thì đó là hoạt động tạo ra một cái gì đó mới mẻ, đặc sắc, cái mà khôngchỉ đi vào lịch sử phát triển bản thân người sáng tạo mà còn đi vào lịch sửphát triển khoa học kỹ thuật, nghệ thuật

Giáo sư Đại học Bắc kinh  Chu Quang Tiềm  trong cuốn "Tâm lý vănnghệ" định nghĩa: “Sáng tạo là căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tàiliệu rồi cắt xén, gạn bỏ, chọn lọc, tổng hợp để tạo thành một hình tượng mới”

Nhà Tâm lý học J Hlavsa (Tiệp Khắc) lại nhìn nhận sáng tạo dưới góc

độ phương pháp hoạt động: “Sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng nhữngphương tiện mới, cách giải quyết mới”

Ở Việt Nam, tác giả Phan Dũng trong cuốn “Từ điển triết học” đã địnhnghĩa: “Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trịvật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặctrưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, quân sự Có thểnói rằng, sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh

9

Trang 13

thần” [ 4; 5] PGS  TS Nguyễn Huy Tú thì cho rằng: “Sáng tạo là một thuộctính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề.Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên

cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới,độc đáo, hợp lý, trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏđược các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thíchhợp cho vấn đề đặt ra” [ 27; 5]

Ở Mỹ từ những năm 50 trở lại đây, nhờ thành tựu nghiên cứu của nhiềucông trình về sáng tạo mà khái niệm sáng tạo được gắn với tất cả các lĩnh vựcđời sống của con người

J Guilford không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quá trình sáng tạo,

mà ông đưa ra một mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ gồm 120 thành tố.Trong đó có 2 thành phần, thứ nhất là tư duy hội tụ (Covergence thinging) làthành phần logic của trí tuệ, thứ hai là tư duy phân kỳ (Divergence thinging)

là loại tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo ra cái mới, độc đáo và có íchcho xã hội, như các sáng chế kỹ thuật, sáng tạo văn học, nghệ thuật, quân sựv.v Tức là sáng tạo ra cái mới có ích mà trước đó chưa có [ 18; 49]

Còn E P Torrance đã định nghĩa về sáng tạo như sau: “Quá trình sángtạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu và tìm ra kết quả” Chúng

ta thấy khái niệm sáng tạo này rất rộng rãi, nó được diễn tả ở tất cả các dạnghoạt động khác nhau Theo ông, sáng tạo là một quá trình có nảy sinh, có diễnbiến và có kết thúc Bản chất của sáng tạo là một quá trình con người xâydựng các giả thuyết nghiên cứu để tìm ra kết quả

Tóm lại, theo các quan niệm trên, sáng tạo được hiểu là quá trình hoạtđộng tạo ra sản phẩm mới mẻ, có giá trị, độc đáo về phương diện vật chấthoặc tinh thần Ở đây cái mới, có thể là đối với xã hội, hoặc cái mới chỉ đốivới cá nhân

Trang 14

Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chủ yếu dựa vào sự khái quátnày để tổ chức triển khai quá trình nghiên cứu, đặc biệt là tổ chức thử nghiệmtác động sư phạm.

 Khái niệm hoạt động sáng tạo:

Hoạt động sáng tạo là loại hoạt động chỉ có ở con người Nhưng khôngphải hoạt động nào cũng đều dẫn đến một chất lượng sáng tạo

Theo PGS  TS Nguyễn Huy Tú: “Hoạt động sáng tạo là loại hoạt độngđạt đến mục đích không phải bằng con đường trực tiếp nhờ kinh nghiệm,không bằng những phương tiện quen thuộc đã biết, mà bằng một giải phápmới chưa có trong vốn kinh nghiệm ghi trong trí nhớ” [ 27; 29] Ở đây, tathấy Nguyễn Huy Tú đặc biệt nhấn mạnh đến con đường dẫn tới mục đíchtrong hoạt động sáng tạo Theo tác giả này, chiến lược mới là tiền đề có ýnghĩa quyết định dẫn tới kết quả mới, độc đáo trong sản phẩm của hoạt độngsáng tạo Chiến lược hành động mới này được xây dựng trong sự liên hệ vớicác yếu tố kinh nghiệm một cách gián tiếp Đối tượng quen biết đã được nhìnnhận, theo một cách mới, hợp lý, tối ưu để tìm ra giải pháp mới

Nói về hoạt động sáng tạo, L X Vưgotxki trong cuốn “Trí tưởng tượng

và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” có đưa ra quan niệm: “Chúng ta gọi hoạtđộng sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái gì mới,không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên ngoài hay mộtcấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thâncon người” [ 34; 5]

Hoạt động sáng tạo mang bản chất xã hội, như Gơt trong cuốn “Tâm lýhọc sáng tạo văn học” có nói: “Đăngtơ là vĩ đại đối với chúng ta, song ông có

ở phía sau mình cả một nền văn hóa của nhiều thế kỷ” [ 16; 338] Hay

“Những con người như Raphaen không sinh ra trên một chỗ trống rỗng, họđều dựa vào nghệ thuật cổ đại và tất cả những gì tốt đẹp đã được sử dụngtrước họ Nếu như họ không biết sử dụng những ưu thế của thời đại mình, thì

Trang 15

về họ chẳng còn điều gì để nói nữa” [ 16; 338] Quan niệm này rất phù hợp với việc nghiên cứu về hoạt động sáng tạo của trẻ.

 Khái niệm năng lực sáng tạo:

Nói đến năng lực, các nhà Tâm lý học cho rằng, năng lực là tổ hợp cácthuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạtđộng nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả Khi nghiên cứu về hoạtđộng sáng tạocủa con người, các nhà Tâm lý học đưa ra những quan niệm củamình về năng lực sáng tạo

Theo Nguyễn Huy Tú thì: “Năng lực sáng tạo được hiểu là những tiền

đề thành tích của nhân cách đặc trưng bởi những phẩm chất tâm lý, trước hết

là những phẩm chất trí tuệ, phẩm chất trí nhớ, xúc cảm  Động cơ và phẩmchất ý chí cho con người tiếp cận giải quyết vấn đề một cách tự lập, linh hoạt,mềm dẻo, chính xác, độc đáo và với tốc độ nhanh” [ 27; 29] Năng lực sángtạo quy định chiều hướng nảy sinh và diễn biến của hoạt động sáng tạo, kể cảtrường hợp sáng tạo bột phát hay trực cảm “Lóe sáng” Những trường hợptrực cảm “Lóe sáng” không phải do tác động của lực siêu nhiên trong nhâncách mà là sự bộc lộ của tính tích cực tâm lý, sinh lý của chủ thể hoạt độngsáng tạo

Theo J Guilford: “Năng lực sáng tạo là thuộc tính của cá nhân, có thểđược sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau mà không nhất thiết phải gắn liềnvới một bộ môn xác định nào đó Những năng lực chung đó biểu hiện rõ nét ởkhả năng tư duy sáng tạo Tính đặc thù của tư duy sáng tạo thể hiện ở tínhphân kỳ (khả năng tìm ra nhiều giải pháp cho một vấn đề) được xác định bởitính mềm dẻo, tính độc đáo và tính nhuần nhuyễn”

Theo quan niệm của E P Torrance thì ai cũng có tiềm năng sáng tạo,chỉ có điều mức độ sáng tạo ở mỗi người là không giống nhau Nếu có điềukiện thuận lợi thì tiềm năng này sẽ được bộc lộ một cách tốt hơn

Trang 16

Theo nghiên cứu của Tardif và Sternberg (Mỹ )  năm 1988  thì nănglực sáng tạo nhìn chung có liên quan tới tính độc đáo, khả năng ngôn ngữ, tríthông minh cao và khả năng tưởng tượng tốt.

Như vậy có thể nói năng lực sáng tạo của cá nhân bao gồm tất cả cácphẩm chất, các thuộc tính tâm lý cho phép cá nhân tiếp cận giải quyết vấn đềmột cách chính xác, linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo và với tốc độ nhanh

 Khái niệm tuổi mẫu giáo:

Sự phát triển tâm lý của trẻ từ 0  6 tuổi được chia ra nhiều thời kỳ nhỏ:

 Từ 0  2 tháng gọi là tuổi Sơ sinh

 Từ 2  12 tháng gọi là tuổi Hài nhi

 Từ 1  3 tuổi gọi là tuổi Vườn trẻ (tuổi Ấu nhi)

 Từ 3  6 tuổi gọi là tuổi Mẫu giáo

Tuổi Mẫu giáo lại chia ra: Từ 3  4 tuổi là mẫu giáo bé, từ 4  5 tuổi làmẫu giáo nhỡ, từ 5  6 tuổi là tuổi mẫu giáo lớn Trên thế giới, có rất nhiềucông trình của Tâm lý học thế giới đã nghiên cứu về lứa tuổi này, tiêu biểu là

N L Phigurin, M P Đênixova, S Phrơt, J Piaget, A V Zaporoget, A L.Sorokina, A Walon, V X Mukhina

1.2.2 Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của sáng tạo:

1.2.2.1 Cơ sở tự nhiên của sáng tạo:

+) Cơ sở sinh lý:

Năng lực tâm lý nói chung, năng lực sáng tạo nói riêng của con ngườikhông phải do di truyền hay bẩm sinh mà có Yếu tố di truyền và bẩm sinh làđiều kiện, là tiền đề của sự hình thành và phát triển năng lực này

Vai trò của bẩm sinh, di truyền mà cụ thể là cấu trúc của não bộ, đặcđiểm hoạt động của hai hệ thống tín hiệu và kiểu loại của hoạt động thần kinh

Trang 17

cấp cao có ảnh hưởng to lớn đến khả năng sáng tạo nói riêng, năng lực nhậnthức nói chung.

Não bộ gồm hai bán cầu đại não ngăn cách bởi khe liên bán cầu Haibán cầu nối liền với nhau bởi thể trai Sự khác biệt về chức năng của hai báncầu được quy định bởi các hoạt động của mỗi bán cầu:

 Bán cầu não trái là trung tâm điều khiển các chức năng trí tuệ như trínhớ, ngôn ngữ, logic, viết, phân tích, phân loại, xếp loại, tính toán và tư duyhội tụ

 Bán cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng như trựcgiác, ngoại cảm, thái độ, xúc cảm, các liên hệ thị giác - không gian, tiếp nhậncác tín hiệu âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động có sự phối hợp cơ thể,các quá trình tư duy phân kỳ

 Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trongkhi não phải có đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn Não trái có thể kết hợp các

bộ phận thành một chỉnh thể, não phải có khả năng nhìn thấy mối liên hệ giữacái tổng thể và các bộ phận

 Tư duy của não trái là cốt lõi của những thành công mang tính kinhviện và trí thông minh Tư duy não phải là cơ sở của hoạt động sáng tạo Thực

tế, sự sáng tạo không thể diễn ra ở một nơi trống rỗng, nó phải lấy thông tinđược thu thập từ não trái để hành động một cách sáng tạo, những thông tinnày tạo thành cơ sở cho hoạt động sáng tạo của não phải Những cá nhân cókhả năng sáng tạo và trí thông minh cao có hai bán cầu não hoạt động tốt, cânbằng và có sự tương tác tốt giữa hai bán cầu não

 Kiểu loại hoạt động thần kinh cấp cao có ảnh hưởng ở một mức độnào đó đến sự khác biệt về năng lực nói chung và khả năng sáng tạo nói riênggiữa người này với người khác, đến tốc độ phát triển năng lực, đến xu hướngphát triển năng lực trong một số lĩnh vực chuyên biệt Chẳng hạn, người có

14

Trang 18

kiểu thần kinh “Nghệ sỹ” sẽ dể dàng phát triển năng lực sáng tác văn học nghệ thuật hơn.

 Học thuyết về hệ thống tín hiệu là một bộ phận rất quan trọng tronghọc thuyết về thần kinh cấp cao Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở sinh lýcủa hoạt động cảm tính, trực quan và tư duy cụ thể (có khi có cả xúc cảm)Những hoạt động cảm tính này cung cấp cho con người các thông tin cần thiếtcủa hoạt động tư duy, tưởng tượng và sáng tạo

 Hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, tư duytrừu tượng, ý thức, tình cảm Nhờ có hệ thống tín hiệu hai này con người tiếnhành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và kháiquát hóa Trên cơ sở tư duy này con người mới có những khả năng giải quyếtkhác nhau về một vấn đề, hay độc lập suy nghĩ về một vấn đề

+) Môi trường tự nhiên:

Môi trường tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý, khí hậu, hoàn cảnh thiênnhiên, nơi con người sinh ra và lớn lên, trưởng thành, sinh sống, làm việc, vàcác yếu tố dinh dưỡng như: Không khí, nước, thức ăn, v.v Các yếu tố thuộc

về môi trường tự nhiên trên đều có ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã chỉ ra rằng: Cường độ sáng tạo của cáthể phụ thuộc trực tiếp vào sức khỏe của cá thể Khi khỏe mạnh, con ngườiluôn thấy phấn chấn, dễ đương đầu với khó khăn, hoạt động đạt hiệu quả caohơn Hơn nữa, sáng tạo cũng là kết quả của sự miệt mài lao động, bền bỉ trongcông việc Nếu như không có sức khỏe cá nhân sẽ không thực hiện được côngviệc

Môi trường tự nhiên cũng là điều kiện làm nảy sinh các ứng tác, làngười cộng sự trong việc giải quyết những vấn đề sáng tạo Như thiên nhiên,phong cảnh núi rừng, đất nước tươi đẹp là nguồn cảm hứng sáng tạo của cácnhà văn, nhà thơ, các họa sỹ… Trong khoa học cũng nhờ sự gợi ý của thiênnhiên mà các nhà khoa học đã phát minh ra những định luật Chẳng hạn nhìn

Trang 19

thấy quả táo rơi mà Newtơn phát minh ra Định luật vạn vật hấp dẫn, hay khiđang tắm Asimet phát minh ra Định luật về khối lượng riêng của nước.

1.2.2.2 Cơ sở xã hội của sáng tạo:

Con người trong quá trình phát triển chịu sự chi phối của các nhân tốsinh học (bẩm sinh và di truyền) và các nhân tố xã hội Nhân tố xã hội baogồm: Gia đình, giáo dục của nhà trường, nền văn hóa của dân tộc v.v Môitrường xã hội tốt sẽ thuận lợi cho sự phát triển các thuộc tính tâm lý của cánhân, trong đó có tính sáng tạo Ngược lại, môi trường xã hội xấu sẽ có ảnhhưởng không tốt đến sự phát triển các thuộc tính tâm lý cá nhân và kìm hãmhoạt động sáng tạo Phơbach đã từng nói: “Ở đâu không có đất để bộc lộ tàinăng, thì ở đó không có tài năng”

Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có tác động đến sự phát triển thểchất và năng lực của mỗi cá nhân Một gia đình hạnh phúc thì đó là điều kiệnthuận lợi để trẻ phát triển tính sáng tạo Gia đình là nơi trẻ được hưởng đầy đủtình thương yêu, có được những niềm vui mà thiếu hụt nó sẽ ảnh hưởng đếnđời sống tinh thần và sự phát triển nói chung của trẻ; Là nơi chăm sóc, dạy dỗtrẻ phù hợp với đặc điểm riêng của trẻ Một công trình nghiên cứu được thựchiện tại trường Đại học Chicago (Mỹ) cho rõ: Trí thông minh, khả năng sángtạo được phát triển thuận lợi trong những gia đình biết động viên con em họctập và bố mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc của các con

Khi trẻ tới trường, nhà giáo dục nói riêng, hệ thống giáo dục nói chung

có vai trò rất to lớn trong việc phát hiện và phát huy khả năng sáng tạo củahọc sinh Nhà giáo dục lựa chọn các phương pháp để hướng học sinh lĩnh hộitri thức văn hóa của loài người, hướng trẻ tham gia vào các hoạt động Trẻcàng tích cực tham gia vào các hoạt động đó, không bị gò ép, áp đặt trong cáchoạt động đó thì trẻ càng có cơ hội phát triển, bộc lộ khả năng sáng tạo củamình

Trang 20

Trước đây, phương pháp dạy học truyền thống, thày đọc, trò chép manglại kết quả học sinh thuộc bài một cách máy móc, hạn chế học sinh phát huynhững ý tưởng sáng tạo của mình Theo nhận xét của Erika Landau  nhà Tâm

lý học Đức  Giáo dục ở nhiều nước hiện nay vẫn định hướng phát triển tríthông minh, tức là chỉ coi trọng sự thu nhận thông tin chứa đựng trong cácmôn học ổn định và hẹp, chưa chú ý đúng mức đến sự phát triển tư duy độclập, sáng tạo.[25]

Các nhà Tâm lý học cũng đã chỉ ra điều hạn chế trong sáng tạo đó là sự

sợ hãi, sự phê bình quá mạnh mẽ và sự lười biếng Các nhà giáo dục cần phả i

có niềm tin rằng: ở mỗi học sinh đều có tiềm năng sáng tạo, vấn đề là phảibiết cách dạy cho trẻ yêu thích hoạt động, thói quen làm việc kiên trì và nghịlực vượt khó khăn để đạt mục tiêu đã đặt ra

Tóm lại, sự phát triển năng lực của cá nhân nói chung, và khả năngsáng tạo nói riêng chịu sự ảnh hưởng to lớn của yếu tố sinh lý, song nhữngyếu tố xã hội (trong đó có giáo dục) đóng vai trò quyết định

1.2.3 Trí thông minh và sáng tạo:

Trí thông minh là gì? Có nhiều quan niệm về trí thông minh, nhữngquan niệm tuy có khác nhau, song tựu chung lại: trí thông minh đó là cácphẩm chất thuộc về năng lực nhận thức và ứng phó của cá nhân trong hoàncảnh mới ở môi trường xã hội nhằm đạt được sự thích nghi tối ưu của cánhân

Thông minh là một thành phần quan trọng của trí tuệ cho phép conngười nhận thức được thế giới ngày càng sâu sắc, đầy đủ, hoàn thiện, toàndiện Còn trí sáng tạo là thành phần quan trọng khác của trí tuệ và có quan hệchặt chẽ với trí thông minh Nhờ trí sáng tạo mà người ta đưa ra được các cảitiến, các sáng chế, tức là đưa ra được cái mới mà trước đó chưa có, như cácdụng cụ gia đình, các thiết bị kỹ thuật, như đòn bẩy, ôtô, tàu hỏa, máy bay.Hai nhân tố này của quá trình nhận thức đều đã đo lường và định lượng được

Trang 21

Nhiều nhà Tâm lý học đã quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ sốthông minh và sáng tạo.

Những nghiên cứu về các thuộc tính của nhân cách sáng tạo cho thấy,người có trí tuệ cao (thường là một nhân tài) thường vừa là người vừa thôngminh, vừa sáng tạo Nhưng hai phẩm chất này không phải bao giờ cũng ở mứcngang nhau trong một con người cụ thể So với trí thông minh thì trí sáng tạo

có sự thâm nhập mạnh hơn của các thuộc tính tâm lý khác như ý chí, xúc cảm,động cơ v.v Sáng tạo không đồng nhất với thông minh Có người vừa thôngminh vừa sáng tạo, có người tuy thông minh, nhưng lại ít sáng tạo JacôpGetzels và Philip Jacsơn (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữachỉ số thông minh và chỉ số sáng tạo trên trẻ vị thành niên năm 1962 Sau khikhảo sát các em bằng nhiều trắc nghiệm sáng tạo, họ đã chia các em thành hainhóm Nhóm thứ nhất có điểm số sáng tạo rất cao và chỉ số IQ trung bình là

127, nhóm thứ hai có chỉ số thông minh IQ trung bình lên tới 150 nhưng lạikhông có dấu hiệu đặc biệt gì về hành vi sáng tạo Họ rút ra kết luận: Mức độsáng tạo cao đôi khi có thể bù lại cho điểm số thông minh thấp hơn

E P Torrance đã tiến hành nghiên cứu tư duy sáng tạo ở trẻ tuổi mẫugiáo đến tuổi học sinh trung học phổ thông đã cho rằng: Trí sáng tạo có sựđộc lập nhất định với trí thông tuệ Những trẻ sáng tạo thì thường cũng rấtthông minh, nhưng những trẻ thông minh thì lại ít sáng tạo, hay nói một cáchkhác, tỷ lệ trẻ có tính sáng tạo cao trong số trẻ rất thông minh là không lớn(gần 42%)

Kết quả này cũng có thể giải thích như sau: Các trắc nghiệm IQ chỉ đo

tư duy hội tụ của con người Tư duy hội tụ được định tuyến theo một mụcđích nhất định, mục đích đã có sẵn, nó tiến đến đích đó theo một thuật toánlogic, trong khi đó trắc nghiệm sáng tạo chỉ đo tư duy phân kỳ Tư duy phân

kỳ chỉ đi đến đích, không phải đích cụ thể mà là một giải pháp sáng tạo, độcđáo, tối ưu chưa có trong kinh nghiệm hiện thời, bằng cách tìm tòi thử nghiệmtheo nhiều hướng khác nhau, nó ngược lại với tư duy hội tụ Do đó cá nhân có

Trang 22

chỉ số thông minh rất cao thường có kiểu tư duy không thích hợp với cách tưduy sáng tạo Song giữa hai chỉ số này có liên quan đến nhau.

Theo nhà Tâm lý học Mỹ Alfred, W Munzent thì những người có khảnăng sáng tạo cao không cần thiết phải tỏ ra là có điểm số thông minh cao.Tuy nhiên, họ không thể nỗ lực sáng tạo cao như vậy, nếu khả năng trí tuệ của

họ quá thấp Những người có khả năng sáng tạo đặc biệt thường có chỉ sốthông minh từ 120-139 theo thang trắc nghiệm chuẩn

Để sáng tạo, chúng ta cần có thông tin, vốn kinh nghiệm, ý tưởng từtrình độ trí tuệ chung, bởi vậy nếu chỉ số thông minh thấp thì khó có sáng tạo

1.2.4 Cảm xúc và sáng tạo:

Xúc cảm, tình cảm của con người hết sức phong phú và đa dạng, nóthể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nó ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộcác quá trình tâm lý nói chung và sáng tạo nói riêng

Piagie cho rằng: Xúc cảm và nhận thức không thể tách rời nhau, mặc

Thứ nhất, cảm xúc như là yếu tố bên trong xâm nhập vào toàn bộ quátrình hành động trí tuệ từ tri giác sự vật đến các quá trình tư duy trừu tượng

Thứ hai, trong suốt quá trình hành động trí tuệ, ngay từ những thao tácđầu tiên cho tới thao tác cuối cùng, mỗi khi xuất hiện một thao tác, thì liềnngay sau đó xuất hiện một cảm xúc tương ứng và cảm xúc này trở thành tâmthế, dẫn chuỗi thao tác tiếp theo đi theo hướng phù hợp với tâm thế đó

Trang 23

Thứ ba, kết quả của mỗi thao tác, mỗi hành động trí tuệ sẽ mang đếncho chủ thể một cảm xúc mới Đến lượt nó, cảm xúc này sẽ chi phối các quyếtđịnh tiếp theo của chủ thể, đặc biệt là trong việc lựa chọn các phương án, các

kế hoạch hành động trí tuệ

Nói tóm lại, mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc Bởivậy cho nên cảm xúc có vai trò quan trọng đối với hoạt động trí tuệ nói chung,sáng tạo nói riêng Xúc cảm, tình cảm thúc đẩy con người hoạt động, giúp conngười khắc phục những khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động

Sự thành công của bất kỳ một loại công việc nào phần lớn cũng đều phụ thuộcvào thái độ của con người đối với công việc đó Tình cảm có một ý nghĩa đặcbiệt trong công việc sáng tạo Trạng thái “Dâng trào cảm hứng” mà nhà thơ,nhà bác học, người họa sỹ, nhà phát minh từng thể nghiệm trong quá trình làmviệc của mình đều có liên quan chặt chẽ với những tình cảm của họ Một conngười khô khan, dửng dưng thờ ơ với tất cả mọi việc thì không thể đề ra vàgiải quyết những nhiệm vụ to lớn, có ý nghĩa sống còn, không có khả năng đạttới những thắng lợi và thành tích chân chính

 Trong hoạt động sáng tạo, năng lực sáng tạo có liên quan tới tư duyphân kỳ Tư duy phân kỳ có tính chất cơ động, linh hoạt, không theo mộtkhuôn mẫu cứng nhắc, nó đi theo nhiều hướng khác nhau, có thể đưa ra nhiềucách giải quyết khác nhau Vì vậy, hoạt động sáng tạo đòi hỏi con người phảinhậy cảm với mọi vấn đề có thể nảy sinh Mỗi vấn đề lại có thể làm nảy sinh

ra nhiều hướng tìm tòi về nó Tính nhạy cảm vấn đề vì vậy mà trở thành yếu

tố thúc đẩy sự tiến triển của hoạt động sáng tạo

 Trong các hoạt động, đa số các trường hợp, thành công của mỗi cánhân phụ thuộc nhiều vào các yếu tố phi trí tuệ logic, đặc biệt là phụ thuộcvào mức độ thấu hiểu và kiểm soát được cảm xúc của mình cũng như củangười khác mà người ta gọi đó là cảm xúc Các tác giả Peter Salovey, JohnMayer và Daniel Golman cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là khả năng hiểu rõ cảm

Trang 24

xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sửdụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân, bày tỏ cảmxúc của mình, điều khiển và kiểm soát cảm xúc bản thân và người khác” Trítuệ cảm xúc quyết định cách con người hướng dẫn cuộc sống của mình nhưthế nào.

 Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật: Các hình tượng được các nhàvăn, nhà thơ xây dựng lên đều được bắt nguồn từ những cảm xúc có thật ở cáctình huống, hoàn cảnh mà người nghệ sỹ, nhà văn, nhà thơ đã từng trải qua,

họ đã đúc kết trong kho tàng kinh nghiệm của mình để xây dựng, sáng tạo nênnhững hình tượng nghệ thuật Từ những cảm xúc về cuộc sống, về những sựkiện xảy ra trong cuộc sống và làm nảy sinh những sáng tác Ví dụ như nhạc

sỹ Phạm Tuyên, sau khi nghe tin quân đội ta chiến thắng ở Plâycu, ở Buôn

Ma Thuột và hôm sau giải phóng Sài Gòn Và chỉ sau một đêm ông đã sángtác được bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Ông đã gửi gắmtất cả cảm xúc của mình vào trong sáng tác đó

Vậy, hoạt động sáng tạo rất cần có cảm xúc Nếu không có “cảm xúc”của con người, thì sẽ chẳng bao giờ có những phát minh khoa học và cũngchẳng bao giờ có những tác phẩm nghệ thuật Trong hoạt động sáng tạo, cảmxúc là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động sáng tạo và là người hướngđạo cho hoạt động đó

1.2.5 Quá trình sáng tạo:

Sáng tạo là sản phẩm hoạt động của con người, là quá trình tạo ra sảnphẩm mới về chất trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật vàhoạt động thực tiễn Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu hoạt động sáng tạo

có nhiều quan điểm về “mắt xích trung tâm” của sáng tạo

Nhiều nhà Tâm lý học quan niệm rằng, sáng tạo là kết quả của cảmhứng, linh cảm hay trực giác Đại diện là B M Kedrop, V N Puskin, K.Chikhomirop, họ cho rằng linh cảm, vô thức, là khả năng con người có thể

Trang 25

hành động một cách đúng đắn trước một tình huống, hoặc có thể tạo ra mộttác phẩm trong khi không biết chính xác tại sao mình lại hoạt động như vậy.Theo quan niệm này, thì linh cảm (trực giác) có liên hệ với hoạt động vô thứccủa con người và nó quyết định hoạt động sáng tạo.

Các nhà Tâm lý học khác cho rằng, tư duy, tưởng tượng là nội dung cơbản của hoạt động sáng tạo Đại diện cho xu hướng này là A N Leonchiep,

L X Vưgôtxki, X L Rubistein Theo quan điểm này, hoạt động có ý thứccủa con người giữ vai trò quyết định trong hoạt động sáng tạo

Cả hai quan điểm trên đều đúng, nhưng chưa đủ Trực giác, tư duy,tưởng tượng là các yếu tố không thể tách rời nhau trong hoạt động sáng tạo.Chỉ một mình yếu tố trực giác tự thân chưa phải là sáng tạo Chính nhờ có quátrình tư duy, tưởng tượng tích cực, thậm chí căng thẳng lâu dài mà có đượcgiây phút “lóe sáng” được gọi là linh cảm (trực giác), những người có linhcảm lại không biết được nguyên nhân nên đã gọi là sự may mắn Linh cảm(trực giác) là sản phẩm của hoạt động lao động tích cực đầy khó khăn, giankhổ của con người nhằm giải quyết các tình huống có vấn đề Hơn nữa, hiệuquả của yếu tố trực giác phải được ý thức, ngôn ngữ hóa và hợp thức hóabằng phương tiện tư duy logic Chẳng hạn, như chúng ta đã biết quả táo rơi

trúng đầu mà Newtơn đã phát minh ra định luật Vạn vật hấp dẫn vũ trụ, hoặc

kỹ sư Samuen Braun nảy ra ý tưởng thiết kế chiếc cầu treo đầu tiên trên thếgiới từ mạng nhện giăng trên cây Những điều đó không phải bỗng nhiên trựcgiác có được, mà đó là kết quả của sự lao động đầy khó khăn và miệt mài.Newtơn đã có ý tưởng về việc nghiên cứu trọng lượng từ năm 1666, nhưngphải mất 14 năm nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm mới dẫn đến khoảnhkhắc ông nhận ra nó có liên quan đến một quy luật tự nhiên

Vậy trực giác là kết quả của tư duy, tưởng tượng và nó chỉ là một phút

“lóe sáng” bất ngờ đến nỗi người ta nhầm tưởng là sự ngẫu nhiên hay may rủi.Theo PGS Trần Trọng Thủy: “vô thức (trực giác, bừng sáng) không phải đốilập, tách rời, không liên quan với ý thức, mà trái lại nó có quan hệ qua lại

Trang 26

với ý thức, tác động và chuyển hóa lẫn nhau Trực giác là kết quả chuyển hóa của ý thức thành vô thức”.

Có thể kết luận rằng, mắt xích trung tâm của hoạt động sáng tạo chính

là linh cảm (trực giác) và tư duy, tưởng tượng

Từ việc nghiên cứu “mắt xích trung tâm” của hoạt động sáng tạo, các nhà khoa học đã đề xuất cách phân chia các giai đoạn của quá trình sáng tạo

 H.L Von Heimholtz  Nhà Tâm lý học người Mỹ  Đưa ra ba giai đoạn của quá trình sáng tạo như sau:

1 Giai đoạn chuẩn bị

2 Giai đoạn ấp ủ: Giai đoạn này chủ thể thoải mái, trút bỏ mọi sự căngthẳng vì thúc bách, thấm nhuần tư tưởng vào trong các quá trình tưtưởng của cá nhân, xếp đặt lại kiến thức Đây là thời gian để cho ýtưởng trở thành trọng tâm

3.Giai đoạn hiển minh: Đây là giai đoạn sau thời gian nghiên cứu, tìm tòi,

ấp ủ, đề xuất về quan niệm về câu trả lời cho vấn đề

Về sau G Wallass đưa thêm vào giai đọan thứ tư như sau:

4 Giai đoạn kiểm nghiệm: Giai đoạn kiểm tra và có được kết luận

Theo ông giai đoạn thứ 2 và thứ 3 là đặc trưng cho quá trình sáng tạo

A N Luk quan niệm, quá trình sáng tạo gồm 5 giai đoạn:

1 Giai đoạn tích lũy tri thức, kỹ năng cần thiết cho việc làm sáng tỏ nhiệmvụ

2 Tập trung nỗ lực, tìm kiếm bổ sung thông tin

3 Giai đoạn nung nấu, thai nghén vấn đề, nhiệm vụ

4 Giai đoạn linh cảm (Bừng sáng)

5 Giai đoạn kiểm tra

Trang 27

 L X Xumbaev cũng chia hoạt động sáng tạo ra làm 3 giai đoạn:

1 Giai đoạn hoạt động, cảm hứng, tưởng tượng Ở giai đoạn này xuất hiện

ý tưởng sáng tạo

2 Giai đoạn sắp đặt logic những ý nghĩ, tư tưởng nhờ các thao tác khái quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy

3 Thực hiện ý tưởng ấy

Theo ông, trong giai đoạn 1 bao giờ cũng có linh cảm và tiền ý thứctham gia

Tóm lại, tuy có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về các giai đoạn củaquá trình sáng tạo, song nhìn chung có thể chia quá trình này thành các giaiđoạn sau:

1 Giai đoạn chuẩn bị: Tích lũy tri thức, nhận thức vấn đề tìm phương tiện,phương pháp giải quyết vấn đề Hoạt động nhận thức là hoạt động chủyếu của giai đoạn này Cá nhân phải vận dụng những kinh nghiệm cũ vàsắp xếp chúng một cách logic theo mục đích của việc giải quyết nhiệmvụ

2 Giai đoạn phát sinh: Đây là giai đoạn nung nấu, thai nghén vấn đề.Nhiều nhà khoa học cho rằng, linh cảm phần nhiều xuất hiện ở giai đoạnnày Tuy nhiên, không phải mọi linh cảm đều đúng, vì vậy cần phảikiểm tra tính chính xác của chúng

3 Giai đoạn phát minh: Là kết quả của giai đoạn phát sinh (chủ yếu thựchiện bằng trực giác) Ở đây, vấn đề bất ngờ được giải quyết và được thểhiện một cách rõ nét bằng việc giải quyết trạng thái căng thẳng của chủthể Có thể xem đây là đỉnh điểm của hoạt động sáng tạo

4 Giai đoạn kiểm tra: Xác minh lại sự hợp lý, đúng đắn của những giảipháp đã lựa chọn và kết quả nghiên cứu Sau khi kiểm tra kết quả, thành

Trang 28

công của hoạt động sáng tạo sẽ là động lực thúc đẩy hoạt động sáng tạo tiếp theo.

Việc phân chia các giai đoạn của quá trình sáng tạo như trên cũng chỉ làtương đối Thực tế quá trình sáng tạo có thể diễn ra rất linh hoạt, không phảinhất thiết theo trình tự như trên mà có thể đan xen nhau

1.2.6 Tiêu chí sáng tạo:

Kết quả của hoạt động sáng tạo là tạo ra sản phẩm (tinh thần hoặc vậtchất) Tuy nhiên, khi nào thì một hoạt động và sản phẩm của nó được gọi làsáng tạo? Nói cách khác, có những tiêu chí nào để khẳng định một hoạt động

và sản phẩm của hoạt động đó được gọi là sáng tạo

Nhà Tâm lý học người Nga X L Rubistêin cho rằng hoạt động sángtạo là hoạt động tạo ra những cái mới, cái độc đáo Cái mới, cái độc đáo nàykhông chỉ đi vào lịch sử của cá nhân người sáng tạo mà còn đi vào lịch sửKhoa học kỹ thuật, Nghệ thuật

Một số nhà Tâm lý học người Mỹ như Claus Meier, Ripple, Taylor,Kogan quan niệm cấu trúc của năng lực sáng tạo gồm các yếu tố:

1.Tính linh hoạt: Là khả năng biến đổi những thông tin đã thu nhận được,khả năng thay đổi dễ dàng và nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức,chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, khả năngđịnh nghĩa lại sự vật, gạt bỏ mô hình tư duy đã có sẵn để xây dựngnhững mối quan hệ khác nhau để tạo nên hình ảnh mới Tính linh noạtbột phát (khả năng cấu trúc lại cái đã có) và linh hoạt thích ứng (khảnăng tạo ra cái độc đáo)

2 Tính mềm dẻo: Là năng lực tổng hợp nhanh chóng dẫn tới ý tưởng mới

để kết hợp các yếu tố riêng của tình huống, hoàn cảnh của sự vật, hiệntượng Tính mềm dẻo thể hiện:

Trang 29

+) Lưu loát trong ý tưởng: Tìm ra được cách trả lời phù hợp, các giảipháp phù hợp với các điều kiện cho trước.

+) Lưu loát trong từ ngữ: Từ một số từ, một số chữ, các tổ hợp từ cóthể nhanh chóng tạo ra được các câu văn

+) Lưu loát trong liên tưởng: Đó là sự nhanh chóng tìm ra mối liêntưởng giữa các sự vật với hoàn cảnh cho trước Là khả năng tìm ra nhiều giảipháp khi có một vấn đề đặt ra nhờ sự liên tưởng đến những giải pháp đã cótrong vốn kinh nghiệm

+) Lưu loát trong biểu đạt: Là khả năng sử dụng ngôn ngữ để biểu đạtcác ý tưởng, các khái niệm một cách chính xác, sinh động và nhanh chóng

3 Tính độc đáo: Khả năng này cho phép con người nhìn sự vật, hiện tượngmột cách khác lạ, mới Tính độc đáo được tạo bởi hai yếu tố sau:

+) Sự hiếm lạ, duy nhất: “hiếm” được hiểu trên căn cứ của thống kê

Đó là khả năng cá nhân lựa chọn những tình huống, những sự vật để giảiquyết vấn đề khác hẳn với mọi người

+) Sự liên tưởng xa: Đó là khả năng đưa ra các liên tưởng mới lạ đốivới các sự vật, hiện tượng có quan hệ không gần gũi với nhau Càng đưa ranhiều giải thích, hoặc giải thích càng xa với tình huống ban đầu thì chứng tỏtính độc đáo càng cao

Tính độc đáo của sáng tạo chủ yếu ở các giải pháp mới lạ, hiếm có,không quen thuộc và duy nhất

4 Tính cấu trúc  kế hoạch: Là khả năng xây dựng kế hoạch, thực hiện giảipháp từ những ý tưởng mới, xây dựng cấu trúc mới từ những thông tin

đã có

5 Tính nhạy cảm vấn đề: Là sự phát hiện nhanh chóng những sai lầm, mâuthuẫn, thiếu hụt hay thiếu logic, thiếu ngắn gọn, chưa tối ưu của những

Trang 30

vấn đề, và từ đó nảy sinh ý muốn cấu trúc lại chúng cho hợp lý hơn, hài hòa hơn, thích hợp hơn để tạo ra cái mới.

6 Tính định nghĩa lại sự vật, hiện tượng: Là khả năng tìm ra các dấu hiệutương đồng giữa các sự vật, hiện tượng để có thể định nghĩa lại, đặt tênlại cho các sự vật, hiện tượng mà vẫn không làm mất ý nghĩa, bản chấtcủa nó

 Còn J Guilford dựa theo tính chất phân bố: Ông cho rằng năng lực sángtạo rất giống những biến số nhân cách thông thường Ông xác lập cấu trúcsáng tạo bao gồm:

1 Tính độc đáo

2 Tính trôi chảy (ở phương tiện tư duy và biểu đạt)

3.Tính mềm mại và thích ứng

4 Tính nhạy cảm đối với các tình huống có vấn đề

 Theo quan niệm của E P Torrance thì ai cũng có tiềm năng sáng tạo,chỉ có điều mức độ sáng tạo ở mỗi người là không giống nhau Nếu có điềukiện thuận lợi thì tiềm năng này sẽ được bộc lộ một cách tốt hơn Ông chỉ ra 4chỉ số sáng tạo như sau:

1 Nhanh nhạy (Fluency): Khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm

2 Linh hoạt (Flecibility): Khả năng linh hoạt trong việc tạo ra nhiều cách giải khác nhau

3 Chi tiết (Elaboration): Tính chi tiết, tỉ mỉ, công phu của sản phẩm

4 Độc đáo (Originality): Tính độc đáo của sản phẩm hoặc phương pháp tạo thành sản phẩm

Nhìn chung, đề cập đến tiêu chí của sản phẩm sáng tạo (hoặc ở dạngvật chất hoặc ở dạng tinh thần) các tác giả đều đưa ra chỉ số: Nhanh, mới, độcđáo, linh hoạt Những điều này đều bộc lộ qua các qúa trình tư duy sáng tạo,

Trang 31

hành động sáng tạo, mà sản phẩm của chúng là cái mới có thể được đánh giátheo các mức độ Mức độ này chính là, những mức độ của khả năng sáng tạo.Các nhà Tâm lý học căn cứ vào lý thuyết của sáng tạo để sọan thảo ra những

bộ trắc nghiệm của sáng tạo Tư duy sáng tạo và tưởng tượng sáng tạo gắnliền với nhau và bộc lộ hoặc chi phối hành động sáng tạo, nên trắc nghiệm tưduy sáng tạo hoặc trắc nghiệm tưởng tượng sáng tạo được cấu tạo sao cho tưduy và tưởng tượng ấy thể hiện trong những hành động tạo ra sản phẩm có thể

đo, đếm, lượng hóa được Các loại trắc nghiệm này gọi là trắc nghiệm sángtạo

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng trắc nghiệm sáng tạo của E P.Torrance Đây là trắc nghiệm ở dạng hình (phi ngôn ngữ) được dùng cho mọilứa tuổi và mang tính không phụ thuộc văn hóa Nó có thể đo đạc mức độ khảnăng sáng tạo của các nghiệm thể ở độ tuổi từ 4  65 tuổi Số đo trong trắcnghiệm là những số đếm (số tự nhiên) Sau đó chuyển sang phân loại bằngcách áp dụng toán học thống kê và phân ra các mức độ khác nh/au

1.2.7 Nhân cách sáng tạo.

Sáng tạo không chỉ dừng lại ở thông minh mà nó còn phải có nhữngphẩm chất khác của nhân cách nữa Nhân cách sáng tạo có gì đặc biệt khácvới nhân cách thông thường? Đây là một vấn đề được nhiều nhà Tâm lý họcnghiên cứu Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các đặc điểm nhâncách sáng tạo

Nhà Tâm lý học người Mỹ Mắc Kinnon nghiên cứu sự khác biệt tínhcách giữa một nhóm 40 kiến trúc sư được xem là sáng tạo nhất nước Mỹ vớinhóm đối chứng khác gồm các nhà kiến trúc không được lựa chọn về sự sángtạo của mình Ông khẳng định rằng, những người sáng tạo rất nhạy cảm vớicái đẹp và có khả năng nhận thức linh hoạt ở mức độ cao Họ độc lập trong tưduy và hành động, tự cam kết nỗ lực sáng tạo và yêu cầu rất cao ở bản thân

Họ có xu hướng quan tâm đến chân lý, đến hình thức và vẻ đẹp hơn là việc

Trang 32

được công nhận về sự thành công Các sản phẩm sáng tạo của họ được ra đờinhư là sự kết thúc tất yếu vậy.

Nhà Tâm lý học người Mỹ Stein khi nghiên cứu 2 nhóm các nhà Hóahọc công nghiệp ở 2 mức sáng tạo cao và thấp theo kết quả chọn lựa đưa rakết luận: Những người sáng tạo cao ít căng thẳng hơn, họ coi trọng các vấn đềthực tế và có khả năng tự điều chỉnh cao hơn những người bị đánh giá là ítsáng tạo Trong khi giải quyết vấn đề nhóm những người sáng tạo ở mức caolàm việc chậm và cẩn thận khi phân tích vấn đề và thu thập dữ liệu Nhưngkhi đã có được những dữ liệu cơ bản và bắt đầu tổng hợp thì họ tăng tốc rấtnhanh Ngược lại những người kém sáng tạo lại dành ít thời gian để phân tíchvấn đề hơn, nhưng lại mất nhiều thời gian để tổng hợp dữ kiện Những ngườinày dễ phục tùng và có xu hướng tránh né những tình huống khó khăn Hơnnữa, họ gặp phải nhiều sự mạo hiểm hơn các đồng nghiệp sáng tạo của mình

Công trình nghiên cứu của F Barron cũng chỉ ra các phẩm chất của cácnhà khoa học sáng tạo: họ là những người có cái tôi rõ rệt, có tình cảm ổnđịnh và bền vững, họ có tính độc lập và khả năng tự điều chỉnh cao

Theo J P Guiford - Nhà Tâm lý học người Mỹ  Người sáng tạo làngười có khả năng thao tác thuần thục đối với các vấn đề khác nhau, họ rấtnhạy cảm với khó khăn và độc đáo trong cac giải quyết vấn đề

Các nghiên cứu của một số nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) cho thấy: Cácchuyên gia sáng tạo làm việc có tính mục đích và kiên trì, có năng lực tiếnhành công việc từ đầu đến cuối, say mê với công việc, tôn trọng ý kiến củađồng nghiệp, thận trọng trong mọi tình huống, có lập trường rõ ràng, độc đáotrong cảm xúc và trí tuệ, họ nhạy cảm, dễ xúc động, có năng lực tự lập, tự chủcao, có niềm tin mãnh liệt, có khả năng vượt qua được trở ngại và là nhữngngười sống có nội tâm

Như vậy, những nhân cách sáng tạo nhìn chung đều có trí thông minh,

có cái tôi rõ rệt, lòng ham hiểu biết, ham hoạt động và tinh thần vượt khó

Trang 33

khăn, trở ngại Khả năng sáng tạo của con người không phụ thuộc vào tínhcách hướng nội hay hướng ngoại của cá nhân Mỗi cá nhân thường chỉ có khảnăng sáng tạo trong một số lĩnh vực cụ thể Một số người rất sáng tạo trongsáng tác văn học có thể không sáng tạo trong diễn xuất hoặc trong kinh doanh.Sáng tạo trong một lĩnh vực nào đó đòi hỏi con người phải có một sự hiểu biếtsâu sắc về lĩnh vực đó Đối với thế hệ trẻ, cần phải tạo nên được các phẩmchất sáng tạo, hình thành và phát triển nhân cách sáng tạo cho họ.

1.3 Một số vấn đề lý luận chung về sáng tạo ở trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi:

1.3.1 Sáng tạo của trẻ:

Ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ đang phát triển mạnh về các chức năng tâm lý:Tri giác, tư duy, tưởng tượng, sáng tạo Trong việc nghiên cứu về sáng tạo củatrẻ, còn có nhiều ý kiến khác nhau Một số tác giả, khi nghiên cứu về sáng tạocho rằng, sáng tạo là hoạt động tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới, có

ý nghĩa xã hội, hoạt động này chỉ có ở người lớn, còn sản phẩm do trẻ tạo rachưa được gọi là sản phẩm sáng tạo Một số tác giả khác thì cho rằng, hoạtđộng sáng tạo của trẻ chỉ là: “Tiền sáng tạo” và coi đó là mức độ ban đầu củahoạt động sáng tạo (như sản phẩm tạo hình do trẻ tự thực hiện, trẻ vẽ ra bứctranh, tạo ra vật nặn, hoặc tự nghĩ ra lời bài hát, tự nghĩ ra bài thơ ) Còn X

L Rubistein thì cho rằng: “có hai loại sản phẩm sáng tạo, sản phẩm sáng tạo củatrẻ chưa đạt tới trình độ tạo ra một cái mới có ý nghĩa xã hội, mà mang tính chủquan Trái lại sản phẩm sáng tạo của người lớn mang ý nghĩa xã hội”

Nhìn chung, ngày nay các nhà Tâm lý học đều thống nhất cho rằng cóhai loại sản phẩm sáng tạo:

 Sản phẩm sáng tạo có giá trị khách quan, là những sản phẩm mới, độc đáo có ý nghĩa xã hội rõ rệt

 Sản phẩm sáng tạo có giá trị chủ quan, đó là những sản phẩm chưamang đến cho xã hội một cái mới, độc đáo, có ý nghĩa xã hội, những sảnphẩm đó, có ý nghĩa sáng tạo đối với cá nhân, có ý nghĩa quan trọng đối với

Trang 34

sự phát triển nhân cách của chính cá nhân tạo ra sản phẩm đó Như vậy sảnphẩm sáng tạo của trẻ thuộc loại thứ hai này.

Tâm lý học đã xác định được tính tương tự giữa quá trình sáng tạo củatrẻ và qúa trình sáng tạo của người lớn Sự khác nhau ở đây chỉ là vấn đề cầngiải quyết ở trình độ tự lập trong diễn tiến các giai đoạn của quá trình sángtạo, còn để dẫn đến cái mới, thì về nguyên tắc, không có sự khác biệt nào giữasáng tạo của trẻ và của người lớn Vì vậy, mặc dù không mang lại cái mới chotoàn xã hội, nhưng hoạt động sáng tạo của trẻ có ý nghĩa to lớn đối với sựphát triển của trẻ trong quá trình hình thành nhân cách của chúng hôm nay đểchúng có thể trở thành người sáng tạo sau này

Trong 5 cấp độ sáng taọ, sáng tạo của trẻ thuộc cấp độ sáng tạo biểuhiện Đó là cấp độ thấp nhất, nhưng cũng là cơ bản nhất của sáng tạo TheoTaylor, đây là bậc quan trọng nhất của sáng tạo, vì không có nó thì chẳng cómột chút sáng tạo nào hơn Lewrnfield cho rằng, sáng tạo biểu hiện rất cầncho sự phát triển sáng tạo Vì vậy, ở tuổi mẫu giáo cần phải phát triển mọitiềm năng hoạt động và khuyến khích trẻ mẫu giáo bộc lộ khả năng trong cáclĩnh vực hoạt động.[27 ]

Hiện nay, những công trình nghiên cứu về sáng tạo của trẻ mẫu giáocòn rất ít so với những công trình nghiên cứu về sáng tạo của người lớn, bởi

vì còn gặp phải nhiều khó khăn Một trong những khó khăn, đó là việc sửdụng phương pháp chẩn đoán tâm lý, trắc nghiệm, thực nghiệm đối với trẻ,

mà trẻ mẫu giáo lại chưa biết đọc, biết viết Đánh giá trí sáng tạo bằng cácTest phức tạp ở tuổi mẫu giáo khó thực hiện, bởi trẻ mẫu giáo chưa biết đọcbiết viết Đặc biệt ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn vì còn thiếu các Testnghiên cứu Trong các Test nghiên cứu về sáng tạo, chúng tôi thấy Test của E

P Torrance là phù hợp đối việc đo lường sáng tạo của trẻ Test này là mộtdạng hình, phi ngôn ngữ với các tiêu chí đánh giá cũng rất phù hợp đối vớitrẻ Đó là:

Trang 35

1 Nhanh nhạy: Thực hiện khả năng nhanh chóng, dễ dàng tạo ra từ ngữ, hình ảnh về một đề tài cho trước trong một thời gian quy định.

2 Linh hoạt: Thể hiện khả năng sáng tạo ra các cách giải quyết khác nhau với cùng một bài tập trong một thời gian quy định

3 Chi tiết: Thể hiện khả năng tạo ra sản phẩm với nhiều chi tiết, tỷ mỉ, công phu

4 Độc đáo: Thể hiện khả năng sáng tạo ra những cách giải quyết bất ngờ khác thường

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng trắc nghiệm sáng tạo của E P

Torrance để nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ

Các nghiên cứu đã cho thấy, trẻ 2 tuổi, não phát triển đạt 80% nãongười lớn Sự phát triển này gồm 2 bước về cấu trúc (kích thước) não và vềchức năng não Ở trẻ 6 tuổi bề mặt não chiếm 90% kích thước bề mặt nãongười lớn Vùng trán của não phát triển mạnh Do đó tư duy trực quan  hìnhảnh và tư duy trực quan sơ đồ phát triển mạnh Đây là loại tư duy cần cho mọihoạt động sáng tạo [43 ]

Những nghiên cứu của nhiều tác giả đã kết luận: Ở trẻ 4 tuổi ta có thểxác định những biểu hiện của tư duy phân kỳ và khả năng sáng tạo của trẻ.Khả năng sáng tạo của trẻ được thể hiện qua trò chơi tranh vẽ, chuyện kể.Thực tiễn cho thấy, khả năng sáng tạo của các thiên tài thường xuất hiện từ rấtsớm Mozart 5 tuỏi đã sáng tác nhạc; Rêpin 3 tuổi đã cắt được hình đẹp và 6tuổi đã vẽ tranh sơn dầu có tiếng

Theo các tác giả, để phát triển khả năng nhận thức nói chung và sángtạo nói riêng thì việc cung cấp dưỡng chất cho sự phát triển cấu trúc não rấtquan trọng và việc hỗ trợ sự phát triển chức năng não cũng vậy Các yếu tốsinh lý thần kinh có tính bẩm sinh di truyền là tiềm năng ban đầu của trẻ Trên

cơ sở vốn liếng đó, những trẻ nào được tạo điều kiện thuận lợi và được giáodục đúng hướng, hợp lý thì trí tuệ nói chung của trẻ phát triển Còn ngược lại,

Trang 36

chúng sẽ bị hạn chế Ở đây, yếu tố sinh lý thần kinh, trong đó các trung khuchức năng không chỉ là tiềm năng trí tuệ, tiềm năng sáng tạo mà còn là sảnphẩm của chính hoạt động của trẻ Do đó, việc phát triển và bồi dưỡng nănglực không chỉ đòi hỏi phải được tiến hành khi trẻ còn nhỏ mà chủ yếu là phải

có nội dung và phương pháp bồi dưỡng phù hợp, thông qua hoạt động của trẻ.(như vậy, yếu tố sinh học muốn phát huy được vai trò của mình đều phảithông qua hoạt động của cá nhân)

Việc giáo dục sáng tạo, tức là điều kiện phát triển tiềm năng sáng tạocủa trẻ thông qua hoạt động vui chơi nói chung và trò chơi tạo hình nói riêngdưới sự hướng dẫn của giáo viên

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động vui chơi và khả năng phát triển trí sáng tạo

của trẻ:

 Hoạt động vui chơi  Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo:

Các nhà Tâm lý học Macxít cho rằng, việc nghiên cứu sự phát triển tâm

lý trẻ em phải xuất phát và gắn liền với việc nghiên cứu sự phát triển hoạtđộng của trẻ trong thực tiễn đời sống của nó Sự phát triển tâm lý trong từnggiai đoạn lứa tuổi phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó.Theo A N Leochiev: Hoạt động chủ đạo ở tuổi mẫu giáo là hoạt động vuichơi, các hoạt động khác đều xoay quanh phục vụ cho sự phát triển của hoạtđộng này, làm cho hoạt động này đóng vai trò quyết định của nó đối với sựhình thành và phát triển những đặc điểm tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi đó.Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo có những đặc điểm chủ yếu sau:

 Trò chơi mang tính tự nguyện cao: Trẻ tham gia vào trò chơi chỉ vìchúng thích được chơi, vì trò chơi hấp dẫn chúng, chứ không phải chúng "tínhtoán" đến kết quả của trò chơi Động cơ của hoạt động vui chơi của trẻ nằmngay trong quá trình chơi chứ không phải nằm ở kết quả của cuộc chơi Bởivậy trò chơi mang tính tự nguyện rất cao Nó thích trò chơi nào thì chơi rấtsay mê

Trang 37

Trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập, tích cực hết mình,người lớn không thể áp đặt hay chơi hộ, mà chỉ có thể gợi ý, hướng dẫn, vìthế, về phương diện giáo dục, người lớn cần biết cách biến những yêu cầugiáo dục thành nội dung của hoạt động vui chơi và hướng dẫn, tổ chức để trẻvui chơi, qua đó mà đạt mục tiêu giáo dục.

Trò chơi của trẻ mẫu giáo mang tính chất Ký hiệu  Tượng trưng Trongkhi chơi, mỗi đứa trẻ đóng một vai nào đó, và khi chơi mọi cái phải diễn ra “ynhư thật” Từ việc đóng vai nhân vật đến việc dùng vật thay thế, tất cả đềumang ý ngiã rất thực Đó là sự ra đời chức năng mới của ý thức: Chức năng

Ký hiệu  Tượng trưng Chính chức năng này cho phép trẻ tách hành độngkhỏi đồ vật một cách trực tiếp, và nhờ đó các chức năng tâm lý có được tínhgián tiếp, đặc trưng cho những chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở người Nhờ

đó các chức năng tâm lý, như tri giác, tư duy, tưởng tượng được hình thành vàphát triển thông qua hoạt động vui chơi Đặc biệt đối với trò chơi học tập,trong đó có trò chơi nặn, được sử dụng thành một hệ thống sẽ phát triển mộtcách toàn diện các quá trình nhận thức, các thao tác trí tuệ, và cũng từ đó hìnhthành một loạt các phẩm chất trí tuệ như sự nhanh trí, linh hoạt, óc quan sát

 Vai trò của trò chơi đối với sự phát triển tâm lý nói chung và trí sáng

tạo nói riêng của trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi:

Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo đối với trẻ mẫu giáo, nếu hoạtđộng này được các cô giáo tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch, có mụcđích sẽ có tác dụng mạnh mẽ đối với sự phát triển triển tâm lý nói chung vàkhả năng sáng tạo nói riêng của trẻ Bởi vì:

 Tình huống trò chơi và những hành động của vai chơi ảnh hưởngthường xuyên tới hoạt động trí tuệ của trẻ Trong trò chơi trẻ học hành độngvới vật thay thế mang tính chất tượng trưng Vật thay thế trở thành đối tượngcủa tư duy Trong khi hành động với vật thay thế trẻ suy nghĩ về đối tượng

34

Trang 38

thực Dần dần những hành động chơi với các vật thay thế được rút gọn vàmang tính khái quát, nhờ đó hành động chơi với các vật thay thế bên ngoài(hành động vật chất) được chuyển vào bình diện bên trong (bình diện tinhthần) Như vậy, chơi góp phần rất lớn trong việc chuyển tư duy từ bình diệnbên ngoài (tư duy trực quan  hành động) vào bình diện bên trong (tư duy trựcquan  hình tượng) Trò chơi còn giúp trẻ tích luỹ biểu tượng làm cơ sở chohoạt động tư duy.

 Trò chơi ảnh hướng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫugiáo Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia chơi phải có trình độgiao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Qua chơi, trẻ diễn đạt nguyện vọng và suynghĩ của mình một cách mạch lạc, biểu đạt được ý tưởng, dễ hơn, nhanh hơn.Chơi chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanhchóng.[13 ]

 Trò chơi có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượngcủa trẻ mẫu giáo Trong khi chơi đứa trẻ học thay thế đồ vật này bằng đồ vậtkhác, nhận đóng các vai khác nhau Năng lực này là cơ sở để phát triển trítưởng tượng Trí tưởng tượng được phát triển thêm một bước căn bản: chuyểntưởng tượng từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong Nhờ phát triển trítưởng tượng, trong khi chơi không nhất thiết trước mặt trẻ phải có vật thay thếcũng như diễn ra thực tế những hành động chơi, trẻ có thể hình dung nhữngcái đó trong óc, biết xây dựng tình huống mới trong trí tưởng tượng của mình.Trò chơi đã giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng thành hình thức hướng nội, hay

là tưởng tượng ngầm, tưởng tượng bên trong Đó là dạng tưởng tượng đíchthực

 Trò chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính có chủ định của cácquá trình tâm lý, chẳng hạn hình thành tri giác có chủ định (quan sát), chú ý

có chủ định, ghi nhớ có chủ định

Trang 39

 Trò chơi tác động mạnh đến sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo.Trong nội dung của trò chơi mẫu giáo đều chứa đựng những yếu tố làm nảysinh thái độ, xúc cảm, tình cảm của người chơi với nhau, của người chơi vớithế giới sự vật, hiện tượng Những điều đó làm xuất hiẹn ở trẻ những rungđộng: vui, buồn, yêu, ghét Trò chơi đã giúp đời sống tình cảm của trẻ ngàycàng phong phú và sâu sắc.

sự cảm thấy hạnh phúc, thoải mái, không bị gò ép, để phát triển mạnh cácchức năng tâm lý nói chung và khả năng sáng tạo nói riêng của trẻ

 Hoạt động vui chơi và trò chơi tạo hình:

Trò chơi tạo hình là một trong những trò chơi được tổ chức cho trẻ ởtrường Mầm non Đó là một trong những dạng của hoạt động vui chơi màtrường Mầm non tổ chức cho trẻ cũng như những dạng trò chơi khác, trò chơinặn nhằm làm cho trẻ tích cực lĩnh hội các tri thức vè các vật, hiện tượngxung quanh, tích cự phản ánh thế giới xung quanh qua lăng kính chủ quan củatrẻ

Trong trò chơi nặn, người lớn đề ra cho trẻ những yêu cầu nhất định vềmức độ và chất lượng của sản phẩm do các em nặn ra, đồng thời luyện tậpcho trẻ những kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do cô đề ramột cách sáng tạo

Trang 40

Cũng như các dạng trò chơi khác, trò chơi nặn cũng bắt nguồn từ nhucầu của trẻ và do sự xuất hiện nhanh chóng của tình cảm, xúc cảm tràn ngậptrong lòng trẻ.

Trong tất cả các dạng trò chơi (trong đó có trò chơi nặn), trong khi chơitrẻ đều tạo ra mối quan hệ giữa vật thay thế và vật được thay thế

Giữa các dạng trò chơi đều có các nét tương đồng trên, song giữa cácloại hình này có sự khác nhau, chẳng hạn:

 Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, mối quan hệ được thay thế,được xác lập chủ yếu do chức năng mà trẻ gán cho vật thay thế qua tên gọicủa vật được thay thế Còn ở nặn, mối quan hệ này được tạo nên trước hết do

sự giống nhau bên ngoài giữa chúng

 Trong khi động cơ của trò chơi đóng vai theo chủ đề nằm ở quá trìnhchơi, thì động cơ chơi của trò chơi nặn nằm ở cả quá trình chơi và kết quả của

nó (sản phẩm do trẻ nặn ra), ở cả việc đánh giá và thưởng thức thành quả sángtạo (sản phẩm nặn)

 Thông qua hành động nặn, trẻ không chỉ thỏa mãn nhu cầu đượcchơi, mà còn thỏa mãn nhu cầu mang tính chất nhận thức Đó là quá trình lĩnhhội bằng cảm giác, tri giác một cách độc lập các tính chất như hình dạng, màusắc, âm thanh và sự liên kết, thay đổi hình dạng của chúng Quá trình nà ycung cấp cho trẻ nhiều vốn sống, đem lại niềm vui sướng cho trẻ Chính vìthế, đây cũng là một cơ sở cho sự xuất hiện, hình thành tưởng tượng sáng tạotrong tạo hình nói chung và trong trò chơi nặn nói riêng

1.4 Khái quát chung về hoạt động tạo hình:

1.4.1 Hoạt động tạo hình:

Hoạt động tạo hình là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật Đây là mộthoạt động của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất tinh thần cho xã hội,

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w