1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi

130 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 7,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với trẻ em ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời 0 đến 6tuổi, các hiện tượng tâm lý luôn cần được quan tâm phát triển vì nó là cơ sởban đầu cho sự hình thành và phát triển các hiện tượng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn: PGS.TS Trương Thị Khánh Hà

Hà Nội-2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Lý luận 4

3.2 Thực tiễn 4

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Khách thể nghiên cứu 4

4.3. Phạm vi nghiên cứu 5

5 Giả thuyết nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 5

6.2 Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động 5

6.3 Phương pháp quan sát 5

6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 6

6.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 6

6.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 6

CHƯƠNG I 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

1.1.1 Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học 7

Trang 4

1.1.1.1 Tiếp cận hành vi 7

1.1.1.2 Tiếp cận hình thái (Gestalt) 7

1.1.1.3 Tiếp cận phát sinh nhận thức 8

1.1.1.4 Tiếp cận hoạt động 9

1.1.2.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài… 11 113.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam 20

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 23

1.2.1. Khái niệm tư duy 23

1.2.2 Tư duy của trẻ mẫu giáo 24

1.2.3 Đặc điểm tư duy của trẻ tuổi mẫu giáo 27

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ em mẫu giáo 38

1.2.4.1 Di truyền 38

1.2.4.2 Giáo dục 39

1.2.4.3 Tính tích cực hoạt động của trẻ 43

Chương 2 45

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Vài nét về quá trình tổ chức thực hiện và khách thể nghiên cứu: 45 2.1.1 Tiến trình thực hiện 45

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 46

Trang 5

2.2.2.Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động 46

2.2.2.1 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy của Jean Piaget………. 46

2.2.2.2 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hành động 48

2.2.2.3 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hình tượng 51

2.2.3 Phương pháp quan sát 57

2.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 57

2.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 58

2.2.6 Phương pháp thống kê toán học 58

2.3 Kết quả nghiên cứu thử 58

2.4 Các bước nghiên cứu thực tiễn 59

CHƯƠNG 3 60

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Khả năng bảo toàn và xếp hạng của trẻ mẫu giáo 60

3.2 Trình độ tư duy của trẻ mẫu giáo 64

3.2.1 Trình độ tư duy trực quan - hành động của trẻ mẫu giáo 64

3.2.2 Trình độ tư duy trực quan - hình tượng của trẻ mẫu giáo 69

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo 78 3.4 Mối quan hệ giữa cách dạy của cha mẹ với kết quả các bài tập tư duy của trẻ 87

3.6 Phân tích một số chân dung tâm lý 93

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

1.1 Về lí luận 98

1.2 Về thực tiễn 98

2 Kiến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC……….116

Trang 7

“Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Đối với đất nước Việt Nam ngày nay, trong thời kỳ hội nhập và toàn cầuhóa, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đó có vai trò vô cùng quan trọng Nhữngngười chủ tương lai của đất nước chính là trẻ em của chúng ta hôm nay

Trong quá trình phát triển của trẻ em, giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi đóng mộtvai trò quan trọng Đối với trẻ em ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (0 đến 6tuổi), các hiện tượng tâm lý luôn cần được quan tâm phát triển vì nó là cơ sởban đầu cho sự hình thành và phát triển các hiện tượng tâm lý ở những giaiđoạn lứa tuổi tiếp theo Điều gì là khởi đầu thì sẽ là nền tảng hết sức quantrọng cho tương lai Khoa học cũng đã khẳng định rằng: những cơ cấu và cơchế quan trọng nhất của tâm trí con người được hình thành trong 5, 6 năm đầucủa cuộc đời Với ý nghĩa quan trọng như vậy của giai đoạn lứa tuổi 0 đến 6tuổi, chúng ta cần quan tâm thích đáng hơn nữa tới trẻ em lứa tuổi này Tạođiều kiện cho trẻ mầm non phát triển chính là góp phần đặt nền móng vữngchắc cho công cuộc “trồng người” của toàn xã hội

Trong thực tế, ở độ tuổi này, các em vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào sựchăm sóc và giáo dục của bố mẹ, anh chị trong gia đình và các cô dạy trẻ Nếu

sự quan tâm, chăm sóc đó đúng đắn thì trẻ sẽ có sự phát triển trí tuệ tốt, làmtiền đề cho sự phát triển những hiện tượng tâm lý khác cũng như cho sự phát

Trang 8

triển trí tuệ ở những giai đoạn lứa tuổi tiếp theo Ngược lại, nếu sự chăm sóckhông đúng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Trong giai đoạn từ 0đến 6 tuổi thì vấn đề đặc điểm tư duy của trẻ từ 3 đến 6 tuổi và phương phápphát triển nó là rất cần thiết đối với các bậc phụ huynh và các cô dạy trẻ.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi" nhằm tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ

em và các yếu tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất những kiến nghị giúp cha mẹ và các

cô dạy trẻ có phương pháp phát triển tư duy của trẻ tốt hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và các yếu tốảnh hưởng nhằm đưa ra những kiến nghị giúp cha mẹ và các cô dạy trẻ cóphương pháp phát triển tư duy của trẻ tốt hơn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Lý luận

- Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Xây dựng các khái niệm cơ bản của đề tài: tư duy, đặc điểm tư duy, đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm một số loại hình tư duy của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi (tư duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình tượng)

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 9

90 trẻ em từ 3 đến 6 tuổi trong đó: 30 em 3 - 4 tuổi; 30 em 4 - 5 tuổi; 30 em

5 - 6 tuổi; 90 cha mẹ của những trẻ tham gia nghiên cứu; 6 cô giáo mầm noncủa các em

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Mức độ phát triển các loại tư duy (tư duy trực quan - hànhđộng, tư duy trực quan - hình tượng) của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi vàmột số yếu tố ảnh hưởng

- Địa điểm: trường mầm non công lập Hoa Sữa, quận Đống Đa và trường mẫu giáo tư thục Khánh Ly, quận Đống Đa, Hà Nội

- Thời gian: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nhìn chung, tư duy của trẻ em các trường mầm non phát triển phù hợp vớilứa tuổi Tuy nhiên, mức độ phát triển các loại tư duy ở một số trẻ còn thấp.Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do người lớn chưabiết cách và chưa quan tâm phát triển tư duy của trẻ một cách khoa học

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương phápnghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp này nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm

và sự phát triển tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi và cách phát triển tư duy chotrẻ Trên cơ sở đó xây dựng bộ công cụ nghiên cứu

6.2 Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động

Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy (Sử dụng các bài tập củaPiaget và các bài tập được biên soạn trên cơ sở các tài liệu tham khảo nhằm tìmhiểu đặc điểm tư duy của trẻ em)

6.3 Phương pháp quan sát

Trang 10

Phương pháp quan sát có ghi biên bản được sử dụng để khắc họa hành vi của trẻ khi làm các bài tập tư duy.

6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

Tìm hiểu thực trạng sự quan tâm và phương pháp phát triển tư duy trẻ em của các bậc phụ huynh

6.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trao đổi trực tiếp với trẻ em, phụ huynh, các cô dạy trẻ để tìm hiểu sâu thêm các vấn đề cần nghiên cứu

6.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Phương pháp này được sử dụng để xử lý các kết quả thu được từ trắc nghiệm và bảng hỏi

Trang 11

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học

1.1.1.1 Tiếp cận hành vi

Các nhà tâm lý học hành vi đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trongviệc tạo ra các phản ứng Hành vi trí tuệ ở cả người và động vật là các phảnứng có hiệu quả mà chủ thể học được nhằm đáp lại các kích thích từ môitrường bên ngoài Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trítuệ cho cả người và động vật được quy về việc nghiên cứu tạo ra môi trườngkích thích cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình

“điều kiện hóa hành vi” Vấn đề học tập và kỹ xảo đạt được là trung tâm củatâm lý học hành vi Theo các nhà tâm lý học hành vi, tư duy giống như kỹ xảo,

nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập

1.1.1.2 Tiếp cận hình thái (Gestalt)

Gestlat có nghĩa là cấu trúc, tổ chức, hình thể hay hình thái Trong tâm

lý học, hướng tiếp cận hình thái của trường phái Berlin xuất hiện vào thập niênđầu của thế kỷ XX mà đại biểu là các nhà tâm lý học Đức nổi tiếng W Kohlor(1887 - 1970), K Koffka (1886 – 1941), M Wertheimer (1880 – 1943) Lĩnhvực chủ yếu và thành công nhất theo hướng tiếp cận hình thái là các nghiêncứu về tri giác và tư duy

Trong nghiên cứu tư duy, vấn đề quan tâm của các nhà tâm lý họcGestalt là sự biến đổi, cải tổ nhận thức Nhờ đó các quá trình tư duy mang tínhsáng tạo khác hẳn với các khái quát hình thức, các thuật toán…như thuyết liêntưởng quan niệm Theo họ, tư duy là sự hiểu biết bất ngờ (bừng hiểu) các quan

hệ bản chất của tình huống có vấn đề Sự bừng hiểu này không được chuẩn bịsẵn trực tiếp bởi hoạt động phân tích trước đó Việc giải quyết

Trang 12

nhiệm vụ tư duy thể hiện ở chỗ, một bộ phận của tình huống có vấn đề được trigiác trong cấu trúc mới Tình huống có vấn đề được cấu trúc lại, nhờ đó cácthành phần tham gia bộc lộ thuộc tính mới, tính chất mới của mình Thực chấtcủa việc giải quyết nhiệm vụ là khám phá ra các tính chất mới đó.

Các nhà Gestalt cho rằng sự có mặt của kinh nghiệm chưa đủ để giảiquyết nhiệm vụ tư duy, thậm chí còn cản trở quá trình đi tìm lời giải cho cácnhiệm vụ mới, vì nó tạo “sức ỳ” về mặt chức năng của đối tượng được sửdụng Theo các nhà Gestalt, nghiên cứu tư duy không phải bằng quan sát màphải bằng thực nghiệm Khi tiến hành thực nghiệm, cần lưu ý chọn các nhiệm

vụ có các mức độ phức tạp khác nhau để làm rõ khả năng thực sự của nghiệmthể

Tuy chưa giải quyết triệt để các vấn đề tư duy nhưng các nhà tâm lý họctheo hướng tiếp cận hình thái đã có những đóng góp lớn cho nền tâm lý học:các quy luật của tri giác, sự phát sinh các mối quan hệ giữa tri giác với tư duytrong quá trình giải quyết các bài toán tư duy…Nhiều thành tựu của tâm lý họcGestalt đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chẳng hạn, phát hiện về sự phát sinh trigiác và tư duy trong trường tri giác khi giải quyết bài toán tư duy là cơ sở líluận của một trong những trắc nghiệm nổi tiếng hiện nay: trắc nghiệm khuônhình tiếp diễn do nhà tâm lý học J.C.Raven soạn thảo và chuẩn hóa

1.1.1.3 Tiếp cận phát sinh nhận thức

Trong suốt hơn nửa thế kỷ, J.Piaget (1896 – 1980) và các cộng sự đãkiên trì hướng tiếp cận có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của tâm lýhọc thế kỷ XX: tiếp cận phát sinh nhận thức, phát triển trí tuệ trẻ em Họcthuyết của J.Piaget về sự phát triển trí tuệ của trẻ có hai nội dung gắn bó vớinhau: học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh (Tâm lý học phát sinh)

và học thuyết về các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em (Tâm lý học lứa tuổi)

Trang 13

Lý luận phát triển của Piaget hàm chứa một lý luận học tập tiềm ẩn dùvẫn mang màu sắc sinh học Nói khác đi, tính phát sinh không tách rời khỏilịch sử là như vậy Do tính khoa học và giá trị thực tiễn to lớn của lý thuyếtphát sinh trí tuệ nên chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần sau.

1.1.1.4 Tiếp cận hoạt động

Tiếp cận hoạt động là cuộc cách mạng thực sự trong tâm lý học nóichung và trong nghiên cứu sự hình thành và phát triển tư duy cá nhân nóiriêng Đại biểu của hướng tiếp cận này là nhà tâm lý học kiệt xuấtL.X.Vưgôtxki và các nhà tâm lý học khác như: A.N.Leônchiev,X.L.Rubinstein Hướng tiếp cận hoạt động có cùng mục tiêu với các hướngtiếp cận hành vi, hình thái và phát sinh là xây dựng nền tâm lý học khách quan.Nhưng nếu cách tiếp cận hành vi chỉ nghiên cứu hành vi và loại bỏ ý thức củachủ thể thì cách tiếp cận hoạt động ngay từ đầu đã đưa ý thức trở thành đốitượng nghiên cứu của mình Tất nhiên, việc nghiên cứu này không thể diễn ratheo cách thức của tâm lý học nội quan mà phải theo phương pháp khách quan

Đó thực sự là vấn đề nan giải Hướng tiếp cận hoạt động đã khắc phục tìnhtrạng này bằng cách khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biệnchứng và lịch sử, lấy triết học làm nền tảng phương pháp luận cho việc nghiêncứu tâm lý con người Luận điểm cơ bản là: con người là ra chính bản thânmình bằng lao động và hoạt động xã hội Toàn bộ đời sống tâm lý, ý thức củacon người là sự phản ánh thực tiễn đời sống vật chất của nó Tâm lý,

ý thức được hình thành và biểu hiện qua hoạt động mà trước hết là lao độngsản xuất và hoạt động xã hội Vì vậy muốn nghiên cứu tâm lý, ý thức của conngười một cách khách quan phải bắt nguồn từ nghiên cứu toàn bộ đời sốngthực tiễn của nó Công việc chủ yếu của nhà tâm lý học là phân tích các dạnghoạt động trong đời sống thực tiễn, phát hiện các quy luật hình thành và

Trang 14

chuyển hóa từ dạng hoạt động vật chất bên ngoài thành dạng hoạt động tâm lýbên trong và ngược lại.

Như vậy, chìa khóa để nghiên cứu tư duy theo hướng tiếp cận hoạt động

là tìm hiểu sự hình thành hoạt động tư duy từ hành động thực tiễn, vật chất bênngoài, nghiên cứu tư duy trong toàn bộ đời sống hiện thực của nó Từ nghiêncứu chức năng, cấu trúc đến nguồn gốc, nội dung xã hội, lịch sử phát sinh, hìnhthành và phát triển Học thuyết lịch sử - văn hóa về sự phát triển tâm lý doL.X.Vugôtxki sáng lập đã chỉ ra rằng mặt văn hóa – xã hội của các quan hệ nàymới thực sự ảnh hưởng tới chiều hướng và phương thức phát sinh, phát triển trítuệ của trẻ em trong các nền văn hóa khác nhau Theo quan điểm của tiếp cậnhoạt động, bất kỳ chức năng tâm lý cấp cao nào của trẻ em trong quá trình pháttriển cũng đều được thể hiện hai lần: lần đầu là hoạt động tập thể, hoạt động xãhội, tức là chức năng tâm lý bên ngoài Lần thứ hai là hoạt động cá nhân,phương pháp bên trong của tư duy trẻ em là chức năng tâm lý bên trong

- Trí tuệ của trẻ em được hình thành bằng chính hoạt động của nó Mỗigiai đoạn phát triển của trẻ có nhiều hoạt động, trong đó hoạt động chủđạo có vai trò chủ yếu đối với sự phát triển trí tuệ và các hoạt động kháctrong giai đoạn đó Sự phát triển trí tuệ của trẻ em phụ thuộc trước hếtvào hoạt động nào giữ vai trò chủ đạo trong từng giai đoạn Vì vậy, sựhình thành và phát triển trí tuệ của trẻ em gắn liền với việc hình thànhhoạt động chủ đạo trong mỗi giai đoạn phát triển của nó

- Trẻ em không thể tự mình hoạt động một cách đơn độc Hoạt động củatrẻ em với thế giới đồ vật bao giờ cũng phải trực tiếp hoặc gián tiếpthông qua người lớn, lấy người lớn làm trung gian Có thể nói trí tuệ củatrẻ em là sản phẩm của hoạt động và sự hợp tác của nó với người lớn

Trang 15

- Chức năng của dạy học lă phât triển nín dạy học phải đi trước sự phâttriển Tức lă dạy học không hướng văo trình độ phât triển hiện thời măphải tâc động văo vùng phât triển gần nhất trong trí tuệ học sinh [10] Hướng tiếp cận hoạt động nhìn chung có hướng nhấn mạnh tới khía cạnhlĩnh hội với tư câch lă sự tâi tạo những kinh nghiệm của xê hội, chuyển biếnchúng thănh của riíng câ nhđn Vì vậy, cần xâc định đúng giới hạn của việc tâitạo, sự lặp lại để trâch coi nhẹ yếu tố sâng tạo trong hoạt động trí tuệ của trẻem.

1.1.2 Những nghiín cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoăi Trongtđm lý học, trẻ em luôn lă đối tượng trung tđm để nghiín cứu câc

vấn đề đặc trưng về tđm lý học Hoạt động tư duy lă một trong những vấn đề

đó Vậy tư duy của trẻ em nảy sinh, hình thănh vă phât triển ra sao? Câc côngtrình nghiín cứu về tư duy trẻ em của câc nhă khoa học trín thế giới đê cónhiều cđu trả lời khâc nhau

Jean Piaget (1896 – 1980), lă một nhă tđm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ.Những thănh tựu nghiín cứu về sự phât sinh, phât triển trí tuệ của trẻ em mẵng phât hiện ra lă một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phât triển tđm lýhọc thế kỷ XX Mối quan tđm lớn nhất của Piaget lă cấu trúc trí tuệ vă quâtrình phât sinh phât triển trí tuệ của trẻ em như thế năo? Theo ông, trí tuệ của

câ nhđn phât triển từ thấp đến cao được tuđn theo trật tự chặt chẽ Đđy khôngphải lă trật tự thời gian mă lă trật tự kế tiếp, mọi câ nhđn phât triển bình thườngđều phải tuđn theo trật tự đó Đồng thời quâ trình phât triển năy theo hai quyluật: tăng trưởng liín tục, từng tí một vă phât triển nhảy vọt Chính sự nhảy vọtcho ta khâi niệm giai đoạn Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng riíng vềchất lượng trí tuệ vă được coi lă một giai đoạn phât triển Ông chia quâ trìnhphât triển trí tuệ của trẻ em thănh câc giai đoạn lớn:

- Giai đoạn cảm giâc – vận động (0 đến 2 tuổi)

Trang 16

- Giai đoạn tiền thao tác (2 – 6, 7 tuổi)

- Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi)

- Giai đoạn thao tác hình thức (11, 12 tuổi trở lên) [44]

L X.Vưgôtxki – nhà tâm lý học Liên Xô đã có những quan điểm có giá trị

về sự phát triển tâm lý, tư duy của trẻ em Ông cho rằng, trẻ em sinh ra với chỉmột vài chức năng tâm lý sơ đẳng (chú ý, cảm giác, tri giác và trí nhớ) Nhữngchức năng này dần dần sẽ phát triển và trở thành các chức năng tâm lý cao cấpphức tạp Sự phát triển này diễn ra dưới ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa xãhội Mỗi nền văn hóa truyền cho trẻ em “nhớ thế nào”, các cách ghi nhớ, suynghĩ (“nghĩ thế nào”) Ngoài ra mỗi nền văn hóa còn có những giá trị và chuẩnmực khác nhau, nên nó còn dạy cho trẻ em “nghĩ về cái gì?

Và vì mỗi nền văn hóa xã hội có hệ thống giá trị, chuẩn mực, các công cụphương tiện tư duy khác nhau (đặc biệt ở những nền văn hóa khác xa nhau nhưcác bộ lạc vùng núi với các nước công nghiệp văn minh) nên nội dung vàphương thức phát triển trí tuệ, nhận thức cũng rất khác nhau, và không thểgiống nhau đối với toàn thể nhân loại

Vưgôtxki đồng ý với Piaget là trẻ em luôn ham hiểu biết, tích cực tìm tòi,khám phá thế giới xung quanh Nhưng khác với Piaget, Vưgôtxki cho rằng,nhiều phát hiện quan trọng của trẻ em diễn ra nhờ sự dẫn dắt của người (cókinh nghiệm hơn) lớn, chứ không phải do trẻ tự mày mò mà có được

Đầu tiên người lớn cùng hoạt động với trẻ, người lớn làm trước để trẻ nhìn,vừa làm vừa giải thích cách làm Đứa trẻ nhập tâm dần chỉ dẫn của người lớn,sau đó mới tự thực hiện công việc một mình Ví dụ: Bé Hoa 4 tuổi vừa nhậnđược quà sinh nhật là hộp ghép hình, bé mở ra nhưng không biết chơi cho đếnkhi bố bé đến ngồi cạnh và cho bé một vài chỉ dẫn Bố gợi ý nên ghép các góctrước tiên Người bố chỉ vào màu hồng của mảnh ở góc và đề nghị: “Chúng tacùng tìm mảnh có màu giống thế này nữa nhé” Khi Hoa lúng

Trang 17

túng, không biết tiếp tục thế nào, bố bé đặt 2 mảnh cạnh nhau để bé nhận rachúng, khi Hoa làm được, bố khen ngợi, động viên bé Khi Hoa từng bướcnắm được cách chơi, bố bé đứng lên và để bé tự chơi một mình [9].

GS.TS Phạm Minh Hạc đã nói J.Piaget và L.X.Vưgôtxki là hai trụ cộtchính, hai người có nhiều đóng góp trên lĩnh vực tâm lý học phát triển – mộttrong những thành tựu lớn nhất của tâm lý học thế kỷ 20 [12]

L.X.Vưgôtxki nhận xét: “Các công trình nghiên cứu của Piaget là cả mộtthời đại trong sự phát triển học thuyết ngôn ngữ và tư duy trẻ em, học thuyết

về logic và cách nhìn thế giới của trẻ em” Công lao của nhà tâm lý học, giáodục học J.Piaget còn được nhắc đến nhiều trong thế kỷ 21

Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến các tác giả nổi tiếng khác:

Henri Wallon (1879 – 1962), nhà tâm lý học Pháp đã phân tích sâu sắc mốiquan hệ giữa tư duy, hành động và điều kiện xung quanh, thể hiện rõ nhất là ởtrẻ nhỏ Ông nghiên cứu quá trình chuyển hóa hành động bên ngoài thành hànhđộng bên trong và bản chất xã hội vốn có từ đầu trong tư duy của trẻ em Từ

đó H.Wallon đánh giá cao vai trò của dạy học và sự luyện tập, phân tích sựthay đổi về nội dung và phương pháp tư duy của trẻ em dưới ảnh hưởng củadạy học và luyện tập

J.S.Bruner, nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu về tâm lý học trẻ em vàcác quá trình nhận thức đã phân tích các mức độ khác nhau của hoạt động nhậnthức, từ tri giác đến tư duy khái niệm Ở trẻ nhỏ, sản phẩm của quá trình tư duychính là các biểu tượng, hình ảnh nhưng ở các mức độ khác nhau Sự phát triểncủa các biểu tượng là một trong những chỉ số của sự phát triển trí tuệ nóichung và sự phát triển tư duy nói riêng

P.Osterrieth, nhà tâm lý học Đức cho rằng, từ 3 đến 6 tuổi trẻ có thể suynghĩ về những cái nó đang cảm thấy Bản chất tư duy ở độ tuổi này là “Tư duytrực giác”, chưa có các thao tác logic

Trang 18

Năm 1904, Alfred Binet cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Phápchuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu thành công phương pháp nhậndiện và đánh giá trí tuệ của học sinh Công trình được được giới chức giáo dụcPháp đánh giá rất cao Sau đó, bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụng trênkhắp nước Mỹ và bùng phát mạnh vào năm 1917 – chính phủ Mỹ sử dụng bàikiểm tra này để phân loại, đánh giá và phân bổ tân binh vào các vị trí trongquân đội, trong Thế chiến thứ I Các bài kiểm tra của Binet nhằm kiểm tra tríthông minh đối với học sinh, qua đó ông sẽ đánh giá được năng lực tư duy vàsuy luận của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Bài kiểm tra đòi hỏi trẻ phảilàm một số trắc nghiệm về khả năng làm theo hướng dẫn, bắt chước hình mẫu,gọi tên đồ vật hoặc sắp xếp món đồ theo thứ tự và chủng loại.

Là người đưa ra những khái niệm đầu tiên về “chỉ số thông minh - IQ”,Binet cũng nhìn nhận rằng bài kiểm tra IQ cũng bộc lộ một số hạn chế Ôngcho rằng rằng trí thông minh không hẳn chỉ do di truyền, bởi các gien cấuthành, mà còn do môi trường giáo – dưỡng tác động Binet mở ra một hướngnghiên cứu quan trọng, cuốn hút giới nghiên cứu trong suốt một thế kỷ qua vàđến nay nó còn hấp dẫn hơn nữa khi thế giới đã bước vào kỷ nguyên kinh tế trithức

Tony Buzan , tác giả của “Sơ đồ tư duy” (1904) và cũng là tác giả của cụm

từ mới “Mental Literacy – Đọc hiểu năng lực trí tuệ”, có nghĩa là trình độ amhiểu về hoạt động của bộ não Ông rất đam mê khám phá cấu trúc và cNhứcnăng hoạt động của bộ não và phát minh ra những phương pháp để “bật tínhiệu” cho bộ não Ông cho rằng đứa trẻ nào cũng có tiềm năng của Leonardo

da Vinci và Albert Einstein và dày công nghiên cứu cách “bật tín hiệu” chotiềm năng đó phát huy Các nghiên cứu của Buzan cho thấy trí thông minhđược phát huy hết công năng khi con cái chúng ta được nuôi dưỡng trong môi

Trang 19

trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp Với

bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng

ta học phương pháp học, học cách xử lý thông tin, và học tư duy có phươngpháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đó khai phá năng lực tiềm

ẩn vô cùng to lớn của bộ não tạo nên sự đột phá trong học tập và công tác.Như vậy, hành trình khám phá trí thông minh đã phát triển từ trí thông minhthiên bẩm - cái bên trong, đến khả năng học từ môi trường bên ngoài của nó

Và chiếc cầu nối chính là học và đào tạo đúng phương pháp

Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Havard công bố thuyết

“trí thông minh đa đạng” (1987) Theo đó, trí thông minh của con người cótám dạng như sau:

a Trí thông minh ngôn ngữ

b Trí thông minh logic – toán học

c Trí thông minh về không gian

d Trí thông minh về khả năng vận động thân thể

e Trí thông minh âm nhạc

f Trí thông minh tương tác, giao tiếp với người khác

g Trí thông minh nội tâm

h Trí thông minh trong lĩnh vực tự nhiên

Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đàotạo, huấn luyện tư duy phù hợp

Một nhà khoa học khác, giáo sư Edward de Bono là bác sĩ và là nhà tâm

lý, tập trung vào tìm kiếm các phương pháp phát triển tư duy Được mệnh danh

là cha đẻ của “Ngẫm về Tư duy” (Thinking on thinking), ông tạo ra công cụdẫn đường cho việc cải tiến doanh nghiệp, lãnh đạo chiến lược, sáng tạo cánhân và giải quyết vấn đề Thông thái trong cả hai lĩnh vực y học và tâm lýhọc, ông thiết kế những công cụ và phương pháp tư duy đơn giản, hiệu

Trang 20

quả và dễ áp dụng Nổi bật nhất là phương pháp Six Thinking Hats giúp việc tưduy trở nên toàn diện, tập trung và có hệ thống “Sáu chiếc mũ tư duy” này đặcbiệt hữu ích trong việc giải quyết vấn đề của cá nhân, tổ chức, tập thể, nhất làtrong hoạt động sáng tạo.

Vấn đề tư duy trẻ em đã lôi cuốn các nhà tâm lý học Liên Xô như:L.X.Vưgôtxki, A.N.Lêônchiep, X.L.Rubinstêin, P.Ia.Galperin… Các nhà tâm

lý học Liên Xô đã nghiên cứu tư duy như một hoạt động trí tuệ, là quá trìnhchuyển từ hoạt động bên ngoài vào hoạt động bên trong theo cơ chế “nhậptâm” hay “chuyển vào trong” Tư tưởng này được bắt đầu từ Vưgôtxki Ôngcoi hoạt động của con người mang tính gián tiếp, là hoạt động có phương tiện.Công cụ và ngôn ngữ là hai phương tiện cơ bản để thế hệ sau lĩnh hội kinhnghiệm của thế hệ trước để lại Quan điểm cơ bản của tâm lý học Xô Viết là:hoạt động tâm lý bên trong xuất phát từ hoạt động thực tiễn bên ngoài Vì vậy,khi nghiên cứu về tâm lý nói chung và trí tuệ nói riêng phải nghiên cứu hoạtđộng có đối tượng bên ngoài và tiếp đó bằng sự chuyển hóa mà có được hoạtđộng bên trong P.Ia.Galperin đã mô tả suốt chặng đường chuyển hóa ấy nhưsau:

- Giai đoạn 1: Thiết lập cơ sở định hướng của hành động

- Giai đoạn 2: Thực hiện hành động ở dạng vật chất (với đồ vật thật)

- Giai đoạn 3: Thực hiện hành động ngôn ngữ bên ngoài (hình thức nói to)

- Giai đoạn 4: Hình thành hành động với ngôn ngữ bên ngoài dành riêng cho mình nghe nói (nói thầm)

- Giai đoạn 5: Thực hiện hành động trong trí óc (hành động với lời nóibên trong) [38]

Đây là thành tựu tổng kết lại một quá trình phát triển lâu dài về lý luận của tâm lý học nói chung Thực tế cho thấy không phải lúc nào và không phải

Trang 21

hiện tượng tâm lý nào cũng được hình thành thông qua các giai đoạn như Galperin mô tả Nhưng đối với các hành động trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi nhỏ (2– 7 tuổi) nói chung và trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi) nói riêng thì lý thuyết này vẫngiữ nguyên giá trị của nó.Ý nghĩa của học thuyết Galperin là thao tác hóa cụthể quá trình hình thành hành động trí tuệ đến mức có thể thực nghiệm Từnhững năm 50, nhất là những năm 60 trở đi, những công trình nghiên cứu thựcnghiệm theo tư tưởng cơ bản “chuyển vào trong” đã làm rõ thêm những vấn đề

lý luận và hình thành dần phương pháp giáo dục mới, đặc biệt trong lĩnh vựcphát triển trí tuệ của trẻ em [8]

Cần nói thêm rằng, từ lâu các nhà tâm lý học cũng đã tìm đến mối liên hệgiữa hai hình thái hoạt động bên ngoài và bên trong Cho đến những năm 20của thế kỷ XX, Watson đã đưa ra giả thuyết về sự chuyển hóa của quá trìnhbên ngoài thành quá trình bên trong: nói to – nói thầm – nói không có tiếng.Cũng vào thời kỳ này J.Piaget tìm ra cơ chế chuyển từ giai đoạn “sờ mó, mầymò” thành “ý nghĩ”, nhờ đó cho phép thấy được vai trò của hành động trongquá trình hình thành tư duy mà ông cho rằng chủ yếu là quá trình chuyển vàotrong Sau đó ít lâu, J.Bruner cũng có tư tưởng tương tự Quá trình “nội tâmhóa” diễn ra theo 5 mức độ mà P.Ia Galperin đã đưa ra, nhưng ở trẻ đầu tuổimẫu giáo chỉ dừng ở quá trình định hướng và hành động vật chất [8]

A.V Daparôgiet khẳng định tư duy của trẻ em mẫu giáo mang tính chấthình tượng và cụ thể Ông đã nhận xét về các bước hình thành thao tác trí tuệcủa trẻ mẫu giáo: “Lứa tuổi mẫu giáo không thể, không cần thiết phải thúc đẩyquá trình nhận thức đạt đến giai đoạn cao nhất của quá trình “nhập tâm”, làmsao sự nhập tâm đến từ từ vào “lời nói thầm” – tức là giai đoạn thao tác với cáchình ảnh và lan dần đến các thao tác trí tuệ bên trong.” [8]

Dựa vào quan điểm cơ bản về hoạt động trong tâm lý học Xô Viết,L.A.Venger và các cộng sự của ông đã nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ

Trang 22

của trẻ lứa tuổi tiền học đường Trong luận án tiến sỹ khoa học về chẩn đoán

sự phát triển trí tuệ ở trẻ mẫu giáo, L.A.Venger đã xây dựng bộ trắc nghiệmnhằm đánh giá mức độ phát triển trí tuệ ở tất cả các dạng hoạt động nhận thứckhác nhau

Theo các nhà tâm lý học Xô viết, ở tuổi ấu nhi (khoảng 15 tháng đến 36tháng), hầu hết trẻ em đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ đặcbiệt là tư duy phát triển khá mạnh Lúc này trẻ đã bắt đầu giải các bài toán thực

tế nhưng quá trình giái đó không diễn ra trong óc mà diễn ra bằng tay theophương thức “thử và sai”, được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy trực quanhành động Nói cho đúng hơn đây chỉ là những hình động định hướng bênngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hành động định hướng bên trong,tức là giúp trẻ giải các bài toán trong óc – tư duy [38]

Đến tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi), tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản

Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong màthực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thànhnhững hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Theo các nhàtâm lý học Xô viết, các loại tư duy ở tuổi mẫu giáo đã được hình thành rõ rệt:

- Tư duy trực quan - hành động: đặc điểm của loại tư duy này là nhữngbiểu hiện của tư duy gắn chặt với hành động trong những tình huống cụthể Trẻ giải quyết nhiệm vụ cụ thể bằng những hành động thử nghiệm

và chỉ nhận ra kết quả sau khi hành động này đã được thực hiện Ở tuổimẫu giáo, loại tư duy này còn đóng một vai trò quan trọng trong suốtthời gian 3 – 4 tuổi Trẻ 4 – 5 tuổi bắt đầu suy nghĩ về nhiệm vụ vàphương pháp giải quyết nhiệm vụ trong chính quá trình hành động

- Tư duy trực quan - hình tượng: đây là loại tư duy phát triển mạnh mẽ ởlứa tuổi mẫu giáo Đặc điểm của loại tư duy này là việc thực hiện cáchành động không chỉ ở bên ngoài mang tính vật chất cụ thể mà được

Trang 23

xem xét ngầm trong óc dựa trên hình ảnh, biểu tượng mà trẻ đã lĩnh hộiđược từ trước Việc giải quyết vấn đề như vậy đòi hỏi phải chuyển dần

từ những phép thử bên ngoài sang những “phép thử” thầm bên trong.Điều này đòi hỏi trẻ phải có những kinh nghiệm, tri thức mới Sự thuthập thêm nhiều kinh nghiệm của trẻ, việc nhận thức thêm những thuộctính của sự vật tạo nên sự phong phú của các biểu tượng khái quát.Những cái đó tạo ra hình thức tư duy mới, tư duy trực quan – hìnhtượng

- Tư duy ngôn ngữ - logic: các nhà Tâm lý học Xô Viết, bắt đầu từ P.P.Blônxki đã chứng minh rằng, tính chất hình tượng cụ thể trong tư duycủa trẻ mẫu giáo tuyệt nhiên không loại trừ một số hình thức phán đoán

và kết luận vốn có ở trẻ 3 – 4 tuổi Trẻ 5 tuổi đã có khả năng tách dấuhiệu có ý nghĩa nhất đối với nó trong chức năng đối tượng Chỉ đến tuổimẫu giáo lớn, trẻ mới học được cách tách biệt dấu hiệu bản chất của đốitượng Ở trẻ mẫu giáo cũng đã có các hình thức tư duy như phán đoán,suy lý…Các em đoán trước được những sự việc sẽ xảy ra Trẻ 3-5 tuổi

đã có khả năng suy lí quy nạp và diễn dịch Tuy nhiên, trẻ còn thiếunhững tri thức cần thiết để thiết lập mối quan hệ bản chất có thực giữacác điều kiện hay các mặt của một hiện tượng Đồng thời, trẻ chưa cókhả năng tư duy liên tục, có hệ thống và logic

Chúng tôi đưa ra các nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tư duy của trẻ mẫugiáo ở nước ngoài nhằm lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu củamình, đặc biệt là lý thuyết hoạt động và những công trình nghiên cứu về trí tuệtrẻ em của J.Piaget

Trang 24

1.1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam

Vấn đề năng lực tư duy được nghiên cứu không chỉ ở trẻ mẫu giáo, màcòn được tiến hành trên trẻ em các lứa tuổi lớn hơn, đặc biệt là ở trẻ em lứatuổi tiểu học bởi nhiều tác giả khác như:

Nguyễn Kim Quý “Đánh giá năng lực khái quát hóa và năng lực tri giác khônggian của học sinh lớp 4 chuyên toán” trong nghiên cứu giáo dục số 1, tháng 10– 1991

Nguyễn Hồng Nga với “Năng lực khái quát hóa trong môn toán của học sinhtiểu học” trong tạp chí nghiên cứu giáo dục số 1 – 1996

Nguyễn Lan Anh với “ Khả năng phân tích tổng hợp của học sinh lớp 1” –Luận văn tốt nghiệp, 1991

Nguyễn Thị Loan “Sự tương tác giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng trong

sử dụng sơ đồ giải các bài tập cơ học của học sinh lớp 1”,1998

Nguyễn Thị Thúy Vân “Xây dựng trắc nghiệm để chẩn đoán năng lực tư duytoán học của học sinh lớp 5”, 2001

Nguyễn Thị Thủy “Phát triển tư duy cho học sinh tỉnh miền núi qua hệ thốngcâu hỏi bài tập hóa học”, 2000

Trần Lệ Thanh “Nghiên cứu năng lực tư duy của sinh viên trường đại học AnNinh Nhân Dân”, 2001

Dương Thị Linh “Tìm hiểu một số đặc điểm trừu tượng hóa, khái quát hóa ởhọc sinh lớp 4 và 5 bậc tiểu học”, 2002

Viêngsay Sulachit “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Lào”, 2002 Huỳnh Văn Sơn “Nghiên cứu mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”, 2004

Trần Trung Kiên “Tìm hiểu khả năng vận dụng các thao tác tư duy trong quá trình giải các bài tập hóa học của học sinh lớp 1”, 2005

Trang 25

Lê Thị Lan Hương “Trình độ trí tuệ của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội”,2006.

Đỗ Thị Minh Liên trình bày bài “Phát triển khả năng tư duy cho trẻ mẫu giáo”trên tạp chí giáo dục số 213, 2009 [19]

Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi dành sự quan tâm nhiều hơnđến các công trình nghiên cứu tư duy trẻ em mẫu giáo

Có thể nói, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về tưduy trẻ em mẫu giáo Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ emcủa Hồ Ngọc Đại, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Khắc Viện…

đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng Thành tựu nghiên cứu về sự pháttriển trí tuệ trẻ em đầu tuổi học của Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra chiến lược về giáodục trí tuệ Cùng với đồng nghiệp của mình là Nguyễn Kế Hào và các cộng sự

ở Trung tâm Công nghệ giáo dục, ông đã thực hiện một số công trình thựcnghiệm dài hạn về chiến lược giáo dục mới với tư tưởng cơ bản là: người lớn

tổ chức trẻ em hoạt động để chiếm lĩnh nền văn hóa loài người [5]

Công trình nghiên cứu về trí thông minh của Phạm Hoàng Gia cho rằngtrí thông minh ở trẻ em, một sản phẩm tư duy được đặc trưng bởi tính chủđộng, linh hoạt, sáng tạo trong nhận thức và hành vi Vậy cốt lõi của trí thôngminh chính là tư duy Quá trình phát triển tư duy cũng chính là con đường lĩnhhội khái niệm, là tiền tố tạo nên trí thông minh Việc hình thành trí thông minh

ở trẻ em là con đường vững chắc nhất để chiếm lĩnh khái niệm khoa học Ở trẻmẫu giáo, trí thông minh thể hiện trong thao tác với đồ vật Đó là kỹ năng, kỹxảo thuần thục, óc quan sát, trí nhớ logic, sự thể hiện ngôn ngữ Ở trẻ em, tríthông minh và năng khiếu phải được bộc lộ và phát triển trong hoạt động củachính bản thân đứa trẻ [8]

Cũng xuất phát từ quan điểm cơ bản của lý thuyết hoạt động, trong lĩnhvực tư duy của trẻ mẫu giáo, Nguyễn Ánh Tuyết đã có công trình nghiên cứu

Trang 26

về tính linh hoạt trong tư duy bằng thực nghiệm cho trẻ hành động trên các đồvật có nhiều hình dạng khác nhau gồm nhiều biến thể của các hình học Kếtquả, trẻ giải quyết nhiệm vụ thực tiễn một cách linh hoạt với nhiều phương ánkhác nhau, chứ không rập khuôn theo một mẫu cứng nhắc nào Từ đó tác giảcho rằng, nếu trẻ em mẫu giáo hành động với các đồ vật phong phú đa dạng sẽtránh được sự cứng nhắc, gò bó trong hành động vật chất, dẫn tới kiểu tư duygiáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này [8].

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã tìm hiểu sự phát triển trí tuệ của trẻmẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trong mối tương quan với một số điều kiện giáo dụcgia đình thông qua nghiên cứu tranh vẽ của các em Kết quả cho thấy đa sốnhững cháu đạt điểm cao là những cháu bố mẹ có trình độ văn hóa từ phổthông trung học trở lên, có điều kiện chăm sóc, giáo dục tương đối đầy đủ Bố

mẹ các cháu luôn tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh[36]

Các công trình nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Khắc Viện về tâm lý họctrẻ em có một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc Qua nhiều năm làm việc, tiếp xúc vớitrẻ em, ông cho rằng trí khôn của trẻ biểu hiện ở chỗ biết định hướng trongkhông gian, thời gian và các mối quan hệ xã hội Các bài viết của ông thể hiệnmột tình yêu tha thiết đối với con trẻ, một mong muốn mãnh liệt là làm sao nềngiáo dục nước nhà không làm thui chột mà ngược lại phát triển hết mọi khảnăng có thể có của trẻ em Đối với trẻ mẫu giáo, ông viết: “Khoa học ngày naycho ta đủ chứng cớ để khẳng định rằng những cơ cấu và cơ chế quan trọngnhất của tâm trí con người đã hình thành trong năm, sáu năm đầu”, mặc dầuvậy, “không thể nhồi nhét vào đầu óc các em những tri thức trừu tượng màphải xuất phát từ những hoạt động tri giác và vận động phong phú với những

đề tài gần gũi với cuộc sống” [18]

Trang 27

Nghiên cứu đặc điểm trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, tác giả NguyễnThạc đã vạch ra sự phát triển các thành phần tâm lý trí tuệ như: quan sát, tưduy, ngôn ngữ…của trẻ mẫu giáo không như nhau [8].

Trong luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu trình độ phát triển tư duy trực quanhình tượng của trẻ em cuối tuổi mẫu giáo, trước khi bước vào lớp 1”; tác giảTrương Khánh Hà (2002) đã chỉ ra rằng những trẻ có trình độ tư duy trực quan– hình tượng ở mức cao là những trẻ có vốn biểu tượng phong phú, khả năngtri giác chi tiết sự vật đạt trình độ cao, các thao tác tư duy hình ảnh đã hìnhthành khá tốt Ngoài ra nguyên nhân từ phía gia đình, trường mẫu giáo cũngảnh huởng đến sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng của trẻ như: cha mẹthiếu hiểu biết về việc chăm sóc, giáo dục con cái; thầy cô chưa tổ chức tốt cáchoạt động giúp trẻ phát huy khả năng tri giác và đẩy mạnh quá trình nhập tâmcác thao tác tư duy [8]

Tác giả Trần Thị Dung (2009) trong nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệcủa trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Họa My và Trung Tự đã chỉ ra

sự phát triển trí tuệ không đồng đều giữa nam và nữ Mức độ phát triển trí tuệ

ở nam cao hơn nữ Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố ảnh hưởng lớn đến

sự phát triển trí tuệ của trẻ là môi trường giáo dục và tổ chức hoạt động giáodục [3]

Tóm lại, vấn đề tư duy của trẻ em đã được đề cập đến trong nhiều côngtrình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, chưa cónghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo và các yếu ảnh hưởng

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm tư duy

Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: triết học,logic học, tâm lý học… Mỗi khoa học nghiên cứu tư duy ở những góc độ khácnhau Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của toàn bộ nhận

Trang 28

thức của loài người trong đó tư duy là đỉnh cao của nhận thức Logic họcnghiên cứu những quy luật logic trong việc định nghĩa, phân loại khái niệm,các quy luật phán đoán và suy lý với tư cách là những hình thức logic của tưduy Tâm lý học đi sâu nghiên cứu quá trình tư duy của con người diễn ra nhưthế nào, các quy luật hình thành và phát triển tư duy con người từ tuổi ấu thơđến người lớn, nghĩa là tâm lý học nghiên cứu quy luật và cơ chế hình thành,phát triển và thể hiện tư duy ở con người.

Vậy tư duy là gi? Trong tâm lý học, tư duy là một quá trình tâm lý thuộcnhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và trigiác Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ

có tính quy luật của sự vật, hiện tượng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn định nghĩa tư duy của Nguyễn

Quang Uẩn:“Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.” [39].

1.2.2 Tư duy của trẻ mẫu giáo

Tư duy là một quá trình phát hiện những thuộc tính bên trong và nhữngquy luật khách quan của sự vật Tư duy cho phép con người nhận biết rõ thếgiới bên ngoài và bên trong: một bên là thế giới bên ngoài với những vật cụ thểmắt thấy, tai nghe, tay sờ mó được; một bên là thế giới bên trong với nhữnghình ảnh, những biểu tượng của sự vật, những ý muốn chủ quan của con người[38]

Ở tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ đang có sự chuyển dịch từ bình diện bênngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hànhđộng định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo

cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh,biểu tượng của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu Lúc này việc giải

Trang 29

các bài toán không cần thực hiện bằng những phép thử bằng hành động bênngoài nữa mà thực hiện dựa trên phép thử với những hình ảnh, những biểutượng đã có về các sự vật, hiện tượng, hành động mà trước đây trẻ em đã códịp tiếp xúc trực tiếp hay nhìn thấy từ người khác Chẳng hạn sau nhiều lầndùng que để khều các đồ vật nào đó từ xa đến gần, do hành động ngẫu nhiêncủa trẻ hay hành động mẫu mà người lớn bầy cho trước đây thì bây giờ trướctình huống mới: quả bóng bị lăn vào gầm giường, trẻ đã biết dự đoán là có thểdùng que để khều quả bóng ra Sự dự đoán này là phép thử được tiến hànhtrong óc, định hướng cho hành động giải quyết vấn đề của trẻ diễn ra hiệu quả.Trong quá trình thử đó đứa trẻ không hành động với đồ vật thật mà với hìnhảnh của các biểu tượng về đồ vật và phương thức sử dụng Loại tư duy này gọi

là tư duy trực quan – hình tượng, là loại tư duy mà trong đó, việc giải các bàitoán được thực hiện nhờ các thao tác trong óc với các hình ảnh, biểu tượng trên

cơ sở tri giác trực tiếp hoàn cảnh có vấn đề và các điều kiện tư duy Tư duytrực quan – hình tượng của trẻ em chỉ có thể phát triển tốt trên cơ sở các hìnhảnh, biểu tượng về hiện thực khách quan phong phú Các hình ảnh, biểu tượngcủa trẻ về thế giới khách quan và quy luật về sự vận động của thế giới đó chỉ

có thể có được nếu trẻ được tri giác, vận động, trải nghiệm cách giải quyết vấn

đề nhiều lần bằng hành động bên ngoài Những hình ảnh, biểu tượng, hànhđộng này được giữ lại nhờ ngôn ngữ bắt đầu phát triển mạnh Nói cách khác, tưduy trực quan – hình tượng của trẻ em mẫu giáo (3 – 6 tuổi) chỉ có thể pháttriển tốt trên cơ sở trình độ tư duy trực quan – hành động cùng với sự phát triểnngôn ngữ của các em đạt mức phát triển cao ở lứa tuổi trước đó (1 – 3 tuổi)[35]

Việc chuyển từ tư duy trực quan – hành động sang tư duy trực quan – hìnhtượng được hình thành là nhờ vào:

Trang 30

- Thứ nhất, trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, tích cực thú và hứng với việcgiải quyết các tình huống có vấn đề bằng hành động với đồ vật Hoạt động đóđược lặp đi lặp lại nhiều lần, lâu dần được nhập tâm thành những hình ảnh,những biểu tượng trong óc Đó là cơ sở để hoạt động tư duy được diễn ra ởbình diện bên trong.

- Thứ hai, nhờ hoạt động và giao tiếp cùng nhau bằng ngôn ngữ giữa ngườilớn và trẻ trong quá trình hành động với đồ vật (người lớn dùng ngôn ngữ vàhành động để kích thích tính tích cực hoạt động và khám phá ở trẻ, khen ngợi,động viên mỗi khi trẻ thành công trong việc giải quyết một vấn đề nào đó, nóilại với trẻ hoặc kể với những người khác về hành động khéo léo của trẻ…),ngôn ngữ của trẻ phát triển đến trình độ mới Trẻ có khả năng dùng ngôn ngữ

mô tả sự vật hiện tượng và hành động Đầu tiên là nói cho mình, sau đó là nóicho người khác hiểu và cuối cùng là dùng ngôn ngữ như công cụ đắc lực của

tư duy

- Thứ ba, nhờ sự phát triển loại hình hoạt động chủ đạo mới, hoạt động tròchơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề, ở trẻ phát triển ngôn ngữ,tình cảm, ý chí, tư duy, tưởng tượng, kỹ năng giao tiếp, hoạt động cùng nhau,khả năng phán đoán, đánh giá, khả năng ý thức và tự ý thức Về phương diện

tư duy, ở trẻ hình thành chức năng ký hiệu Chức năng này được thể hiện ở khảnăng dùng một vật thay thế cho một vật khác và hành động với vật thay thếdiễn ra như là hành động với đồ vật thật, ví dụ, dùng lá cây làm thức ăn, búp bêlàm bệnh nhân, góc phòng làm lớp học, …Hoặc phân vai một bạn làm bố, mộtbạn làm mẹ, một bạn làm con trong trò chơi gia đình; một bạn làm cô giáo, mộtvài bạn làm học sinh trong trò chơi lớp học; một bạn làm người bán hàng, mộtvài bạn làm người đi mua hàng trong trò chơi bán hàng; rồi công an, lái xe, bác

sĩ, …và ứng xử với bạn như với người có vai trò xã hội tương ứng [24, 35, 38]

Trang 31

Chính trò chơi đóng vai theo chủ đề làm xuất hiện ở trẻ nhiều hệ thống kýhiệu: hệ thống ký hiệu về hành động, về đồ vật, về con người, nghề nghiệp,

và phát triển một hệ thống ký hiệu quan trọng ở trẻ là hệ thống ngôn ngữ Việchình thành và phát triển các hệ thống ký hiệu này ở mỗi đứa trẻ là kết quả củaquá trình lĩnh hội tích cực các kinh nghiệm lịch sử xã hội trong một nền vănhóa nhất định Quá trình này chỉ có thể diễn ra hiệu quả và tốt đẹp dưới sự chỉdẫn của người lớn Người lớn yêu thương chăm sóc trẻ, tổ chức, tạo điều kiện

và môi trường hoạt động cho trẻ, sát cánh hành động và chơi cùng với trẻ,hướng dẫn và khích lệ trẻ, dùng ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu giao tiếp với trẻ,giải thích tận tình cho trẻ

Từ những lập luận trên, chúng tôi hiểu rằng : tư duy của trẻ mẫu giáo là quá trình khám phá những thuộc tính mới, những mối quan hệ mới giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà trước đó trẻ chưa biết.

1.2.3 Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo

Ở tuổi ấu nhi hay còn gọi là tuổi vườn trẻ (1 đến 3 tuổi), hầu hết trẻ em đềurất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt là tư duy phát triểnkhá mạnh Lúc đó trẻ bắt đầu giải các bài toán thực tế nhưng quá trình giải đókhông diễn ra trong óc mà diễn ra bằng tay theo phương thức “thử và sai”,được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy trực quan - hành động Tư duy trựcquan – hành động là loại tư duy gắn liền với những hành động cụ thể, nhữngtình huống cụ thể Tư duy này có được do trẻ hành động trực tiếp với đối tượngdưới sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn Chẳng hạn, để lấy quả cam đựngtrong rổ, đứa trẻ sẽ kéo cái rổ đến gần và lấy quả cam Để lấy cái dép nằm sâudưới gầm bàn, trẻ phải dùng que khều cái dép đến gần để lấy…Những hànhđộng định hướng bên ngoài chính là tiền đề cho sự hình thành những hànhđộng định hướng bên trong, giúp trẻ tìm ra cách giải quyết các vấn đề trong ócsau này

Trang 32

Theo Nguyễn Ánh Tuyết, đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bướcngoặt rất cơ bản Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diệnbên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bênngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm.Mặc dù tư duy của trẻ mẫu giáo bước sang một giai đoạn phát triển mới, nhưng

đó mới chỉ là một bước nhảy từ bờ bên này (là tư duy ở bình diện bên ngoài, tưduy trực quan - hành động) sang bờ bên kia (là tư duy trực quan – hình tượng).Đây mới chỉ là điểm khởi đầu của loại hình tư duy mới Loại hình tư duy nàycòn được hoàn thiện và phát triển suốt giai đoạn tuổi mẫu giáo và là tiền đềquan trọng cho tư duy ngôn ngữ phát triển

- Ở đầu tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ đã đạt tới ranh giới của tư duy trựcquan hình tượng nhưng các hình ảnh và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắnliền với hành động vật chất bên ngoài Chỉ trong những trường hợp thật đơngiản thì trẻ mới có thể giải quyết vấn đề bằng tư duy trực quan – hình tượng.Chẳng hạn khi hỏi em bé 3 tuổi: Cái thước gỗ này thả xuống nước thì nổi haychìm? Bé nói ngay là “nổi”; Vì sao? Bé trả lời: “Vì que củi thả xuống nướccũng nổi” Trong trường hợp này việc giải quyết bài toán đã dựa vào biểutượng cũ, tức là trẻ đã biết dùng tư duy trực quan – hình tượng

Ở trẻ em mẫu giáo bé, thế giới nội tâm của các em chưa đựợc phân hóathành những chức năng rõ ràng như người lớn Tư duy của các em còn gắn liềnvới hành động, với cảm xúc và ý muốn chủ quan Trẻ khó nhận biết được đâu

là thế giới bên trong, đâu là thế giới bên ngoài, đâu là những biểu tượng trongđầu óc mình và đâu là sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Ranh giớigiữa cái thực và cái hư, giữa ý nghĩ của mình và ý nghĩ của người khác chưaphân biệt rõ

Tư duy của trẻ bị tình cảm chi phối rất mạnh, thể hiện ở chỗ, trẻ chỉ suynghĩ về những điều mà chúng thích và dòng suy nghĩ thường bị cuốn hút vào

Trang 33

ý thích riêng của mình Ví dụ: một em bé đang chơi xây dựng bằng mấy miếng

gỗ, có người hỏi: “Cháu cần hình vuông hay hình tam giác?”, em bé trả lờingay: “Cháu đang xây cầu Thăng Long” Thì ra ý muốn xây cầu Thăng Longđang chiếm hết tâm trí của em bé Chúng ta thường nghe trẻ hỏi những câu hỏi:

“Tại sao” như “Tại sao trời mưa”, “Tại sao vịt đi được trên mặt nước”… Tưduy của trẻ chưa cho phép tìm ra những câu trả lời khoa học Trẻ em lứa tuổinày nghĩ rằng các hiện tượng xung quanh xảy ra là do ý muốn của ai đó, rằngmọi vật đều có hồn, có tính tình, có ý thích Chẳng hạn vì ông trời khóc nên cómưa Đây là một lối suy nghĩ rất chủ quan, cho rằng mọi việc đều xuất phát từ

ý muốn chủ quan của một người nào đó Do xúc cảm chi phối mạnh mẽ quátrình tư duy cho nên muốn trẻ tin vào điều gì đó và làm theo thì cần gây cho trẻmột cảm xúc mạnh chứ nói lý là không ăn thua Muốn cho chúng thay đổi ýkiến về một vấn đề nào đó thì không thể thuyết phục bằng lý lẽ mà tốt nhất lànên khêu gợi tình cảm thì mới có kết quả

Trẻ em ở tuổi mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi) do chưa biết phân tích tổng hợp,chưa biết một sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể,chưa xác định được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này với bộ phận kia trong một

sự vật Do đó cách nhìn nhận sự vật của bé là theo lối trực quan toàn bộ, cónghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hìnhảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận Chẳng hạn, giữa nhiều chiếc

xe đạp, em bé lên 3 nhận ra ngay xe nào là của bố Vì sao? Em không giải thíchđược, chưa dựa trên cơ sở phân tích nào là cái yên có đặc điểm như thế này, cáikhung có đặc điểm như thế kia để tổng hợp lại thành chiếc xe của bố Tư duykiểu này cũng là chịu ảnh hưởng của tính duy kỷ Lối tư duy duy kỷ của trẻ emdiễn ra khác với tư duy của người lớn Trẻ em không tư duy theo lối phân tíchtổng hợp, thường là chộp lấy một cách rất nhanh (theo lối chụp ảnh) một sự vậthay một tình thế trong một trực giác bao quát toàn bộ

Trang 34

mà không có sự tách bạch rõ ràng những chi tiết, những thuộc tính hay các mốiquan hệ trong sự vật, hiện tượng đó.

Do trực giác toàn bộ nên trẻ không phân biệt được một số hình dạngtương tự, chẳng hạn trẻ khó phân biệt được sự khác nhau giữa chữ O và chữ Choặc giữa các chữ L, H, B, D…Tuy nhiên trẻ lại rất hay để ý đến những chi tiếtvụn vặt, bởi vì những chi tiết ấy đối với trẻ lại là những tổng thể, những đơn

vị Trẻ không bao quát được khi nhìn một sự vật bao gồm nhiều chi tiết phứctạp mà chỉ để tâm lần lượt đến từng chi tiết một và không liên kết các chi tiết

ấy lại với nhau thành một tổng thể Chẳng hạn, đưa cho trẻ em một bức tranhnông thôn thì nó chỉ lần lượt nhận ra đây là cái cây, đây là cái nhà, đây là congà…Đặc biệt, trẻ không nhận ra những mối liên quan giữa các chi tiết bộ phậntrong một sự vật Mỗi chi tiết, mỗi bộ phận để lại trong óc trẻ như một biểutượng tách biệt [35]

Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầunhưng do biểu tưởng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diệnbên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toánhết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan – hình tượng Cùng với sự hoànthiện hoạt động vui chơi, vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ phong phú thêmnhiều, chức năng ký hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhậnthức tăng lên rõ rệt Đó chính là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duytrực quan – hình tượng và đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triểnmạnh mẽ nhất

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ em phải giải những bài toán ngày càng phứctạp và đa dạng, đòi hỏi phải tách biệt và sử dụng những mối liên hệ giữa các sựvật, hiện tượng và hành động Trong hoạt động hàng ngày trẻ em không nhữngchỉ đơn giản sử dụng những kinh nghiệm đã có mà còn không ngừng biến đổinhững kinh nghiệm ấy để thu nhận những kết quả mới hơn Các bé

Trang 35

có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật và hiện tượng nhưquan hệ giữa độ ẩm và độ mềm của đất khi nặn, giữa độ lăn xa với sức búngcủa ngón tay vào hòn bi…Tư duy đang trên đà phát triển mạnh khiến đứa trẻ

dự kiến được hành động và lập kế hoạch cho hành động của mình

Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức,tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình nhìn thấy được Trẻ thường

“thực nghiệm”, chăm chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về những hiệntượng đó để rút ra kết luận Tất nhiên những kết luận đó còn ngây ngô, ngộnghĩnh và nhiều khi còn gây ngạc nhiên đối với người lớn Chẳng hạn có mộtnhóm trẻ mẫu giáo 4, 5 tuổi bắt được một con mèo, chúng chơi với mèo rấtthích thú rồi sau đó quyết định thả con mèo xuống ao và thế là con mèo ấy đãchết một cách oan uổng Hỏi ra thì các em trong nhóm đã trả lời “Vì chúngcháu muốn xem nó bơi” Thì ra các em đã suy luận từ việc bơi của một số convật trên nước như vịt, chó…để cho là mèo cũng biết bơi như vậy Dù sao thìđây cũng bộc lộ một khả năng suy luận của trẻ

Phần lớn trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận Vấn đề là cần xemxét để biết chúng suy luận theo kiểu tư duy nào?

Nếu ở tuổi mẫu giáo bé (3,4 tuổi), để giải các bài toán, trẻ thường dùngnhững hành động định hướng bên ngoài tức là bằng tư duy trực quan hànhđộng và chỉ với những bài toán thật đơn giản chúng mới bắt đầu giải thầmtrong óc dựa vào các biểu tượng thu nhận được, thì phần lớn số em ở tuổi mẫugiáo nhỡ đã có khả năng giải các bài toán bằng các “phép thử ngầm” trong ócdựa vào các biểu tượng, tức là kiểu tư duy trực quan – hình tượng đã bắt đầuchiếm ưu thế

Khi hành động với các biểu tượng trong óc, trẻ hình dung được các hànhđộng thực tiễn với các đối tượng và kết quả của những hành động ấy Bằng conđường đó trẻ có thể giải được nhiều bài toán thực tiễn đặt ra cho

Trang 36

mình Tư duy trực quan hình tượng tỏ ra có hiệu quả khi giải những bài toántrong đó những thuộc tính bản chất là những thuộc tính có thể hình dung được.Chẳng hạn đứa trẻ có thể hình dung được rằng quả bóng lăn trên đường nhựanhanh hơn lăn trên mặt đá gồ ghề hay hòn bi mà búng mạnh thì lăn xa hơn…

Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ ở tuổi mẫugiáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời sống.Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựa vào nhữngbiểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đềmới Vì vậy, trong khá nhiều trường hợp chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượngbên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong Do đó nhiều khi trẻ giảithích các hiện tượng một cách ngộ nghĩnh như: “Ai cho muối vào nước biển

mà mặn thế?” Trẻ cũng rất dễ lẫn lộn thuộc tính bản chất và không bản chấtcủa sự vật và hiện tượng xung quanh Chẳng hạn, một trẻ Việt Nam 4 tuổitrông thấy một em bé người Nga đang đi xe đạp 3 bánh liền kêu: “Ơ kìa, mộtông già bé” Chả là vì cháu thấy em bé đó có tóc vàng nhạt hơi giống tóc ôngngoại ở nhà Hay trẻ cứ thấy ai mặc áo trắng cũng đều gọi là “bác sỹ” Nếu cứtheo đà này thì tư duy của trẻ có nguy cơ biến thành kiểu tư duy theo lối kinhnghiệm chủ nghĩa Do đó để giúp trẻ phát triển tư duy – hình tượng cần cungcấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết để có những suy luận đúng đắn.Tư duytrực quan – hình tượng phát triển mạnh sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết để làmnảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng [35, 38]

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh mẽ

đã giúp trẻ giải quyết một số bài toán thực tiễn Nhưng trong thực tế, nhữngthuộc tính bản chất của sự vật – hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che giấu,không thể hình dung được bằng hình ảnh cho nên không đáp ứng được nhu

Trang 37

cầu nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo lớn, cho nên bên cạnh việcphát triển tư duy trực quan – hình tượng vẫn mạnh mẽ như trước đây còn cầnphải phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan - hình tượng mới để đáp ứngvới khả năng và nhu cầu của trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo Đó là kiểu tư duy trựcquan – sơ đồ Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ khả năng phản ánh những mối liên

hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quancủa bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiệncần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểutừng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới trithức khái quát Tuy tư duy trực quan – sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng songbản thân hình tượng đã trở nên khác trước: những hình tượng đã bị mất đinhững chi tiết rườm rà mà chỉ giữ lại những mối liên hệ khách quan, giúp trẻphản ánh một cách khái quát về các sự vật chứ không phải từng sự vật riêng lẻ.Trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn có khả năng hiểu về cách biểudiễn những sơ đồ đơn giản và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu

sự vật Chẳng hạn trẻ có thể nhìn vào sơ đồ tìm ra một vị trí nào đó

Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hộinhững tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bản chất của sựvật Nhưng kiểu tu duy này vẫn nằm trong phạm vi của kiểu tư duy trực quan– hình tượng nói chung và do đó nó bị hạn chế khi trẻ cần giải các bài toán đòihỏi phải tách biệt những thuộc tính quan hệ mà không thể hình dung một cáchtrực quan dưới dạng hình tượng được nữa Nhưng dẫu sao kiểu tư duy trựcquan – sơ đồ cũng biểu hiện một bước phát triển đáng kể trong tư duy của trẻmẫu giáo Đó là kiểu tư duy trung gian, quá độ để chuyển từ kiểu tư duy hìnhtượng lên một kiểu tư duy mới, khác về chất là tư duy trừu tượng [38]

Trang 38

Tư duy trừu tượng hình thành và phát triển mạnh ở tuổi học sinh nhưngnhững yếu tố của nó đã có thể xuất hiện ngay ở tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻmẫu giáo lớn Lúc này, trẻ biết sử dụng thành thạo các vật thay thế Trong thờigian này, trẻ bắt đầu hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượngnào đó bằng từ ngữ hay các ký hiệu khác Nói cách khác, chức năng ký hiệucủa ý thức bắt đầu phát triển.

Cả tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đềuliên hệ mật thiết với ngôn ngữ Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻnhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm cách giảiquyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn Nhưng thực ratrong cả hai kiểu tư duy đó, hành động tư duy vẫn chủ yếu là dựa trực tiếp vàohành động và biểu tượng, còn ngôn ngữ chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi Chúng

ta đều biết là mỗi từ đều mang ý nghĩa khái quát nhưng đối với trẻ em thì mỗi

từ vẫn chỉ là đại diện cho một vật cụ thể, riêng lẻ mà thôi Từ ở trẻ em chỉ chứađựng biểu tượng, còn từ ở người lớn chứa đựng khái niệm Các biểu tượngphản ánh hiện thực một cách sinh động hơn, rõ ràng hơn các khái niệm nhưnglại không có tính chất khái quát, tính chính xác và tính hệ thống đặc trưng củakhái niệm Những khái niệm chỉ có thể được hình thành khi lĩnh hội những trithức khoa học thực sự và việc nắm hệ thống khái niệm được bắt đầu trong quátrình học tập ở trường phổ thông Nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội được một số khái niệm đơn giản nếuđược dạy theo cách thức phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi mẫu giáo [35]

Ở tuổi mẫu giáo đang diễn ra một quá trình chuyển tiếp từ chỗ trẻ chỉbiết những sự vật cụ thể sang khái quát hóa những kinh nghiệm cảm tính củabản thân Chẳng hạn về hình dạng, trẻ biết nhóm các hình tròn, hình vuông,

Trang 39

hình tam giác vào những nhóm riêng, phân biệt các vật có màu đỏ, màu xanh,dài, ngắn, …

Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ lĩnh hội được các chuẩn về hình dạng, màu sắc,

độ dài ngắn, nặng nhẹ, … Nhờ đó các em tách biệt được trong số các biếndạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làmchuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xungquanh với các chuẩn đó Chính những biến đổi về chất của những tài liệu cảmtính như thế cho phép hoạt động tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai đoạnphát triển cao hơn

Jeans Piaget gọi giai đoạn từ 2 đến 7 tuổi là giai đoạn tiền thao tác Khibước vào giai đoạn tiền thao tác, khối lượng biểu tượng trí óc (các từ và cáchình ảnh trí óc) được trẻ sử dụng để diễn tả các đối tượng và sự kiện xungquanh tăng vọt Biểu tượng - đó là cái dùng để thay thế một cái khác Ví dụ từ

“cái cốc” dùng để chỉ vật có thể đựng nước dùng để uống, “cái ghế” dùng đểchỉ một vật có chân đứng, dùng để ngồi

Theo Piaget, khả năng dùng biểu tượng rõ nét nhất là việc sử dụng ngônngữ Ngoài ra, trẻ em tuổi này còn dùng biểu tượng trong khi diễn tả hay bắtchước sự vật hay hiện tượng nào đó đã xảy ra mà trẻ là người chứng kiến: dùngtranh vẽ để mô tả cái gì đó; dùng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi (ví

dụ dùng cái que, chổi làm xe đạp, xe máy, cái ghế làm bếp, giấy vụn làm thức

ăn, búp bê làm em bé, các khúc gỗ làm đoàn tàu, cho búp bê ăn cháo “giảvờ”…) [9]

Mỗi dạng biểu tượng trên đều bắt đầu xuất hiện từ khoảng 2 tuổi, nhưngchúng sẽ còn phát triển và hoàn thiện trong 10 - 12 năm tiếp theo nữa

Giai đoạn tiền thao tác được Piaget chia làm 2 giai đoạn nhỏ

+ Giai đoạn tư duy tiền khái niệm: từ 2 - 4 tuổi:

Trang 40

Giai đoạn tiền khái niệm đặc trưng bởi sự xuất hiện chức năng biểutượng: khả năng sử dụng từ ngữ, các động tác hay vật nào đó để diễn tả haybiểu thị sự vật, hiện tượng khác Trẻ bắt đầu có khả năng tư duy hình tượng.

Từ một đứa trẻ tò mò và vớ tất cả những gì xung quanh để cắn, đập đếnmột đứa trẻ mẫu giáo biết suy nghĩ là một bước chuyển lớn Một nhà tâm lýhọc trẻ em có nhận xét một đứa trẻ 3 tuổi có sự phát triển trí tuệ gần với mộtngười lớn 21 tuổi hơn là với một đứa trẻ 12 tháng Quả thực, trẻ 3 - 4 tuổi đã

có thể dùng lời nói và các hình ảnh trong đầu để thể hiện những gì đã xảy ra,suy luận về những sự vật hiện tượng không có thực và thậm chí so sánh chúngvới nhau

Một thành tựu và biểu hiện quan trọng của giai đoạn tiền khái niệm là sự

nở rộ của trò chơi (đóng vai) tưởng tượng: Trẻ có thể trở thành bất kỳ ai (từ bố,

mẹ đến siêu nhân) và có thể dùng bất cứ đồ vật gì để biến nó thành bất cứ thứ

gì (từ cơm cháo, đến vũ khí tàng hình…) Nhiều bậc cha mẹ thấy con em mìnhchìm đắm vào thế giới tưởng tượng kỳ dị thì lo lắng, nhưng Piaget và các nhànghiên cứu hiện nay cho rằng những hành động tưởng tượng đó không có gìnguy hại và nó có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển trí tuệ, tình cảm và các mốiquan hệ xã hội của trẻ

Tuy nhiên tư duy tiền khái niệm vẫn còn rất ấu trĩ so với tư duy logiccủa những trẻ lớn hơn:

- Trẻ em nhỏ thường có xu hướng gán cho những sự vật xung quanh tâm hồn

và mọi cảm giác (ý muốn, cảm xúc) của sinh vật sống

- Trẻ em thường nhìn mọi sự vật hiện tượng ở thế giới xung quanh dưới gócnhìn của bản thân mình mà chưa có khả năng hiểu góc nhìn, quan điểm củangười khác

Piaget gọi đó là tính tự kỷ và minh họa tính tự kỷ trong tư duy của trẻtrong nhiều thí nghiệm, ví dụ với mô hình ngọn núi, trẻ 3, 4 tuổi thường nói

Ngày đăng: 22/05/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w