1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng cơ cấu vốn hợp lý tại công ty cổ phần hoá chất và vật tư khoa học kỹ thuật

105 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 525,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2.2 Phân loại dưới góc độ nguồn hình thành nguồn vốn kinh doanh Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng t

Trang 1

ĐẶNG THỊ HÀ PHƯƠNG

Nghiªn cøu x©y dùng c¬ cÊu vèn hîp lý

t¹i c«ng ty cæ phÇn hãa chÊt vµ

vËt t­ khoa häc - kü thuËt

Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp

Mã số: 60.31.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Duy Lạc

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tác giả luận văn

Đặng Thị Hà Phương

Trang 3

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Mở đầu 1

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp 5

1.1 Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh 5

1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh 7

1.2 Cơ cấu vốn và cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp 10

1.2.1 Khái niệm cơ cấu vốn 10

1.2.2 Nguyên tắc xác định cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp 13

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới các quyết định về cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp 17

1.2.4 Tổng quan một số nghiên cứu về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp 19

1.3 Quan điểm của tác giả về cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp 22

1.3.1 Đánh giá cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp dưới góc độ tài sản 23

1.3.2 Đánh giá cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp dưới góc độ nguồn hình thành 29

Chương 2: Đánh giá thực trạng cơ cấu vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần hóa chát và vật tư khoa học kỹ thuật 42

2.1 Khái quát chung về quá trình hình thành, hoạt động của công ty Cổ phần hoá chất và vật tư khoa học kỹ thuật 42

2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 42

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 42

2.1.3 Chức năng 43

2.1.4 Nhiệm vụ 45

2.1.5 Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty 46

Trang 4

2.2 Thực trạng cơ cấu vốn của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật

dưới góc độ tài sản 52

2.2.1 Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 54

2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 56

2.2.3 Phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 59

2.3 Thực trạng cơ cấu vốn của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật dưới góc độ nguồn hình thành 66

2.3.1 Tỷ trọng các nguồn tài trợ của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 66

2.3.2 Chi phí sử dụng vốn bình quân của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 71

2.4 Đánh giá thực trạng cơ cấu vốn tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 76

Chương 3: Xây dựng cơ cấu vốn hợp lý tại Công ty Cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 78

3.1 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn trong thực tế công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 78

3.1.1 Rủi ro tài chính 78

3.1.2 Khả năng quản lý của lãnh đạo công ty 78

3.1.3 Sự linh hoạt về mặt tài chính 80

3.2 Xây dựng cơ cấu vốn hợp lý tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 81

3.2.1 Xây dựng bài toán xác định cơ cấu vốn hợp lý 81

3.2.2 Cơ cấu vốn hợp lý cho công ty Cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật 83

Trang 5

3.3.1 Nâng cao khả năng tài chính 91 3.3.2 Chú trọng nâng cao khả năng kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp 93 3.3.3 Chú trọng nghiên cứu và cập nhật thông tin thực tế phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế 94 Kết luận 96Tài liệu tham khảo 99

Trang 6

CBCNV Cán bộ công nhân viên

Trang 7

Bảng 2.1 : Bảng tổng hợp tỷ trọng tài sản 55Bảng 2.2 : Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn 56Bảng 2.3 : Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định 58Bảng 2.4: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động59Bảng 2.5: Bảng tổng hợp chỉ tiêu khả năng thanh toán năm 2009 – 2010.- 65 -Bảng 2.6: Bảng tổng hợp chỉ tiêu khả năng thanh toán năm 2008 – 2009.- 65 -Bảng 2.7 : Bảng phân tích tỷ trọng các nguồn tài trợ 69Bảng 2.8 : Bảng tổng hợp chi phí sử dụng vốn 75Bảng 3.1: Bảng so sánh tỷ trọng các loại tài sản 83Bảng 3.2: Bảng so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 84Bảng 3.3: Bảng so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định 84Bảng 3.4: Bảng tổng hợp tỷ trọng các loại nguồn vốn 87Bảng 3.5 : Bảng so sánh các chỉ tiêu thanh toán 90

Trang 8

Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty cổ phần hóa chất và vật tư

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Nền kinh tế thị trường phát triển tạo nhiều điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đi kèm với nó luôn là

sự cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường Bên cạnh đó là những khó khăn trong việc tiếp cận và huy động các nguồn vốn kinh doanh phục vụ cho hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Mà khi có được nguồn tài trợ vốn kinh doanh ổn định thì không phải nhà lãnh đạo nào cũng biết tận dụng lợi thế đó để đưa doanh nghiệp của mình phát triển một cách mạnh mẽ, ổn định

Hiện nay hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chưa cao, nguyên nhân khách quan là do những biến động bất thường và đầy rủi ro của nền kinh

tế đất nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kém hiệu quả là do sự hiểu biết còn hạn chế về cơ cấu vốn và quản lý nguồn vốn sản xuất kinh doanh Sự thiếu hiểu biết này dẫn đến hệ quả là sự điều hành, định hướng doanh nghiệp phát triển không phù hợp với điều kiện thực

tế của doanh nghiệp cũng như hoàn cảnh kinh tế chung

Đứng trước tình hình đó, việc nhận thức một cách đầy đủ, có hệ thống

về nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng được cơ cấu vốn hợp

lý cho từng công ty là đòi hỏi cấp thiết trong công tác nghiên cứu, quản lý, điều hành doanh nghiệp , đặc biệt là trong thời kỳ đất nước đang đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đầu tư, hội nhập nền kinh tế như hiện nay

Công ty Cổ phần hóa chất và Vật tư Khoa học kỹ thụât là công ty mới được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần Đây là một bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi về vai trò làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp, mọi cổ đông của công ty đều phải có trách nhiệm bảo tồn và

Trang 10

phát triển công ty, bảo tồn và phát triển phần vốn mà mình đó đóng góp Điều này lại đặt ra một thách thức lớn cho các nhà lãnh đạo điều hành công ty phải quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn nhằm giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt được kết quả tốt nhất như mong muốn

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu xây dựng cơ cấu vốn hợp

lý cho công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học - kỹ thuật” là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng tình hình cơ cấu vốn của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật, đề tài xây dựng cơ cấu vốn khoa học và phù hợp với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu vốn kinh doanh tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật

- Phạm vi nghiên cứu: Cơ cấu vốn kinh doanh của công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật trong 3 năm 2008, 2009, 2010

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Nhằm nghiên cứu chuyên sâu, phát triển lý thuyết và đưa ra các kiến nghị, giải pháp có căn cứ khoa học trên cơ sở phân tích tình hình thực tiễn về

sử dụng nguồn vốn kinh doanh của công ty, đề tài tập trung vào các vấn đề :

- Hệ thống hoá những lý luận về nguồn vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

- Khái quát về cơ cấu vốn và xây dựng cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp

Trang 11

- Đánh giá thực trạng cơ cấu vốn kinh doanh tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật hiện nay dưới hai góc độ : tài sản và nguồn hình thành

- Đề xuất cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương phỏp nghiên cứu gồm: phương pháp thống kê, tổng hợp để thu thập và hệ thống hoá tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh,

6 Cơ sở tài liệu của luận văn

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở nguồn tài liệu do học viên thu thập được gồm :

- Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật

- Các công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp trước đó

- Các giáo trình về tài chính doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học : các kết quả tìm hiểu, nghiên cứu về cơ cấu vốn hợp

lý trong doanh nghiệp sẽ đưa ra cái nhìn chung nhất về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp

- Ý nghĩa thực tiễn : các kết quả có được trong nghiên cứu, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý sẽ được áp dụng tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học

kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

Việc thực hiện nghiên cứu đề tài đem lại cho học viên những hiểu biết về

cơ cấu vốn của doanh nghiệp, góp phần bồi dưỡng kiến thức, nâng cao hiểu biết phục vụ cho công tác chuyên môn của học viên

Trang 12

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận với các chương cụ thể như sau :

Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp Chương 2 : Đánh giá thực trang cơ cấu vốn kinh doanh tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật

Chương 3 : Xây dựng cơ cấu vốn hợp lý tại công ty cổ phần hóa chất và vật tư khoa học kỹ thuật

Luận văn được hoàn thành tại khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường Đại học Mỏ Địa Chất dưới sự hướng dẫn tận tình, khoa học của thầy giáo TS Nguyễn Duy Lạc Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn

Trong quá trình làm luận văn, học viên đã nhận được sự quan tâm, giúp

đỡ, tạo điều kiện của khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Mỏ Địa Chất Học viên xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ trên

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU VỐN

TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời

1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của vốn kinh doanh

Để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, trước hết doanh nghiệp cần phải nhận thức đầy đủ về những đặc trưng và vai trò của vốn

 Những đặc trưng của vốn kinh doanh:

Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản Điều đó có

nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền, bằng phát minh sáng chế…

Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền

nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì đồng tiền phải được vận động sinh lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền, đồng tiền phải quay về nơi xuất phát có giá trị lớn hơn

Trang 14

Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt

Nói vốn là một loại hàng hóa vì nó có giá trị, giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời Khác với những hàng hóa khác, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng có thể được tách rời nhau

Thứ tư: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới

có thể phát huy được tác dụng Do đó các doanh nghiệp không chỉ có nhiệm

vụ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh

Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian Điều này có ý nghĩa khi

bỏ vốn vào đầu tư phải xét tính hiệu quả của đồng vốn mang lại Trong nền kinh tế thị trường, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát và lãi suất nên sức mua của đồng tiền ở thời điểm khác nhau cũng khác nhau

Thứ sáu: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được

quản lý chặt chẽ Nếu không xác định được chủ sở hữu thì việc sử dụng vốn

và tài sản sẽ gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả

 Vai trò của vốn kinh doanh:

Vốn là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành sản xuất đều phải cần đến vốn

Vốn là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm cho người lao động

Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng trên thị trường,

mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp thiếu vốn quá trình sản xuất sẽ bị đình trệ, dẫn đến mất thị phần, mất khách hàng; doanh thu và lợi nhuận giảm sút và không đạt được các mục tiêu đã đề ra

Trang 15

Vốn kinh doanh có vai trò như một đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, là điều kiện để tạo lợi thế cạnh tranh, khẳng định vai trò của doanh nghiệp trên thị trường

Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính Qua đó, các nhà quản trị doanh nghiệp biết được thực trạng khâu sản xuất, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát hiện được các tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục

1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh

1.1.2.1 Phân loại dưới góc độ tài sản

*Vốn cố định

Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp nên quy mô vốn cố định sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước

về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng

* Vốn lưu động

Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh được ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục

Phù hợp với các đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh:

dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trình này được diễn ra liên tục và

Trang 16

thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về với hình thái vốn tiền tệ Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển

1.1.2.2 Phân loại dưới góc độ nguồn hình thành ( nguồn vốn kinh doanh )

Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn thích hợp, có hiệu quả, cần thiết phải có sự phân loại vốn Tùy từng tiêu thức nhất định mà nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các loại khác nhau

* Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm hai loại:

- Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh

nghiệp Khi doanh nghiệp mới được thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu hình thành vốn điều lệ cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư góp vốn, được sử dụng để đầu tư, mua sắm các loại tài sản của doanh nghiệp Trong quá trình họat động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn vốn liên doanh, liên kết Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ

đi toàn bộ nợ phải trả

- Nợ phải trả: là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy động từ

các chủ thể khác qua vay nợ, thuê mua, ứng trước tiền hàng…Doanh nghiệp

Trang 17

được quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian sau đó phải hoàn trả cho chủ nợ Bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn, phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả công nhân viên, phải trả nội bộ…

Tổng tài sản của DN = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả ( 1 - 1 )

Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn nói trên để đảm bảo nhu cầu vốn cho họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này được xem là hợp lý phụ thuộc vào đặc điểm mà doanh nghiệp đang hoạt động, tình hình phát triển của nền kinh

tế cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp

* Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại:

- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định, dài hạn

mà doanh nghiệp có thể sử dụng Nguồn vốn này được dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho họat động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn thường xuyên được xác định như sau:

Nguồn vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu (1-2)

- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một

năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản vốn chiếm dụng…

Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét, huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 18

* Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại:

- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn được huy động từ nội bộ doanh

nghiệp, bao gồm tiền khấu hao hàng năm, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng…nguồn vốn này có tính chất quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp

- Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn có thể huy động từ bên ngoài

doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Loại vốn bao gồm: vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế tín dụng, các tổ chức kinh tế cá nhân trong và ngoài nước…Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp nhất là trong điều kiện thực tế của nước ta hiện nay Sử dụng nguồn vốn này, doanh nghiệp có thể khai thác ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy tài chính để khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu, nhưng phải tính đến chi phí sử dụng vốn và kết quả sản xuất kinh doanh phải bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi

Từ việc phân loại nguồn vốn kinh doanh theo các tiêu thức trên ta có thể rút ra kết luận:

+ Việc phân loại giúp cho người quản lý doanh nghiệp biết được cơ cấu nguồn vốn kinh doanh từ đó lựa chọn nguồn vốn bổ sung thích hợp và hiệu quả nhất

+ Phân loại nguồn vốn còn xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh

1.2 Cơ cấu vốn và cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm cơ cấu vốn

* Khái niệm cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Trang 19

Cơ cấu vốn là thành phần và tỷ trọng của các loại vốn trong tổng số vốn của doanh nghiệp xét theo một tiêu thức phân loại nhất định

Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế về vấn đề cơ cấu vốn, đến nay đã có những lý thuyết về cơ cấu vốn khá nổi tiếng như mô hình của Mordigliani và Miller (thường được viết tắt là mô mình M-M ), lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, lý thuyết về lợi nhuận hoạt động ròng Có nhiều giả định được đưa ra, tuy nhiên những giả định này được cho là không có trong thực tế và không phù hợp với thực tế Ngày nay, với một thị trường tài chính phát triển doanh nghiệp có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn khác nhau, với chi phí khác nhau để điều chỉnh, cân đối cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, tuy vậy một cơ cấu vốn thế nào là hợp lý và tối ưu còn phụ thuộc vào trình tình hình thị trường tài chính, trình độ quản lý và nhiều yếu tố khác

Trong thực tế không có cơ cấu vốn chung cho mọi doanh nghiệp Cơ cấu vốn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp như khả năng phá sản, khả năng sinh lời, chất lượng và cơ cấu tài sản, cơ hội tăng trưởng Chẳng hạn, đối với một công ty mới thành lập và mức độ tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định thì sẽ là quá sức nếu vốn vay chiếm tới 70-80% tổng nguồn vốn Tuy nhiên, sẽ là hạn chế nếu một công ty lớn đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh với các sản phẩm được tiêu thụ ổn định lại chỉ sử dụng 20-30% vốn vay trên tổng nguồn vốn Những đặc điểm riêng của thị trường tài chính, điều kiện kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia cũng chi phối rất lớn đến quyết định tài trợ vốn của doanh nghiệp Việt Nam là một quốc gia có tỉ lệ lạm phát cao, tăng trưởng không ổn định, thị trường vốn lấy hệ thống ngân hàng làm nền tảng, khiến cho tỉ trọng vốn vay trong doanh nghiệp thường rất cao và kỳ hạn nợ thường là ngắn hạn

Trang 20

*Cơ cấu vốn tối ưu và cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp

Việc sử dụng nợ giúp doanh nghiệp có vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh và lãi từ sử dụng nợ không bị tính thuế làm tăng thêm thu nhập cho cổ đông, dẫn đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng lên Tuy vậy, việc sử dụng

nợ quá nhiều sẽ tạo áp lực trả nợ và rủi ro phá sản đối với công ty, chính vì thế mà sử dụng nợ cũng có thể làm giảm giá cổ phiếu Hơn nữa, nếu doanh nghiệp tìm đến nguồn vốn vay của ngân hàng sẽ phải tuân thủ những nguyên tắc tín dụng cũng như đòi hỏi của ngân hàng về tài sản thế chấp, dự án kinh doanh, giám sát,… Nhà đầu tư thì luôn đòi hỏi tỷ lệ lợi tức yêu cầu cao hơn so với lãi vay hoặc lãi suất trái phiếu do họ phải gánh chịu mọi rủi ro trong hoạt động sản suất kinh doanh, càng dùng nợ nhiều thì rủi ro càng lớn làm chi phí vốn chủ tăng lên, vì vậy làm chi phí vốn của doanh nghiệp ngày càng tăng

Cơ cấu vốn tối ưu làm cân bằng tác động của rủi ro và lợi tức, tuy nhiên việc xác định cơ cấu vốn tối ưu một cách chính xác là cực kỳ khó khăn Trong thực tế, doanh nghiệp khó có thể xác định một cơ cấu nguồn vốn tối ưu một cách chính xác Doanh nghiệp cần dựa trên nguyên lý về cơ cấu nguồn vốn tối

ưu, đồng thời phải cân nhắc giữa yếu tố rủi ro và tỷ suất sinh lời trong điều kiện hoàn cảnh kinh doanh cụ thể để xác định cơ cấu nguồn vốn mục tiêu của doanh nghiệp Cơ cấu nguồn vốn mục tiêu có thể thay đổi qua thời gian khi các điều kiện, hoàn cảnh kinh doanh có sự thay đổi đáng kể Tuy vậy, doanh nghiệp cần phải luôn có cơ cấu nguồn vốn mục tiêu nhất định và việc huy động vốn phải luôn hướng tới cơ cấu này

Cơ cấu vốn hợp lý là một cơ cấu mà xét trong điều kiện giả định các nhân tố khác là như nhau thì sẽ cho hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là lớn nhất và đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp ở mức độ cần thiết

Cơ cấu vốn hợp lý cho các doanh nghiệp là khác nhau và nó phụ thuộc nhiều vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành nghề kinh doanh, điều kiện cụ

Trang 21

thể của từng doanh nghiệp Tuy vậy vẫn xác định được các nhân tố có thể ảnh hưởng đến cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp

1.2.2 Nguyên tắc xác định cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp

Việc sử dụng nguồn vốn nào cho phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp, nguồn nào có lợi cho các cổ đông là một công việc khá khó khăn và phức tạp đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Ngày nay, với một tình hình tài chính phát triển thì doanh nghiệp có thể tiếp cận được các nguồn vốn một cách khá dễ dàng, tuy nhiên, sự biến động của thị trường luôn làm thay đổi chi phí, giá cả của các nguồn vốn đó vì thế mà việc xác nhận là rất khó khăn Dựa trên những thông tin từ thị trường mà doanh nghiệp có thể tính toán được cơ cấu vốn mục tiêu của mình và theo đuổi nó Dựa trên sự phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính, đánh giá các mặt lợi thế và bất lợi của từng hình thức tài trợ, để tạo một cơ cấu vốn hợp lý, giúp doanh nghiệp có thể đạt các mục tiêu đặt ra, việc tài trợ và đầu tư phải tuân thủ năm nguyên tắc cơ bản về hoạch định cơ cấu vốn dưới đây:

Nguyên tắc thứ nhất: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo sự phù hợp

giữa thời gian đáo hạn các nguồn tài trợ với chu kỳ sinh lời của tài sản đầu tư.Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên một thực tế là các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn rất khác nhau, trong khi thời gian tạo ra các nguồn tiền của các loại tài sản cũng không giống nhau Vì vậy, để đảm bảo doanh nghiệp có khả năng thanh toán ở bất kỳ thời điểm nào, giảm thiểu rủi ro về tài chính thì việc tài trợ và cơ cấu vốn cần có sự tương thích giữa thời gian được quyền sử dụng vốn với chu kỳ sinh lời của tài sản đầu tư Nguyên tắc này yêu cầu các nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp phải có thời gian hoàn trả vốn gốc và lãi phù hợp với chu kỳ sinh lời của những tài sản đầu tư vào doanh nghiệp Với yêu cầu như vậy, tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên có thời gian hoàn vốn lâu dài cần được tài trợ bằng các nguồn vốn ổn định là vốn chủ

Trang 22

sở hữu và các nguồn tài trợ dài hạn khác Còn tài sản lưu động tạm thời cần được tài trợ bằng các nguồn vốn ngắn hạn, nhằm giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán, lành mạnh hoá tình hình tài chính doanh nghiệp

Nguyên tắc thứ hai: Hoạch định cơ cấu vốn phải tính đến ảnh hưởng

của đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên sự phân tích tác động có tính chất đòn bẩy của chi phí cố định và nợ vay Nếu như mọi yếu tố khác được đánh giá trong cùng một mặt bằng thì hệ

số về đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh còn tượng trưng cho độ lớn của rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải Tác động đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính tạo nên hiệu ứng đòn bẩy tổng hợp, đó là sự ảnh hưởng theo cấp số nhân Tác động này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của chủ sở hữu, nếu doanh nghiệp đi vay nhiều, đồng thời lại sử dụng tiền vay để đầu tư tài sản cố định Tác động này có tính hai mặt: nó có thể tạo ra những bước phát triển nhảy vọt nhưng cũng có thể đưa doanh nghiệp mau chóng đến bờ vực phá sản Nguyên tắc này yêu cầu phải có sự suy xét thận trọng giữa lợi nhuận

và rủi ro trước khi quyết định cơ cấu vốn theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay và

sử dụng tiền vay để mua sắm tài sản cố định cho dự án của doanh nghiệp Tuân thủ nguyên tắc này, muốn thiên về an toàn, giảm thiểu rủi ro kinh doanh

và rủi ro tài chính thì nhà quản trị phải giảm tỷ trọng nợ vay, số tiền huy động nên ưu tiên cho những tài sản tạm thời, những tài sản có khả năng thanh khoản cao Việc cơ cấu lại vốn, gia tăng các khoản nợ nhằm phát huy ảnh hưởng của hiệu ứng đòn bẩy chỉ nên sử dụng khi sản lượng được đánh giá là

có thể vượt xa điểm hoà vốn với độ tin cậy thật cao

Nguyên tắc thứ ba: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo duy trì quyền

kiểm soát doanh nghiệp Cơ sở của nguyên tắc này là ở chỗ, chủ sở hữu luôn

có mục tiêu nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp Quyền kiểm soát tỷ lệ thuận với số vốn góp Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này, việc tái cơ cấu vốn phải thực

Trang 23

hiện theo hướng gia tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, đảm bảo cho vốn chủ sở hữu đủ lớn để doanh nghiệp có thể độc lập về mặt tài chính, chủ sở hữu có thể chủ động quyết định những vấn để quan trọng trong sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào người khác Trên thực tế, để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp, người ta có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Thông qua cơ cấu vốn - gia tăng tỷ lệ vốn góp cũng là một cách để người ta thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp tư nhân - doanh nghiệp một chủ, vấn đề này thường không cần phải đặt ra Nhưng đối với doanh nghiệp đa sở hữu thì quyền kiểm soát lại là một vấn đề lớn Nguyên tắc này yêu cầu, để duy trì quyền kiểm soát, doanh nghiệp phải huy động vốn bằng cách vay, thuê, phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi nếu các nguồn vốn chủ sở hữu hiện hành không đủ tài trợ cho dự án mới Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng cách huy động vốn như trên để duy trì quyền kiểm soát không phải lúc nào cũng đúng Doanh nghiệp hay chủ sở hữu có thể bị mất toàn bộ quyền kiểm soát nếu huy động vốn vay vượt khả năng chi trả các khoản nợ

Do vậy, hy sinh một phần kiểm soát để đổi lấy một sự an toàn về mặt tự tài chính cũng là một yêu cầu cần được xem xét khi tăng tỷ trọng nợ vay trong cơ cấu vốn

Nguyên tắc thứ tư: Hoạch định cơ cấu vốn phải đảm bảo tính linh hoạt

trong tài trợ vốn Tính linh hoạt trong tài trợ vốn là khả năng điều chỉnh tăng, giảm nguồn vốn cho phù hợp với sự thay đổi về nhu cầu vốn qua các thời kỳ kinh doanh Nguyên tắc này được đưa ra dựa trên nhận định rằng: Nhu cầu vốn chịu ảnh hưởng bởi tính "mùa vụ" của sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất song nhiều khi cũng muốn thu hẹp quy mô đầu tư Do vậy để đảm bảo nâng cao được tính linh hoạt trong việc điều động vốn, việc cơ cấu vốn phải được xây dựng trên cơ sở giúp doanh nghiệp tăng được khả năng mặc cả với các nhà cấp vốn trên thị trường Tuân thủ nguyên

Trang 24

tắc này, có thể thấy rằng, việc ưu tiên gia tăng tỷ trọng các khoản nợ, nhất là

nợ ngắn hạn, có thể cho phép các nhà quản trị những cơ hội thuận lợi để điều chỉnh linh hoạt nguồn vốn

Nguyên tắc thứ năm: Hoạch định cơ cấu vốn phải tối thiểu hoá chi phí

sử dụng vốn Nguyên tắc này được xây dựng trên quan điểm cho rằng, chi phí

sử dụng vốn hay giá vốn là giá của thị trường Mỗi nguồn tài trợ có yêu cầu

về chi phí sử dụng vốn-giá vốn khác nhau Giá vốn của mỗi hình thức tài trợ cũng biến động theo chu kỳ kinh tế Vì vậy, xây dựng cơ cấu vốn cho doanh nghiệp phải đảm bảo tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, nhằm tối đa hoá lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp.Tuân thủ nguyên tắc này, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải đánh giá được xu thế biến động về giá vốn trên thị trường để lựa chọn thời điểm huy động vốn thích hợp Mặt khác, cơ cấu vốn phải nghiêng về các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn ngắn, thời gian hoàn trả vốn gốc và lãi có thể điều chỉnh một cách linh hoạt, như cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, và các nguồn tài trợ khác

Trong các nguyên tắc cơ bản hoạch định cơ cấu tài trợ vốn đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, không có nguyên tắc nào quan trọng hơn các nguyên tắc còn lại, thứ tự ưu tiên đối với các nguyên tắc là tuỳ thuộc vào quyền quyết định của Giám đốc tài chính Trong nhiều trường hợp, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ nguyên tắc có thể mang tính khách quan và bất khả kháng, nằm ngoài sự chi phối của Giám đốc tài chính Do vậy, để vận dụng tốt, lãnh đạo doanh nghiệp nhất thiết phải đặt chúng trong môi trường cụ thể của hoạt động kinh doanh, đặc điểm nền kinh tế, đặc điểm ngành kinh doanh và đặc điểm của doanh nghiệp

Trang 25

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới các quyết định về cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp

Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính : đây là rủi ro mà bất cứ doanh

nghiệp nào cũng phải đối mặt và chống chọi lại nếu muốn tiếp tục phát triển, rủi ro kinh doanh lớn nhất là ở các doanh nghiệp không sử dụng nợ, việc sử dụng nợ càng ít thì rủi ro kinh doanh mà chủ doanh nghiệp phải chịu là càng nhiều, hệ số nợ tối ưu của doanh nghiệp càng thấp Rủi ro kinh doanh sẽ phụ thuộc vào việc đa dạng hóa tài sản và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không phụ thuộc vào cơ cấu vốn Với mức rủi ro kinh doanh cho trước ( chi phí nợ đã được xác định )

Bộ phận thứ hai là rủi ro tài chính sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp sử dụng vốn vay hay nợ vay, một mặt nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn, mặt khác nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc thu nhập trên một cổ phần (EPS), nhưng đồng thời cũng làm tăng thêm rủi ro cho doanh nghiệp, đó là rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính là sự dao động hay tính khả biến tăng thêm của tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hoặc thu nhập trên một cổ phần và làm tăng thêm xác suất mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay và các nguồn tài trợ khác có chi phí cố định tài chính

Việc sử dụng vốn vay tạo ra khả năng cho doanh nghiệp tăng được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu nhưng cũng làm cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ

sở hữu có thể có mức độ dao động lớn hơn Khi tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE) mà doanh nghiệp tạo ra lớn hơn chi phí sử dụng vốn vay sẽ làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, nhưng nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản thấp hơn chi phí sử dụng vốn vay thì càng làm giảm sút nhanh hơn

tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu Mặt khác, doanh nghiệp sử dụng vốn vay

Trang 26

làm nảy sinh nghĩa vụ tài chính phải thanh toán lãi vay cho các chủ nợ bất kể doanh nghiệp đạt mức độ lợi nhuận trước lãi vay và thuế là bao nhiêu, đồng thời doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả vốn gốc cho các chủ nợ đúng hạn Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều vốn vay thì nguy cơ mất khả năng thanh toán càng lớn Như vậy, việc sử dụng vốn vay đã ẩn chứa rủi ro tài chính mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình kinh doanh

* Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp : cũng ảnh hưởng mạnh mẽ

đến việc sử dụng nợ do đây là yếu tố tác động đến ưu thế của việc sử dụng nợ,

sử dụng nợ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí vì lãi vay

là khoản khấu trừ thuế Vì vậy, thuế suất càng cao thì lợi thế của việc sử dụng

nợ đối với doanh nghiệp càng cao

*Sự linh hoạt về mặt tài chính : đó là khả năng huy động vốn với

những điều khoản hợp lý Mức độ biến động trong tương lại của vốn và hậu quả của việc thiếu hụt vốn có ảnh hưởng lớn tới cấu trúc vốn mục tiêu

*Sự thận trọng hay năng động trong quản lý ảnh hưởng tới cơ cấu vốn mục tiêu mà doanh nghiệp theo đuổi trong thực tế Năng lực quản lý,

lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp có tác động rất lớn đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Để có thể nghiên cứu, xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu, đòi hỏi giám đốc doanh nghiệp phải am hiểu rất sâu sắc về các nhân tố sẽ tác động đến chi phí vốn của doanh nghiệp: như lãi suất thị trường, chi phí phát hành, mức độ rủi ro của ngành, sự thay đổi của các chính sách kinh tế Hơn thế nữa, người đứng đầu doanh nghiệp cần phải có khả năng dự báo được những thay đổi của các yếu tố trên để tính đến sự ánh hưởng của chúng đối với chi phí vốn từ đó tác động đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Sự bảo thủ hay phóng khoáng của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến việc cân nhắc sử dụng nợ hay vốn chủ sở hữu Nếu lãnh đạo dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro thì việc sử dụng nợ sẽ tận dụng được đòn bẩy tài chính

Trang 27

làm cho tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng lên, tuy nhiên khi đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực sẽ làm suy giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp, thậm chí ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.2.4 Tổng quan một số nghiên cứu về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp

Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn và một số mô hình kinh tế lượng đã được xây dựng để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Vấn đề cơ cấu vốn của doanh nghiệp được nghiên cứu phần lớn ở các nước công nghiệp phát triển Ở nhiều nước đang phát triển, nền kinh tế còn chưa có sự phát triển toàn diện thì khu vực doanh nghiệp còn tương đối non trẻ thì vấn đề này mới đang dần được chú ý

Sự phát triển lý thuyết về cơ cấu vốn ghi nhận hai kết quả nghiên cứu

có đóng góp quan trong Luận điểm của Modigliani và Miller ( thường được viết tắt là M&M ) cho rằng với các quyết định đầu tư nhất quán, các đối tác có quyền lợi liên quan nhưng không nằm trong doanh nghiệp phải đại diện cho

cơ cấu vốn có tác động đến giá trị doanh nghiệp Luận điểm của Jensen và Mecking ( thường được viết tắt là J - M ), xem xét lại mô hình M&M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với cơ cấu vốn Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, lý thuyết và thực nghiệm được thực hiện dựa trên hai luận điểm trên nhưng với cả giới học thuật và những người vận dụng thực tiễn các kết quả đều có hạn chế

Thứ nhất, cả hai cách tiếp cận đều chưa thể bổ khuyết đầy đủ cho nhau Khi rủi ro đầu tư lớn hơn có thể chuyển giá trị khỏi những người nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp, nó đồng thời cũng hạn chế khả năng cắt giảm thuế thông qua huy động vốn vay của doanh nghiệp Một lý thuyết tổng quát cần phải giải thích được cơ chế tác động giữa hai mô hình J-M và M-M để xác định lựa chọn cấu trúc vốn và rủi ro tối ưu

Trang 28

Thứ hai, các lý thuyết này không đưa ra các giải pháp định lượng như giá trị và thời gian vay nợ hợp lý với một doanh nghiệp trong các điều kiện khác nhau Khó khăn cơ bản trong phát triển các mô hình định lượng nằm ở vấn đề xác định giá trị vay nợ của doanh nghiệp với rủi ro tín dụng Định giá một khoản nợ rủi ro là điều kiện tiên quyết để xác định giá trị và thời hạn vay

nợ tối ưu Nhưng nợ rủi ro là công cụ rất phức tạp Giá trị của khoản nợ này phụ thuộc vào khối lượng phát hành, thời hạn vay nợ, điều kiện bán, các điều kiện vỡ nợ, chi phí vỡ nợ, thuế, thanh toán cổ tức, và cấu trúc lãi suất phi rủi

ro Giá trị này còn phụ thuộc vào lựa chọn chính sách quản trị rủi ro của doanh nghiệp, bản thân lựa chọn này lại liên quan tới số lượng và thời hạn của khoản nợ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Dù các kết quả nghiên cứu của Merton (1974), Black và Cox (1976) là rất hứa hẹn nhưng các tiến bộ trong tìm kiếm phương pháp phân tích và định giá khoản nợ của doanh nghiệp với các tính năng thực tế vẫn còn nhiều hạn chế Brennan và Schwartz (1978) xây dựng công thức giải quyết vấn đề định giá nợ rủi ro và cấu trúc vốn trong một số điều kiện khá gần gũi với thực tế, tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật tính toán rất phức tạp và chỉ đưa ra lời giải trong một số ít trường hợp cụ thể

Một số bước tiến quan trọng trong các nghiên cứu về cơ cấu vốn được ghi nhận trong thời gian gần đây Kim, Ramaswamy, và Sundaresan (1993), Longstaff và Schwartz (1995) cung cấp phương pháp định giá trái phiếu với rủi ro tín dụng, mặc dù họ không tập trung vào lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu Leland (1994), Leland và Toft (1996) quan tâm tới cấu trúc vốn tĩnh tối ưu Nhưng giả thiết về cấu trúc vốn tĩnh chính là hạn chế của họ Doanh nghiệp

có thể thực hiện tái cấu trúc nghĩa vụ tài chính theo thời gian

Dựa trên các kết quả của Kane, Marcus và McDonald (1984), Fischer, Heinkel và Zechner (1989), Wiggins (1990), Goldstein, Ju và Leland (1997)

Trang 29

đã phát triển giải pháp gần với thực tế hơn trong định giá khoản nợ của doanh nghiệp với điều kiện khoản nợ có thể được tái cấu trúc linh hoạt Các công trình này vẫn tiếp tục giả thiết trong mô hình M-M rằng dòng tiền của doanh nghiệp không thay đổi theo lựa chọn vay nợ Quan điểm của mô hình J-M cho rằng lựa chọn rủi ro của doanh nghiệp có thể phụ thuộc vào cấu trúc vốn bị bỏ qua trong phương pháp này

Một dòng nghiên cứu khác, cũng sử dụng các kỹ thuật tính toán định giá, xem xét các phản hồi tiềm năng giữa quyết định đầu tư/sản xuất và cấu trúc vốn Brennan và Schwartz (1984) giới thiệu một công thức tổng quát cho bài toán này, nhưng các kết quả tổng quát từ công thức này rất hạn chế Trong điều kiện cụ thể hơn, Mello và Parson (1992) mở rộng mô hình của Brennan

và Schwartz cho một công ty khai mỏ để so sánh quyết định sản xuất trong trường hợp có vay nợ và không có vay nợ Mauer và Triantis (1994) phân tích tương tác giữa quyết định sản xuất và quyết định nguồn tài trợ khi các điều khoản nợ hạn chế khả năng tối đa giá trị doanh nghiệp Các ràng buộc này, theo giả định, sẽ loại bỏ xung đột có thể có giữa cổ đông và những người nắm giữ trái phiếu của doanh nghiệp

Tại Việt Nam đã có những nghiên cứu bước đầu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Theo tác giá Lưu Thị Hương - trường đại học kinh tế quốc dân : chi tiết của bên phải bảng cân đối kế toán chỉ ra nguồn vốn của doanh nghiệp Tỷ trọng các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn Chính sách cơ cấu vốn liên quan đến mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro Nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, cơ cấu vốn tối ưu cần đạt được

sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

Theo tác giả Nguyễn Công Ty và một số người khác ở Học viện tài chính Hà Nội : thành phần và tỷ trọng từng nguồn vốn so với tổng nguồn vốn

Trang 30

tại một thời điểm gọi là cơ cấu vốn Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh

sự kết hợp hài hòa giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu trong điều kiện nhất định Khi tính chất cơ cấu nguồn vốn người ta đặc biệt chú ý tới tỷ trọng giữa các khoản nợ phải trả với tổng nguồn vốn và tỷ trọng giữa nguồn vốn chủ sở hữu với tổng nguồn vốn

1.3 Quan điểm của tác giả về cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp

Cần nhìn nhận cơ cấu vốn từ hai giác độ, đó là cơ cấu vốn theo nguồn hình thành và cơ cấu vốn theo tài sản Vì hai lý do :

- Thứ nhất : bản thân các tiêu thức phân loại vốn đã thể hiện điều này

- Thứ hai : tài sản của doanh nghiệp là kết quả của quá trình đầu tư Một cơ cấu tài sản vốn hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh Khi sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ tạo điều kiện bổ sung vốn kinh doanh bằng lợi nhuận để lại

Một doanh nghiệp có rất nhiều phương án để sử dụng nguồn vốn kinh doanh của mình Dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, khả năng sinh lời sẽ tăng vì sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí thấp hơn nguồn dài hạn nhưng khả năng thanh toán sẽ giảm Trong khi đó, nếu dùng nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn thì chi phí sẽ cao hơn, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, nhưng bù lại khả năng thanh toán sẽ tăng Sẽ có sự chấp nhận đánh đổi rủi ro và lợi nhuận tại các doanh nghiệp vì vậy mà yêu cầu về một cơ cấu vốn hợp lý trở nên hết sức cần thiết

Cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp là cơ cấu vốn thỏa mãn được hai yêu cầu sau đây :

- Cơ cấu vốn có chi phí sử dụng vốn thấp và an toàn về mặt tài chính

- Cơ cấu vốn đảm bảo tính cân đối của các loại tài sản góp phần tạo ra năng lực sản xuất cao với một lượng vốn nhất định ( đạt hiệu quả kinh tế )

Trang 31

Để có được cái nhìn toàn diện nhất, những đánh giá xác đáng nhất thì

cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp phải được đánh giá dưới hai góc độ là : dưới góc độ tài sản và dưới góc độ nguồn hình thành Dưới mỗi một góc độ nhìn nhận sẽ có những chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tính hợp lý cơ cấu vốn của doanh nghiệp

1.3.1 Đánh giá cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp dưới góc độ tài sản

Quản lý và sử dụng vốn theo tài sản cũng như cơ cấu vốn hợp lý xét dưới góc độ tài sản là việc huy động nguồn lực vốn – tài sản phải tạo ra được tính đồng bộ, tính cân đối về mặt tỷ lệ (cả về vật chất, năng lực sản xuất và giá trị) sao cho xét trên tổng thể chúng phải được huy động một cách hữu ích nhất

Biểu hiện của 1 cơ cấu vốn hợp lý từ giác độ tài sản là:

- Tạo ra năng lực sản xuất cao nhất với tổng lượng vốn cho trước

- Đảm bảo cho các khâu trong sản xuất kinh doanh diễn ra một cách nhịp nhàng, cân đối theo cả không gian và thời gian

- Đảm bảo cho những mất cân đối (từ đó tạo ra sự thừa thiếu giả tạo tương đối) trong một toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh là ít nhất Mặt khác vẫn phải đảm bảo tính dự trữ (dự phòng) về phân bố tài sản – vốn giữa các khâu (tức là chấp nhận tính mất cân đối nhất định từ góc độ dự trữ năng lực sản xuất) phù hợp với điều kiện riêng của các khâu

a Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn:

* Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh trong kỳ:

Là chỉ tiêu phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng

Doanh thu thuần Vòng quay toàn bộ VKD =

VKD bình quân trong kỳ

( 1 - 3 )

Trang 32

Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh nghiệp

đã đầu tư

* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:

Phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

Tỷ suất lợi nhuận VKD =

VKD bình quân trong kỳ

( 1 - 4 )

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bình quân được sử dụng trong

kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:

Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ nhân của doanh nghiệp đó Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu này

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất lợi nhuận VCSH =

VCSH bình quân

( 1 - 5 )

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, đó là trong

kỳ cứ đầu tư một đồng vốn chủ sở hữu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

b Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:

Trang 33

Trong đó, vốn cố định bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân số học giữa vốn cố định đầu kỳ và cuối kỳ

* Hàm lượng vốn cố định:

VCĐ bình quân Hàm lượng VCĐ =

Doanh thu thuần

( 1 - 7 )

Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định Chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao

*Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:

Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

Tỷ suất lợi nhuận VCĐ =

VCĐ bình quân trong kỳ

( 1 - 8 )

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế cho doanh nghiệp

c Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

* Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn)

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra có thể tạo

ra được bao nhiêu đồng doanh thu Việc tăng vòng quay vốn lưu động có ý nghĩa kinh tế rất lớn, giúp doanh nghiệp giảm được lượng vốn lưu động cần thiết trong kinh doanh, từ đó giảm vốn vay, hạ thấp chi phí sử dụng vốn

Trang 34

- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:

Hai chỉ tiêu này chỉ cho biết hiệu quả sử dụng vốn kỳ sau so với kỳ trước chứ không cho biết mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được

* Hàm lượng vốn lưu động (hay còn gọi là mức đảm nhận vốn lưu động):

Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần phải

có bao nhiêu đồng vốn lưu động bình quân

VLĐ bình quân Hàm lượng VLĐ =

Doanh thu thuần

( 1 - 11 )

Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động

* Mức tiết kiệm vốn lưu động: chỉ tiêu này cho biết trong năm qua đơn

vị đã tiết kiệm được hoặc lãng phí bao nhiêu đồng vốn lưu động

Mức luân chuyển VLĐ Mức tiết kiệm VLĐ (Mtk) =

360

x ( K1 – K0 ) ( 1 - 12 )

Trong đó : K1 là số ngày một vòng quay vốn lưu động hiện tại

K0 là số ngày một vòng quay vốn lưu động năm trước

Mtk > 0 là lãng phí

Mtk < 0 là tiết kiệm

Mức tiết kiệm vốn lưu động có được là do tăng tốc độ luân chuyển vốn

Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên có thể tăng tổng mức luân chuyển song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ

Trang 35

* Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:

Lợi nhuận trước hoặc sau thuế

Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =

VLĐ bình quân

( 1 - 13 )

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao

d Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một trong những nguyên tắc để xác định cơ cấu vốn hợp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng thanh toán phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ Khả năng thanh toán là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá tiềm lực tài chính của Doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp :

* Vốn luân chuyển

Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn ( 1 - 14 )

Chỉ tiêu vốn luân chuyển thể hiện lượng vốn đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện khả năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty

* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

Trang 36

này nhỏ hơn 1, điều này báo hiệu tình hình tài chính không khả quan, trong các trường hợp xấu nhất có thể xuất hiện khả năng phá sản của công ty

* Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

đó, Công ty phải dùng tài sản thực sự của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền, trong số tài sản đó chỉ có tài sản lưu động là có khả năng thanh khoản cao hơn cả

Ý nghĩa của chỉ tiêu này là trong một đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo Khi chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt, nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là chưa tốt, doanh nghiệp cần chú trọng cải thiện Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng không nên quá cao vì như thế nghĩa là tài sản ngắn hạn ( bao gồm hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng ) của doanh nghiệp lớn

* Hệ số thanh toán nhanh

Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu

Hệ số khả năng

Hệ số thanh toán nhanh thể hiện các khoản tiền mặt cũng như các tài sản có thể chuyển thành nhanh tiền mặt để đáp ứng cho việc thanh toán nợ ngắn hạn Ý nghĩa của hệ số này là đánh giá khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ

Trang 37

* Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Tiền và các khoản tương đương tiền

Vì vậy, hệ số khả năng thanh toán tức thời là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn Thông thường chỉ tiêu này nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 thì khả năng thanh toán tức thời của công ty được đánh giá là tốt

* Hệ số thanh toán lãi vay

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Hệ số khả năng thanh

toán lãi vay = Tổng số nợ phải trả ( 1 - 19 )

Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn

để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ, hay cho biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức nào và đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không Ý nghĩa của chỉ tiêu này là phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các khoản vay, 1 đồng lãi vay phải trả của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay đảm bảo cho nó

1.3.2 Đánh giá cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp dưới góc độ nguồn hình thành

Đánh giá cơ cấu vốn hợp lý trong doanh nghiệp dưới góc độ nguồn hình thành là xem xét chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp Để có được quyền sử dụng các nguồn vốn đầu tư cũng như các nguồn vốn đi vay, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí nhất định Có thể hiểu chi phí sử dụng vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn được tính bằng số lợi nhuận

Trang 38

kỳ vọng đạt được trên số vốn đầu tư vào doanh nghiệp để không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đưa lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp

Cơ cấu nguồn vốn thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng của doanh nghiệp bởi lẽ:

- Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp

- Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp hay công ty cổ phần

Các loại nguồn vốn khác nhau có chi phí sử dụng vốn khác nhau Muốn xác định được chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp ta cần xác định được chi phí sử dụng vốn của từng loại vốn trong doanh nghiệp

a, Chi phí sử dụng vốn vay 1

Để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay như vay vốn Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, phát hành trái phiếu (đối với một số loại hình doanh nghiệp)… Khi sử dụng vốn vay doanh nghiệp phải tạo ra khoản lợi nhuận tối thiểu bằng số tiền lãi vay phải trả cho chủ nợ thì mới đảm bảo thu nhập của chủ sở hữu không bị

1

PGS.TS.Nguyễn Đình Kiệm, TS.Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Tr.216

Trang 39

sụt giảm Do vậy, chi phí sử dụng vốn vay là tỷ suất sinh lời tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải đạt được từ việc sử dụng vốn vay để sao cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của một cổ phần không bị sụt giảm

Một trong những ưu thế khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay là tiền lãi vay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, đây cũng được xem là một “lá chắn thuế” Do vậy, khi xem xét chi phí sử dụng vốn vay cần phân biệt hai trường hợp: chi phí sử dụng vốn vay trước thuế và chi phí sử dụng vốn vay sau thuế

- Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế: là tỷ suất sinh lời tối thiểu doanh nghiệp phải đạt được khi sử dụng vốn vay chưa tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp để tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu không bị sụt giảm và có thể hiểu thông qua công thức sau:

t n

dt

n dt

dt

t

r

T r

T r

T r

T V

1 2

2 1

) 1 ( )

1 (

) 1 (

Trong đó:

Vt là số tiền vay thực tế mà doanh nghiệp thực sự sử dụng được cho đầu tư

Tt là số vốn gốc và tiền lãi doanh nghiệp trả ở năm thứ t cho chủ

nợ hay người cho vay (t = 1÷n)

rdt là chi phí sử dụng vốn vay trước thuế

n là số năm vay vốn

Để xác định chi phí sử dụng vốn vay, có thể áp dụng các phương pháp xác định tỷ suất hoàn vốn nội bộ của khoản đầu tư (IRR)

- Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế:

Một công ty cổ phần huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường thì khoản thu nhập trả cho người cung cấp vốn là lấy từ thu nhập sau thuế Trong khi đó, nếu công ty sử dụng vốn vay, lãi tiền vay phải

Trang 40

trả được coi là một khoản chi phí hợp lý và được trừ vào phần thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Như vậy, công ty phải nộp thuế thu nhập ít hơn so với trường hợp sử dụng tài trợ hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu Đây là một lợi ích chủ yếu của việc sử dụng vốn vay Khoản thuế thu nhập công ty phải nộp ít hơn đó được các nhà kinh tế gọi là khoản tiết kiệm thuế hay “Lá chắn thuế của lãi vay” và có thể xác định theo công thức sau:

t I

BI   (1 – 21)

Trong đó:

BI: khoản tiết kiệm thuế do sử dụng vốn vay hay “Lá chắn thuế của lãi vay” tính cho 1 năm

I: lãi vay vốn phải trả trong năm

t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Khoản tiết kiệm thuế đã khiến cho chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn so với sử dụng các nguồn tài trợ khác Do vậy, để so sánh chi phí sử dụng các nguồn tài trợ khác nhau cần tính về chi phí sử dụng vốn sau thuế để đảm bảo sự

so sánh đồng nhất

Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế có thể xác định theo công thức sau:

) 1 ( t r

rddt   ( 1 – 22 )

Trong đó:

rd: Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế

rdt: Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế

t: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Như vậy, có thể thấy chi phí sử dụng vốn vay sau thuế sẽ thấp hơn chi phí sử dụng vốn vay trước thuế do lãi vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế, từ đó làm giảm bớt gánh nặng chi phí sử dụng vốn đối với vốn vay, đó cũng là tác động lá chắn thuế của tiền lãi vay

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w