1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường đh mỏ địa chất giai đoạn 2011 2015

136 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập, đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về

Trang 1

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2012

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Thủy

Trang 2

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới

PGS.TS Nguyễn Đức Thành - cán bộ hướng dẫn khoa học cho tác giả - đã hướng

dẫn, chỉ bảo nhiệt tình và định hướng khoa học cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo sát thực tế và thực hiện Luận văn

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo và tập thể cán

bộ công chức trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình khảo sát thực tế, thu thập số liệu phục vụ cho việc phân tích, tổng hợp số liệu và viết Luận văn

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh- trường Đại học Mỏ - Địa chất, các nhà khoa học, bạn bè và người thân đã động viên, khích lệ và chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình học tập, công tác và thực hiện Luận văn

Trang 3

Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa CNH - HĐH

Trường Đại học Mỏ - Địa chất Trường ĐHMĐC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức hiện nay, vấn đề đào tạo

nguồn nhân lực trình độ cao được coi là chìa khoá cho sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia Thực tế là các nước có nền kinh tế dẫn đầu thế giới hiện nay như

Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp cũng là những nước có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất Sự vươn lên đáng kinh ngạc của một số quốc gia Châu Á trong những thập

kỷ gần đây như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc và Singapore phần lớn cũng nhờ thành công của hệ thống giáo dục đại học tiến bộ

Sự bùng nổ quy mô đào tạo cũng như sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các cơ sở giáo dục đại học gây nhiều khó khăn cho các Chính phủ trong vấn đề quản lý và chu cấp tài chính Cơ chế quản lý phi tập trung hoá, phân cấp mạnh, giao cho các cơ sở đào tạo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm được coi là yếu tố nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục đại học Thực tế, các nước có

hệ thống giáo dục đại học tiên tiến nhất cũng là các nước thực hiện cơ chế tự chủ ở mức độ cao nhất

Trường đại học Mỏ - Địa chất là trường đại học công lập nằm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và thành lập từ năm 1966 Trải qua 45 năm xây dựng và phát triển, trường ĐHMĐC luôn là một cơ sở đào tạo nòng cốt, cung cấp nguồn nhân lực cho lĩnh vực khoa học Trái đất và Mỏ đáp ứng nhu cầu xã hội, phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Trường được giao quyền tự chủ về tài chính từ năm 2008, đến nay đã được 5 năm thực hiện theo nghị định 43/2006/NĐ-CP và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, không những hoàn thành nhiệm vụ được giao mà còn nâng cao thu nhập cho người lao động Nhưng trong quá trình hoạt động của đơn vị vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác quản lý tài chính vì cả những lý do khách quan và chủ quan Vì vậy

để nâng cao chất lương đào tạo, tăng khả năng cạnh tranh của Nhà trường thì trong các năm tới vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý tài chính là rất cần thiết Chính vì

vậy, việc “Nghiên cứu áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường đại học Mỏ - Địa chất giai đoạn 2011- 2015” là vấn đề có tính cấp thiết

Trang 5

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của trường đại học Mỏ - Địa chất giai đoạn

2011 - 2015 và góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu

3.2 Phạm vi nghiên cứu là kết quả nghị định 43/2006/NĐ-CP và tập trung nghiên cứu toàn bộ hoạt động tài chính của trường đại học Mỏ - Địa chất Từ đó có các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại trường đại học Mỏ - Địa chất giai đoạn 2011 - 2015

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan về thực trạng quản lý tài chính tại trường đại học Mỏ - Địa chất Trên cơ sở đó đánh giá và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại đơn vị

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích thống kê; phương pháp đồ thị bảng biểu; phương pháp mô hình hóa; phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn đã hệ thống hóa, khái quát những vấn đề cơ bản của quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng

Phân tích thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại trường đại học Mỏ - Địa chất đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường; là tài liệu tham khảo trong công tác quản lý tài chính của Trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Trang 6

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

Chương 2: Phân tích thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về tài chính tại trường đại học Mỏ - Địa chất

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính ở trường đại học Mỏ - Địa chất giai đoạn 2011 - 2015

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.1 Tổng quan lý luận về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng 1.1.1 Những vấn đề lý luận về đơn vị sự nghiệp có thu

1.1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu

b Vai trò của đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế:

Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay cả nước có khoảng 25.631 đơn vị sự nghiệp, trong đó có 845 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, 10.431 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và 14.355 đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công ở Trung ương và Địa phương đã có nhiều đóng góp cho

sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thể hiện:

- Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

- Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung ứng các sản phẩm văn hóa và nghệ thuật phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 8

- Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công đều

có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thực hiện chủ chương xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của Nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đồng thời thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho sự phát triển hoạt động sự nghiệp của xã hội

c Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu là các đơn vị sự nghiệp, do vậy đặc điểm hoạt động trước hết giống với các đơn vị sự nghiệp nói chung đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của một đơn vị hoạt động có thu, ảnh hưởng quyết định đến cơ chế quản

lý tài chính của đơn vị Các đặc điểm đó là:

+ Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập;

+ Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, không vì mục

đích lợi nhuận;

+ Do khả năng hạn hẹp của ngân sách Nhà nước, không thể đảm bảo tất

cả các khoản chi của các ĐVSNCT, đáp ứng nhu cầu xã hội

Nhà nước cho phép các ĐVSNCT được thu một số loại phí, lệ phí;

+ Các đơn vị sự nghiệp có thu được tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp

dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình;

+ Đơn vị sự nghiệp có thu chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản

(Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố) Đồng thời chịu sự quản lý về mặt chuyên môn của các Bộ, ngành, chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực hoạt động

sự nghiệp và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở

+ Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán

1.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu

Trang 9

Nhà nước có một hệ thống các đơn vị sự nghiệp có thu rất lớn Vì vậy, để đảm bảo quản lý thống nhất và có hiệu quả hoạt động của các đơn vị này, người ta tiến hành phân loại đơn vị sự nghiệp có thu như sau:

a Theo đối tượng quản lý:

Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc cơ quan hành chính Nhà nước như các Cục, Bộ, cơ quan ngang bộ: Những đơn vị này hoạt động theo các quy định của Nhà nước và của Cục, Bộ chủ quản, nên có tính linh hoạt và chủ động khá cao

Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một doanh nghiệp Nhà nước; là những đơn vị thực hiện những chức năng, nhiệm vụ mà doanh nghiệp này giao cho Tính linh hoạt của đơn vị sự nghiệp này không cao vì không chỉ phụ thuộc vào quy định của Chính phủ mà còn phải tuân theo các quy chế hoạt động của doanh nghiệp

Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một tổ chức do Nhà nước cấp giấy phép hoạt động Các tổ chức này có thể là tổ chức chính trị xã hội Tính linh hoạt của các đơn vị này cũng không cao vì ngoài sự quản lý của Nhà nước còn phải tuân theo các quy định về hoạt động của các tổ chức lãnh đạo, phạm vi các ngành nghề được tham gia của đơn vị

b Theo phạm vi hoạt động:

Đơn vị sự nghiệp có thu ở Trung ương: các đơn vị này là các cơ quan trực thuộc Cục, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chịu sự quản lý trực tiếp của các Bộ cơ quan chủ quản

Đơn vị sự nghiệp có thu ở địa phương: các đơn vị này chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương (các Ủy ban nhân dân)

c Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên căn cứ xác định mức kinh phí Nhà nước cấp để đảm bảo cho hoạt động thường xuyên hàng năm của đơn

vị ổn định trong 3 năm của thời kỳ phân loại

Mức tự đảm bảo chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp

phí hoạt động thường = x 100% (1.1) thường xuyên (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Trang 10

Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định

Dựa vào tiêu thức phân loại này, căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp có thu gồm:

Đơn vị có nguồn thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động): là đơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức (1.1), bằng hoặc lớn hơn 100%

Đơn vị có nguồn thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách Nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động): là đơn vị sự nghiệp có mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức (1.1) từ trên 10% đến dưới 100%

Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do Ngân sách Nhà nước đảm bảo toàn bộ (gọi tắt

là đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động): bao gồm các đơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức (1.1) từ 10% trở xuống và các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu

1.1.2 Những vấn đề lý luận chung về các trường đại học, cao đẳng công lập 1.1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của giáo dục đại học

a Khái niệm

Giáo dục đại học bao gồm:

- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;

- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng

Trang 11

tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;

- Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học;

- Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trường đại học, cao đẳng công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;

b Mục tiêu của giáo dục đại học

- Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo

- Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và

có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo

- Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao

về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo

- Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn

1.1.2.2 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học, cao đẳng

Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của Nhà nước và theo điều lệ Nhà trường trong các hoạt động sau:

Trang 12

- Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với ngành nghề được phép đào tạo;

- Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng;

- Tổ chức bộ máy nhà trường; tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đãi ngộ nhà giáo, cán bộ, nhân viên;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực;

- Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ

1.1.2.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của trường đại học, cao đẳng

Xã hội hóa nhà trường làm cho giáo dục và đào tạo đáp ứng những nhu cầu rất khác nhau, rất phong phú, rất đa dạng, nhiều kiểu, nhiều vẻ của xã hội, của từng vùng, từng khu vực, từng địa phương Xã hội hóa trường học đại học sẽ làm cho nhà trường không còn là một thể chế dập khuôn, cứng nhắc, biệt lập, khép kín với bên ngoài Hệ thống nhà trường về nguyên tắc phải là hệ thống mở, các tính chất và nguyên tắc của nó phải đa dạng Trường đại học phải gắn liền với xã hội, thâm nhập vào các quá trình đang diễn ra trong xã hội, thâm nhập vào các quá trình đang diễn

ra trong xã hội và thu hút nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội tham gia xây dựng

và phát triển Nhà trường

Dân chủ hóa trong các trường đại học nhằm phát huy tối đa năng lực sáng tạo của tập thể Nhà trường và cá nhân vào việc tổ chức, quản lý giảng dạy và giáo dục và sự phát triển trường đại học Dân chủ hóa trường đại học sẽ biến tất cả các thành viên trong Nhà trường thành những chủ thể của quá trình giáo dục, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình quản lý thành quá trình tự quản lý Dân chủ hóa trường đại học sẽ giải phóng cả thầy lẫn trò và người quản lý khỏi sự ràng buộc, không ép bởi một thể chế đơn điệu cứng nhắc, mở ra chân trời rộng lớn cho người lao động sáng tạo Mạnh dạn phân cấp cho từng bộ phận trong

hệ thống tổ chức Nhà trường Phát huy tính tự chủ của từng tập thể, từng cá nhân, thực hiện trách nhiệm đi đôi với quyền lợi, khen thưởng đi đôi với kỷ luật, bổ nhiệm

Trang 13

đi đôi với bãi nhiệm, đó là những yếu tố then chốt trong quản lý nhằm khai thác hết năng suất của mọi thành viên và mọi tập thể Nhà trường

Nhân văn hóa trong trường đại học là một yếu tố quan trọng của chiến lược con người mà rất nhiều nước trên thế giới hiện rất quan tâm Bởi vì nhân văn hóa trong trường đại học nhằm hướng hoạt động chủ yếu của Nhà trường vào việc hình thành và phát triển nhân cách người học, đặt cá nhân người học vào vị trí trung tâm hoạt động Nhà trường Tư tưởng chủ đạo của quá trình giáo dục và đào tạo là sự phát triển của người học Yếu tố then chốt trong tư tưởng đó là tôn trọng nhân cách, phẩm giá người học, tôn trọng cá tính, những nhu cầu và hứng thú cá nhân của người học Nhân văn hóa trong trường đại học đảm bảo tôn trọng và kế thừa những

di sản văn hóa quý báu của dân tộc và thế giới Nhân văn hóa trong trường đại học đòi hỏi phải giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, chăm lo sức khỏe đời sống vật chất và tinh thần của người dạy và người học trong trường

Hình thành hệ thống đào tạo liên tục là quan điểm chung của hầu hết các nước phát triển và đang phát triển Bởi vì hình thành hệ thống đào tạo liên tục do tính năng động trong sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật hiện nay Do

đó phải chuyển từ công thức “đào tạo một lần cho cuộc đời” bằng công thức “đào tạo liên tục cho cả cuộc đời” Bản chất của đào tạo liên tục thể hiện ở tư tưởng chủ đạo của nó là sự phát triển liên tục của con người được xem xét như một chủ thể hoạt động và ứng xử trong toàn bộ cuộc đời của họ Ý nghĩa của tính liên tục là thường xuyên thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của từng người và toàn xã hội

về giáo dục và đào tạo Muốn vậy hệ thống đào tạo liên tục phải đảm bảo tính mềm dẻo

Một vấn đề đặc biệt quan tâm nữa trong hoạt động đào tạo của trường đại học là chăm lo đội ngũ giảng viên – lực lượng tri thức, những người vun đắp cho các thế hệ tương lai của đất nước Trong điều kiện khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng, muốn hiện đại hóa giáo dục và đào tạo trước hết phải hiện đại hóa thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là đội ngũ thầy cô giáo các trường đại học, cao đẳng, phải có chế độ luân phiên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức và nghiệp

vụ sư phạm cho họ Mọi cán bộ giảng dạy đại học, cao đẳng phải được sắp xếp theo

Trang 14

chức danh, trên cơ sở đó mà nâng cao trình độ và phát triển họ theo sự phát triển của khoa học, công nghệ thời hiện đại

1.1.3 Cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng

1.1.3.1 Khái niệm cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học, cơ chế tài chính là “tổng thể các biện pháp, hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế tài chính phải phù hợp và thích ứng với

cơ chế quản lý kinh tế của từng giai đoạn phát triển xã hội [75 tr120-121] Do đó,

cơ chế tài chính cho giáo dục đào tạo là tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính cho hoạt động giáo dục đào tạo

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp thực chất là cơ chế tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn

vị gắn trách nhiệm thực thi quyền đó được đề cao

Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập, đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu mang những đặc điểm riêng, cụ thể:

Tự chủ về tài chính là sự chủ động về việc đảm bảo và quản lý sử dụng các nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu Các đơn vị SNCT cần được tự quyết định và chủ động khai thác, tìm kiếm các nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho tài sản tương lai; cân đối các nguồn tài chính thu và chi nhằm đảm bảo hệ thống tài chính minh bạch, tuân thủ pháp luật Tự chủ về tài chính giúp các đơn vị sử dụng hiệu quả hơn đầu tư của Nhà nước và của xã hội

Quyền tự chủ về tài chính nếu được thực hiện sẽ không tách rời việc đảm bảo các yêu cầu chính đáng của người học, ĐVSNCT tự chịu trách nhiệm trước xã hội

và đất nước Quyền tự chủ về tài chính sẽ quyết định tự chịu trách nhiệm về tài chính của ĐVSNCT, tự chịu trách nhiệm về tài chính thể hiện trên 3 phương diện:

Trang 15

- Trách nhiệm với người học, với xã hội:

Là trách nhiệm đảm bảo chất lượng cam kết, trách nhiệm sử dụng hiệu quả, minh bạch kinh phí đóng góp của người học và xã hội Trong một thị trường giáo dục có định hướng đúng đắn và cạnh tranh lành mạnh, mỗi trường phải chủ động xây dựng chiến lược, mục tiêu phù hợp, xây dựng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất phù hợp để cạnh tranh thu hút sự đầu tư của nhà nước và các nguồn khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu người học, chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội Khi người học và người sử dụng lao động đều có quyền tự do lựa chọn, các trường không thể đào tạo không đáp ứng nhu cầu của xã hội, không thể thu mức học phí không tương xứng với chất lượng đào tạo người học mong đợi

- Trách nhiệm với Nhà nước:

Là trách nhiệm đảm bảo mọi hoạt động của Nhà trường, theo sứ mạng đã công bố, trong khuôn khổ của pháp luật, trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư của Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước

- Trách nhiệm đối với chính đơn vị của mình

Là trách nhiệm phát triển đơn vị một cách bền vững, giữ vững và nâng cao

uy tín của đơn vị vì quyền lợi của tập thể của đội ngũ cán bộ viên chức Trong cơ chế tự chủ, uy tín và sự phát triển của đơn vị phụ thuộc một cách quyết định vào năng lực lãnh đạo, quản lý và chuyên môn của chính đội ngũ cán bộ lãnh đạo Nhà trường chỉ tạo cơ chế thông thoáng và giúp các đơn vị

thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

1.1.3.2 Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

Xây dựng và áp dụng cơ chế tài chính mới nhằm quản lý hiệu quả, phát triển tài chính vững mạnh, đảm bảo điều kiện tốt thực hiện tốt các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để

Trang 16

hoàn thành nhiệm vụ được giao Phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội Tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách Nhà nước

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển Bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn

Phân biệt rõ cơ chế quản lý Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp, cơ chế quản lý Nhà nước đối với cơ quan hành chính Nhà nước

1.1.3.3 Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng

a Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

Hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu rất đa dạng, tham gia nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nên quản lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định

cụ thể của từng ngành Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa bên cạnh nguồn thu từ ngân sách Nhà nước cấp, các đơn vị này còn có nguồn thu chi trả của dân cư, các nguồn do đơn vị tự tìm kiếm, khai thác Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu không những góp phần giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách Nhà nước cấp, mà còn khuyến khích cung cấp các dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm

Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp liên quan đến hiệu quả kinh tế xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó nếu có cơ chế quản lý tài chính hợp lý sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của đất nước

Trang 17

b Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong các trường đại học, cao đẳng

Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính giúp các trường đại học thực hiện đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cho Nhà trường, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng và có chất lượng là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo của một trường đại học Nếu các trường đại học đảm bảo nguồn tài chính để trang trải tiền lương tối thiểu cho giáo viên và điều kiện làm việc, cơ sở vật chất và cơ hội học tập, thăng tiến về mặt chuyên môn thì khi đó giảng viên mới toàn tâm, toàn ý cho công tác giảng dạy nghiên cứu, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

Thứ hai, đảm bảo nguồn tài chính trong các trường đại học góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Cơ chế tài chính không những tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo trong các trường đại học phát triển, mà còn có ý nghĩa đảm bảo cho lĩnh vực này hoạt động đúng hướng, đúng mục tiêu ý đồ của nhà cầm quyền Nói cách khác, cơ chế tài chính là biện pháp vĩ mô để nhà nước điều tiết hoạt động giáo dục đào tạo

Thứ ba, đảm bảo nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, tạo cơ hội cho sinh viên từng bước tiếp cận thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà trường

Nhờ có nguồn tài chính cho KH&CN, đội ngũ giáo viên có điều kiện tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học Do đó, qua tham gia nghiên cứu khoa học, đội ngũ giáo viên trong trường đại học có điều kiện rèn luyện trong cả môi trường nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sản xuất kinh doanh Cán bộ khoa học có điều kiện theo sát sản phẩm của mình trong quá trình ứng dụng tại doanh nghiệp, từ đó

có các điều chỉnh kịp thời kịp để hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu Hoạt động KH&CN trong các trường đại học gắn kết quyền lợi của các nhà khoa học với thị trường, gắn kết hoạt động đào tạo và nghiên cứu của họ với thực tế đời sống và sản xuất Tạo động lực để các nhà khoa học không ngừng sáng tạo trong nghiên cứu, nâng cao năng lực nghiên cứu và chất lượng đào tạo của đội ngũ giáo viên Nhà Trường

Trang 18

- Thông qua tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sinh viên tìm hiểu sâu hơn những kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập, từng bước ứng dụng vào thực tiễn, từ đó chất lượng đào tạo được nâng cao

Đặc biệt, cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện cho đội ngũ học viên cao học và nghiên cứu sinh, qua hoạt động nghiên cứu khoa học mà hoàn thiện luận văn, luận án thạc sỹ, tiến sỹ với chất lượng cao, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

Thứ tư, góp phần huy động nguồn lực vật chất và tài chính vào phát triển các trường đại học

Qua hoạt động nghiên cứu, các trường đại học có được nguồn tài chính và vật chất được đầu tư từ xã hội, Nhà nước, các doanh nghiệp và cá nhân trong nước cũng như các tổ chức quốc tế Từ đó, hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học góp phần vào việc phát triển Nhà trường

Cuối cùng, cơ chế tài chính góp phần xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các

đơn vị sự nghiệp có thu với toàn xã hội, các đơn vị sản xuất kinh doanh, gắn lý luận với thực tiễn, gắn học với hành

1.1.3.4 Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

+ Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

Ngân sách Nhà nước cấp:

- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu

sự nghiệp), được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

Trang 19

- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giảm biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp, theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

- Vốn đối ứng để thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài, đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt;

- Kinh phí khác (nếu có)

+ Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:

- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Thu từ hoạt động dịch vụ;

- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);

- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng + Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật + Nguồn khác:

- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng,vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị;

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Nội dung chi của đơn vị sự nghiệp có thu

+ Chi thường xuyên:

- Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;

- Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật)

+ Chi không thường xuyên, gồm:

- Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

Trang 20

- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;

- Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định;

- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;

- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;

- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)

Tự chủ về các khoản thu, mức thu

Đơn vị sự nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quy định

Trường hợp Nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn

cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng,nhưng không vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định

Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách - xã hội theo quy định của Nhà nước

Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan Nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí đã được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận

Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các

Trang 21

khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ

- Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định

Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc

Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định tại Nghị định này

Tiền lương, tiền công và thu nhập của đơn vị sự nghiệp có thu

+ Tiền lương, tiền công:

- Đối với những hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định;

- Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do Nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm, đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị tính theo đơn giá tiền lương quy định Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định;

- Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp Nhà nước Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định

+ Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giảm biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:

Trang 22

- Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định này;

- Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định, sau khi

đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định này

Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

+ Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định (gọi tắt là tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định) do đơn vị sự nghiệp

tự bảo đảm từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ

Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định, phần còn thiếu sẽ được ngân sách nhà nước xem xét, bổ sung để bảo đảm mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ

Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm

+ Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:

a) Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Trang 23

Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

b) Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định tại điểm b khoản

2 Điều 18 Nghị định này;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm, bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó; đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

+ Đơn vị sự nghiệp không được chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ từ các nguồn kinh phí quy định tại các điểm c, d, e, g, h, i, k khoản 1 Điều 14 Nghị định này và kinh phí của nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện

Sử dụng các quỹ:

+ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị và theo quy định của pháp luật Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

+ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người lao động

Trang 24

+ Quỹ khen thưởng dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội

bộ của đơn vị

+ Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

1.2 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu và ở các trường đại học, cao đẳng công lập

1.2.1 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

a Tình hình thực hiện triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu

Triển khai nghị định 43/2006/NĐ-CP, các Bộ và cơ quan Trung ương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 741 đơn vị trực thuộc; trong đó

có 208 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động; 461 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và 72 đơn vị do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động

Các địa phương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 24.890 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, trong đó: 637 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động; 9.970 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và 14.283 đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động [Nguồn: báo cáo của Bộ Tài chính 2011]

Để đánh giá kết quả thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp có thu ta tìm hiểu tình hình thực hiện và kết quả đạt được tại các đơn vị sự nghiệp có thu của thành phố Hà Nội như sau:

Trang 25

Theo báo cáo sơ kết đánh giá kết quả thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Sở Tài chính (Nguồn: Webside của Sở Tài chính) giai đoạn 2007-2009, 100% đơn vị sự nghiệp công lập của thành phố đã được giao quyền tự chủ về tài chính, cụ thể:

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: là lĩnh vực sự nghiệp có tỷ lệ % số đơn

vị thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trên tổng số đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự của thành phố cao nhất (1578/1905 đơn vị tương đương 82,8%) Toàn thành phố có 05 đơn vị thuộc lĩnh vực này hoàn toàn tự đảm bảo kinh phí, 786 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, 787 đơn vị sự nghiệp ngân sách đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động

Trong lĩnh vực y tế có 103 đơn vị được giao quyền tự chủ: trong đó có 02 đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, 51 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, 50 đơn vị ngân sách đảm bảo toàn bộ

Trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình:

có 107 đơn vị được giao quyền tự chủ

Trong lĩnh vực khác (thương mại, dịch vụ ) là lĩnh vực có tỷ lệ các đơn vị

sự nghiệp công lập tự đảm bảo hoàn toàn chi phí hoạt động cao nhất: 27 đơn vị trên tổng số 117 đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động chiếm 23% Các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thuộc lĩnh vực này chủ yếu

là các ban quản lý chợ thuộc các quận, huyện

Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính các đơn vị đã chủ động được nguồn tài chính, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, khai thác các nguồn thu

đa dạng nhờ đó tăng thu nhập cho cán bộ, công nhân viên Tổng thu nhập tăng thêm của các đơn vị sự nghiệp toàn thành phố là 155.162 triệu đồng, đạt tỷ lệ 10,95% so với tổng quỹ lương (1.416.747 triệu đồng)

Trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ, thủ trưởng các đơn vị được tự quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ một cách linh hoạt theo quy định của nhà nước tùy theo nội dung và hiệu quả công việc trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng Đặc biệt đối với các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động được tự chủ trong chi tiêu, không phụ thuộc vào các định mức quy định của nhà nước Đây là quy định tạo động lực phấn đấu để các đơn vị hướng tới đảm bảo toàn bộ kinh phí

Trang 26

Các đơn vị đã chủ động tổ chức các hoạt động dịch vụ, thực hiện liên doanh, liên kết, kêu gọi đầu tư, khai thác cơ sở vật chất để bổ sung nguồn, có thêm kinh phí

để đầu tư phát triển cơ sở vật chất, tăng thu nhập cho người lao động

Như vậy, thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu của thành phố Hà Nội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên mọi lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề, Y tế, Văn hóa – Thông tin, Thể dục thể thao và lĩnh vực khác Số thu sự nghiệp, số kinh phí tiết kiệm trong năm, thu nhập bình quân đầu người đều tăng trong khi tổ chức biên chế được tinh gọn

b Đánh giá việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiêp có thu

Một số kết quả đạt được

Các ĐVSNCT khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

đã phát huy được quyền tự chủ, chủ động khai thác các nguồn thu sự nghiệp, mở rộng và đa dạng hóa các loại hình cung ứng dịch vụ, chủ động sử dụng các nguồn kinh phí theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, đảm bảo chi tiêu có hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng

Thu nhập của cán bộ viên chức được nâng lên Ngoài việc đảm bảo tiền lương cơ bản theo ngạch bậc do Nhà nước quy định, các đơn vị đều đã có nguồn để tăng thu nhập cho người lao động tuy còn ở mức độ khác nhau tùy theo khả năng thu và tiết kiệm chi của đơn vị Từng bước giải quyết khó khăn về đời sống cho người lao động và khuyến khích người lao động nâng cao tinh thần trách nhiệm, gắn

bó với công việc

Chủ động bố trí sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế và thực hiện hợp đồng theo hướng tinh gọn, hiệu quả phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao

Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, nghiệp vụ cao hơn mức chi Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng

Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần khẳng định việc giao quyền tự chủ tài chính cho ĐVSNCT là một cơ chế đúng đắn, phù hợp với yêu cầu cải cách tài chính công, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị, nâng cao chất

Trang 27

lượng phục vụ nhân dân, cung cấp các dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng cho

xã hội, cải thiện từng bước thu nhập cho người lao động

Những tồn tại, khó khăn, vướng mắc:

Trong cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSNCT, các đơn vị đã thích ứng

được với cơ chế mới song cũng không ít các đơn vị còn hạn chế, vướng mắc chưa thực hiện đủ các quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính:

Thứ nhất, việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng quy định và thực

hiện quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng với hướng dẫn tại Thông tư số

71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính Cụ thể là:

Quy định cước điện thoại di động, điện thoại nhà riêng cao hơn mức quy định của nhà nước, hoặc không quy định mức cước điện thoại mà thanh toán theo thực tế phát sinh không đúng quy định

Quản lý sử dụng các quỹ còn tình trạng chưa xây dựng mức trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Chưa quy định cụ thể về đối tượng chi, mức chi

Về Quản lý các hoạt động dịch vụ các đơn vị đều chưa hạch toán kịp thời, đầy đủ, chính xác doanh thu, chi phí hoạt động dịch vụ dẫn tới thiếu thuế GTGT và thuế TNDN

Tại các đơn vị đều chưa xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao như khối lượng công việc hoàn thành trong năm, chất lượng công việc hoàn thành… nên việc chi trả thu nhập tăng thêm trong năm đều tính theo

hệ số chức vụ cấp bậc công tác và bình bầu A,B,C…

Tự ban hành tỷ lệ trích chênh lệch thu chi vào Quỹ dự phòng tài chính;

trích Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp không đúng; trích Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, trợ cấp mất việc

Nhiều khoản chi thường xuyên phát sinh nhưng chưa được qui định cụ thể trong qui chế chi tiêu nội bộ mà thực hiện theo quyết định của thủ trưởng đơn vị, dẫn tới hạn chế về tính công khai, dân chủ trong quá trình quản lý tài chính

Thứ hai, việc lập và giao dự toán chưa sát với thực tế: vẫn còn một số đơn

vị sự nghiệp chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự bảo đảm chi thường

Trang 28

xuyên, để làm cơ sở xác định chính xác mức hỗ trợ của NSNN Bên cạnh đó, một số đơn vị lập dự toán thu, chi NSNN vẫn mang theo tâm lý khi lập dự toán thu chưa phản ánh hết các nguồn thu, hoặc lập dự toán với số thu thấp hơn số thực thu năm trước, nội dung chi cao hơn để được tăng hỗ trợ từ NSNN, lập dự toán chi cao hơn

số quyết toán các năm trước liền kề, nhưng không có thuyết minh và lý giải hợp lý

nguyên nhân tăng

Thứ ba, việc xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp, dẫn đến cấp kinh phí

không chính xác: do các đơn vị sự nghiệp lập dự toán không sát và cơ quan chủ

quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp

để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Đơn vị đã tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng cơ quan chủ quản vẫn cho phép áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên Việc đơn vị xác định không đúng loại hình tự chủ dẫn đến NSNN hàng năm vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động thường xuyên (Ví dụ có đơn

vị từ năm 2006 đến năm 2009, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên năm 2006 là 154%, năm 2007 là 166%, năm 2008 là 146%, năm 2009 là 256% nhưng vẫn được NSNN cấp bổ sung kinh phí: năm 2006 là 431 triệu đồng, năm

2009 là 200 triệu đồng )

Thứ tư, quản lý các hoạt động dịch vụ còn nhiều sai sót, thiếu hướng dẫn:

Hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng đã đóng góp một phần đáng kể nguồn thu cho đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên song việc quản lý hoạt động dịch vụ tại các đơn vị cũng còn nhiều tồn tại như: chưa hướng dẫn giá thu dịch vụ, phân phối việc liên kết với các tổ chức cá nhân có máy móc thiết bị (tại các bệnh viện thuộc Bộ Y tế) hạch toán thiếu, không kịp thời doanh thu, chi phí dẫn tới thực hiện nghĩa vụ với NSNN không đầy đủ, thiếu thuế GTGT, thiếu thuế TNDN

Thứ năm, việc xác định quỹ tiền lương và thu nhập tăng thêm: một số đơn

vị, vừa đồng thời thực hiện các dự án, nhiệm vụ Nhà nước giao, vừa thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ, nên không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí quản lý, các khoản chi phí chung Nhiều đơn vị đã không xây dựng đơn giá tiền lương, thực hiện hạch toán quĩ tiền lương của hoạt động dịch vụ mà thường ký các

Trang 29

hợp đồng thuê khoán chuyên môn, trả tiền công theo các hợp đồng vụ việc; Như vậy thực chất đã ẩn cả thu nhập tăng thêm, thậm chí là các khoản chi phúc lợi, lễ tết vào trong chi phí trước thuế TNDN, đã dẫn tới giảm số thuế TNDN phải nộp NSNN và không thể hạch toán được chênh lệch thu-chi, không có nguồn để trích quỹ theo đúng quy định Từ những vấn đề vướng mắc như trên, cho thấy cần có sự nghiên cứu, tổng kết, đánh giá rõ hơn để xây dựng cơ chế, chính sách quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp kinh tế thực hiện cơ chế tự chủ toàn bộ kinh phí theo hướng chuyển dần sang hạch toán đủ chi phí theo mô hình doanh nghiệp, NSNN không cấp kinh phí mua sắm máy móc, thiết bị cho đơn vị; đơn giá thanh toán các

nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng đã bao gồm đủ các chi phí

Việc không khống chế tối đa tiền lương tăng thêm đối với các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động:

Hiện tại, đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ hoàn toàn theo Nghị định 43 và Thông tư 71, không khống chế mức tiền lương tăng thêm Việc không quy định mức tiền lương tăng thêm tối đa đối với các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo kinh phí hoạt động, dẫn đến các đơn vị có lợi thế về số thu không những thuận lợi cho việc hoàn thành các nhiệm vụ Nhà nước giao do luôn có sẵn nguồn kinh phí, mà còn được chi tiền lương tăng thêm không khống chế, dẫn đến thu nhập của cán bộ nhân viên có chênh lệch về tiền lương tăng thêm lớn

Một số đơn vị không xác định được số chênh lệch thu chi thường xuyên, nguyên nhân là do:

Quy định mức trích các quỹ khen thưởng, phúc lợi theo tỷ lệ % trên số thu của từng loại thu phí, lệ phí, các khoản trích nộp từ các hoạt động dịch vụ theo tỷ

lệ đó, nhiều đơn vị đã quyết toán chi khen thưởng, phúc lợi vào chi thường xuyên nên đã không xác định chênh lệch thu chi để trích lập các quỹ theo đúng qui định

Qui chế chi tiêu nội bộ qui định cụ thể mức chi tiền lương tăng thêm, dẫn tới hàng tháng đã quyết toán chi tiền lương tăng thêm vào chi thường xuyên, trước khi xác định chênh lệch thu chi Do không xác định được chênh lệch thu - chi trước khi trả tiền lương tăng thêm, trích lập các qũy, nên không đánh giá được kết quả tăng

Trang 30

thu, tiết kiệm chi của các đơn vị; tiền lương tăng thêm và chi khen thưởng, phúc lợi chưa trở thành động lực khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi

Việc xác định doanh thu, chi phí hoạt động dịch vụ:

Còn có đơn vị không tổ chức hạch toán riêng doanh thu, chi phí đối với từng hoạt động dịch vụ, do đó đã không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí quản

lý, các khoản chi phí khác của các hoạt động Nhà nước giao theo chức năng nhiệm vụ với các hoạt động dịch vụ mà đơn vị đã cung cấp cho thị trường, gây khó khăn trong việc xác định mức thu phí, lệ phí theo mục đích hoạt động cung cấp các dịch vụ cho xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận, với việc xác định giá dịch vụ của một số đơn vị đối với khách hàng

Cuối cùng, về cơ chế chính sách theo lĩnh vực còn nhiều bất cập và hạn chế:

* Trong lĩnh vực Giáo dục, Đào tạo:

Về chính sách học phí: Với khung học phí như hiện nay, để tăng thu, nhiều đơn vị đã qui định các khoản thu thêm không có quy định của cấp có thẩm quyền Khung thu học phí đào tạo không chính qui chưa bao quát hết các loại hình đào tạo,

về học phí đào tạo các hệ không chính qui cần được nghiên cứu, sửa lại theo hướng:

cụ thể hoá thêm các loại hình đào tạo, xác định lại khung học phí phù hợp, mức cụ thể do các đơn vị đào tạo tự quyết định

Về chính sách lệ phí: Việc tuyển sinh hệ chính quy: các đơn vị thu đúng mức qui định, nhưng cũng không đủ chi nên đã sử dụng các nguồn thu sự nghiệp hoặc NSNN cấp để bù đắp chi; Việc tuyển sinh sau đại học: nhiều đơn vị đã thu lệ phí tuyển sinh cao hơn qui định, do số lượng thí sinh dự thi ít nên số thu được không đủ chi; Việc tuyển sinh các hệ không chính qui: hầu hết các đơn vị đều thu cao hơn qui định mới đủ chi do phải tuyển sinh nhiều đợt, số thi sinh tham dự thi ít Từ bất cập

đó, cần phải được nghiên cứu sửa đổi lại chính sách lệ phí theo hướng: bổ sung thêm qui định về mức thu lệ phí tuyển sinh các hệ đào tạo không chính qui, mức thu

lệ phí của các hệ tuyển sinh nên qui định theo khung, mức cụ thể do các trường tự qui định cho phù hợp với tình hình thực tế theo nguyên tắc tự cân đối thu - chi

* Lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường:

Theo quy định hiện hành, dự án khi lập và phê duyệt dự toán, đơn giá tiền

Trang 31

lương không tính chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị vì các máy móc, trang thiết bị là do NSNN đã đầu tư và trang bị cho các đơn vị Tuy nhiên, trong xu thế cải cách tài chính công hiện nay, NSNN sẽ giảm dần, tiến tới không cấp kinh phí mua sắm trang thiết bị, tài sản cho các đơn vị này, vì vậy việc không tính chi phí khấu hao máy móc, thiết bị, tài sản vào đơn giá thì về lâu dài các đơn vị sẽ không có nguồn để tiếp tục tái đầu tư phát triển các hoạt động sự nghiệp

* Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông:

Các cơ quan có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn về việc thu lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu đối với loại thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, nên đơn vị đã không thực hiện thu phí cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị này chưa có quy định về việc quản lý thu, chi đối với hoạt động duy trì, khai thác hệ thống trung

chuyển lưu lượng Internet quốc gia

Tỷ lệ phí, lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành, cho phép đơn vị được

để lại số thu lớn hơn nhu cầu chi thực tế của đơn vị, là không hợp lý và công bằng

Ví dụ có đơn vị tỷ lệ phí, lệ phí được để lại cao (90%), thực tế chi phí hoạt động hàng năm thấp; cụ thể: năm 2006 số chi hoạt động chỉ bằng 18,66% số thu, năm

2007 là 30,68%; năm 2008 là 32,63% và năm 2009 là 34,12% do được để lại nhiều, nên đơn vị đã chi tiền lương tăng thêm rất cao

c Một số nguyên nhân:

- Công tác tuyên truyền, triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở một

số Bộ, ngành, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, vì vậy một bộ phận cán bộ chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ dẫn đến chưa thực hiện đúng tinh thần Nghị định số 43/2006/NĐ-CP

- Cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ

sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ dẫn đến chất lượng và hiệu quả cung ứng các dịch vụ sự nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng tốt các nhu cầu của xã hội

- Các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa thực sự quan tâm việc trao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế nên chậm hướng dẫn

Trang 32

- Một số Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương chưa có biện pháp đôn đốc, kiểm tra thường xuyên các đơn vị triển khai thực hiện theo quy định của Nghị định

số 43/2006/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính; một số địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác triển khai thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp Nhiều đơn vị sự nghiệp chưa chủ động xây dựng phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính từng giai đoạn gửi cơ quan chủ quản cấp trên xem xét thẩm định Một bộ phận cán bộ, viên chức, người lao động đơn vị sự nghiệp công lập nhận thức chưa đầy đủ về nội dung, mục đích và yêu cầu về thực hiện giao quyền tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp, vẫn còn mang nặng tâm lý ỷ lại, trông chờ bao cấp của nhà nước, e ngại khi thay đổi cơ chế quản lý

1.2.2 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các trường đại học và cao đẳng

a Tình hình thực hiện triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về tài chính tại các trường đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về tài chính cho 54 đơn vị theo công văn số 2971/BTC-HCSN ngày 14/3/2008 về việc phân bổ dự toán NSNN năm 2008 (đợt II) và giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp, gồm:

- 10 đơn vị được giao tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, gồm: Trường đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, Viện đại học Mở Hà Nội, Trung tâm hợp tác chuyên gia với nước ngoài, Trường ĐH Hà Nội, Trường ĐH Ngoại thương, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, Trường ĐH Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Báo Giáo dục và Thời đại, Tạp chí Thế giới mới

Đến năm 2010 Trung tâm hợp tác chuyên gia với nước ngoài sáp nhập vào Cục Đào tạo với nước ngoài, Tạp chí thế giới mới tách ra khỏi đơn vị trực thuộc Bộ

- 34 đơn vị được giao tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, gồm các trường: ĐH Tây Bắc, ĐH Tây Nguyên, ĐH Đà Lạt, ĐH Mỹ thuật CN, ĐH

Sư phạm TDTT Hà Nội, ĐH Sư phạm TDTT TP Hồ Chí Minh,

ĐH Sư phạm nghệ thuật Trung ương, ĐH Nông nghiệp Hà Nội, ĐH Nông

Trang 33

lâm TP Hồ Chí Minh, ĐH Nha Trang, ĐH Bách khoa HN, ĐH Xây dựng, ĐH Giao thông Vận tải, ĐH Mỏ - Địa chất, ĐH Thái Nguyên, ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng, ĐH Cần Thơ, ĐH Sư phạm HN, ĐH Sư phạm HN 2, ĐH Vinh, ĐH Quy Nhơn, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, ĐH Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên, ĐH Đồng Tháp, CĐ Sư phạm Trung ương, CĐ Sư phạm Trung ương Nha Trang, CĐ Sư phạm Trung ương TP Hồ Chí Minh, ĐH Thương mại, ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, Học viện Quản lý GD, Trường CB quản lý giáo dục TP Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục

- 10 đơn vị là đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động, gồm:

Dự bị đại học Dân tộc Trung ương, Dự bị đại học Dân tộc Sầm Sơn, Dự bị đại học Dân tộc Nha Trang, Dự bị đại học TP Hồ Chí Minh, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, Cục Công nghệ thông tin, Phân viện PUSKIN, Viện Vật lý kỹ thuật

Đến năm 2010 Phân viện Puskin sáp nhập vào Cục Đào tạo với nước ngoài, Cục Công nghệ thông tin chuyển sang đơn vị thuộc khối quản lý hành chính nhà nước, Viện Vật lý kỹ thuật chuyển thành đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động (Nguồn: Báo cáo của Bộ Giáo dục – Đào tạo năm 2011)

* Về xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

Triển khai thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04//2006 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo 54 đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tổ chức xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định để quản lý và sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên, công khai trong đơn vị Kết quả thực hiện đến nay đã có 54/54 đơn vị đã xây dựng, ban hành quy chế chi tiêu nội bộ (nhiều đơn vị quy chế chi tiêu nội bộ đã được sửa đổi bổ sung hàng năm cho phù hợp thực tế hoạt động và các văn bản hướng dẫn mới nhất)

b Đánh giá việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các trường đại học, cao đẳng

Một số kết quả đạt được:

Trang 34

Thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 54 đơn vị trực thuộc Bộ, kết quả đạt được rất thuận lợi về quản lý và sử dụng so với cơ chế trước đây, cụ thể là:

Thủ tục hành chính giảm thiểu đáng kể các thủ tục xác nhận và phê duyệt chi tiêu cụ thể của Bộ với đơn vị, góp phần cải cách hành chính trong quản lý, không còn tình trạng chờ đợi cấp trên phê duyệt, các đơn vị phải chịu trách nhiệm về quyết định nội dung, chi tiêu cụ thể, tự đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao năng lực trong công tác quản lý

Nhiều đơn vị đã có nhiều đổi mới trong hoạt động để mở rộng nguồn thu, cải thiện thu nhập, tăng thu nhập cho người lao động, trích lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi chăm lo cho người lao động Đây là một cơ chế thực sự đổi mới so với cơ chế trước đây dựa chủ yếu vào kinh phí NSNN cấp, tạo điều kiện để các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức sắp xếp lao động, bố trí và tuyển dụng lao động theo nhu cầu

Nhiều đơn vị đã tự chủ động cân đối tài chính cho hoạt động, nhưng chi tiêu rất tiết kiệm so với chế độ cho phép, đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động không quá 3 tháng lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định Tổng hợp báo cáo của các đơn vị năm 2010, thu nhập bình quân chung của CBVC các đơn vị thực hiện tự chủ tài chính đều chỉ tăng dưới 1 lần

Nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị trực thuộc Bộ, tăng hơn so với các năm trước do Nhà nước có sự điều chỉnh về mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh, điều này

đã phần nào giảm bớt khó khăn về kinh phí cho các trường trong điều kiện hơn 10 năm thực hiện theo khung học phí thực hiện theo Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cụ thể: Ngày 21/8/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1310/QĐ-TTg điều chỉnh khung học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân năm học 2009-2010; Ngày 14/5/2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến

Trang 35

năm học 2014-2015; Ngày 11/2/2010 Liên Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ban hành Thông tư liên tịch số 21/2010/TTLT-BTC-BGDĐT quy định chế độ thu

và sử dụng phí dự thi, dự tuyển (lệ phí tuyển sinh) đại học và trung cấp chuyên nghiệp

Các đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí NSNN giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch

vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu

Những tồn tại, khó khăn, vướng mắc:

Nghị định 43 quy định quyền tự chủ tài chính, song cơ chế khuyến khích các đơn vị tăng thu, thực hiện tiết kiệm chi tiêu hàng năm còn vướng mắc, cụ thể là:

Để có tích lũy vốn đủ lớn cho việc xây dựng mới cơ sở vật chất đầu tư dài hạn phát triển đơn vị, các đơn vị tập trung trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, thể hiện trên sổ sách kế toán, tuy nhiên theo cách xác định của Nghị định 43/2006/NĐ-CP là số chênh lệch thu lớn hơn chi, do đó các cơ quan thanh tra, kiểm tra lại cho là khoản kinh phí chưa chi tiêu (chênh lệch thu-chi, kinh phí thừa), ảnh hưởng đến việc xem xét bổ sung nguồn kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương hàng năm, hỗ trợ của ngân sách Nhà nước hàng năm đối với đơn vị Hay nói cách khác đơn vị càng tiết kiệm chi thì càng bị giảm nguồn ngân sách nhà nước cấp

Nhiều trường thực hiện hợp tác phát triển chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài, song cũng chưa có văn bản hướng dẫn về thu, chi thống nhất cho phù hợp với loại hình liên kết đào tạo này và giao quyền tự chủ cho các trường, nên các trường rất lúng túng trong thực hiện

Chưa có cơ chế cụ thể qui định việc huy động vốn của cán bộ, công chức, viên chức và vay vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động dịch vụ để khuyến khích các đơn vị chủ động giải quyết việc thiếu phòng học, cơ sở vật chất, kinh phí xây dựng hàng năm được cấp hạn chế đáp ứng phát triển của đơn vị, tạo điều kiện

để các đơn vị thực hiện đa dạng hóa và mở thêm loại hình, chương trình đào tạo liên doanh, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội và với các cơ sở giáo dục ngoài nước và các dịch vụ phục vụ học sinh, sinh viên

Trang 36

Nghị định 43 mới chỉ dừng ở giao quyền tự chủ song không có tiêu chí, hướng dẫn về đánh giá hoạt động tài chính có thực sự hiệu quả, chi phí có phù hợp với xã hội và thu nhập của người lao động đã thỏa đáng chưa Do đó các trường thực hiện rất khác nhau, đặc biệt là về thu nhập, trích các quỹ

Việc xác định chênh lệch thu-chi tại thời điểm kết thúc năm tài chính 31/12

là bất cập đối với các cơ sở trường học Do đặc thù của ngành giáo dục là hoạt động giảng dạy, đào tạo theo năm học (từ tháng 9 năm trước đến tháng 6 năm sau), do đó tại thời điểm 31/12 sẽ luôn còn dư một khoản kinh phí từ nguồn thu học phí của học

kỳ I của năm học (thường kết thúc vào tháng 1 hoặc tháng 2 của năm sau), khoản kinh phí này còn phải đảm bảo cho hoạt động giảng dạy, đào tạo từ 1 đến 2 tháng nữa và một phần chi phí để thanh toán cho số giờ giảng vượt so với giờ chuẩn của giáo viên thường được xác định vào cuối năm học (khoảng tháng 10 hàng năm)

Như vậy số chênh lệch thu chi tại thời điểm 31/12, đối với cơ sở trường học chưa phản ánh đúng được kết quả của 1 chu kỳ tài chính cho năm học Số dư kinh phí từ nguồn học phí tại thời điểm 31/12 này thường bị cơ quan kiểm toán, báo chí nhận xét là số thu học phí còn thừa không chi hết, Đối với các loại hình đào tạo không chính quy còn bị cơ quan thuế coi là số thu nhập chịu thuế

Công thức đánh giá mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên trong việc xem xét phân loại lại sau thời gian ổn định 3 năm, đối với đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên là có tính chất 1 chiều: Vì số chi của đơn vị trong thời gian Nhà nước giao ổn định 3 năm, tự đảm bảo phụ thuộc vào số thu sự nghiệp, không thể xảy ra trường hợp quyết toán số chi vượt nguồn thu, không có ghi nhận nào để phản ánh nhu cầu chi còn thiếu nguồn của đơn vị Do đó dẫn đến tỷ lệ (%) tổng số thu sự nghiệp/tổng số chi hoạt động thường xuyên không thể nhỏ hơn 100%

Nghị định 43 mới chỉ quy định về tự chủ đối với các nội dung chi, về mức thu (như thu học phí, lệ phí tuyển sinh) thì vẫn phải thực hiện theo quy định chung đối với các trường công lập, do đó đối với các trường tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên gặp khó khăn về tổng nguồn kinh phí để hoạt động, khi không được

Trang 37

nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên mà mức thu học phí thì phải thực hiện giống như các trường có ngân sách nhà nước hỗ trợ chi hoạt động thường xuyên

Thu nhập của người lao động chưa được cải thiện so với nhiều ngành nghề khác trong xã hội, bình quân thu nhập chung tăng dưới 1 lần so với lương nhà nước quy định Mặc dù mức học phí đã được Nhà nước điều chỉnh theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ, tuy nhiên việc xác định cơ chế thu, quyết định thu đang còn là vấn đề đối với các trường

Về hạch toán tiền chi trả thu nhập tăng thêm theo quy định của Nghị định 43/2006/NĐ-CP chưa được quy định rõ nên nhiều đơn vị lúng túng trong quá trình thực hiện: Có đơn vị chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động tính trực tiếp vào chi phí hoạt động, có đơn vị trả thu nhập tăng thêm sau khi xác định chênh lệch thu chi Do chưa có hướng dẫn hạch toán trả thu nhập tăng thêm

Theo quy định của Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Thông tư 71/2006/TT-BTC quy định về việc tạm ứng chi trả trước thu nhập tăng thêm, tuy nhiên thực tế các đơn vị đều thực hiện chi trả ngay tiền tăng thêm cho người lao động mà chưa căn cứ vào kết quả hoạt động thu chi trong năm

Chưa có hướng dẫn việc hạch toán nội dung tạm trích lập các quỹ khi kết thúc năm, khi đơn vị xác định được chênh lệch thu chi của hoạt động thường xuyên (chuyển từ tài khoản dự toán sang tài khoản vãng lai tại Kho bạc) nên cả Kho bạc và đơn vị đều lúng túng trong việc hạch toán và theo dõi

Nhiều đơn vị lúng túng trong việc xây dựng các tiêu chí để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo hiệu quả công việc dẫn đến hầu hết trả theo mức bình quân, chưa khuyến khích được người lao động trong công việc

c Tình hình thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP tại một số trường đại học cụ thể

Để đánh giá kết quả thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ta tìm hiểu kết quả đạt được tại một số trường đại học

Trang 38

Triển khai thực hiện nghị định 43, Trường đại học Huế đã giao quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 20 đơn vị trực thuộc Các đơn vị trực thuộc đã

tổ chức thực hiện nhiệm vụ giao theo đúng kế hoạch Chỉ tiêu thực hiện thu chi NSNN, thu sự nghiệp tại đơn vị theo dự toán đã phê duyệt Tự cân đối nguồn thu sự nghiệp để giải quyết những nhiệm vụ phát sinh Tuy nhiên đơn vị không có đủ nguồn đáp ứng nhu cầu cải cách tiền lương hàng năm theo các Nghị định số 28/2010/NĐ-CP, 33/2009/NĐ-CP và các nghị định đã ban hành trước đó Căn cứ vào dự toán đề nghị Nhà nước đã cấp bù ngân sách để giải quyết một phần tiền lương tăng thêm do thực hiện nghị định 118/NĐ-CP, nghị định 94/NĐ-CP và nghị định 33/NĐ-CP Tổng tiền lương được bù trong năm 2008 là : 3.984,75 triệu đồng, năm 2009 là 10.734,6 triệu đồng

Tất cả các đơn vị đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình phù hợp với nghị định số 43/2006/NĐ-CP Đồng thời sau mỗi năm thực hiện, đơn vị đã chủ động điều chỉnh, bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp thực tế hơn

Các giải pháp thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ: chính quyền, tổ chức công đoàn phối hợp chặt chẽ trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Quá trình thực hiện còn có sự giám sát của cán bộ viên chức tại đơn vị

Đại học Huế đã hướng dẫn, kiểm tra và phê duyệt quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị trực thuộc, không ban hành quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị dự toán cấp II

Các đơn vị trực thuộc đại học Huế đã tổ chức thực hiện tốt việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính nhằm không ngừng tăng hiệu quả và tiết kiệm trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản như sau: Huy động vốn tăng nguồn thu bằng tận thu học phí từ người học; mở rộng hợp tác quốc tế bằng các dự án, chương trình nghiên cứu từ nguồn tài trợ của các tổ chức nước ngoài

Về thu nhập tăng thêm: số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần: 19; có

hệ số tăng thu nhập từ 1-2 lần là 1

Nhà trường đã có các biện pháp thực hành tiết kiệm và tăng thu: tiết

Trang 39

kiệm triệt để các khoản chi phí điện nước, sử dụng văn phòng phẩm, sử dụng xăng dầu ô tô và các khoản chi tiêu hành chính khác

Trong quá trình thực hiện, trường đại học Huế còn gặp rất nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước và nguồn thu tại đơn vị không đủ đáp ứng các nhu cầu thực hiện nhiệm vụ Trong thực tế, NSNN giao ổn định trong 3 năm, nguồn thu của đơn

vị năm sau tăng không đáng kể so với năm trước Trong khi đó lại phải thực hiện chi phí phát sinh do thực hiện chế độ cải cách tiền lương mới, tăng thêm hàng năm theo lộ trình cải cách tiền lương của Chính phủ

Bảng 1.1: Báo cáo tổng kết thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006

của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2010

Tổng biên chế, lao động của đơn

vị được giao quyền tự chủ tài

Tổng kinh phí trong năm Triệu đồng 360.659 394.105 414.498

Kinh phí NSNN cấp trong năm Triệu đồng 124.419 150.976 164.136 Thu sự nghiệp trong năm gồm Triệu đồng 236.240 243.129 250.362

Thu phí, lệ phí Triệu đồng 206.975 213.554 218.362 Thu dịch vụ Triệu đồng 9.090 8.292 9.000

Thu khác Triệu đồng 20.149 22.098 23.058

Trang 40

Tổng thu nhập tăng thêm trong

Trích lập các quỹ Triệu đồng 9.463 12.861 14.700

Về huy động vốn Triệu đồng 5.437 5.430 6.500

Số vốn huy động được Triệu đồng 4.026 7.431 8.200

Huy động của CBVC Triệu đồng

Vay vốn của các tổ chức tín dụng Triệu đồng

Về tiết kiệm kinh phí hoạt động

Số kinh phí tiết kiệm được Triệu đồng

Về số thu sự nghiệp Triệu đồng

Số tăng thu so với năm trước Triệu đồng 17.484 36.889 7.233

Về thu nhập tăng thêm Triệu đồng

Thu nhập bình quân của người lao

Hệ số thu nhập tăng thêm Triệu đồng 0,1 0,1 0,1

(Theo tài liệu: báo cáo của trường Đại học Huế)

Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, nhiệm vụ chính của trường là đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học Trong những năm qua, khi thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP Trường luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trong công tác đào tạo, đạt một số kết quả như sau:

Thu sự nghiệp năm sau cao hơn năm trước do mở rộng các hoạt động liên doanh, liên kết với các đối tác, tự chủ trong việc thành lập các Trung tâm, Công ty nhằm chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn

Trường đã chủ động tiết kiệm chi,tạo nguồn chi trả thu nhập tăng thêm từ 200.000 đ một hệ số năm 2005 lên 250.000 đồng một hệ số năm 2007, và 300.000 đồng một hệ số năm 2008, 2009, 2010 Đồng thời, Trường đã tạo nguồn kinh phí dự phòng để cải cách tiền lương khi Nhà nước có quyết định nâng mức lương tối thiểu

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w