1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý (gis) trong quy hoạch đô thị

80 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho

Trang 1

PHẠM THỊ THU HƯƠNG

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)

TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI 2012

Trang 2

PHẠM THỊ THU HƯƠNG

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)

TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ

Chuyên ngành : Bản đồ, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng qúy giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Đất là vật thể chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh trong đó có tác động của con người Độ phì nhiêu của đất, sự phân bổ không đồng nhất, đất tốt lên hay xấu đi, được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp tuỳ thuộc vào sự quản lý Nhà nước và kế hoạch, biện pháp khai thác của người quản lý, sử dụng đất

Công tác quy hoạch và kế hoạch phân bổ sử dụng đất đã được Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích

và có hiệu quả" (Điều 18, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992) Đất đai được tạo thành trong tự nhiên Đất đai là một phần của vỏ Trái Đất Song về sở hữu quốc gia thì đất đai được gắn liền với chủ quyền lãnh thổ

Mặt khác, đất đai là cơ sở không gian để phân bổ các khu dân cư, các công trình phục vụ sản xuất, văn hoá phúc lợi, xây dựng các ngành kinh tế quốc dân khác trên toàn bộ lãnh thổ, xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng

Qua quá trình học tập và nghiên cứu ở trường nay em được giao luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“Ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý (GIS) trong quy hoạch

đô thị

Trang 4

2 Mục tiêu của đề tài

Sử dụng phần mềm Arcgis quản lý thông tin trên bản đồ, tìm vị trí những diện tích đất thích hợp thuận lợi cho việc xây dựng phát triển đô thị, chọn các khu vực và đối tượng ưu tiên phát triển

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Sử dụng phần mềm Arcgis để vạch quy hoạch cũng như xem thông tin quy hoạch trên từng khu đất

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu thử nghiệm của đề tài là xã Thụy Lâm

5 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quy hoạch đô thị

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về GIS

Thành lập hệ thống cơ sở dữ liệu để quản lý các vấn đề liên quan đến đất đai, dự kiến quy hoạch cho từng khu vực trên địa bàn xã

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin và tài liệu liên quan

Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành ứng dụng thực nghiệm để kiểm

chứng khả năng quy hoạch đô thị

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tất cả các khu vực đều phải có quy hoạch, cải tạo và xây dựng phát triển Chọn đất có vị trí thích hợp sẽ có tác dụng lớn cho mọi hoạt động và phát triển về tổ chức đời sống, tổ chức sản xuất, giảm giá thành xây dựng, cải tạo cảnh quan và môi trường

Hiện nay việc quản lý đất đai là dựa trên phần mềm Famis là phần mềm phải trên nền của Microstation, quản lý thông tin chưa được đầy đủ Vì vậy,

sử dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý đất đai, đề xuất các biện pháp

Trang 5

sử dụng nhằm đưa quy hoạch vào thực tiễn một cách có hiệu quả là cần thiết

và đúng đắn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày trong ba chương gồm 64 trang với 13 hình minh họa và 2 bảng biểu

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và quý báu của TS Trần Vân Anh, người hướng dẫn trực tiếp để tôi hoàn thành luận văn này, cùng toàn thể các thầy cô và đặc biệt là các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn

Trang 6

CHƯƠNG 1 : QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG

1.1 QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

1.1.1 Vai trò và ý nghĩa của sử dụng quản lý đất đai

Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau:"đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu,

bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy, ) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay

hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )"

Như vậy, "đất đai" là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang trên mặt đất( là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, đại hình, thuỷ văn,thảm thực vật cùng các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng

và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người

Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật

và con người trên trái đất

Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội

Trang 7

Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi, măng, gốm

sứ

Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định, là thước đo sự giàu có của một quốc gia Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ

và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng

Luật đất đai 1993 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi:

“Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !"

Thực vậy, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của một quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao dộng và nơi sinh tồn của xã hội loài người

Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau :

Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất( các ngành khai thác khoáng sản ) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất Trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động( luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới

Trang 8

xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất

Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất- văn minh tinh thần, các tính thành tựu kỹ thuật vật chất- văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản- sử dụng đất

Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Thời kì cuộc sống xã hội phát triển

ở mức cao, công năng của đất đai từng bước được mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn là căn cứ của khu vực 1, vừa là không gian và địa bàn của khu vực 2 Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển

Kinh tế xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại một trường đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu

1.1.2.Khái nịêm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai

1.1.2.1.Khái niệm về quy hoạch và sử dụng đất đai

" Quy hoạch" ta có thể hiểu chính là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, sắp xếp, bố trí, tổ chức

" Đất đai" là một phần lãnh thổ nhất định( vùng đất, khoanh đất, vạch đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với nhữnh tính chất

Trang 9

tự nhiên hoặc mới được tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất vào các mục đích khác Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất những phương hướng sử dụng đất đai hợp lí, hiệu quả và tiết kiệm nhất

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong các lĩnh vực sử dụng đất đai Nó giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,nó gắn chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế xã hội Đất đai là địa điểm, là nền tảng, là cơ sở cho mọi hoạt động phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai sẽ là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ở tính chất: kinh tế( bằng hiệu quả sử dụng đất), kỹ thuật ( các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoan định, sử liệu số liệu ) và pháp chế( xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo phấp luật)

Qua phân tích ta có thể định nghĩa: Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước( thể hiện đựơc đồng thời ba tính chất kinh tế,kỹ thuật và pháp chế ) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và tiết kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích

và các ngành ) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai môi trường

Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục

Trang 10

đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Từ đó, ta thấy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh

tế -xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; Xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã hội

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai,hạn chế sự chồng chéogây lạng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất lâm nghiệp, lâm nghiệp( đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng), ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và rất nhiều các hiện tượng gây ra các hiệu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong những năm gần đây khi nhà nước hướng nền kinh tế theo hướng thị trường Một cơ chế vô cùng phức tạp

Hơn nữa quy hoạch sử dụng đất đai còn tạo điều kiện để sử dụng đất đai hợp lý hơn Trên cơ sở phân hạng đất đai, bố trí sắp xếp các loại đất đai quy hoạch sử dụng đất đai tạo ra cái khung bắt các đối tượng quản lý và sử dụng đất đai theo khung đó Điều đó cho phép việc sử dụng đất đai sẽ hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn Bởi vì, khi các đối tượng sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và chủ quyền về các loại đất thì họ yên tâm đầu tư khai thác

Trang 11

phần đất đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn

Quy hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội Nó định hướng sử dụng đất đai cho các ngành, chỉ rõ các địa điểm để phát triển các ngành, giúp cho các ngành yên tâm trong đầu tư phát triển Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai cũng góp một phần rất lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.1.2.2.Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm qui hoạch sử dụng đất đai được cụ thể như sau :

a.Tính lịch sử - xã hội

Qua mỗi giai đoạn lịch sử lại có các chế độ cai trị khác nhau, lịch sử phát triển của mỗi loại giai đoạn khác nhau Chính vì thế, ta có thể nói rằng lịch sử phát triển xã hội chính là lịch sử phát triển của qui hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất thể hiện theo hai mặt : lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất ) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất ) Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai Các công việc của con người như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế đều liên quan chặt chẽ với đất đai, nhằm đưa đất đai vào sử dụng sao cho đầy đủ, hợp lý và hiệu quả cao nhất Quy hoạch đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội

Mặt khác, ở mỗi nước khác nhau đều có luật đất đai riêng của mình Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai của các nước cũng có nội dung khác nhau Ở

Trang 12

nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội Vì vậy theo luật đất đai thì đất đai nước ta thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý và nhà nước giao đất cho các hộ gia đình

và tổ chức sử dụng Điều đó góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn, tạo điều kiện cho người dân làm chủ mảnh đất, tự tin trong sản xuất và đầu tư, giúp cho việc bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của tùng lợi ích kinh tế xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

sử dụng đất của sáu loại đất chính: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị,đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng, cũng như ảnh hưởng đến toàn nhu cầu sử dụng đất đai của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Quy hoạch sử dụng đất đai lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu

sử dụng dất, nó phân bố, bố trí và điều chỉnh các nhu cầu đất đai; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai các ngành, lĩnh vực xác định và điều phối phương thức, phương hướng phân bổ sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế -xã họi, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định

Trang 13

c Tính dài hạn

Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện rất rõ trong phương hướng, kế hoạch sử dụng đất Thường thời gian của quy hoạch sử dụng đất đai trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn nữa Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như:

sự thay đổi về nhân khẩu học, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và các lĩnh vực khác, từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn

Để đáp ứng được nhu cầu đất cho phát triển lâu dài kinh tế -xã hội, quy hoạch sử dụng đất đai phải có tính dài hạn Nó tạo cơ sở vũng chắc, niềm tin cho các chủ đầu tư, tạo ra môi trường pháp lý ổn định

d.Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô

Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất Nó chỉ ra được tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương huớng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như: phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của sử dụng đất đai trong vùng; cân đối tổng quát các nhu cầu sử dụng đất của các ngành; điều chỉnh cơ cấu sử dụng và phân bố đất đai trong vùng; phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng; đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất Quy hoạch có tính dài hạn nên khoảng thời gian dự báo tương đối dài,

mà trong quá trình dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội

Trang 14

khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá quy hoạch sẽ càng

ổn định Do đó, quy hoạch thường có giá trị trong thời gian, tạo nền tảng và định hướng cho các ngành khác sử dụng đất đai theo phương hướng đã vạch

ra

e Tính chính sách

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Mỗi đất nước có các thể chế chính trịnh khác nhau, các phương hướng hoạt động kinh tế xã hội khác nhau, nên chính sách quy hoạch sử dụng đất đai cũng khác Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo cụ thể mặt bằng đất đai của các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kinh tế chính trị xã hội; tuân thủ các chỉ tiêu, các qui định khống chế về dân

số, đất đai và môi trường sinh thái Trong một số trường hợp ta có thể hiểu quy hoạch là luật, quy hoạch sử dụng đất đai để đề ra phương hướng, kế hoạch bắt mọi người phải làm theo Nó là chính sách cứng, là cái khung cho mọi hoạt động diễn ra trong đó Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện tính chính sách rất cao Nhưng không phải thế mà quy hoạch sủ dụng đất đai

là vĩnh viễn, không thay đổi

f Tính khả biến

Với xu hướng đi lên của xã hội, mọi sự vật hiện tượng luôn thay đổi Vì vậy, dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó định trước, đoán truớc,theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Càng ngày xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đời sống của con người đòi hỏi càng cao, các nhu cầu luôn biến đổi, cùng với những thay đổi đó các chính sách của Nhà nước và tình hình kinh tế cũng thay đổi theo Do đó, các dự kiến

Trang 15

quy hoạch là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của qui hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động

1.1.3.Những căn cứ quy hoạch sử dụng đất đai

1.1.3.1.Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là quy hoạch tầm vĩ mô của nhà nước, nhằm bố trí, sắp xếp các ngành nghề, các nguồn lực sản xuất xã hội sao cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất Quy hoạch tổng thể phất triển kinh

tế xã hội xây dựng mục tiêu, phương hướng và kế hoạch cho các hoạt động của toàn bộ lĩnh vực trong xã hội Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước một cách toàn diện và bền vững

Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội là cơ sở cho các quy hoạch khác xác định và định hướng thực hiện Quy hoạch tổng thể định hướng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội, nó vạch ra hướng đi ở tầm vĩ mô cho các ngành các lĩnh vực nhằm thúc đẩy các ngành phát triển đúng hướng Nó chỉ ra nhu cầu của các ngành, trong đó chỉ rõ nhu cầu sử dụng đất của các ngành Bởi vì đất đai là tiền đề, là cơ sở, là nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất trong xã hội Từ bộ khung mà quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội xây dựng lên, giúp cho quy hoạch sử dụng đất đai cũng như các quy họach khác thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả cao

Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một bộ phận của quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội Quy hoạch sử dụng đất căn cứ vào bộ khung của qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã vạch ra sẵn, để cụ thể hoá và chi tiết hoá các chi tiết các nhân tố của quy hoạch tổng thể Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã xác định rõ quy mô, địa điểm và phương hướng hoạt động của tùng vùng, từng lĩnh vực Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ việc căn cứ ngay vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội mà bố trí, sắp xếp phân bố đất sao cho đầy đủ, hợp lí và hiệu quả cao nhất, mà không

Trang 16

phải làm lại quy hoạch từ đầu

1.1.3.2.Căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai

Ý chí của toàn đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được thẻ hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật như hiển pháp, luật và các văn bản dưới luật Những văn bản tạo cơ sở vũng chắc cho công tác lập qui hoạch, lập kế hoạch

sử dụng đất đai, giúp giải quyết về mặt nguyên tắc nhũng câu hỏi đặt ra: sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập qui hoạch sử dụng đất đai.Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất đai, nội dung lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

1.1.3.3 Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất đai và tiểm năng đất đai

Để quy hoạch sử dụng đất đai đạt tính hiệu quả cao, các nhà quy hoạch chỉ căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất mà còn phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng sử dụng đất đai nữa Tuỳ vào tiềm năng đất đai mỗi vùng, hiện trạng sử dụng đất đai của từng nơi, các nhà quy hoạch phải nắm chắc tình hình sử dụng đất của từng nơi đó như: tổng qũy đất tự nhiên, qũy đất cho phát triển các ngành, các vùng và tất cả các thành phần kinh tế quốc dân Từ đó, họ nắm được những thuận lợi cũng như khó khăn, những vấn đề đạt được và chưa đạt được trong quá trình sử dụng đất

Việc quy hoạch sử dụng đất phải dựa trên những số liệu thực tế của quá trình sử dụng đất để biết, để đánh giá xem chỗ nào là quy mô thích hợp, chưa thích hợp, sử dụng đất chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, phát hiện ra những vùng, các thành phần có khả năng mở rộng quy mô trong tương lai Lấy nó làm căn

cứ, làm cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và phân bố đất đai sao cho đầy đủ, hợp

lý và tiết kiệm cao nhất

Trang 17

1.2.QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ

1.2.1 Một số khái niệm về quy hoạch đô thị

1.2.1.1 Khái niệm quy hoạch đô thị

Quy hoạch đô thị là bộ môn khoa học, kĩ thuật, xã hội và nhân văn, là nghệ thuật về tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị

Nó là nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sở các điều tra, dự báo tính toán sự phát triển đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong quá trình

đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực và hướng tới sự phát triển bền vững Công tác quy hoạch xây dựng đô thị nhằm xác định sự phát triển hợp lý của đô thị trong từng giai đoạn và việc định hướng phát triển lâu dài cho đô thị về các mặt :

- Tổ chức sản xuất : Quy hoạch đô thị đảm bảo phân phối hợp lý các khu vực sản xuất trong đô thị

- Tổ chức đời sống : Quy hoạch đô thị có nhiệm vụ tổ chức tốt cuộc sống

và mọi hoạt động hàng ngày của người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong việc phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô thị, tổ chức việc xây dựng các khu

ở, khu trung tâm và khu dịch vụ công cộng, khu nghỉ ngơi, giải trí, cũng như việc đi lại giao tiếp của người dân đô thị

- Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị: là nhiệm vụ rất quan trọng của quy hoạch nhằm cụ thể hóa công tác quy hoạch

đô thị, tạo cho đô thị một đặc trưng về hình thái kiến trúc đẹp hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan

1.2.1.2.Quy hoạch xây dựng vùng

Quy hoạch xây dựng vùng là sự phân bố các lực lượng sản xuất, hệ thống dân cư đô thị và nông thôn trên phạm vi lãnh thổ của một miền, một tỉnh hay

Trang 18

một vùng của đô thị lớn Sơ đồ quy hoạch vùng được lập cho các loại vùng, lãnh thổ có chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành như :

- Quy hoạch vùng công nghiệp

- Quy hoạch vùng nông nghiệp

- Quy hoạch vùng du lịch nghỉ ngơi

- Quy hoạch vùng phân bố dân cư đô thị và nông thôn

- Quy hoạch vùng ngoại thành các thành phố lớn

Quy hoạch vùng tổng hợp thường được nghiên cứu trên phạm vi của các vùng kinh tế hành chính tỉnh, huyện hoặc các khu vực kinh tế phát triển Nhiệm vụ của quy hoạch vùng là :

- Đánh giá tổng hợp thực trạng và nguồn lực phát triển của vùng

- Dự báo các khả năng tăng trưởng về các mặt kinh tế, dân số, đất đai, nhu cầu xã hội…, hình thành các phương án cân đối khả năng nhu cầu

- Xây dựng mục tiêu quan điểm phát triển vùng

- Định hướng tổ chức không gian nhằm phân định các vùng chức năng,

cở sở hạ tầng và các biện pháp bảo vệ môi trường

- Chọn các khu vực và đối tượng ưu tiên phát triển

- Kiến nghị cơ chế và các chính sách quản lý phát triển vùng

1.2.1.3.Quy hoạch chung xây dựng đô thị

Quy hoạch chung xây dựng đô thị xác định phương hướng cải tạo, phát triển đô thị về tổ chức không gian và cơ cấu sử dụng đất đô thị, về cơ sở hạ tầng và mối quan hệ hữu cơ về mặt bên trong và bên ngoài đô thị nhằm tạo lập môi trường và khung cảnh sống thích hợp cùng với các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác

Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch chung xây dựng đô thị là :

- Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và hiện trạng của đô thị, xác định thế mạnh và động lực phát triển đô thị

Trang 19

- Xác định tính chất quy mô, cơ sở kinh tế - kĩ thuật và các chỉ tiêu quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị

- Định hướng phát triển không gian kiến trúc, môi trường và cơ sở hạ tầng đô thị

- Quy hoạch xây dựng đợt đầu 5 – 10 năm và hình thành các cơ sở để lập các đồ án quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư xây dựng

- Xác lập căn cứ pháp lí để quản lý xây dựng đô thị

1.2.1.4.Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa ý đồ của quy hoạch chung xây dựng đô thị

Đồ án quy hoạch chi tiết chia và quy định cụ thể chế độ sử dụng đất đai cho từng chức năng công cộng hoặc riêng lẻ, xác định chỉ giới xây dựng, phân rõ chức năng cụ thể và tỉ trọng xây dựng cho từng loại đất theo một cơ cấu thống nhất Ngoài ra, nó còn nghiên cứu bố trí các hạng mục công trình xây dựng trong từng lô đất nhằm nêu rõ ý đồ về không gian kiến trúc quy hoạch

Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng thường được nghiên cứu ở tỉ lệ 1/2000 ; 1/1000 và 1/500 tùy theo quy mô và mức độ yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra

Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch chi tiết bao gồm :

- Cụ thể hóa và làm chính xác ý đồ và những quy định của quy hoạch chung

- Đánh giá thực trạng xây dựng, khả năng sử dụng và phát triển quỹ đất hiện có

- Tập hợp cân đối các yêu cầu đầu tư xây dựng

- Nghiên cứu để xuất các định hướng kiến trúc và bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị

- Quy hoạch mặt bằng sử dụng đất đai, phân chia các lô đất cho từng đối tượng sử dụng và lập chỉ giới xây dựng, xác định tầng cao khối tích và tỷ

Trang 20

trọng xây dựng các loại công trình

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải tạo xây dựng hệ thống công trình

hạ tầng kĩ thuật

- Soạn thảo quy chế quản lý xây dựng

Đồ án xây dựng quy hoạch phân lô thực chất là các dự án tiền khả thi nhằm xác định khả năng đầu tư xây dựng để thu hút ngân sách và các nguồn đầu tư xây dựng

1.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của công tác quy hoạch xây dựng

Quy hoạch đô thị cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp với bên ngoài và các hoạt động khác của các khu chức năng trong đô thị Đó là mối liên hệ trực tiếp với các khu ở của dân

cư nhằm bảo đảm sự hoạt động bình thường và nhu cầu phát triển không ngừng của các cơ sở sản xuất với việc làm của người dân đô thị

Trang 21

trung tâm và dịch vụ công cộng, khu nghỉ ngơi, giải trí, cũng như việc đi lại giao tiếp của người dân đô thị Ngoài ra nó còn tạo môi trường sống trong sạch, an toàn, tạo điều kiện hiện đại hoá cuộc sống của người dân đô thị, phục vụ con người phát triển một cách toàn diện

1.2.2.3 Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị

Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của quy hoạch nhằm cụ thể hoá công tác xây dựng đô thị, tạo cho đô thị một đặc trưng và hình thái kiến trúc đẹp, hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan Quy hoạch đô thị cần xác định được hướng bố cục không gian kiến trúc, xác định vị trí và hình khối kiến trúc các công trình chủ đạo, xác định tầng cao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy hoạch, nhằm cân đối việc sử dụng đất đai phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương, phong tục tập quán và truyền thống dân tộc của đô thị

Tính bền vững của đô thị phải luôn được chú ý trong việc tổ chức không gian kiến trúc quy hoạch đô thị Việc bảo đảm đô thị phát triển lâu dài, không

vi phạm đến môi trường cảnh quan, tạo điều kiện cho mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên phải được duy trì và phát triển

1.2.3 Phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị

1.2.3.1 Phân loại đô thị

Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành nhiều loại khác nhau Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia

Phân loại đô thị theo tính chất dựa vào yếu tố sản xuất chính và những hoạt động ở đô thị mang tính chất trội về kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp Ngoài ra còn có các thành phố mang tính chất hành chính, thành phố văn hoá, nghỉ ngơi du lịch và các thành phố khoa học hoặc đào tạo

Trang 22

Ở nước ta theo Quyết dịnh số 132/HĐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng

Bộ trưởng về việc phân loại và phân cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành 5 loại :

Đô thị loại I :

Là đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước Dân số đô thị có trên 1 triệu người, tỉ lệ phi nông nghiệp ≥ 90% tổng số lao động của thành phố Mật độ dân cư bình quân trên 15000 người/km2 Loại đô thị này có tỉ suất hàng hoá cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng xây dựng đồng bộ

Đô thị loại II :

Là đô thị lớn, là trung tâm kinh tế văn hoá xã hội, sản xuất công nghiệp,

du lịch, dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ Dân số có từ 35 vạn đến dưới 1 triệu, tỉ lệ nông nghiệp ≥ 90% trong tổng số lao động, mật độ dân cư bình quân trên 12000 người/km2, sản xuất hàng hoá phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới đồng bộ

Đô thị loại III :

Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ - du lịch,

có vai trò thúc đẩy phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ Dân số có từ 10 vạn đến 35 vạn, tỉ lệ phi nông nghiệp ≥ 80% trong tổng số lao động, mật độ trung bình trên 10.000người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt

Trang 23

Đô thị loại IV :

Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hoá

xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh.Dân cư có từ 3 vạn đến 10 vạn (vùng núi có thể thấp hơn), tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 70% trong tổng số lao động Mật độ dân cư trên

8000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn) Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng từng phân hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng

Đô thị loại V :

Là những đô thị nhỏ, là trung tâm kinh tế - xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện Dân số có từ 4000 ÷ 30000 người (ở vùng núi có thể thấp hơn) Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng

số lao động Mật độ bình quân 6000 người/km2, đang bắt đầu xây dựng một

số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Do ảnh hưởng của địa giới hành chính, các vùng lãnh thổ được quy định qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và đang có nhiều bất hợp lý Nhiều đô thị, đặc biệt là các đô thị loại I và các đô thị lớn có ranh giới ngoại ô, ngoại thị không đáp ứng nhu cầu cần phát triển của đô thị hiện đại cần được điều chỉnh Việc xác định ranh giới ngoại ô phải căn cứ vào đặc điểm hiện trạng và tương lai phát triển của từng đô thị theo dự kiến quy hoạch và phải được Nhà nước phê chuẩn Các đô thị loại V không có vùng ngoại ô, thường là các thị trấn tương đương cấp phường xã và chủ yếu do huyện quản lý

Việc xác định quy mô dân số và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nôi thị Riêng miền núi, quy mô số dân

đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn

Trang 24

người và đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, cho đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thị loại V là 2000 người

Mật độ dân cư các đô thị ở miền núi có thể thấp hơn, tính cho đô thị loại III là 8000 người/km2, loại IV là 6000 người/km2 và loại V là 3000 người/km2 Tóm lại, việc xếp loại một đô thị được căn cứ vào 3 tiêu chuẩn cơ bản là vai trò chức năng, quy mô dân số và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị

đó

Bảng 1.1:Bảng tóm tắt về phân loại đô thị

Loại đô thị Đặc điểm Dân số Mật độ dân cư

Đô thị đặc biệt Thủ đô hoặc đô thị với

chức năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, khoa học kỹ thuật

du lịch quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển của

cả nước

Có cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ

>1,5 triệu người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

> 90%

>15000 người/km2

Đô thị loại I Đô thị lớn với chức

năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật du lịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy

sự phát triển của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của

cả nước

Có cơ sở hạ tầng nhiều mặt đồng bộ hoàn chỉnh

>50 vạn người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

≥ 85%

>12000 người/km2

Trang 25

Đô thị loại II Đô thị lớn với các chức

năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước

Có cơ sở hạ tầng nhiều mặt tương đối đồng bộ hoàn chỉnh

>25 vạn người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

≥ 80%

>12000 người/km2(vùng núi có thể thấp hơn)

Đô thị loại III Đô thị trung bình với

các chức năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, khoa học kỹ thuật,

có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hoặc một

số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh

Có cơ sở hạ tầng xây dựng từng mặt đồng bộ hoàn chỉnh

>10 vạn người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

≥ 75%

>8000 người/km2

Trang 26

Đô thị loại IV Đô thị trung bình với

các chức năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, khoa học kỹ thuật,

có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh

Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ hoàn chỉnh

>5 vạn người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

≥ 70%

>6000 người/km2

Đô thị loại V Đô thị nhỏ với các chức

năng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hoặc cụm

Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ hoặc hoàn chỉnh

>5 vạn người

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp

≥ 65%

>2000 người/km2

1.2.3.2 Phân cấp quản lý đô thị

Việc phân loại đô thị trước tiên là để phục vụ cho công tác phân cấp đô thị, về mặt quản lý hành chính Nhà nước được cụ thể hoá như sau :

Trang 27

- Thành phố trực thuộc Trung ương tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thị loại III và loại IV, một số ít có thể thuộc loại V và do tỉnh quản

- Các thị trấn tương đương cấp xã thuộc đô thị loại V chủ yếu do huyện quản lý

Do tình hình phát triển không đồng đều giữa các đô thị trong toàn quốc

và trong từng vùng, cho nên vị trí vai trò và tính chất đô thị đối với từng vùng lãnh thổ cũng khác nhau Trong nhiều trường hợp đặc biệt một số đô thị được phân cấp quản lý caohơn hoặc thấp hơn một bậc so với quy định trên.Ví dụ

có đô thị loại IV nhưng vẫn là thành phố tỉnh lị và có đô thị loại V nhưng vẫn

là thị xã do tỉnh quản lý

Một điều cần lưu lý trong phân loại và phân cấp quản lý đô thị ở nước ta

là tên gọi của đô thị Để phân biệt loại và cấp quản lý cũng như quy mô và vị trí của từng đô thị ta dùng 3 từ quen thuộc “thành phố”, “thị xã” và “thị trấn” Những năm gần đây có xuất hiện thêm từ “thị tứ” được hiểu là trung tâm của các đơn vị cấp xã hoặc liên xã

Thị tứ chưa phải là điểm dân cư đô thị, nhưng tại đây lại tập trung nhiều loại công trình phục vụ công cộng về kinh tế văn hoá xã hội mang tính đô thị phục vụ cho người dân nông thôn Nó là bộ mặt chính của làng xã, là điểm dân cư có màu sắc cả đô thị lẫn nông thôn nhưng tính chất nông thôn vẫn là chính Ở đây có cả những dãy nhà ở tập trung của những người lao động phi nông nghiệp, bán nông nghiệp và cả nông nghiệp ở nông thôn Đây là một hình thức đô thị hoá tại chỗ rất thích hợp với Việt Nam, nó sẽ là nền tảng của các điểm dân cư đô thị tương lai theo hướng đô thị hoá nông thôn

1.2.4.Cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch đô thị

Trong quy hoạch đô thị việc chọn vùng quy hoạch thuận lợi là quan trọng vì nó giải quyết được những vấn đề về: sự phát triển của khu vực đó về

Trang 28

sau, có tính thuyết phục các nhà đầu tư

1.2.4.1 Cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch chung xây dựng đô thị

Quy hoạch chung xây dựng đô thị còn được gọi là quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị Nó xác định phương hướng cải tạo và xây dựng đô thị về phát triển không gian, cơ sở hạ tầng và môi trường sống thích hợp Cơ sở phục vụ cho quy hoạch chung xây dựng đô thị cần phải tính đến các yếu tố :

 Xây dựng các tiền đề phát triển của đô thị :

- Tính chất của đô thị : căn cứ vào đặc điểm tình hình và khả năng phát triển của đô thị , mỗi đô thị có một tính chất riêng phản ánh vị trí, vai trò và tính chất khai thác ở đô thị đó về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường Trên cơ sở đó người ta thường phân thành các loại đô thị có những tính chất riêng, ví dụ : đô thị công nghiệp, đô thị giao thông, đô thị hành chính, đô thị du lịch,…

- Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội của đô thị, là cơ sở phân loại đô thị trong quản lí và xác định quy mô đất đai của đô thị, để xác định khối lượng xây dựng nhà ở, công trình công cộng cũng như mạng lưới công trình kĩ thuật khác Từ dân số đô thị người ta định ra các chính sách phát triển và quản lí của từng kế hoạch đầu tư Do đó việc xác định quy mô dân số đô thị là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất khi thiết kế quy hoạch đô thị Việc tính toán quy mô dân số đô thị chủ yếu là phương pháp dự đoán

- Đất đai : Việc chuyển đổi chức năng sử dụng đất đai từ khu vực nông thôn sang đô thị giá đất đã tăng vọt, ở các trung tâm đô thị lớn Việt Nam có nơi giá đất đã lên tới vài ngàn đô la trên một mét vuông trong những năm gần đây Vì vậy việc đánh giá đúng mức giá trị đất đai cho từng mục tiêu sử dụng

ở đô thị là hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi đồ án quy hoạch xây dựng phát triển đô thị Sau khi đánh giá đúng giá trị đất đai, việc lựa chọn đất

Trang 29

đai xây dựng và phát triển đô thị hợp lí phù hợp với từng chức năng đối tượng

có tác dụng lớn đến sự phát triển các hoạt động của đô thị

- Cở sở kinh tế - kĩ thuật phát triển đô thị : là một trong những tiền đề quan trọng nhất nhất đối với mỗi đô thị Nó là động lực phát triển chủ yếu của

đô thị Tùy theo vị trí chức năng của đô thị, quá trình công nghiệp hóa sẽ kéo theo sự phát triển các ngành khác như giao thông, thương mại, du lịch, dịch

vụ khoa học công nghệ,… Khả năng nâng cao tỉ lệ tăng trưởng kinh tế ở đô thị phụ thuộc vào tỉ lệ đầu tư vào các ngành kinh tế chủ đạo của đô thị, trước tiên là công nghiệp

Việc đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất và kĩ thuật ở đô thị phụ thuộc rất nhiều vào chính sách khai thác và đầu tư ở đô thị đó Một đồ án quy hoạch hợp lý tạo điều cho các cơ sở kinh tế kĩ thuật phát triển, ngược lại các cơ sở kịnh tế kĩ thuật ở đô thị lại là động lực chính thực thi ý đồ quy hoạch xây dựng phát triển đô thị

 Định hướng phát triển không gian đô thị: Chiếm vị trí rất quan trọng trong quy hoạch xây dựng phát triển đô thị Nó quyết định hướng đi đúng đắn của đô thị trong cả quá trình phát triển

1.2.4.2 Cơ sở dữ liệu phục vụ chi tiết quy hoạch đô thị

Đồ án quy hoạch chi tiết nhằm cụ thể hóa những định hướng của quy hoạch chung đô thị đối với khu đất, xác định các giải pháp cụ thể về sử dụng đất, phân khu chức năng, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, quy hoạch

hệ thống hạ tầng kĩ thuật, các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật đối với mỗi loại công trình xây dựng trong khu vực, phương thức đầu tư và khai thác đất, phương thức và quy chuẩn quản lý xây dựng theo quy hoạch Quy hoạch chi tiết là cơ

sở kĩ thuật và pháp lý để xây dựng các dự án đầu tư và các công trình kiến trúc, hạ tầng

Để tiến hành quy hoạch cần xác định các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng

Trang 30

quyết định đến mọi hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội sẽ xảy ra trên khu đất Nghiên cứu những yếu tố trên nhằm tạo cơ sở để xác định các phương án, giải pháp kĩ thuật đúng đắn, hiệu quả của đồ án quy hoạch chi tiết

Những yếu tố tổng hợp có ảnh hưởng đến sự hình thành các hoạt động quy hoạch xây dựng trên khu đất được chọn để nghiên cứu bao gồm :

 Yếu tố khách quan : mối quan hệ giữa khu đất và môi trường xung quanh :

- Với tư cách là một bộ phận hữu cơ của không gian đô thị hay của vùng, những ảnh hưởng qua lại, mối quan hệ không gian, chức năng giữa khu đất với môi trường xung quanh là một trong những yếu tố quyết định đến mọi hoạt động trên khu đất dự kiến quy hoạch

 Những điều kiện tiềm năng của khu đất :

- Điều kiện tự nhiên của khu vực như khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn Những đặc trưng của cảnh quan khu vực

- Các điều kiện hiện trạng về sử dụng đất, dân cư, các công trình kiến trúc, hạ tầng kĩ thuật

 Những hoạt động kinh tế, kĩ thuật và xã hội

Sẽ hình thành trên khu đất theo dự kiến quy hoạch : nhà ở, sản xuất, giao thông, hoạt động văn hóa, dịch vụ, giáo dục, giải trí, …

1.2.5.Các bước tiến hành xây dựng quy hoạch

Bước 1: Thu thập các yêu cầu quy hoạch về: thực trạng về quỹ đất của khu vực hoặc đô thị cần quy hoạch, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất, qua đó đánh giá được tiềm năng của đất đai Phân tích các thông tin nhận được từ đó kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu vực đô thị, phương hướng sử dụng đất trong thời hạn quy hoạch những thông tin về ưu tiên khi quy hoạch mà cơ quan nhà nước cung cấp đưa ra yêu cầu trước khi quy hoạch

Trang 31

Bước 2: Bằng kiến thức chuyên môn phân tích các thông số trên dựa vào các điều kiện này đề xuất các biện pháp sử dụng đất, bảo vệ cải tạo đất và bảo

vệ môi trường sinh thái sao cho hợp lý nhất và hiệu quả nhất Đưa ra những yếu tố của bản dự án cho khu vực đô thị:

+ Một phác thảo sơ đồ quy hoạch

+ Một chương trình tổng quát cho việc thực thi phương án

+ Một lịch trình tiến độ của các công đoạn chủ yếu

+ Một ước lượng tổng thể về văn hóa - xã hội, trong đó nói rõ đối với từng nhóm dân cư liên quan, những thuận lợi có thể hưởng và những bất lợi

có thể phải chịu

+ Một bản dự toán chính xác các phương tiện vật chất, tài chính và nhân lực sẽ cần phải huy động, bởi vì dự toán này có thể sai khác nhiều tùy theo từng khu vực đô thị, tự mình thực hiện các công trình này hay thuê người khác

+ Một bản kết toán ước lượng về tài chính giúp ta; một mặt là những điều kiện có thể tiến hành, và mặt khác thấy rõ đâu là những hệ quả tương lai đối với nguồn thu, chi của các đơn vị hành chính địa phương và của các cơ quan công cộng liên quan

Bước 3: Các phương án đưa ra thảo luận và đi đến lựa chọn Ở đây các chuyên gia và cán bộ có hiểu biết về quy hoạch cùng tham gia lựa chọn từ những phương án đã đưa ra

Đồ án quy hoạch chi tiết sử dụng đất được lập ở hai mức độ khác nhau: + Đối với khu đất có diện tích trên 200ha, áp dụng bản đồ tỷ lệ 1/2000 đến 1/5000 nhằm cụ thể hóa và làm chính xác quy định của đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị về quản lý sử dụng đất đai Việc cải tạo và xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, định hướng về kiến trúc và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên cho mỗi khu đất có quy mô 4 - 20 ha

Trang 32

+ Đối với khu đất từ 20 đến 200 ha, áp dụng bản đồ 1/1000 đến 1/2000 nhằm cụ thể hóa làm chính xác quy định của đồ án quy hoạch chung và đồ án chi tiết sử dụng đất có liên quan, đồng thời xác định rõ mục tiêu, chế độ quản

lý sử dụng đất các yêu cầu về bố cục quy hoạch – kiến trúc, các cơ sở hạ tầng, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, vệ sinh môi trường … cho từng khu đất dành để xây dựng các cụm công trình hoặc công trình

+ Đồ án quy hoạch chia lô: được lập cho khu đất có diện tích dưới 20 ha trên bản đồ địa chính và bản đồ địa hình có tỷ lệ 1/200 đến 1/500, nhằm quy định chế độ quản lý sử dụng đất đai và các yếu tố cải tạo hoạch xây dựng các công trình tại từng lô đất (Các bản đồ đất sử dụng để lập các đồ án quy hoạch chi tiết phải đảm bảo rõ ràng, chính xác phản ánh nội dụng cập nhật về địa hình và thực trạng khu đất)

Bước 4: Khi đã có được phương án quy hoạch, cơ quan chức năng phải đưa đồ án ra lấy ý kiến của cộng đồng Cộng đồng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến thêm vào đồ án quy hoạch để hoàn thiện đồ án, đi sát với thực tế hơn, thông qua cộng đồng việc thực thi quy hoạch sẽ được dễ dàng hơn

Bước 5: Thẩm định lại đồ án để khẳng định tính kinh tế - kỹ thuật – xã hội của đồ án Trình tự và thủ tục thẩm tra phê duyệt gồm:

+ Nộp hồ sơ trình duyệt tại cơ quan thẩm tra

+ Xin thẩm vấn ý kiến các cơ quan hoặc đơn vị tổ chức có liên quan + Cơ quan có thẩm quyền thẩm định, kiểm tra và lập báo các thẩm định + Tổ chức hội nghị thẩm định

+ Ra thông báo ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm tra

+ Hoàn chỉnh hồ sơ (nếu có)

+ Trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt

Bước 6: Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đồ án đã được lựa chọn từ các chuyên gia Hồ sơ xét duyệt gồm:

Trang 33

+ Tờ trình của UBND và Nghị quyết của HĐND cùng cấp thông qua về quy hoạch sử dụng đất đai

+ Báo cáo thuyết minh quy hoạch sử dụng đất đai

+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đai

và các bản đồ chuyên đề khác

Bước 7: Thực hiện quy hoạch: phương hướng mục tiêu sử dụng đất, phân

bố quỹ đất cho các nhu cầu, các giải pháp để thực hiện quy hoạch ở trên đảm bảo triển khai vào thực tiễn

Bước 8: Trong quá trình thực hiện quy hoạch được duyệt, cần phải theo dõi cập nhật quá trình diễn biến để có quyết định điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Nhiệm vụ tổ chức thực hiện và theo dõi quy hoạch gồm:

+ Điều tra thu thập các thông tin, tài liệu phân tích xử lý để rút ra khuynh hướng phát triển

+ Theo dõi các dự án đầu tư xây dựng theo quy hoạch và các điều chỉnh cục bộ nếu có

+ Tổng hợp xây dựng nhiệm vụ điều chỉnh thiết kế quy hoạch, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch xem xét quyết định

+ Lập hồ sơ quy hoạch điều chỉnh

+ Trình duyệt quy hoạch lên cơ quan có thẩm quyền để quyết định

Trang 34

CHƯƠNG 2

HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ PHẦN MỀM ARCGIS

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ 2.1.1 Khái niệm về hệ thống thông tin địa lý GIS

2.1.1.1 Định nghĩa công nghệ GIS

Theo xu thế phát triển của khoa học và công nghệ, khái niệm về hệ thống thông tin địa lý (HTTĐL) cũng được nhìn nhận ngày càng hiện đại, do đó vai trò của nó ngày càng rộng hơn Thông tin địa lý là mô tả môi trường địa lý về

vị trí, kích thước, thuộc tính, quan hệ không gian, thời gian… của đối tượng, hiện tượng và sự kiện nghiên cứu trong một hệ quy chuẩn nào đó

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về HTTĐL, sau đây là một số định nghĩa đang lưu hành:

- HTTĐL là một hệ thống thu thập, lưu trữ, hiển thị, kiểm tra, tổ hợp, phân tích các dữ liệu với sự tham chiếu đến Trái đất (theo Chorley, 1987)

- HTTĐL là một hệ thống gồm phần cứng, phần mềm, và các phương thức được thiết kế để hỗ trợ việc thu thập, lưu trữ, hiển thị, quản lý, điều khiển, phân tích, mô hình hóa các dữ liệu về không gian có chất lượng và được quy chiếu về một hệ thống nhất nhằm giải quyết các bài toán cụ thể về quản lý và đưa ra quyết định (theo David Cowen, 1989)

- HTTĐL là một hệ thống được tự động hóa để thu thập, lưu trữ, chỉnh sửa, hiển thị, phân tích dữ liệu về không gian (theo Clarke, 1990)

Khó có thể định nghĩa thật chuẩn xác về hệ thông tin địa lý, nhưng có thể thấy rõ về hệ thông tin địa lý là một hệ thống thông tin về các đối tượng địa lý được quy chiếu về một không gian và một thời gian thống nhất mà trước đó

có thể sản xuất các thông tin mới dựa vào các thông tin đang có trong hệ thống Là mô hình thế giới thực ở dạng tổ hợp của một số hữu hạn lớp thông tin mà mỗi lớp thông tin là hàm số của tọa độ không gian, thời gian trong một

Trang 35

hệ quy chiếu xác định với độ chính xác của mô hình được tính toán theo mục đích của hệ thống và khả năng kỹ thuật của việc thu nhận, lưu trữ, quản lý và hiển thị các thông tin chiết xuất từ mô hình HTTĐL là tập hợp các công cụ mạnh giúp cho việc thu thập, lưu trữ, truy cập, biến đổi và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực cho tập hợp các mục đích nào đó

2.1.1.2 Khả năng ứng dụng của công nghệ GIS trong trắc địa

GIS là một hệ thống tự động quản lý, lưu trữ, tìm kiếm dữ liệu trắc địa bản đồ với sự giúp đỡ của máy tính Đặc biệt là chúng có khả năng biến đổi

dữ liệu mà không thể thực hiện bằng phương pháp thô sơ

GIS có khả năng chuẩn hoá ngân hàng dữ liệu để có thể đưa vào các hệ thống xử lý khác nhau do đó phát triển khả năng khai thác dữ liệu

GIS có khả năng biến đổi dữ liệu để đáp ứng được những bài toán cụ thể cần được giải quyết

GIS có thể cung cấp những thông tin mới nhất và chính xác nhất Những thông tin này là những thông tin đã được thu thập từ tất cả các dạng thông tin mới nhất để cung cấp cho người sử dụng

GIS cho sự biến dạng của thông tin là ít nhất

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của GIS

Hệ GIS đầu tiên ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của các tiến bộ công nghiệp máy tính, đồ hoạ máy tính, phân tích dữ liệu Hệ GIS đầu tiên được đưa vào ứng dụng trong công tác quản lý tài nguyên ở Canada với cái tên gọi là “Canada Geographic Information System” bao gồm các thông tin về nông nghiệp, lâm nghiệp, sử dụng đất và động vật hoang dã Từ nhưng năm 80 trở lại đây, công nghệ GIS đã có sự phát triển nhảy vọt về chất Trở thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý và trợ giúp quyết định Phần mềm GIS đang hướng tới đưa công nghệ GIS thành hệ tự động thành lập bản đồ và xử lý dữ

Trang 36

liệu Hypermedia (phương tiện cao cấp), hệ chuyên gia, hệ trí tuệ nhân tạo và hướng đối tượng Phần cứng của GIS phát triển mạnh theo giải pháp máy tính

để bàn (Desktop), nhất là những năm gần đây đã ra đời các bộ vi xử lý cực mạnh, thiết bị lưu trữ dữ liệu, hiển thị và in ấn thông tin tiên tiến đã làm cho công nghệ GIS thay đổi về chất Ngày nay, công nghệ GIS đang phát triển mạnh theo hướng tổ hợp và liên kết mạng Có thể nói trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, công nghệ GIS đã luôn tự hoàn thiện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp để phù hợp với nhưng tiến bộ mới nhất của khoa học kỹ thuật

2.1.3 Các thành phần cơ bản của GIS

Công nghệ GIS được hiểu là một hệ thống và được kiến trúc từ các thành phần cơ bản là:

- Phần cứng của máy tính

- Các bộ phần mềm ứng dụng

- Cơ sở dữ liệu

- Con người

Các thành phần cấu thành đó có liên quan mật thiết với nhau và mối quan

hệ giữa các thành phần đó có thể được mô tả theo sơ đồ sau:

GIS +

Phần mềm

Cơ sở

dữ liệu

Thế giới thực

Trang 37

2.1.3.1 Hệ thống các thiết bị phần cứng

Phần cứng của HTTTĐL bao gồm máy vi tính (computer), máy vẽ (plotter), máy in (printer), bàn số hóa (digitizer), thiết bị quét ảnh (scanners), các phương tiện lưu trữ số liệu (floppy diskettes, sptical cartridges, CDROM…)

Hình 2.2 Các thiết bị phần cứng của GIS

Đơn vị xử lý trung tâm được kết nối với đơn vị lưu trữ gồm ổ đĩa CD, DVD để lưu trữ dữ liệu và chương trình Bàn số hóa với các thiết bị tương tự khác được sử dụng cho chuyển đổi dữ liệu sang dạng số và gửi vào máy tính Các thiết bị khác dùng để hiển thị các kết quả phân tích dữ liệu Việc kết nối các máy tính được thực hiện thông qua hệ thống mạng với các đường dữ liệu đặc biệt Thiết bị hình là thiết bị giao tiếp hiển thị như màn hình, thông qua đó người sử dụng điều khiển máy tính

2.1.3.2 Phần mềm

Một hệ thống phần mềm xử lý trong HTTĐL yêu cầu phải có 2 chức năng cơ bản: Tự động hóa bản đồ và quản lý cơ sở dữ liệu Ngoài ra, các hệ phần mềm HTTĐL nói chung còn có các khả năng khác như kết xuất, trao đổi

và hiển thị thông tin Sự phát triển kỹ thuật HTTĐL hiện đại thường tìm cách

Trang 38

rút ngắn khoảng cách giữa các hệ phần mềm nhằm đạt đến khả năng dùng chung nguồn cơ sở dữ liệu

+ Tự động hóa bản đồ: Bản đồ học là môn khoa học hàm chứa tính mỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ và khả năng ứng dụng Do đó, các phần mềm bản đồ số biểu diễn các mối quan hệ không gian từ thế giới thực theo một quy luật toán học xác định với những ký hiệu được quy ước thông qua kỹ thuật số (mã hóa) Từ đó, HTTĐL cho phép tự động giải các bài toán trên bản

đồ, nối mạng tra cứu, biên tập, phân tích và mô phỏng hiển thị

+ Quản lý cơ sở dữ liệu: HTTĐL phải có khả năng điều khiển, xử lý các dạng khác nhau của dữ liệu địa lý, đồng thời có thể quản lý hiệu quả một khối lượng lớn dữ liệu một cách trật tự, rõ ràng Một yếu tố rất quan trọng của phần mềm HTTĐL là có khả năng liên kết hệ thống giữa tự động hóa bản đồ với quản lý hệ cơ sở dữ liệu Các tài liệu mô tả của một đối tượng bất kỳ, liên

hệ một cách hệ thống với vị trí địa lý của chúng Sự liên kết đó là một ưu thế nổi bật của các phần mềm HTTĐL

2.1.3.3 Cơ sở dữ liệu

Dữ liệu là thành phần quan trọng nhất trong HTTĐL Dữ liệu được sử dụng trong HTTĐL được thiết kế theo những nguyên tắc và cấu trúc đã được xác định từ trước gọi là CSDL (database)

Cơ sở dữ liệu trong GIS gồm có hai thành phần cơ bản là cơ sở dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệu thuộc tính:

a Cơ sở dữ liệu không gian: chứa đựng những thông tin định vị của các

đối tượng Chúng cho ta biết được vị trí, kích thước, hình dạng, sự phân bố… của các đối tượng Có 3 loại đối tượng không gian cơ bản: đối tượng dạng điểm, đối tượng dạng đường và đối tượng dạng vùng

Trong cơ sở dữ liệu không gian, người ta sử dụng hai dạng mô hình dữ liệu là: dữ liệu raster và dữ liệu vector

Trang 39

- Mô hình dữ liệu kiểu raster: Mô hình raster phân chia bề mặt không gian ra thành những phần tử nhỏ bằng nhau, theo một lưới điều hòa gồm các hàng và cột, tính theo thứ tự bắt đầu từ đỉnh phía trái Những phần tử nhỏ này được gọi là cell (pixel), mỗi phần tử mang một giá trị đơn Một mặt phẳng chứa đầy cell tạo thành raster

Nếu tại một cell có nhiều thuộc tính (đa giá trị) khác nhau thì chúng sẽ được tách ra để thể hiện trên những lớp (layer) khác nhau Có thể bóc tách các lớp chuyên đề, lớp đối tượng để thể hiện trên các lớp khác nhau Bản đồ raster

có thể bao gồm nhiều lớp thông tin xếp chồng lên nhau

Mô hình raster thường được áp dụng để thể hiện các đối tượng, hiện tượng phân bố liên tục trong không gian, để lưu trữ thông tin dạng ảnh (ảnh mặt đất, ảnh máy bay, ảnh vệ tinh) trong CSDL

Tọa độ không gian của các đối tượng trong cấu trúc raster được xác định bởi vị trí các hàng và cột trên lưới điều hòa

Mức độ chi tiết của thông tin phụ thuộc vào độ lớn của ô trong lưới điều hòa (cell), gọi là độ phân giải

- Mô hình dữ liệu kiểu vector: Vector là một đại lượng biến thiên có độ lớn và có hướng Cấu trúc vector mô tả vị trí của các đối tượng không gian bằng các kết cấu hình học gồm nút, cạnh, mặt và quan hệ topology Các kiểu đối tượng dạng điểm, dạng đường, dạng vùng trong cấu trúc vector được cấu thành từ các phần tử hình học cơ sở:

+ Điểm trong cấu trúc vector gọi là nút (node)

+ Đường nối 2 nút gọi là cạnh (edge)

+ Chuỗi (chain) các cạnh gọi là polyline

+ Segment là một polyline không chứa các nút là điểm gặp nhau của hơn

2 cạnh Điều này không áp dụng cho nút đầu và nút cuối của segment

+ Tổ hợp của một polyline tạo nên một vòng khép (loop) được gọi là một

Trang 40

polygon (đa giác)

+ Một polygon bao bọc một vùng (area) Đối tượng địa lý trong mô hình

dữ liệu vector được thể hiện theo các cách sau:

+ Vị trí và hình dạng các đối tượng được biểu thị dưới dạng đồ họa kiểu điểm, đường, vùng trong hệ tọa độ đã lựa chọn Một số thông tin về đối tượng được thể hiện qua hình dạng, màu sắc… quy ước

+ Các thông tin về quan hệ không gian giữa các đối tượng địa lý được

mô tả theo mô hình topology dựa theo quan hệ toán học Topology là một mô hình toán học quy định mối quan hệ hoặc sự kết nối giữa các đối tượng không gian cho phép mô tả được quan hệ về mặt không gian giữa các đối tượng: trong (ngoài), nối nhau, kề nhau Việc tạo lập và lưu trữ các mối quan hệ topo

sẽ rất hiệu quả trong việc xây dựng hệ thông tin địa lý Nó cho phép xử lý dữ liệu lớn hơn

Bảng 2.1 So sánh mô hình dữ liệu kiểu raster và vector

Kiểu raster Kiểu vector

- Biểu diễn topology hiệu quả

- Cho phép biểu diễn mạng lưới đường

- Cho phép liên kết với dữ liệu thuộc tính dễ dàng

Nhược điểm:

- Cấu trúc dữ liệu cồng kềnh

- Khó biểu diễn topology

- Đường bao của ô không trùng với

đường bao của đối tượng

Nhược điểm:

- Cấu trúc dữ liệu phức tạp

- Khó thực hiện phép chồng phủ (overlay)

- Không hiệu quả cho việc xứ lý ảnh

- Cập nhật khó khăn hơn

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thế Bá (2008), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị
Tác giả: Nguyễn Thế Bá
Năm: 2008
3. Phạm Vọng Thành (2000), Bài giảng Cơ sở hệ thống thông tin địa lý dùng cho học viên cao học ngành Bản đồ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Cơ sở hệ thống thông tin địa lý dùng cho học viên cao học ngành Bản đồ
Tác giả: Phạm Vọng Thành
Năm: 2000
5. Trang web: http://vi.wikipedia.org 6. Trang web: http://www.esri.com 7. Trang web: http://tailieu.vn 8. Trang web: http://climategis.com Link
1.Trần Vân Anh & Nguyễn Thị Yên Giang, Bài giảng hệ thống thông tin địa lý Khác
4. Trung tâm công nghệ thông tin. Tập bài giảng Một số khái niệm cơ bản về GIS Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm