1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tính toán và bình sai, biến đổi toạ độ và nghiên cứu cơ sở dữ liệu hệ thông tin đất đai thành phố hà nội

133 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện kế hoạch phát triển Malaysia lần thứ 7 1996-2000 và lần thứ 8 2001-2005, Chính phủ đã đầu tư 34,2 triệu USD cho dự án thử nghiệm thực hiện hệ thống thông tin đất đai quốc gia N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

ĐỖ TIẾN CHINH

VẤN ĐỀ TÍNH TOÁN BÌNH SAI, BIẾN ĐỔI TỌA ĐỘ

VÀ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU

HỆ THÔNG TIN ĐẤT ĐAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

Hà Nội - 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

ĐỖ TIẾN CHINH

VẤN ĐỀ TÍNH TOÁN BÌNH SAI, BIẾN ĐỔI TỌA ĐỘ

VÀ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU

HỆ THÔNG TIN ĐẤT ĐAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Trắc địa ứng dụng

Mã số chuyên ngành: 62.52.85.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TSKH Hoàng Ngọc Hà

Hà Nội - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả Luận án

Đỗ Tiến Chinh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC i DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT VÀ

HÀ NỘI

23

1.2 Hiện trạng hệ thống tư liệu địa chính Hà Nội 26

1.3 Những vấn đề cần giải quyết nhằm hoàn thiện hệ thống dữ liệu

địa chính Hà Nội

29

Chương 2 BÌNH SAI HỖN HỢP THỐNG NHẤT LƯỚI ĐỊA CHÍNH HÀ NỘI 33

2.1 Phương pháp bình sai hỗn hợp trị đo mặt đất và vệ tinh 33

Chương 3 THỐNG NHẤT CƠ SỞ TOÁN HỌC DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HÀ NỘI 48

3.1 Thực nghiệm đánh giá kiểm tra sự thay đổi tọa độ mốc tại các

vùng Hà Nội mới bằng công nghệ GPS

48

3.2 Thống nhất cơ sở toán học hệ thống bản đồ địa chính cũ Hà Nội 53

3.3 Xem xét biến dạng lưới chiếu và sự thay đổi diện tích thửa đất 64

Chương 4 NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU

ĐỊA CHÍNH HÀ NỘI

73

4.2 Giải pháp xây dựng CSDL địa chính Hà Nội 77

KẾT LUẬN 114

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Cơ sở dữ liệu địa chính (hệ thông tin đất đai)

Cơ sở dữ liệu địa lý

Công nghệ thông tin

Cải cách thủ tục hành chính

Lưới địa chính cơ sở

Lưới địa chính cấp I, II

Hồ sơ kỹ thuật thửa đất

Hội đồng Nhân dân Thành phố

Tài nguyên và Môi trường

Thiết kế kỹ thuật - Dự toán

Thủ tục hành chính

Sở Tài nguyên và Môi trường

Sử dụng đất

Ủy ban Nhân dân Thành phố

Văn phòng Đăng ký đất đai (Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố; Văn phòng Đăng ký đất đai Quận, Huyện)

Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000

Trang 6

Tọa độ địa tâm không gian

Tọa độ vuông góc phẳng Gauss-Kriugher và độ cao Hòn Dấu - Hải Phòng

Computer Aided Design: Phần mềm trợ giúp thiết kế

Computer Aided Design DataBase: Phần mềm quản lý bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính

Định dạng tệp đồ họa của phần mềm MicroStation

Phần mềm xây dựng bản đồ địa chính

Geographic Information System: Hệ thông tin địa lý

Geography Markup Language: Ngôn ngữ đánh dấu địa lý (để mã hóa trao đổi dữ liệu địa lý)

Geodatabase: CSDL không gian địa lý (là bộ sưu tập các tệp dữ liệu địa lý được lưu trữ theo 3 loại chính sau: Thư mục các tệp tin của hệ thống, CSDL Access hoặc CSDL đa người dùng như SQL Server, Oracle, DB2)

Global Positioning System: Hệ thống định vị toàn cầu

The International Organization for Standardization: Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

Land Information System: Hệ thông tin đất đai

Local Area Network: Mạng nội bộ

Land Administration Domain Model (LADM.ISO/DIS19152) Chuẩn thông tin địa chính quốc tế

Siêu dữ liệu hoặc dữ liệu quản lý dữ liệu

Thuật toán biến đổi tọa độ giữa 2 mặt phẳng chiếu

Structured Query Language: Ngôn ngữ truy vấn cấu trúc (dùng để truy cập CSDL)

Remote Sensing: Công nghệ viễn thám

Thuật ngữ sử dụng để chỉ mối quan hệ không gian giữa các đối tượng địa lý

Technical Committee: Ủy ban Chuẩn hóa thông tin địa lý thuộc Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế

Trang 7

Phần mềm hệ thông tin đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng để sử dụng cho Việt Nam)

2 Demensions, 3 Demensions: Không gian 2 chiều, 3 chiều

Vietnamese Land Administrational Project: Dự án nâng cao năng lực quản lý đất đai tại Việt Nam eXtensible Mark Language: Ngôn ngữ đánh dấu

mở rộng để xây dựng các trang HTML

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng thống kê kết quả bình sai theo mức độ đạt được của sai số tương đối chiều dài cạnh mạng lưới ĐCI Hà Nội 47 Bảng 3.1 Kết quả bình sai tính toán mạng lưới đo thực nghiệm kiểm tra gồm 09 điểm bằng máy GPS 51 Bảng 3.2 Bảng kết quả tính toán các tham số chuyển đổi tọa độ từ hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 cho khu vực thực nghiệm Chương Mỹ 57 Bảng 3.3 Bảng kết quả tính toán các tham số chuyển đổi tọa độ từ hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 cho khu vực thực nghiệm Thường Tín 58 Bảng 3.4 Bảng kết quả tính toán các tham số chuyển đổi tọa độ từ hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 cho khu vực thực nghiệm Mê Linh 58

Bảng 3.5 Bảng kết quả tính toán các tham số chuyển đổi tọa độ từ hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 cho khu vực thực nghiệm Gia Lâm 58 Bảng 3.6 Bảng kết quả tính toán các tham số chuyển đổi tọa độ từ hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 cho khu vực thực nghiệm tiếp biên với 4 khu

vực trên 58

Bảng 3.7 Bảng kết quả tính toán 1 bộ tham số chuyển đổi tọa độ - Giải pháp 1 60 Bảng 3.8 Bảng kết quả tính toán 1 bộ tham số chuyển đổi tọa độ - Giải pháp 2 62 Bảng 3.9 Bảng kết quả tính toán thực nghiệm sự thay đổi diện tích thửa đất khi chuyển đổi từ HN-72 về VN-2000 cho các vị trí khác nhau của Hà Nội 70 Bảng 4.1 Bảng mô tả tên các gói dữ liệu địa chính 82

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Minh họa lập phương trình số hiệu chỉnh góc phương vị 37

Hình 2.2 Minh họa lập phương trình số hiệu chỉnh của góc đo 38

Hình 2.3 Quy trình xử lý lưới địa chính Hà Nội 44

Hình 3.1 Sơ đồ lưới khống chế mặt bằng Hà Nội và vùng phụ cận 50

Hình 3.2 Sơ đồ thiết kế lưới GPS đo kiểm tra gồm 09 điểm 52

Hình 3.3 Minh họa thuật toán Helmert 55

Hình 3.4 Sơ đồ vị trí các điểm song trùng tại 5 khu vực tham gia tính toán tham số chuyển đổi tọa độ từ HN-72 sang VN-2000 61

Hình 3.5 Sơ đồ vị trí các điểm song trùng tham gia tính toán 1 bộ tham số chuyển đổi tọa độ từ HN-72 sang VN-2000 63

Hình 3.6 Bản đồ minh họa Hà Nội và các kinh tuyến phân khu 72

Hình 4.1 Sơ đồ mô hình CSDL địa chính tập trung 78

Hình 4.2 Sơ đồ mô hình CSDL địa chính bản sao 79

Hình 4.3 Mô hình kết nối của UBND TP Hà Nội 80

Hình 4.4 Mô hình tổng quát cấu trúc dữ liệu địa chính Hà Nội 81

Hình 4.5a Mô hình dữ liệu thời gian với đối tượng địa chính là cạnh thửa đất 84

Hình 4.5b Mô hình dữ liệu thời gian với đối tượng địa chính là chủ sử dụng đất khi thay đổi họ tên 84

Hình 4.6 Mô hình dữ liệu không gian cho đối tượng thửa đất 85

Hình 4.7 Sơ đồ quy trình chuyển đổi BĐĐC chính quy đã có vào trong CSDL địa chính 88

Hình 4.8 Quy trình xây dựng BĐĐC mới và chuyển đổi vào CSDL địa chính 89

Hình 4.9 Sơ đồ quy trình công nghệ khai thác sử dụng CSDL địa chính 93

Hình 4.10 Sơ đồ quy trình công nghệ cập nhật CSDL địa chính 93

Trang 10

Hình 4.11 Sơ đồ quy trình tổng quát xây dựng CSDL địa chính từ dữ liệu BĐĐC 97

Hình 4.12 Sơ đồ quy trình chuẩn hóa thông tin không gian các tệp dữ liệu bản đồ (.dgn), chuẩn hóa nội dung BĐĐC 98

Hình 4.13 Sơ đồ quy trình số hóa, chuẩn hóa dữ liệu HSĐC 99

Hình 4.14 Sơ đồ quy trình hiệu chỉnh thông tin địa chính 100

Hình 4.15a Minh họa thực nghiệm Chuyển sang Shape file 109

Hình 4.15b Minh họa thực nghiệm tạo Geodatabase và Feature Dataset ở hệ VN-2000 110

Hình 4.15c Minh họa thực nghiệm Import Shape file vào Feature Class 110

Hình 4.15d Minh họa thực nghiệm Hiển thị bản đồ 111

Hình 4.15e Minh họa thực nghiệm Hiển thị bảng thuộc tính 111

Hình 4.15f Minh họa thực nghiệm Hiển thị các loại đất theo mã 112

Hình 4.15g Minh họa thực nghiệm Truy vấn theo thuộc tính 112

Hình 4.15h Minh họa thực nghiệm Truy vấn không gian 113

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhằm hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống QLĐĐ tại Hà Nội, việc ứng dụng giải pháp công nghệ GISlà một yêu cầu cấp bách Đây cũng là giải pháp công nghệ mang tính tất yếu trong tình hình QLNN về các mặt của đời sống KT-XH Thành phố hiện nay Việc khai thác ứng dụng công nghệ GIS sẽ là một bước tiến mạnh mẽ, trợ giúp Hà Nội phát triển hạ tầng, quản lý đất dùng

và bảo vệ môi trường một cách hiện đại, chính xác và hiệu quả

Xây dựng một hệ thống thông tin đất đai LIS Hà Nội đạt trình độ quốc

tế, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn Việt Nam trước hết cần xây dựng CSDL địa chính thống nhất, đúng tiêu chuẩn quốc gia và phù hợp tiêu chuẩn quốc tế

Hà Nội là Thủ đô của cả nước, đã được hợp nhất năm 2008 với tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân và Đông Xuân (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình), nghiên cứu thống nhất cơ sở toán học CSDL địa chính Hà Nội là một nhu cầu cấp thiết

Việc khai thác sử dụng tối đa những kết quả tài liệu QLĐĐ hiện có để xây dựng CSDL địa chính cho LIS Hà Nội sẽ tiết kiệm ngân sách, đặc biệt ít làm ảnh hưởng đến công tác QLNN hiện hành tại các địa phương

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trang 12

1/ Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, từ năm 1990 Chính phủ đã thành lập Ủy ban GIS nhằm xây dựng khung pháp lý, kỹ thuật để phát triển hạ tầng thông tin địa lý quốc gia bao gồm CSDL địa lý, địa chính Trong quá khứ, nhiều cơ quan nhà nước,

tổ chức tư nhân đã thu thập và kiểm soát dữ liệu không gian theo cách đáp ứng cho những yêu cầu riêng Điều này dẫn đến thực trạng là thiếu đi sự hợp tác trao đổi gây ra sự trùng lắp, lãng phí về đầu tư và dữ liệu chưa được quy chuẩn về khuôn dạng, cấu trúc thống nhất

Nhận thức được vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 360 triệu USD để xây dựng hệ thống thông tin địa lý quốc gia NGIS (National Geographic Information System) trong đó 64% nguồn vốn lấy từ nhà nước, số còn lại huy động từ doanh nghiệp tư nhân Khẳng định rõ thông tin địa lý là tài sản quốc gia và để phát triển NGIS, Chính phủ cũng đề ra các nhiệm vụ cụ thể như: Xây dựng khung CSDL; Chuẩn hóa các định dạng trao đổi dữ liệu và xây dựng chuẩn GIS dựa trên chuẩn ISO TC211; Hợp tác giữa các khối nhà nước và tư nhân; Hoạt động hỗ trợ tài chính

Trung tâm Thông tin đất đai Hàn Quốc NLIC (National Land Information Center) thành lập năm 1995, được thiết kế theo mô hình CSDL tập trung do Bộ Hành chính và Nội vụ quản lý Kho CSDL Trung tâm được cập nhật dữ liệu địa chính từ Trung tâm Thông tin đất đai của 15 tỉnh và dữ liệu địa chính của 15 tỉnh được cập nhật thông tin về đăng ký thường trú, thông tin giá đất từ 250 thành phố trực thuộc thông qua hệ thống mạng kết nối Các thành viên chính của NLIC bao gồm Bộ Xây dựng và Giao thông,

Bộ Nông nghiệp, Rừng và Thủy sản, Cơ quan Quản lý Thuế quốc gia Tuy nhiên hạn chế của hệ thống này là chưa có cơ sở hạ tầng thông tin địa lý quy chuẩn, chưa có sự hợp tác giữa các cơ quan sản xuất dữ liệu và chưa kết nối với dịch vụ công NLIC chỉ mới kết nối giữa các cơ quan chính quyền địa

Trang 13

phương Do vậy Ban Thông tin đất đai thuộc Ủy ban GIS quốc gia đang tiếp tục triển khai dự án thiết lập hệ thống ngân hàng dữ liệu với qui mô lớn hơn

để cải thiện môi trường chia sẻ dữ liệu và khai thác sử dụng tối đa các thông tin địa lý sẵn có[73]

2/ Malaysia

Tháng 01/1997 Chính phủ Malaysia đã ban hành thông tư phát triển hành chính công PADC (Public Administration Developtment Circular) để thành lập hạ tầng quốc gia về hệ thống thông tin đất đai NaLIS (National Infrastructure for Land Information Systems) với phương thức quản lý để chia

sẻ, trao đổi và phổ biến sử dụng thông tin địa không gian sao cho tiện lợi trong các cơ quan QLĐĐ và người dùng thông qua cung cấp dịch vụ truy cập Internet trực tuyến qua cổng NaLIS Khung CSDL NaLIS được tổ chức với các nhóm lớp thống nhất theo quy định

Thực hiện kế hoạch phát triển Malaysia lần thứ 7 (1996-2000) và lần thứ 8 (2001-2005), Chính phủ đã đầu tư 34,2 triệu USD cho dự án thử nghiệm thực hiện hệ thống thông tin đất đai quốc gia NaLIS trên phạm vi toàn quốc như: Hoàn thành chuẩn siêu dữ liệu theo tiêu chuẩn ISO/TC 211; Quy định tính duy nhất cho mỗi thửa đất; Chỉnh sửa lại bảng mã chuẩn các đối tượng để trao đổi dữ liệu bản đồ số; Phát triển 2 dự án thử nghiệm ứng dụng NaLIS; Tổ chức các khóa đào tạo GIS ngắn hạn cho nhân viên cơ quan QLĐĐ và Nâng cao nhận thức về NaLIS đối với các cơ quan nhà nước, tư nhân

Hiện nay Chính phủ Malaysia đang hoạch định một chương trình hiện đại hóa nhằm nâng cao công tác quản trị CSDL không gian số cũng như phổ cập thông tin địa lý cho người dùng với nội dung: Hệ thống quản trị dữ liệu địa chính dựa trên nền tảng CSDL địa chính số được thiết lập tại các Sở Địa chính Bang, cung cấp dữ liệu không gian cho cộng đồng qua hệ thống Internet; Tự động hóa đo đạc ngoại nghiệp bằng thiết bị toàn đạc điện tử và

Trang 14

GPS; Quy chuẩn thống nhất hệ thống tọa độ địa chính; Xây dựng, cập nhật, duy trì bảo quản CSDL địa hình quốc gia của NaLIS; Xây dựng hệ thống bản

đồ số bằng ảnh hàng không đáp ứng yêu cầu đặc thù cho quân đội và Xây dựng hệ thống bản đồ chuyên đề [74]

3/ Thái Lan

Chính quyền của Thủ đô Bangkok, Thái Lan đã lập dự án thử nghiệm

xây dựng GIS Một hệ thống thông tin đất đai Bangkok (BLIS) đã được thực hiện từ năm 1989 - 1991 Mục tiêu: Đào tạo, bồi dưỡng và truyền đạt kinh nghiệm cho cơ quan chính phủ Thái Lan về GIS; Đánh giá sự cấp thiết của hệ thống bản đồ nền thích hợp cho thành phố Bangkok với các đối tác sử dụng thuộc chương trình BLIS và Xác định chiến lược dài hạn cho phát triển BLIS

Việc lựa chọn tỷ lệ bản đồ nền phù hợp cho BLIS được trao đổi cân nhắc để xây dựng CSDL địa chính thủ đô Bangkok Việc phát triển hệ thống BĐĐC tỷ lệ lớn làm hạ tầng không gian cho các ứng dụng thương mại GIS cũng khó thực hiện trong thời gian ngắn Đây là tình trạng chung đã tồn tại ở nhiều nước Nguyên nhân chính là thiếu sự nhận thức đầy đủ về GIS, thiếu nguồn nhân lực được đào tạo, tập huấn bài bản về GIS Tình trạng thiếu dữ liệu, thiếu sự hỗ trợ cả về phần cứng và phần mềm Công tác quản lý điều hành dự án lại quan liêu, v.v

Kinh nghiệm cho thấy rằng đối với các thành phố, dự án GIS ở qui mô trung bình là sự lựa chọn tốt nhất Ngoài ra, khi xây dựng GIS đô thị trong tương lai nên khai thác sử dụng hệ thống ảnh vệ tinh độ phân giải cao để thiết lập hạ tầng dữ liệu không gian và cập nhật cho hệ thống bản đồ nền tỷ lệ trung bình và nhỏ [75]

4/ Hà Lan

Hà Lan là một quốc gia phát triển ở châu Âu đã hoàn chỉnh LIS với mô hình không gian 2 chiều (2D) từ rất sớm của thế kỷ trước Tại các thành phố

Trang 15

lớn, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng với rất nhiều khu trung tâm thương mại, đất đai có giá trị rất cao

Sự xuất hiện nhiều dạng thửa đất nằm chồng xếp lên nhau, phân bố ngày càng phức tạp dẫn đến tình trạng nếu chỉ dùng khái niệm thửa đất mô hình 2D sẽ rất hạn chế cho công tác đăng ký, quản lý HSKTTĐ và tài sản trên đất Một số trường hợp bắt buộc phải thể hiện thửa đất ở mô hình 3D như: Các công trình xây dựng được bố trí chồng xếp lên nhau; Hạ tầng kỹ thuật ở trên và dưới mặt đất; Sự gia tăng của hệ thống cáp và đường ống; Nhà ở

Rõ ràng nếu biểu thị các đối tượng trên bằng bản đồ địa chính 2D thì không thể trích lục làm HSKT cho thửa đất chồng xếp để đăng ký QSD Vì vậy từ năm 2000, Cơ quan Địa chính Hà Lan đã hợp tác với Khoa Trắc địa Trường Đại học Công nghệ Delft nghiên cứu phát triển đăng ký địa chính trong không gian 3 chiều (3D) Nhóm nghiên cứu đưa ra 3 giải pháp: Đăng ký địa chính 3D thực sự nghĩa là xây dựng khái niệm thửa đất 3D, từ đó thiết lập

cơ sở pháp lý, phương thức giao dịch bất động sản và quyền sở hữu 3D; Giải pháp lai ghép nghĩa là trên cơ sở BĐĐC 2D, thiết lập mối quan hệ thể hiện cho đối tượng 3D để thực hiện đăng ký quyền sở hữu 3D; Gán 3D trong hệ thống đăng ký địa chính hiện thời nghĩa là trên nền BĐĐC 2D xây dựng phép tham chiếu đến dữ liệu 3D Các đối tượng 3D được lưu giữ ở dạng bản vẽ trên giấy hoặc ở dạng file số bên ngoài CSDL địa chính 2D

Giải pháp lai ghép lựa chọn là phù hợp hơn cả với điều kiện thực tế của

Hà Lan trong khi các giải pháp khác sẽ mất nhiều thời gian, công sức mới trở thành hiện thực [76]

Nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ GPS trong lĩnh vực

đo đạc bản đồ như việc ứng dụng công nghệ GPS trong đo đạc xây dựng hệ thống lưới điểm GPS cạnh dài, lưới khống chế trắc địa, lưới địa chính các cấp

đã được nghiên cứu và ứng dụng tại nhiều nước trên thế giới

Trang 16

b Tình hình trong nước

- Tình hình phát triển hệ quy chiếu và hệ tọa độ

Dự án xây dựng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 được Tổng cục Địa chính (nay là Bộ TNMT) tổ chức triển khai thực hiện từ năm 1990 Dự

án đã đóng góp những thành tựu khoa học về lý luận và thực tiễn như: Xây dựng phương án và thuật toán tối ưu trong việc xác định số liệu tọa độ quốc gia phù hợp với hệ toạ độ toàn cầu; Xây dựng phương án định vị ellipsoid quy chiếu trên

cơ sở số liệu trắc địa Việt Nam, phù hợp với lãnh thổ Việt Nam, đảm bảo độ lệch nhỏ nhất giữa mô hình vật lý và mô hình toán học của trái đất trên phạm vi Việt Nam, có mối liên kết chính xác với hệ quy chiếu quốc tế; Xây dựng được hệ quy chiếu quốc gia theo quan điểm trắc địa hiện đại để thống nhất số liệu gốc cho cả nước; Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 đã tiết kiệm được chi phí xây dựng các hệ toạ độ riêng, lưới toạ độ riêng cho từng ngành, từng địa phương; Thiết lập hệ thống các điểm toạ độ phủ trùm lãnh thổ, lãnh hải đủ mật

độ, độ chính xác phục vụ quản lý biên giới, địa giới hành chính và đất đai; Phục

vụ thi công các công trình phức tạp

Hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia còn đóng vai trò hạt nhân trong hệ thống quản lý hành chính lãnh thổ, phục vụ giải quyết tốt các vấn đề phân định và quản lý biên giới quốc gia, địa giới hành chính các cấp cũng như ranh giới của từng thửa đất Trong đời sống của một xã hội hiện đại, hệ quy chiếu

và hệ toạ độ quốc gia không chỉ là nhu cầu cần đáp ứng cho hệ thống quản lý

mà còn cần thiết cho hoạt động của các ngành nhằm phát triển kinh tế và đảm bảo AN - QP, cần thiết cho các hoạt động của cư dân trong cộng đồng [37]

Chính phủ đã ban hành quyết định số 83/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000

về việc thống nhất sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia VN-2000 trên phạm vi cả nước Đây là hệ thống toạ độ quốc gia đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước, là công trình tiêu biểu của ngành đo đạc bản đồ Với những hiệu quả thiết thực, công trình này đã được chính phủ phong tặng giải thưởng

Hồ Chí Minh

Như vậy, đối với Hà Nội CSDL địa chính LIS đòi hỏi phải thống nhất trên hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000

Trang 17

- Tình hình phát triển hệ thông tin đất đai

Tình hình phát triển LIS ở Việt Nam có thể tóm lược như sau: Trước

xu thế phát triển như vũ bão của CNTT và sự tăng trưởng nhanh chóng của nền KT-XH Việt Nam, Luật Đất đai kịp thời được Quốc hội phê chuẩn năm

2003 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho công tác QLĐĐ chặt chẽ, nề nếp

Năm 2007 Bộ TNMT đã đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLĐĐ, cụ thể là đã đưa phần mềm quản lý thông tin đất đai ViLIS áp dụng tại các VPĐKĐĐ trong cả nước [7]

ViLIS sử dụng giải pháp công nghệ ArcGIS của hãng ESRI làm công nghệ GIS nền, có tính mở và chuẩn hóa cao Đặc biệt, phần mềm ViLIS được xây dựng theo hướng gắn với CCTTHC theo chuẩn ISO 9001-2000 bằng việc thiết kế các quy trình trong đó phân quyền thực hiện công việc trong quy trình cho từng cá nhân Các quy trình được quản lý bởi nhà quản trị hệ thống, vừa đảm bảo tính mềm dẻo, vừa đảm bảo tính chặt chẽ trong công tác chuyên môn

Đến nay, phần mềm ViLIS mới đang được triển khai thí điểm ở một vài địa phương cấp tỉnh và một số quận huyện nhưng bước đầu đã mang lại hiệu quả Rõ nét nhất là về xây dựng CSDL địa chính dạng số và hệ thống HSĐC,

về CCTTHC trong lĩnh vực đất đai, về quá trình tác nghiệp và nâng cao công tác quản lý điều hành của hệ thống chính quyền các cấp, giảm chi phí hành chính, đẩy nhanh được tiến độ cấp, đổi GCN nhà, đất theo quy định mới, quy trình giải quyết hồ sơ bảo đảm được tính công khai, minh bạch Đồng thời, thông qua cổng thông tin đất đai, người dân có thể tra cứu, nắm bắt chính xác thông tin, tiến trình xử lý HSĐC và các thông tin cần bổ sung được thực hiện tại nhà qua mạng Internet

Cũng trong năm 2007 Bộ TNMT đã ban hành quy định áp dụng chuẩn

thông tin địa lý cơ sở quốc gia (Quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT ngày 27/

02/2007), gồm 9 quy chuẩn như sau: Quy chuẩn mô hình cấu trúc dữ liệu địa

Trang 18

lý; Quy chuẩn mô hình khái niệm không gian; Quy chuẩn mô hình khái niệm thời gian; Quy chuẩn phân loại đối tượng địa lý; Quy chuẩn hệ quy chiếu tọa độ; Quy chuẩn siêu dữ liệu địa lý; Quy chuẩn chất lượng dữ liệu địa lý; Quy chuẩn trình bày dữ liệu địa lý; Quy chuẩn mã hóa trong trao đổi dữ liệu địa lý

Bộ tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên cơ sở bộ tiêu chuẩn quốc tế

về thông tin địa lý ISO/TC 211, đặt nền móng cho phát triển hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia, thành lập CSDL nền thông tin địa lý, xây dựng CSDL tích hợp TNMT, trong đó có LIS [5]

Năm 2009, Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ TNMT đã xây dựng “Dự án xây dựng và thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam” với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt nam trên

cơ sở các chuẩn về thông tin địa lý của quốc tế, chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia và chuẩn dữ liệu địa chính của một số nước tiên tiến trên thế giới Nội dung của dự án như sau:

- Khảo sát, phân tích, đánh giá về hiện trạng dữ liệu địa chính;

- Nghiên cứu áp dụng chuẩn ISO 19100 quốc tế và chuẩn thông tin địa

lý cơ sở quốc gia cho chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam;

- Dịch một số tài liệu chuẩn dữ liệu địa chính có liên quan;

- Phân tích, tổng hợp, đánh giá các chuẩn dữ liệu địa chính các nước đã

áp dụng;

- Xác định yêu cầu và đề xuất các nội dung chuẩn cần xây dựng;

- Xây dựng chuẩn dữ liệu địa chính;

- Xây dựng các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật áp dụng chuẩn;

- Xây dựng các phần mềm công cụ hỗ trợ áp dụng chuẩn;

- Hội thảo trong nước về xây dựng chuẩn;

- Thuê tư vấn hỗ trợ trong quá trình xây dựng chuẩn dữ liệu địa chính;

- Thử nghiệm để kiểm thử, hoàn thiện các nội dung chuẩn, phần mềm công cụ hỗ trợ áp dụng triển khai chuẩn[28]

Trang 19

Tiếp theo cuối năm 2010, Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04/10/2010, quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính Cụ thể gồm: Quy định kỹ thuật về nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin của dữ liệu địa chính; Hệ quy chiếu không gian và thời gian áp dụng cho

dữ liệu địa chính; Siêu dữ liệu địa chính; Chất lượng dữ liệu địa chính; Trình bày và hiển thị dữ liệu địa chính; Trao đổi, phân phối dữ liệu và siêu dữ liệu địa chính [8]

Năm 2009-2011, Tổng cục Quản lý đất đai phối hợp với Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai, Bộ TNMT xây dựng “Dự án xây dựng CSDL tổng hợp đất đai ở Trung ương” Dự án sẽ xây dựng CSDL tổng hợp về đất đai cấp TƯ là một phần của CSDL quốc gia về đất đai Dự án nhằm đảm bảo

độ tin cậy về thông tin dữ liệu đất đai cấp TƯ, cung cấp những thông tin dữ liệu cơ bản để các bộ, ngành xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển của ngành mình đồng thời là tiêu chí quan trọng để quản lý và bảo vệ TNMT nói chung và tổng hợp về đất đai cho cấp TƯ nói riêng [2]

Mục tiêu chính của dự án này là xây dựng và đưa vào vận hành một CSDL tổng hợp về đất đai cấp TƯ nhằm: Giúp các cơ quan QLĐĐ cấp TƯ có được một công cụ quản lý tốt, hiệu quả về đất đai cấp TƯ; Giúp cho các cá nhân, tổ chức trong toàn xã hội được tiếp cận thông tin tổng hợp về đất đai cấp TƯ khi có các nhu cầu, hoạt động liên quan

Các mục tiêu cụ thể gồm: Xây dựng hệ thống CSDL tổng hợp về đất đai cấp TƯ; Tạo nên công cụ ở cấp TƯ để thực hiện nhiệm vụ QLNN về đất đai, phục vụ quy hoạch phát triển KT-XH, đảm bảo AN-QP; Cung cấp các thông tin điều tra cơ bản đã được chuẩn hóa về đất đai ở TƯ cho các hoạt động kinh tế của các ngành, địa phương; Đáp ứng thông tin theo nhu cầu cho các cơ quan QLNN, các tổ chức, cá nhân, các đối tượng sử dụng đất và các nhu cầu chung về phát triển KT-XH đối với thông tin dữ liệu đang quản lý ở

Trang 20

cấp TƯ; Thu thập, hệ thống hoá các thông tin dữ liệu về đất đai đã có từ trước tới nay đang quản lý ở cấp TƯ để đánh giá, chuẩn hoá đưa vào quản lý; Thực hiện việc kiểm soát chất lượng, nâng cao giá trị dữ liệu và trình độ kỹ thuật quản lý dữ liệu, hỗ trợ kỹ thuật cho việc quản lý dữ liệu ở các cơ sở bằng các hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật; Thiết lập cơ chế hoạt động bảo đảm cho sự hoạt động có hiệu quả và lâu dài của CSDL, chấm dứt sự phân tán thông tin dữ liệu đất đai cấp TƯ Cơ chế hoạt động cùng với hệ thống CSDL được xây dựng sẽ thực hiện việc thống nhất quản lý và điều hành việc sử dụng dữ liệu đất đai, không mắc những trở ngại về hành chính và các trở ngại khác do tình hình phân tán dữ liệu hiện nay gây nên

Năm 2008-2013, dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) là dự án triển khai xây dựng hệ thống đăng ký đất đai, HSĐC, cấp GCNQSDĐ theo phương thức hiện đại nhằm CCTTHC trong quản lý, tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận quỹ đất và công khai hóa thông tin về đất đai Dự án do Bộ TNMT là cơ quan chủ quản, triển khai tại 9 tỉnh, thành phố được lựa chọn trong cả nước Công tác đo đạc BĐĐC, sổ sách địa chính

sẽ được lập dưới dạng CSDL để đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ Hoàn thiện hệ thống đăng ký đất đai và thủ tục hành chính trong QLĐĐ Tăng cường tính công khai và minh bạch trong quản lý hướng tới việc tạo thuận lợi trong tiếp cận quỹ đất thông qua dịch vụ thông tin đất đai với mọi đối tượng Việc chuyển dịch đáng kể cơ cấu sử dụng đất là nội dung cơ bản của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cho rằng việc xây dựng một hệ thống QLĐĐ hiện đại là một nhiệm vụ cấp thiết nhằm mang lại lợi ích thiết yếu cho phát triển kinh tế đất nước, tạo công bằng xã hội và phục vụ công tác bảo vệ môi trường Một hệ thống QLĐĐ có hiệu lực và hiệu quả sẽ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất Một hệ thống QLĐĐ công khai và minh

Trang 21

bạch sẽ góp phần tích cực trong phòng chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý, nâng cao hiệu quả trong sử dụng, giải quyết tốt mọi tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, làm người dân tin tưởng hơn vào mọi hoạt động phát triển có liên quan đến sử dụng đất đai Sự thành công của dự án sẽ được đánh giá thông qua các tiêu chí về mức độ hài lòng của người dân đối với hệ thống quản lý, sự chấp nhận của cộng đồng đối với thủ tục đăng ký khi thực hiện các giao dịch về đất đai, việc cải thiện về môi trường đầu tư có sử dụng đất đai[6]

Thực trạng tại một số tỉnh đã và đang xây dựng CSDL cho LIS, GIS:

- UBND tỉnh Hậu Giang

Dự án tổng thể xây dựng hệ thống HSĐC và CSDL địa chính Thời gian thực hiện từ 2008 - 2013 Kinh phí dự kiến 335,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước

Mục tiêu của dự án là xây dựng hệ thống BĐĐC hệ tọa độ VN-2000 và CSDL địa chính trên địa bàn toàn tỉnh đảm bảo độ chính xác [33]

- UBND tỉnh Quảng Ninh

Dự án xây dựng Atlas điện tử tỉnh Quảng Ninh Thời gian thực hiện từ

2010 - 2012

Mục tiêu dự án nhằm thống nhất mô hình cấu trúc CSDL; Thống nhất việc sử dụng chung một CSDL nền địa lý cho tất cả các CSDL chuyên ngành toàn tỉnh; Đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp thiết về CSDL nền địa lý cho các sở, ban ngành của tỉnh Tiết kiệm thời gian và kinh phí do đầu tư trùng lặp; Cho

Trang 22

phép chia sẻ dữ liệu, thông tin giữa các sở, ban ngành toàn tỉnh; Tiết kiệm thời gian, kinh phí trong quá trình bảo trì, cập nhật CSDL nền địa lý, CSDL chuyên ngành; Chuyển tải thông tin về tỉnh Quảng Ninh nhanh chóng, hiệu quả, trực quan đến mọi đối tượng trong, ngoài nước thông qua Internet [35].

- UBND tỉnh Long An

Dự án xây dựng GIS tỉnh Long An Thời gian thực hiện từ 2007 - 2011 Mục tiêu dự án nhằm đáp ứng yêu cầu công tác QLNN về TNMT của tỉnh Hoạch định chiến lược, chính sách nhằm phát triển KT-XH bền vững của tỉnh Nhiệm vụ cụ thể là: Xây dựng CSDL thông tin địa lý dùng chung, bước đầu là CSDL địa lý cơ bản, CSDL bản đồ và HSĐC, CSDL hiện trạng, qui hoạch sử dụng đất, CSDL tài nguyên nước, khoáng sản, CSDL môi trường và CSDL ảnh hàng không, viễn thám; Trang bị phần mềm GIS, phần mềm ứng dụng để khai thác sử dụng CSDL đã xây dựng; Hình thành một trung tâm tích hợp dữ liệu để lưu trữ và quản lý CSDL dùng chung và xây dựng các bộ công

cụ đáp ứng khai thác sử dụng và phân phối dữ liệu cho các sở, ban ngành; Tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban ngành tự xây dựng một số phân hệ thông tin địa lý chuyên ngành quản lý để tạo tiền đề cho việc đầu tư

áp dụng GIS rộng rãi trên toàn tỉnh; Đào tạo các chuyên gia để vận hành dự

án và phát triển công nghệ GIS ở địa phương trong tỉnh [32]

Một số trường đại học, học viện nghiên cứu đã có những đề tài nghiên cứu xây dựng CSDL nói chung, CSDL địa chính hoặc liên quan đến CSDL như chuẩn thông tin địa lý cơ sở, chuẩn thông tin địa chính, v.v Tuy nhiên chưa đầy đủ, toàn diện và cụ thể đối với địa phương Hà Nội

Trang 23

phương sang VN-2000” đã thực hiện xong năm 2007 Tuy nhiên kết quả đạt được của dự án gồm các sản phẩm chỉ thuộc địa phận Hà Nội cũ Các lưới địa chính thành phần mặc dù đã được tính toán bình sai lại trên hệ tọa độ VN-

2000 nhưng là bình sai độc lập theo từng lưới riêng biệt [36];

2/ Dự án xây dựng CSDL địa chính vừa mới triển khai sơ bộ và chỉ lập riêng cho khu vực hoặc Hà Nội cũ hoặc Hà Tây trước đây Các dự án này chưa đề cập cụ thể đến mô hình, cấu trúc cho CSDL địa chính một cách đầy

đủ, toàn diện thỏa mãn các điều kiện về chuẩn dữ liệu địa chính, chuẩn dữ liệu địa lý cơ sở quốc gia, chuẩn quốc tế;

3/ Tỉnh Hà Tây, thời điểm trước khi hợp nhất về Hà Nội: Dự án xây dựng HSĐC cho 04 huyện là Sơn Tây, Mỹ Đức, Phúc Thọ và Thanh Oai đang triển khai thực hiện ở giai đoạn lập TKKT-DT công trình; Dự án VLAP đang triển khai ở giai đoạn điều tra khảo sát lập LCKT-KT cho 10 quận, huyện, thành phố trực thuộc còn lại của Hà Tây cũ Hiện tại 2 dự án này đang được

bổ sung, điều chỉnh do hợp nhất về Hà Nội Đặc biệt, huyện Thạch Thất dự án đang điều chỉnh bổ sung thêm 03 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân và huyện Quốc Oai bổ sung thêm xã Đông Xuân

Hà Nội mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội và Nghị quyết số 20/2008/NQ-HĐND ngày 11/12/2008 của HĐND TP Hà Nội Từ tháng 8/2008 Hà Nội gồm 29 đơn

vị hành chính cấp huyện và 577 đơn vị hành chính cấp xã Vấn đề nghiên cứu giải pháp xây dựng CSDL địa chính cho Hà Nội mở rộng chưa được

đề cập, nghiên cứu đầy đủ và toàn diện Nói cách khác một đề án tổng thể

về giải pháp xây dựng CSDL địa chính Hà Nội mở rộng chưa được quan tâm nghiên cứu

Những vấn đề còn tồn tại: Thành phố Hà Nội mở rộng trên cơ sở sát

nhập Hà Nội cũ, Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 04 xã thuộc

Trang 24

huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, thống nhất cơ sở toán học cho hệ thống dữ liệu địa chính bao gồm vấn đề tính toán bình sai mạng lưới địa chính, chuyển đổi toạ độ, bản đồ từ đó xây dựng CSDL địa chính chưa được nghiên cứu kịp thời, đầy đủ

Khái niệm dữ liệu địa hình nền chưa được quan tâm nghiên cứu sử dụng Bản đồ địa hình nền trên hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia hiện hành VN-2000, ở tỷ lệ thích hợp theo cấp quốc gia, cấp địa phương nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác, tính chi tiết của các nội dung thông tin trên đó Đây sẽ là cơ

sở để thống nhất khi hòa trộn, ghép nối dữ liệu các loại giữa các tỉnh thành phố, vùng kinh tế trong cả nước với nhau hoặc nội bộ giữa các quận, huyện trong một tỉnh và giữa các chuyên ngành với nhau trên cùng một khu vực

Mặc dù Bộ TNMT đã ban hành các chuẩn thông tin về dữ liệu địa lý cơ

sở quốc gia, dự thảo chuẩn thông tin địa lý chuyên ngành địa chính thuộc lĩnh vực TNMT nhưng còn chưa được áp dụng rộng rãi trên thực tế, cũng như đang còn nhiều tranh luận bàn cãi Việc nghiên cứu xây dựng CSDL địa chính

Hà Nội chưa được cấp nào nghiên cứu Nghiên cứu mô hình cụ thể cho CSDL địa chính thành phố Hà Nội và thực nghiệm xây dựng CSDL địa chính cho một đơn vị hành chính cấp xã là thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

đã được tác giả thực hiện

3 Mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trang 25

- Khảo sát, thống kê số lượng, chủng loại dữ liệu địa chính tại 577 phường, xã, thị trấn trên địa bàn 29 quận, huyện, thị xã của Hà Nội Thực nghiệm khảo sát, kiểm tra đánh giá sự ổn định của một số mốc chôn ngoài hiện trường, độ chính xác vị trí điểm lưới địa chính đại diện cho 4 khu vực thuộc các tỉnh khác nhau trước đây nay đã chuyển về Hà Nội, tập trung vào khu vực giáp biên giữa Hà Nội cũ và Hà Tây trước đây;

- Thực nghiệm tính toán bình sai hỗn hợp các lưới địa chính thành phần hiện có tại khu vực Hà Nội trên hệ tọa độ VN-2000 Cụ thể bình sai hỗn hợp toàn bộ hệ thống lưới địa chính của Hà Nội bao gồm: Các điểm tọa độ nhà nước có vị trí điểm nằm trên phạm vi địa bàn Hà Nội; Toàn bộ hệ thống điểm địa chính cơ sở phủ trùm địa bàn Hà Nội; Toàn bộ các lưới ĐCI thành phần

đã xây dựng ở Hà Nội cũ bao gồm các lưới ĐCI khu vực nội thành Hà Nội cũ, Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm (nay bao gồm Long Biên và Gia Lâm), Từ Liêm (nay bao gồm Cầu Giấy, Tây Hồ và Từ Liêm) và Thanh Trì (nay bao gồm Hoàng Mai và Thanh Trì)

- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá độ chính xác chủng loại BĐĐC có nguồn gốc được số hóa từ BĐ giấy đo vẽ vào khoảng thời gian từ những năm

1990, sau đó chỉnh lý đối soát và chuyển đổi hệ tọa độ từ HN-72 về VN-2000 tại một số xã, thị trấn của huyện Thanh Oai, Phúc Thọ và Sơn Tây, Hà Nội

- Thực nghiệm tính toán xác định một số bộ tham số chuyển đổi tọa độ theo yêu cầu về độ chính xác khác nhau đối với từng loại dữ liệu địa chính cần chuyển đổi tọa độ hoặc ở cấp thành phố, cấp huyện hoặc cấp xã Xây dựng các bộ tham số chuyển đổi cho các khu vực đặc trưng trước đây là các vùng thuộc các tỉnh khác nhau nay đã chuyển về Hà Nội Xây dựng một bộ tham số tính chuyển chung cho toàn thành phố

Riêng việc tính toán một bộ tham số tính chuyển chung cho toàn thành phố, ngoài việc áp dụng thuật toán Helmert, NCS đã tiến hành phương án

Trang 26

thực nghiệm theo thuật toán Affine xác định một bộ tham số áp dụng chung

cho toàn thành phố (Tham khảo Phụ lục 3 từ trang 264 đến 284)

- Thực nghiệm kiểm tra, tính toán xem xét sự thay đổi kết quả diện tích thửa đất khi chuyển đổi CSDL địa chính từ hệ tọa độ HN-72 sang hệ tọa độ VN-2000 cho khu vực Hà Nội

- Thực nghiệm xây dựng CSDL địa chính tại thị trấn Đại Nghĩa, huyện

Mỹ Đức, Hà Nội Sau khi xây dựng CSDL địa chính lớp ranh giới thửa toàn thị trấn ở dạng shape file, tiến hành tạo Geodatabase và Feature Dataset ở hệ VN-2000 tác giả đã chuyển vào phần mềm ArcGIS 9.3.1 Sử dụng phần mềm biên tập địa chính mở rộng để khai thác vận hành thí điểm những công cụ quản lý như truy vấn tìm thửa, xem thửa và quản lý biến động như tách thửa, nhập thửa khi có biến động, tác nghiệp thí điểm công tác thống kê theo những nội dung đề ra

b Đối tượng

- Các phương pháp tính toán bình sai, các thuật toán chuyển đổi tọa độ

- Các vấn đề lý thuyết liên quan đến CSDL, tiêu chuẩn CSDL thông tin địa lý TC211, tiêu chuẩn CSDL địa chính Các nguyên lý của GIS, LIS

Trang 27

vấn đề nghiên cứu Đối chiếu so sánh các kết quả tính toán, nghiên cứu khác nhau để khẳng định, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của giải pháp lựa chọn

- Phương pháp thực nghiệm: kiểm tra, đánh giá thực nghiệm lưới tọa độ nhà nước, lưới địa chính bằng ứng dụng công nghệ đo GPS, phần mềm tính toán xử lý số liệu GPS như GPSurvey, TrimNet.plus Cụ thể, thực nghiệm khảo sát, thiết kế đo đạc lưới GPS gồm 09 điểm có vị trí nằm đại diện cho 4 vùng khác nhau trước khi sát nhập về Hà Nội, đặc biệt dọc biên mép giữa 2 tỉnh lớn trước đây là Hà Tây và Hà Nội cũ nhằm tính toán bình sai, kiểm tra tọa độ các điểm lưới khống chế từ đó so sánh, kiểm chứng và đưa ra nhận xét, đánh giá chính xác về vấn đề nghiên cứu

Thực nghiệm kiểm tra đối soát BĐĐC ngoài hiện trường bằng các dây

đo kiểm tra đối với BĐĐC của các xã thuộc huyện Thanh Oai, huyện Phúc Thọ và thị xã Sơn Tây, Hà Nội là loại BĐĐC được nâng cấp, số hóa từ BĐĐC giấy đo vẽ vào khoảng thời gian từ những năm 1990, chỉnh lý cập nhật

và chuyển đổi hệ tọa độ từ HN-72 về VN-2000

Thực nghiệm tính toán bình sai hỗn hợp các mạng lưới địa chính cấp I thành phần nhằm thống nhất để đưa vào khai thác sử dụng cho Hà Nội mở rộng

Thực nghiệm các giải pháp tính toán biến đổi tọa độ cho tư liệu bản đồ địa chính cũ từ hệ HN-72 về VN-2000 trên cơ sở vận dụng lý thuyết và thực nghiệm tính toán các bộ tham số chuyển đổi tọa độ cho toàn thành phố, cho 4 khu vực trước đây thuộc các tỉnh khác nhau nay đã được hợp nhất về Hà Nội bằng thuật toán Helmert để so sánh, kiểm chứng và củng cố những nhận định, nhận xét từ đó rút ra những kết luận, kiến nghị

Thực nghiệm kiểm tra, tính toán xem xét sự thay đổi kết quả diện tích thửa đất khi chuyển đổi CSDL địa chính từ hệ tọa độ HN-72 sang hệ tọa độ VN-2000 cho khu vực Hà Nội

Trang 28

Thực nghiệm xây dựng CSDL địa chính thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

- Phương pháp chuyên gia: tiếp thu ý kiến góp ý của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu để phát triển và hoàn chỉnh ý tưởng nghiên cứu

4 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Với nội dung tổng quát là hoàn chỉnh vấn đề tính toán bình sai, biến đổi toạ độ hệ thống dữ liệu địa chính hiện có của Hà Nội ở hệ quy chiếu và hệ tọa

độ HN-72 về VN-2000 nhằm thống nhất cơ sở toán học cho dữ liệu địa chính của Hà Nội từ đó nghiên cứu xây dựng CSDL địa chính, thực hiện thí điểm tại một xã trên địa bàn Hà Nội

- Chỉ ra hiện trạng của hệ thống dữ liệu địa chính Hà Nội Những loại

dữ liệu không còn giá trị, những loại dữ liệu chất lượng kém cần phải xem xét đánh giá, cân nhắc khi sử dụng, những loại dữ liệu cần phải tính toán chuyển đổi tọa độ, chỉnh lý cập nhật hoặc tiếp biên, những loại dữ liệu có thể khai thác sử dụng sau khi đã chuẩn hóa theo quy định

- Tính toán bình sai hỗn hợp các lưới ĐCI thành phần đã xây dựng trên địa bàn Hà Nội nhằm thống nhất trên hệ tọa độ VN-2000 để đưa vào khai thác

sử dụng cho Hà Nội mở rộng

- Kết quả bằng thực nghiệm việc kiểm tra, đánh giá về chất lượng, độ chính xác đối với hệ thống lưới ĐCCS bao gồm cả các điểm tọa độ nhà nước

có vị trí điểm nằm trên địa bàn Hà Nội

- Xác định các tham số chuyển đổi tọa độ cho các giải pháp tính chuyển

dữ liệu địa chính phù hợp với tình hình cụ thể của Hà Nội

- Xây dựng giải pháp công nghệ lập HSĐC, BĐĐC chính quy mới những khu vực còn thiếu hoặc chất lượng dữ liệu cũ không đạt yêu cầu để bổ sung vào CSDL địa chính những khu vực của Hà Nội còn thiếu

Trang 29

- Xây dựng mô hình cho CSDL địa chính thành phố Hà Nội trên cơ sở lược đồ UML và ứng dụng môi trường phần mềm ArcGIS Tham chiếu hệ thống chuẩn CSDL quản lý đất đai quốc tế LADM (ISO/DIS 19152), thỏa mãn chuẩn CSDL địa lý quốc tế ISO/211

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Luận án đã xây dựng các phương pháp và thống nhất hệ thống dữ liệu địa chính trên toàn địa bàn Hà Nội Đã đưa ra giải pháp ứng dụng nhằm thống nhất lưới địa chính và BĐĐC được xây dựng theo nhiều giai đoạn, bằng nhiều công nghệ khác nhau, tại các khu vực khác nhau của thành phố Hà Nội Từ những kinh nghiệm quốc tế ở các nước trong khu vực và trên thế giới, luận án cũng đề xuất giải pháp công nghệ thích hợp xây dựng CSDL địa chính cho Hà Nội Mô hình cấu trúc CSDL địa chính Hà Nội được lập trên cơ sở lược đồ UML được sử dụng để giao tiếp Phần mềm ArcGIS được nghiên cứu lựa chọn cho LIS tương lai

Ý nghĩa thực tiễn: Bằng việc khai thác sử dụng tối đa dữ liệu địa chính hiện có và giải pháp công nghệ thích hợp nhằm thống nhất lưới địa chính và BĐĐC mới bổ sung để tiến tới xây dựng CSDL của LIS cho Hà Nội phục vụ công tác QLĐĐ thông qua GIS, LIS đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiếp cận thông tin về đất đai của nhân dân

6 Các luận điểm bảo vệ

1 Phân tích dữ liệu và các luận chứng khi đánh giá tổng quan dữ liệu địa chính Hà Nội Xác định những vấn đề còn tồn tại trong thành lập và hiện đại hóa CSDL địa chính trên phạm vi thành phố Hà Nội

2 Bằng công nghệ GPS, đã xây dựng phương án kiểm tra tính thống nhất của hệ thống tọa độ địa chính tại 4 vùng của thành phố Hà Nội được hợp nhất với nhau năm 2008

Trang 30

3 Đề xuất ứng dụng phương pháp bình sai hỗn hợp lưới khống chế mặt đất và vệ tinh cho phép thống nhất cơ sở toán học và hệ tọa độ trong khu vực thành phố Hà Nội mới Là cơ sở cho việc thành lập hệ CSDL của LIS thống nhất cho thành phố Hà Nội Trên cơ sở dữ liệu bình sai, các tham số tính chuyển được xác định bằng thực nghiệm ứng dụng phương pháp Helmert, cho phép chuyển đổi dữ liệu nhanh chóng và đơn giản

4 Đề xuất giải pháp thành lập CSDL của LIS cho Hà Nội Mô hình CSDL địa chính cho Hà Nội được thiết kế trên nền công nghệ ArcGIS với các lược đồ UML cho phép tạo ra CSDL có tính bền vững cao Mô hình CSDL được thiết kế đã tham vấn các chuẩn dữ liệu địa chính quốc tế như LADM (Land Administration Domain Model)

7 Các điểm mới của luận án

- Luận án đã nghiên cứu các giải pháp thống nhất cơ sở toán học cho hệ thống dữ liệu thông tin đất đai Hà Nội thông qua việc khảo sát, tính toán thực nghiệm đánh giá dịch chuyển tọa độ 4 vùng của Hà Nội trước đây thuộc các tỉnh khác nhau vừa được sát nhập về Hà Nội bằng công nghệ GPS đồng thời nghiên cứu lựa chọn áp dụng phương pháp tính chuyển tọa độ cho các dữ liệu BĐĐC cũ của Hà Nội nhằm tiết kiệm ngân sách nhà nước và ít làm ảnh hưởng đến hệ thống QLĐĐ hiện hành

- Đề xuất giải pháp và thực hiện phương án bình sai tổng thể các lưới thành phần ĐCI Hà Nội nhằm thống nhất để đưa vào khai thác sử dụng cho

Hà Nội mở rộng

- Luận án đề xuất áp dụng thuật toán Helmert để tính toán các bộ tham

số chuyển đổi tọa độ, lựa chọn áp dụng cụ thể cho từng loại dữ liệu địa chính nhằm thống nhất tọa độ dữ liệu địa chính Hà Nội trên hệ tọa độ VN-2000

- Nghiên cứu đề xuất quy trình kỹ thuật cụ thể xây dựng 2 loại dữ liệu địa chính quan trọng chủ yếu của CSDL địa chính Hà Nội tương lai là lưới địa chính, BĐĐC và HSĐC

Trang 31

- Đề xuất giải pháp thiết kế mô hình CSDL của LIS cho Hà Nội sử dụng lược đồ khái niệm theo ngôn ngữ UML phù hợp với chuẩn cấu trúc dữ liệu địa chính quốc tế LADM (ISO/DIS 19152), phù hợp với chuẩn cấu trúc

dữ liệu địa lý quốc tế ISO/TC211

- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ ArcGIS để xây dựng CSDL địa chính Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLĐĐ Thực nghiệm xây dựng CSDL địa chính một xã thí điểm là thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức,

Hà Nội trên cơ sở chuẩn hóa nội dung thông tin về lớp giới thửa toàn bộ thị trấn và đưa vào CSDL, vận hành chạy thử trên công nghệ phần mềm ArcGIS 9.3.1 với các công cụ như ArcGIS Survey Analyst, CadastralEditor, CadastralFabric

8 Cấu trúc của luận án

Mở đầu

Chương 1 - Đánh giá tổng quan hệ thống dữ liệu địa chính Hà Nội

Chương 2 - Bình sai hỗn hợp thống nhất lưới địa chính Hà Nội

Chương 3 - Thống nhất cơ sở toán học dữ liệu địa chính Hà Nội

Chương 4 - Nghiên cứu giải pháp xây dựng CSDL địa chính Hà Nội Kết luận

9 Lời cám ơn

Tôi chân thành cám ơn: GS.TSKH Hoàng Ngọc Hà, người đã hướng dẫn khoa học cho luận án tiến sĩ này; Bộ môn Trắc địa phổ thông & sai số, Khoa Trắc địa, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Giám hiệu Trường ĐH Mỏ - Địa chất, Bộ Giáo dục & Đào tạo; Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Cục Công nghệ Thông tin (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội đã ủng hộ, động viên để tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận án theo quy định

Trang 32

Tôi cám ơn cố PGS.TS Nguyễn Trọng San, người đã góp ý kiến cụ thể trong nghiên cứu này

Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình

Xin chân thành cám ơn

Trang 33

Chương 1 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN

HỆ THỐNG DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HÀ NỘI

1.1 Tình hình công tác quản lý đất đai Hà Nội

Công tác quản lý đất đai Hà Nội năm qua có nhiều chuyển biến mạnh

mẽ, ngày càng đi vào kỷ cương nề nếp của pháp luật Đất đai từng bước được

sử dụng có hiệu quả góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển KT-XH Thủ đô Nhiều chính sách quản lý đất đai được Thành phố ban hành kịp thời, đúng quy định nhằm điều tiết các vấn đề liên quan đến nhà ở, tái định cư giải phóng mặt bằng, công tác đấu giá quyền sử dụng đất phát huy nguồn nội lực

bổ sung kinh phí phát triển hạ tầng, tăng cường thanh tra kiểm tra giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo, công tác thu hồi đất do vi phạm.v.v…[29]

Được sự quan tâm của TƯ, trên địa bàn Hà Nội đã đo vẽ thành lập một

hệ thống lưới khống chế toạ độ, độ cao dày đặc, phủ trùm thông qua các dự án thực hiện ở các thời kỳ khác nhau Một hệ thống bản đồ địa hình cơ bản đã được đo vẽ phủ trùm toàn thành phố Đây là hệ thống bản đồ được thành lập theo công nghệ số, trên hệ tọa độ VN-2000, hoàn thành năm 2004 Hệ thống bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 ở khu vực Hà Nội cũ; tỷ lệ 1/5.000, 1/10.000 ở khu vực Hà Tây cũ, khu vực huyện Mê Linh và 04 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình trước đây

Tình hình đăng ký đất đai cấp GCNQSDĐ tính đến tháng 12/2008 tại

29 quận, huyện của Hà Nội đã đạt được kết quả như sau: tổng số 925.946 GCNQSDĐ đã cấp cho các hộ gia đình, cá nhân; 4.605 GCNQSDĐ đã cấp cho các tổ chức, đơn vị; 4.061 GCNQSDĐ đã cấp cho các hộ gia đình, tổ chức sử dụng đất nuôi trồng thủy sản; 63.873 GCNQSDĐ đã cấp theo Nghị định 60/CP, 61/CP và 11.253 GCNQSDĐ đã cấp cho các trường hợp sử dụng đất lâm nghiêp

Trang 34

Tình hình công tác đo đạc BĐĐC và lập HSĐC được tóm tắt như sau: 1/ Trên địa bàn Hà Nội cũ bao gồm 14 quận huyện, 232 phường xã thị trấn: Đã hoàn thành công tác đo vẽ BĐĐC khu vực đất ở và một phần đất nông nghiệp bằng cả hai thể loại công nghệ cũ và công nghệ số Đã chuyển đổi toàn bộ hệ thống BĐĐC số về hệ tọa độ VN-2000 Tuy nhiên, do quá trình phát triển KT-XH, việc dồn điền đổi thửa nên biến động rất lớn và các

dữ liệu BĐĐC chưa được chuẩn hóa theo quy chuẩn thống nhất

2/ Trên địa bàn Hà Tây cũ bao gồm 14 quận huyện thành phố trực thuộc,

323 phường, xã, thị trấn Đang thực hiên công tác đo vẽ BĐĐC, lập HSĐC thông qua các dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai

3/ Trên địa bàn huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trước đây bao gồm

16 xã 02 thị trấn đã thực hiện công tác đo vẽ BĐĐC nhưng chỉ cục bộ một số khu vực, trước thời điểm sát nhập về thành phố Hà Nội có xây dựng dự án thí điểm lập HSĐC tại 2 xã Thanh Lâm và Kim Hoa nhưng dự án đã không thực hiện do việc sát nhập về Hà Nội

4/ Trên địa bàn 4 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân và Đông Xuân trước đây thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình đã hoàn thành công tác đo

- Dự án VLAP - Hà Nội cho 10 huyện, thành phố trực thuộc còn lại của tỉnh Hà Tây trước đây bao gồm huyện Ba Vì, Chương Mỹ, Quốc Oai, Đan Phượng, Hoài Đức, Thạch Thất, Phú Xuyên, Thường Tín, Ứng Hòa và thành

Trang 35

phố Hà Đông do Sở TNMT Hà Tây lập, đã được Chính phủ phê duyệt, tổng

dự toán kinh phí là 12,382 triệu USD;

- Dự án chỉnh lý BĐ, hoàn thiện HSĐC phục vụ công tác QLĐĐ tại địa bàn 40 phường, xã của thành phố Hà Nội cũ Đây là các phường, xã thuộc địa bàn thành phố Hà Nội trước đây do Sở TNMT lập theo chỉ tiêu kế hoạch năm

2006 của UBND thành phố Hà Nội Hiện tại dự án đang ở giai đoạn hoàn chỉnh báo cáo TKKT-DT công trình theo đơn vị quận, huyện để trình UBND

TP phê duyệt, dự toán kinh phí dự kiến 40 tỷ đồng

Do việc sát nhập, mở rộng Hà Nội nên tiến độ thực hiện các dự án này đều bị chậm so với LCKT-KT đã được lập Dự án lập HSĐC cho 04 huyện

Mỹ Đức, Phúc Thọ, Thanh Oai và thị xã Sơn Tây đang triển khai ở giai đoạn:

Đo vẽ bổ sung lưới ĐCII; Đo vẽ mới, chỉnh lý cập nhật BĐĐC kết hợp lập HSKTTĐ, kê khai đăng ký QSDĐ đối với các chủ sử dụng đất Một số phát sinh kỹ thuật, tài chính cũng đang được bàn bạc để điều chỉnh so với TKKT-

DT công trình đã lập như việc điều chỉnh tỷ lệ cơ bản đo vẽ BĐĐC do các huyện Mỹ Đức, Phúc Thọ, Thanh Oai trước đây là các huyện trực thuộc tỉnh

Hà Tây nay là các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Sơn Tây nay chuyển đổi thành thị xã, v.v Dự án VLAP đang triển khai ở giai đoạn: Kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm lưới ĐCII, BĐĐC các gói thầu đợt I, đang chuẩn bị công tác mở thầu đo vẽ bổ sung lưới ĐCII, đo vẽ mới, chỉnh lý cập nhật BĐĐC kết hợp lập HSKTTĐ, kê khai đăng ký QSDĐ đối với các chủ sử dụng đất thuộc các gói thầu đợt II Một số phát sinh kỹ thuật cũng đang được bàn bạc để điều chỉnh so với TKKT-DT công trình đã lập như việc điều chỉnh tỷ

lệ cơ bản đo vẽ BĐĐC do 09 huyện trước đây thuộc tỉnh lỵ nay thuộc thành phố và thành phố Hà Đông nay chuyển đổi thành quận Hà Đông cũng như việc điều chỉnh dự án tại huyện Thạch Thất (do nhập xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân vào), huyện Quốc Oai (do nhập xã Đông Xuân vào).v.v Dự

Trang 36

án hoàn thiện HSĐC tại địa bàn 40 phường, xã thị trấn của Hà Nội cũ vừa hoàn thành công tác điều tra, khảo sát bổ sung vào TKKT-DT chờ phê duyệt

và bổ sung kinh phí [29]

Công tác QLNN về đất đai trên địa bàn còn một số tồn tại cần khắc phục đó là:

- Các loại tài liệu đo đạc đã lâu, chất lượng thấp lại không được chỉnh

lý thường xuyên, sai số với thực tế là rất lớn Đồng thời do việc dồn điền đổi thửa và quy hoạch sử dụng đất phục vụ cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm qua đã thay đổi rất lớn hiện trạng sử dụng đất Phần lớn các loại bản đồ đo đạc trước năm 2000 đã biến động đến 60% Mặt khác,

hệ thống HSĐC hiện nay không đồng bộ, thực hiện qua nhiều thời kỳ nên trong công tác quản lý cũng như thực hiện cấp GCNQSDĐ còn gặp nhiều khó khăn

- Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nguồn thu trên địa bàn còn thấp, chưa đủ chi, do vậy kinh phí đầu tư cho công tác QLĐĐ hàng năm trên địa bàn Thành phố không lớn, chưa đáp ứng các nhu cầu cần thiết nên một số nhiệm vụ như công tác đo đạc BĐĐC, cấp đổi GCNQSDĐ và lập HSĐC kết quả đạt được còn hạn chế

1.2 Hiện trạng hệ thống tư liệu địa chính Hà Nội

1.2.1 Hiện trạng lưới khống chế địa chính

- Tổng số điểm khống chế tọa độ nhà nước có vị trí điểm nằm trên địa bàn Hà Nội gồm 32 điểm (hạng “0”, I, II, III) Tổng số điểm độ cao nhà nước

có vị trí điểm nằm trên địa bàn Hà Nội là 62 điểm (bao gồm 24 điểm hạng I,

21 điểm hạng II và 17 điểm hạng III)

- Tổng số điểm ĐCCS trên toàn địa bàn Hà Nội là 330 điểm Hệ thống lưới ĐCCS Hà Nội được TƯ xây dựng cùng với lưới ĐCCS các tỉnh thành khác trên cả nước năm 2002-2004, bằng công nghệ GPS và được bình sai tính toán

Trang 37

thuộc khu vực phía bắc - khu vực số 9, trên hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 Lưới ĐCCS Hà Nội tương đối đầy đủ, có mật độ rải đều địa bàn

29 quận, huyện

- Tổng số điểm ĐCI là 1320 điểm, điểm ĐCII là 2916 điểm Hiện trạng phân bố các điểm còn tồn tại của lưới ĐCI, ĐCII thưa thớt, không đáng kể thậm chí nhiều quận, huyện không có điểm nào hoặc là lưới này chưa được xây dựng hoặc đã được xây dựng nhưng xử lý tính toántrên hệ tọa độ HN-72 Hơn nữa đây là những lưới được thiết kế riêng biệt, cho từng khu vực khác nhau, theo những thời gian thi công khác nhau để đáp ứng các nhu cầu cho một nhiệm vụ cần thiết nào đó của Thành phố Các lưới ĐCI thành phần đã xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến 1994 theo công nghệ cũ trên hệ tọa độ HN-72

(Chi tiết tên điểm, vị trí của lưới khống chế địa chính Hà Nội các cấp hạng được trình bày tại Phụ lục 1)

1.2.2 Hiện trạng BĐĐC và HSĐC

1.2.2.1 Hiện trạng BĐĐC

1/ Bản đồ giải thửa 299 trên hệ tọa độ giả định

Thời gian thành lập trước năm 1990, tỷ lệ 1/1.000, 1/2.000 Loại tư liệu này mang tính lịch sử và đã đáp ứng nhu cầu sử dụng vào thời điểm thành lập nhưng độ chính xác thấp, không còn phù hợp với luật, văn bản mới cũng như hiện trạng sử dụng đất Chất lượng HSĐC thành lập dựa trên loại bản đồ này thấp, không đáp ứng quy chuẩn của Bộ TNMT để xây dựng CSDL địa chính cho địa phương

2/ Bản đồ địa chính trên hệ tọa độ HN-72

Loại BĐĐC này sử dụng hệ toạ độ HN-72, kinh tuyến trục 105045’, múi chiếu 30, hệ độ cao Hòn Dấu - Hải Phòng Chưa được chuyển đổi về hệ toạ độ VN-2000 Theo thời gian thành lập chia thành 2 nhóm sau:

Trang 38

a) BĐĐC thành lập từ năm 1991÷1999

Khu vực ngoại thành, BĐĐC đảm bảo độ chính xác quy phạm năm

1991 của Tổng cục Quản lý ruộng đất Khu vực nội thành, BĐĐC đảm bảo độ chính xác quy phạm tạm thời năm 1996 của Tổng cục Địa chính

b) BĐĐC thành lập từ năm 1999÷2000

BĐĐC này đảm bảo độ chính xác quy phạm năm 1999

3/ Bản đồ địa chính trên hệ tọa độ VN-2000

Đây là BĐĐC chính quy xây dựng thời gian gần đây, khối lượng không nhiều Thực tế BĐĐC này vẫn chưa được quy chuẩn theo một quy định thống nhất chung toàn Thành phố

(Thống kê chi tiết hiện trạng đo vẽ BĐĐC của 577 phường, xã, thị trấn theo 29 quận, huyện, thị xã và tổng hợp toàn thành phố Hà Nội được trình bày tại Phụ lục 1)

1.2.2.2 Hiện trạng HSĐC

Tất cả HSĐC của 577 phường, xã, thị trấn trên địa bàn Hà Nội đều lập theo công nghệ cũ, viết tay hoặc là theo quy định của Thông tư 346/1989, Thông tư 1990/2001 hoặc Thông tư 29/2004 Chưa có phường, xã, thị trấn nào trên địa bàn Hà Nội lập xong HSĐC theo công nghệ số tại Thông tư 09/2007 của Bộ TNMT (mặc dù hiện tại Thông tư này cũng có nhiều bất cập cần điều chỉnh cho phù hợp)

(Thống kê chi tiết tình hình công tác lập HSĐC tại 29 quận, huyện, thị

xã được trình bày tại Phụ lục 1)

Trang 39

1.3 Những vấn đề cần giải quyết nhằm hoàn thiện hệ thống dữ liệu địa chính Hà Nội

1/ Về lưới địa chính

Đối với lưới ĐCCS, mặc dù mật độ tương đối đầy đủ nhưng thành lập trước khi Hà Nội mở rộng nên cần kiểm tra đánh giá lại về độ chính xác, sự ổn định tọa độ các mốc để tập hợp về một thư mục chung toàn thành phố, thống nhất quản lý sử dụng

Đối với lưới ĐCI, ĐCII, mặc dù các lưới thành phần này đã được tính toán chuyển đổi về hệ tọa độ VN-2000 năm 2007 nhưng do công nghệ thành lập lưới khác nhau, tính cục bộ của từng lưới dẫn đến những nghi ngờ về tính thống nhất cũng như sự đồng đều về độ chính xác của các lưới mà đã được thành lập từ các thời kỳ khác nhau Việc bình sai tổng thể lại toàn bộ các lưới thành phần sẽ cho phép xóa bỏ những nghi ngờ Thực tế này đặt ra yêu cầu cần thiết nghiên cứu các thuật toán cho phép bình sai tổng thể lại hệ thống lưới này nhằm nâng cao độ chính xác

2/ Về BĐĐC, HSĐC và BĐĐH, các loại bản đồ chuyên đề khác

Với mục tiêu nhằm xây dựng CSDL địa chính cho LIS Hà Nội thì hiện tại hệ thống BĐĐC, HSĐC và BĐĐH, các loại bản đồ chuyên đề khác chưa đầy đủ, còn thiếu hoặc độ chính xác chưa đáp ứng yêu cầu Vấn đề cần giải quyết sẽ là:

Tổ chức lưu trữ, bảo quản đối với những dữ liệu mang tính lịch sử như

hệ thống bản đồ 299, hệ thống bản đồ địa chính giấy trên hệ tọa độ cũ,…

Kết luận về độ chính xác của loại BĐĐC số có nguồn gốc được số hóa

từ BĐĐC giấy thông qua kiểm tra, đánh giá chất lượng ngoài hiện trường tại các địa phương hiện đang quản lý, sử dụng để khai thác tận dụng

Tính toán chuyển đổi tọa độ về hệ VN-2000 kết hợp với công tác chỉnh

lý đối soát thực địa cho những dữ liệu địa chính còn giá trị sử dụng Thực tế

Trang 40

hiện nay đã có các phần mềm, thuật toán chuyển đổi hệ tọa độ từ các hệ tọa

độ trước đây về hệ tọa độ VN-2000, nhưng các phần mềm này dựa trên các thuật toán phức tạp, tham số tính chuyển và công thức khó sử dụng Cần có nghiên cứu áp dụng phương pháp tính chuyển đơn giản phù hợp với lĩnh vực ngành địa chính, cho phép chuyển đổi dữ liệu từ hệ tọa độ HN-72 trước đây

về VN-2000 Từ đó, xác định các tham số chuyển đổi tọa độ cho các vùng khác nhau của Hà Nội

Đối với dữ liệu quản lý đất đai, quá trình tính chuyển từ hệ HN-72 sang VN-2000 sẽ dẫn đến sự thay đổi về diện tích các thửa đất Điều này sẽ gây ra những thắc mắc, đặc biệt đổi với các hộ dân đã được cấp GCN QSDĐ dựa trên hệ thống BĐĐC cũ Như vậy, cần thực nghiệm để xem xét sự thay đổi diện tích thửa đất khi chuyển đổi CSDL địa chính từ hệ tọa độ HN-72 về VN-

2000 đối với khu vực Hà Nội Trên cơ sở đó, khẳng định về mặt pháp lý các HSKTTĐ và HSĐC được thành lập dựa trên các BĐĐC trước đây

Tất cả HSĐC hiện đang lưu hành sử dụng tại 577 phường, xã, thị trấn còn giá trị sử dụng nhưng cần được chuẩn hóa và tính toán chuyển đổi về hệ tọa độ VN-2000 theo công nghệ số

Thực hiện đo vẽ mới, đo vẽ bổ sung BĐĐC, lập HSĐC những khu vực còn thiếu Lưu ý về tỷ lệ cơ bản đo vẽ BĐĐC đối với từng địa phương đặc biệt những khu vực mới sát nhập về Hà Nội Đồng thời cần xem xét vấn đề biến dạng lưới chiếu ảnh hưởng đến độ chính xác đo vẽ BĐĐC ở mức độ nào, đặc biệt các khu vực rìa múi chiếu 30 vì sau khi mở rộng ĐGHC, Hà Nội tiếp tục sử dụng kinh tuyến trục 1050

Bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề khác bao gồm bản đồ ĐGHC, bản

đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhiều địa phương còn thiếu hoặc đo vẽ theo công nghệ cũ, hoặc đã

đo vẽ theo công nghệ số nhưng chưa chuẩn theo một quy định thống nhất cần

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 33/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 33/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Dự án xây dựng CSDL tổng hợp đất đai ở Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án xây dựng CSDL tổng hợp đất đai ở Trung ương
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (1999, 2001, 2004, 2007), Thông tư, Hướng dẫn có liên quan đến công tác lập Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ khác nhau, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư, Hướng dẫn" có liên quan đến công tác "lập Hồ sơ địa chính
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Quy định áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 06/2007/QĐ- BTNMT ngày 14/5/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT ngày 14/5/2007
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Quyết định số 221/QĐ-BTNMT ngày 14/02/2007 về việc sử dụng thống nhất phần mềm hệ thống thông tin đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 221/QĐ-BTNMT ngày 14/02/2007 về việc sử dụng thống nhất phần mềm hệ thống thông tin đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Thông tư số 17/2010/TT- BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 về việc quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 về việc quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
9. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (2008), Các văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ
Tác giả: Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Năm: 2008
10. Đặng Nam Chinh (2008), Lựa chọn kinh tuyến trục cho vùng than Quảng Ninh khi sử dụng hệ quy chiếu VN-2000. Tuyến tập Báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học kỹ thuật mỏ toàn quốc lần thứ XIX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn kinh tuyến trục cho vùng than Quảng Ninh khi sử dụng hệ quy chiếu VN-2000
Tác giả: Đặng Nam Chinh
Năm: 2008
11. Đặng Nam Chinh (2009), Bài giảng cho học viên cao học Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cho học viên cao học Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Tác giả: Đặng Nam Chinh
Năm: 2009
12. Đỗ Tiến Chinh (2001), Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ, Tạp chí Địa chính – Số 3, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ
Tác giả: Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2001
13. Đỗ Tiến Chinh (2001), Về dự án đồng bộ Hệ thống thông tin địa lý quốc gia của Hàn Quốc, Tạp chí Địa chính – Số 6, Tổng cục Địa chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về dự án đồng bộ Hệ thống thông tin địa lý quốc gia của Hàn Quốc
Tác giả: Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2001
14. Đỗ Tiến Chinh (2009), Vấn đề hợp nhất, thống nhất cơ sở dữ liệu quản lý đất đai thành phố Hà Nội, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 18, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hợp nhất, thống nhất cơ sở dữ liệu quản lý đất đai thành phố Hà Nội
Tác giả: Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2009
15. Đỗ Tiến Chinh (2009), Hà Nội triển khai công tác chỉnh lý đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 18, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội triển khai công tác chỉnh lý đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính
Tác giả: Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2009
16. Đỗ Tiến Chinh (2009), Xem xét vấn đề biến dạng lưới chiếu và ảnh hưởng của nó đến quá trình đo vẽ thành lập bản đồ địa chính trên phạm vi thành phố Hà Nội, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 22, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xem xét vấn đề biến dạng lưới chiếu và ảnh hưởng của nó đến quá trình đo vẽ thành lập bản đồ địa chính trên phạm vi thành phố Hà Nội
Tác giả: Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2009
17. Hoàng Ngọc Hà, Đỗ Tiến Chinh (2001), Thực nghiệm tính toán chuyển đổi tọa độ phẳng giữa các hệ tọa độ có ellipsoid cùng kích thước, cùng hệ quy chiếu nhưng hệ độ cao khác nhau, Tuyển tập các công trình khoa học, Tập 33, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực nghiệm tính toán chuyển đổi tọa độ phẳng giữa các hệ tọa độ có ellipsoid cùng kích thước, cùng hệ quy chiếu nhưng hệ độ cao khác nhau
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà, Đỗ Tiến Chinh
Năm: 2001
18. Hoàng Ngọc Hà, Đỗ Tiến Chinh (2010) Vấn đề thống nhất cơ sở toán học tư liệu bản đồ địa chính cũ của thành phố Hà Nội, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thống nhất cơ sở toán học tư liệu bản đồ địa chính cũ của thành phố Hà Nội
19. Hoàng Ngọc Hà, Trương Quang Hiếu (1992), Cơ sở toán học xử lý số liệu trắc địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở toán học xử lý số liệu trắc địa
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà, Trương Quang Hiếu
Năm: 1992
20. Hoàng Ngọc Hà (1995), Cơ sở xử lý số liệu trắc địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở xử lý số liệu trắc địa
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà
Năm: 1995
21. Hoàng Ngọc Hà (1998), Tính toán trắc địa và cơ sở dữ liệu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán trắc địa và cơ sở dữ liệu
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w