1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số phương pháp ôn tập giúp học sinh làm tốt bài thi trắc nghiệm môn lịch sử trong trường THPT

20 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 66,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáp ứng yêu cầu của kì thi THPT quốc gia, đội ngũ giáo viên bộ môn Lịch sử đã tổ chức linh hoạt các hoạt động của học sinh, thực hiện phối kết hợp các phương pháp ôn để phát triển tư duy

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Khởi nguồn từ năm 2015, kỳ thi trung học phổ thông quốc gia tại Việt Nam là một sự kiện quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam Đây là kỳ thi “2 trong 1” vì đã lồng ghép sự công bằng, khách quan, nghiêm túc của kỳ thi đại học cùng với sự nhẹ nhàng của kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông nhằm giảm bớt tình trạng luyện thi, học tủ, học lệch và giảm bớt chi phí Sau rất nhiều những lo ngại, thậm chí cả ngờ vực, đến nay kì thi THPT quốc gia đã được đánh giá cao, nhận được sự đồng thuận, hưởng ứng và ủng hộ tích cực

của toàn xã hội Kì thi đã làm cho cả hệ thống chính trị, các trường đại học và

Sở Giáo dục & Đào tạo đều cùng vào cuộc tổ chức Đây là một thay đổi mang tính bước ngoặt trong đổi mới thi cử ở Việt Nam

Đến tháng 9/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định quan trọng đối với kì thi THPT quốc gia là chuyển sang hình thức thi trắc nghiệm đối với các bài thi Toán, Ngoại ngữ (2 trong 3 môn thi bắt buộc), Khoa học tự nhiên (tổ hợp các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lý và Giáo dục công dân) Riêng môn Ngữ văn thi theo hình thức

tự luận Có thể thấy rằng, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển môn Lịch sử sang hình thức thi trắc nghiệm là phù hợp tình hình giáo dục hiện nay của nước

ta và cũng phù hợp với xu thế chung của nền giáo dục thế giới

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2021, cả nước có trên 1 triệu thí sinh đăng ký

dự thi Trong đó có 53,38% thí sinh đăng ký bài thi Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân) Như vậy, tỷ lệ thí sinh chọn bài thi Khoa học xã hội (KHXH) cao hơn so với thí sinh chọn bài thi Khoa học tự nhiên (KHTN) Đây là sự lựa chọn thực tế và thông minh bởi học sinh ưu tiên cho mục tiêu xét tốt nghiệp và cũng vì nhiều học sinh và gia đình các em luôn muốn ưu tiên cho

học theo khối xét đại học là khối D (Toán, Văn, Anh) Và cũng vì vậy, bộ môn Lịch sử đã trở về đúng vị trí, vai trò của nó.

Đáp ứng yêu cầu của kì thi THPT quốc gia, đội ngũ giáo viên bộ môn Lịch sử đã tổ chức linh hoạt các hoạt động của học sinh, thực hiện phối kết hợp các phương pháp ôn để phát triển tư duy của học sinh, giúp các em nắm vững hơn những tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, giúp các em hiểu sâu hơn bản chất của sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử….Đặc biệt, giúp cho các em học sinh lớp 12 có đủ hành trang kiến thức để ôn thi tốt nghiệp, thi đại học

Là giáo viên đang dạy Lịch sử ở trường THPT, trực tiếp giảng day và ôn luyện cho học sinh chuẩn bị tham gia kì thi THPT quốc gia, tôi đã thường xuyên trau dồi và tích lũy được một số kinh nghiệm cho bản thân Vì vậy, tôi

mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm nhỏ của mình qua đề tài: “Một số phương pháp ôn tập giúp học sinh làm tốt bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử trong trường THPT” Hi vọng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ giúp ích cho các

thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu đề tài này của tôi là đề xuất một số phương pháp

ôn tập giúp học sinh làm tốt bài tập trắc nghiệm khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Đối tượng nghiên cứu:

Là học sinh tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2020 – 2021: lớp 12C9, 12C12 ở trường THPT Lưu Hoằng Hóa 2 – Hoằng Hoá - Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử

- Nghiên cứu tài liệu về các phương thức kiểm tra đánh giá học sinh

- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kĩ năng kiến thức lịch sử lớp 12 ( Ban cơ bản)

- Thao giảng, dự giờ động nghiệp để rút kinh nghiệm

- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượng học và làm bài của học sinh

Trang 3

NỘI DUNG SÁNG KIẾN

1 Cơ sở lí luận:

“ Dạy học lịch sử cũng như dạy bất cứ cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh chứ không bắt buộc cái trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi trả lại” (Đai-ri – Liên Xô cũ ) Vì vậy, dạy học lịch sử không chỉ là quá trình giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử

mà quan trọng hơn là giúp các em hiểu được lịch sử, tức là nắm được bản chất của sự kiện nhằm phục vụ cho việc giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư tưởng tình cảm cho học sinh qua môn học

Căn cứ vào tài liệu học tập và mục đích truyền thụ, người dạy không những phải có những phương pháp ôn tập phù hợp với đối tượng học sinh mà còn phải giúp các em tái hiện nhanh kiến thức, lưu giữ tốt kiến thức, biết nhận xét, đánh giá một sự kiện, một nhân vật, một giai đoạn lịch sử,… Vì vậy phương pháp ôn tập lịch sử nói chung và ôn tập theo hình thức thi trắc nghiệm

có vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy ở trường THPT, đặc biệt là ở lớp 12

Tính ưu việt của bài thi trắc nghiệm là sự khách quan, có thể đo lường và kiểm định chất lượng giáo dục bằng con số cụ thể, không dựa vào cảm tính và mơ

hồ Thông qua bài thi trắc nghiệm, các chuyên gia có thể phân tích, đánh giá chất lượng bài thi, câu hỏi và kết quả Học sinh cũng không phải thuộc lòng quá nhiều, chỉ cần đọc sách, hiểu bài và biết kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn đáp án là có thể hoàn thiện bài thi Điều này đã tạo nên "làn gió mát" trong việc học tập chứ không làm xáo trộn việc dạy và học ở trường

Với những ưu điểm vượt trội của hình thức thi trắc nghiệm nên Bộ giáo dục đã quyết định đổi mới hình thức thi trong năm 2017 và được coi là một

cuộc cách mạng trong đánh giá và hoàn toàn có thể kiểm tra được tư duy logic

và sự sáng tạo cuả học sinh

2 Cơ sở thực tiễn:

Bộ môn Lịch sử hiện nay đúng là đã trở về với vị trí, vai trò của nó khi

mà lượng thí sinh đăng kí dự thi ngày càng đông Tuy nhiên, có một thực tế

cần phải biết: Ngay khi điểm thi THPT quốc gia 2019 được công bố, một trong những con số khiến nhiều người chú ý là theo thống kê có tới 70% số bài thi môn Lịch sử đạt điểm dưới trung bình Không phải lần đầu, nỗi buồn về việc dạy và học môn lịch sử được dư luận nhắc đến Khi đất nước hội nhập, giới trẻ rất cần giữ bản sắc dân tộc để “hội nhập mà không hòa tan” thì môn Sử lại thấp thứ nhất Kết quả này không còn là nỗi buồn mà là nỗi đau, đe dọa đến sự thành công của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững của đất nước,

hội nhập nhưng không đánh mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Đến năm 2020,

điểm thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử lại tiếp tục cùng môn Tiếng Anh “đội sổ” khi môn Lịch sử có 46,95% thí sinh đạt điểm dưới trung bình; môn tiếng Anh, số thí sinh đạt điểm dưới trung bình chiếm tỷ lệ 63,13%

Trang 4

Ở trường THPT Hoằng Hoá 2, nhiều năm trước đây, tỷ lệ học sinh chọn môn Lịch sử thi tốt nghiệp quá ít Chỉ những em nào có mong muốn thi khối C mới chọn Nguyên nhân là học sinh cũng như phụ huynh cho rằng học môn Sử không có tương lai, cơ hội tìm việc làm cho những cử nhân Lịch sử không nhiều, nếu có thì thu nhập rất thấp; đây chỉ là môn phụ, vừa khó vừa không hấp dẫn

Khi Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa ra phương án thi mới, số lượng học sinh chọn thi môn Sử tăng lên đáng kể Trong năm học 2020 – 2021 đã có tới hơn một nửa số học sinh khối 12 đăng kí thi môn Lịch sử Sở dĩ như vậy là vì khi các

em đã chọn Ban KHXH để thi thì môn Sử là môn bắt buộc Bên cạnh đó, vì hình thức thi trắc nghiệm, học sinh không phải thuộc lòng quá nhiều, chỉ cần đọc sách, hiểu bài và biết kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn đáp án là có thể hoàn thiện bài thi Và dù sao đi nữa cũng không phải đau đầu tính toán như môn Lí, Hoá, Sinh (Ban KHTN) Tuy nhiên, khi đã chọn ban KHXH, các em cũng không dành quá nhiều thời gian cho môn Sử Các em chỉ cố gắng để môn

Sử qua điểm liệt bởi có nhiều sự lựa chọn khác cho “an toàn” hơn (ví dụ như môn Địa lí với có sự hỗ trợ rất lớn của Atlat, môn GDCD kiến thức sát với thực tế)

Từ những suy nghĩ đó, khi đi vào thực tế làm bài môn Lịch sử, các em gặp khó khăn lúng túng, thao tác và tốc độ làm bài khá chậm, chưa biết phân bổ thời gian cho hợp lí nên khi gần hết giờ thì vội khoanh bừa hoặc bỏ trống đáp án Tình trạng phổ biến nữa là do không nhớ chắc chắn kiến thức nên khi chọn đáp

án, các em chỉ nhớ hình như câu này là đáp án A, câu này là đáp án B, Các em không nhớ nổi nội dung của đáp án đúng phải là như thế nào Điều nay nhắc chúng ta nhớ đến Chương trình Chuyển động 24h của VTV thực hiện phóng sự ngắn với câu hỏi rất đơn giản về mối quan hệ giữa hai cái tên Quang Trung -Nguyễn Huệ cho các em ở lứa tuổi học sinh Câu trả lời mà chương trình nhận được từ các em học sinh là: Quang Trung - Nguyễn Huệ là hai bố con, là hai anh em, là bạn thân chiến đấu,… Thậm chí, trong phóng sự, có một em học sinh còn chắc chắn như đinh đóng cột rằng “Quang Trung là nhà thơ, trường con chính là trường của ông ấy - trường Nguyễn Du, mà Nguyễn Du chính là ông Quang Trung” Phóng sự ngắn trên một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động lỗ hổng lớn về kiến thức lịch sử của học sinh Việt Nam

Tất cả những điều trên đã lí giải cho việc vì sao kết quả thi THPT quốc gia môn Sử, số điểm dưới trung bình chiếm khoảng một nửa

3 Giải pháp thực hiện:

3.1 Giải pháp chung: Học sinh cần phải nắm vững chương trình giáo dục tổng thể.

Dù thi dưới hình thức nào, học sinh cũng cần xây dựng phương pháp học nghiêm túc Muốn học tốt môn Lịch sử, học sinh cần nắm vững tổng thể chương trình trước, từ những chủ đề chính của bài học mới đi vào các thông tin chi tiết;

Trang 5

học Học để thi trắc nghiệm khác với học để thi tự tuận Để thi trắc nghiệm, học sinh phải học toàn bộ chương trình, không bỏ sót bất cứ nội dung nào Tuy bài thi chỉ có 40 câu nhưng lại có đến 24 mã đề; các mã đề chỉ giống nhau 20% số câu hỏi Số lượng câu hỏi nhiều như thế chắc chắn sẽ rải đều ra hết chương trình (trừ phần giảm tải) và học sinh không thể biết mình sẽ nhận mã đề nào Vì vậy, việc giáo viên cần làm ngay từ đầu là phải cung cấp cho các em cái nhìn tổng thể

về lượng kiến thức các em cần phải nắm ở đây

Ngay tiết đầu tiên của một năm học, tôi luôn yêu cầu học sinh đọc phần mục lục và hướng dẫn học sinh nắm vững những nét đại cương về chương trình các em phải học trong năm Như ở chương trình Lịch sử lớp 12, học sinh cần được biết sẽ học hai phần: phần Lịch sử thế giới hiện đại (1945 – 2000), phần Lịch sử Việt Nam hiện đại (1919 – 2000) Trong mỗi phần bao gồm mấy chương

và nội dung mỗi chương là gì Ví dụ như khi học chương I - Việt Nam từ năm

1919 – 1930, các em phải biết được chương này có những nội dung sau:

- Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp (1919 – 1929)

- Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 – 1930

- Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc

- Các tổ chức yêu nước – cách mạng

- Quá trình vận động thành lập Đảng

Nếu học chương II – Việt Nam từ năm 1930 – 1945, ngay từ đầu học sinh sẽ được giới thiêụ các nội dung sau:

- Phong trào cách mạng 1930 – 1931

- Phong trào dân chủ 1936 - 1939

- Phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường xuyên nhấn mạnh đến các nội dung của từng chương để khắc sâu hơn bài học

Về phía học sinh, để thuộc được bài, học sinh cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, có thể là làm đề cương, ghi chép đi, ghi chép lại nhiều lần, kiểm tra kiến thức của nhau thông qua học nhóm…Việc học như vậy phải được tiến hành thường xuyên, lặp đi lặp lại Các kiến thức của môn Lịch sử nếu không được thường xuyên nhắc đi, nhắc lại thì học sinh sẽ quên hết

3.2.Giải pháp cụ thể:

Trong các kì thi THPT quốc gia, Bộ GD-ĐT không tổ chức biên soạn, không chủ trương phát hành tài liệu hướng dẫn ôn tập cho các môn thi Việc tổ chức ôn tập chủ yếu dựa trên cấu trúc đề thi sau khi bộ chính thức đưa ra đề thi minh họa với phần lịch sử thế giới chiếm 30% điểm số, phần lịch sử Việt Nam chiếm 70% điểm số; nội dung các câu hỏi nằm ở nhiều bài học (chủ yếu trong chương trình Lịch sử 12) Nếu đề thi ra theo cấu trúc và độ khó như đề thi minh họa, học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản có thể đạt kết quả từ khá trở lên

Vì vậy, trong một tiết ôn tập, giáo viên có thể lựa chọn và kết hợp nhiều phương pháp ôn tập sau đây:

Trang 6

3.2.1 Ôn tập theo sự kiện lịch sử:

Đây là sự khởi đầu cung cấp cho học sinh nguồn sử liệu cơ bản Bước thứ nhất của phương pháp này là yêu cầu học sinh lập niên biểu các sự kiện lịch sử theo cách ngắn gọn nhất Điều này giúp các em bổ sung kiến thức theo

hệ thống lịch sử thế giới và Việt Nam

Ví dụ 1:

Những sự kiện tiêu biểu về cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953

- 1954

- 9/ 1953: Trung ương Đảng họp bàn về kế hoạch quân sự

- 10/ 12/ 1953: Ta mở chiến dịch Tây Bắc

- Đầu tháng 12/ 1953: Ta mở chiến dịch Trung Lào

- Cuối tháng 1/ 1954: Ta mở chiến dịch Thượng Lào

- Đầu tháng 2/ 1954: Ta mở chiến dịch Tây Nguyên

Ví dụ 2 :

Những sự kiện tiêu biểu của lịch sử cách mạng Lào (1945 – 1975):

- Ngày 23/8/1945: Khởi nghĩa giành chính quyền

- Ngày 12/10/1945: Tuyên bố độc lập

- Tháng 3/1946: Pháp trở lại xâm chiếm

- Ngày 21/7/1954: Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương

- 22/ 3/ 1955: Đảng Nhân dân Lào thành lập

- Tháng 2/1973: Hiệp định Viêng Chăn

- Từ tháng 5/1975: Tổng tiến công và nổi dậy…

- Ngày 2/12/1975: nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập

Bước thứ hai của phương pháp này là ở mỗi sự kiện, học sinh phải tìm ý

cơ bản và tập diễn đạt các ý đó bằng ngôn ngữ của mình Điều nay có nghĩa là

các em phải học cả phần “Sử” (các sự kiện) và phần “Luận” ( tức là khi nhắc tới sự kiện nào học sinh đều có thể bình luận, nhận xét, đánh giá, chứng minh,

giải thích, lí giải… về sự kiện đó) Để nhớ và hiểu được kiến thức Lịch sử, các

em nên kết hợp SGK, bài giảng của giáo viên và một quyển vở để tự mình ghi chép lại Yêu cầu của cách học này là học sinh chỉ cần nhớ ý chứ không nhất thiết phải nhớ văn – nghĩa là các em không cần phải diễn đạt giống y hệt SGK hoặc lời thầy cô giáo Ở mỗi bài, khi tự học, các em cần nhớ các phần, các tiêu

đề, mục chính rồi từ mỗi mục, phần chính lại gồm mấy ý chính Các em gạch

ra vở như một đề cương, sau đó tự diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, miễn sao

là đúng Việc học cả phần “Luận” sẽ giúp các em nhớ lâu và nhớ sâu hơn những sự kiện, nhân vật, mốc thời gian, đảm bảo cho việc làm bài trôi chảy hơn Nên nhớ trong bài thi trắc nghiệm, ngoài những câu hỏi về kiểm tra kiến thức, cần có một số câu hỏi yêu cầu suy luận, phân tích mà đáp án khá giống nhau theo kiểu 50/50 Khi đó, học sinh phải hiểu bài, phân tích câu trả lời để chọn ra đáp ứng Đây là những câu hỏi mà các bạn rất dễ bị mất điểm và đây cũng chính là cơ sở để sàng lọc, phân loại học sinh…

Trang 7

Ví dụ 3:

Trên cơ sở phần niên biểu về cách mạng Lào, học sinh sẽ thực hiện các thao tác sau:

+ Chọn từ vở học trên lớp và SGK những ý lớn

+ Từ những ý lớn lại tìm ra những ý nhỏ hơn để diễn giải cho ý lớn Nói một cách khác là chúng ta đang học theo “ sơ đồ hình cây ”: Từ gốc đến cành, từ cành lớn phân thành các cành nhỏ hơn

Thao tác này sẽ cho các em hệ thống kiến thức về cách mạng Lào như sau:

Các ý lớn Các ý nhỏ

- Ý lớn 1:

Nguyên nhân Giành chính quyền năm 1945 Diễn biến

Kết quả

- Ý lớn 2:

Nguyên nhân

( 1946 – 1954 )

Kết quả

- Ý lớn 3:

Nguyên nhân

( 1954 – 1975 )

Kết quả

Sau khi hoàn thành các thao tác trên, các em sẽ tự diễn đạt bằng chính lời văn của mình và hoàn chỉnh các kiến thức về cách mạng Lào

Ví dụ 4:

Khi các em học thuộc phần ý nghĩa lịch sử của các cuộc cách mạng , các cuộc kháng chiến, nếu các em để ý sẽ thấy thường có hai ý nghĩa dân tộc và thế giới Ý nghĩa dân tộc thường có hai ý nhỏ là kết thúc cái cũ và mở ra cái mới

Ý nghĩa thế giới cũng có hai ý nhỏ là tác động đến bạn và thù như thế nào Cụ thể, ý nghĩa của thắng lợi kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) và kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) như sau:

Ý nghĩa Cuộc kháng chiến chống

Pháp (1945 – 1954)

Cuộc kháng chiến chống Mĩ

(1954 – 1975)

1 Đối với

dân tộc

- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực

- Kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mĩ và 30 năm chiến

Trang 8

dân của Pháp trong gần một thế

kỷ trên đất nước ta

- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

- Miền Nam tiếp tục đấu trang chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước

tranh giải phóng dân tộc, bảo

vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng tháng Tám, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc – thực dân trên đất nước ta

- Mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc – kỉ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên CNXH trong cả nước

2 Đối với

thế giới

- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai

- Góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới ở Á, Phi, Mỹ Latinh

- Tác động mạnh đến tình hình nước Mĩ và thế giới

- Cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc

Từ các ví dụ 3, 4 cho thấy không chỉ có các môn tự nhiên mới có công thức mà môn Sử cũng có “công thức” của nó “Công thức” chung của cách mạng Lào: Nguyên nhân, diễn biến, kết quả Trong các bài 14, 15, 18, 20 chương trình lịch sử 12 – Cơ bản nói về phong trào cách mạng 1930 – 1931,

1936 – 1939, chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, chiến dịch Biên giới thu đông 1950, cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 các em có thể ôn theo “công thức”: Nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa Trong các bài 15, 16 chương trình lịch sử 12 – Cơ bản nói về hội nghị TW Đảng tháng 7/1936, 11/1939, 1941 “công thức” chung sẽ là:

- Thời điểm và địa điểm họp

- Nội dung hội nghị: - Xác định kẻ thù chính trước mắt

- Nhiệm vụ chính trước mắt

- Biện pháp thực hiện

- Ý nghĩa hội nghị

v.v

Trang 9

Bước thứ ba của phương pháp ôn tập này ở mỗi sự kiện các em cần nhớ

kĩ những từ mấu chốt, hay gọi là “từ chìa khoá” Mỗi khi đọc câu hỏi xong, điều đầu tiên là học sinh phải tìm được “từ chìa khóa” nằm ở đâu Điều đó

giúp định hướng được rằng câu hỏi liên quan đến vấn đề gì và đáp án sẽ gắn

liền với “từ chìa khóa” ấy Đó được xem là cách để giải quyết câu hỏi một

cách nhanh nhất và tránh bị lạc đề hay nhầm dữ liệu đáp án

Ví dụ 5:

- Khi nói về ý nghĩa lịch sử của sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, các em phải nhớ những “từ khoá” : là “kết quả”, là “sản phẩm”, là “bước ngoặt vĩ đại”, là “sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên” Trên cơ sở các “từ khoá” này, các em sẽ phát triển được các ý trọn vẹn sau:

+ Đảng ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp quyết liệt,…

+ Đảng ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thời đại mới.

+ Đảng ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam….

+ Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam.

- Để nắm vững kiến thức tình hình kinh tế nước Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trước nhất các em hãy nhớ đến những từ mấu chốt: “duy nhất”, “lớn nhất”, “một trong ba”…Cũng từ đó các em sẽ phát triển thành các ý sau:

+ Từ 1945 – 1950, Mĩ là trung tâm kinh tế - tài chính duy nhất của thế giới.

+ Khoảng 20 năm đầu sau chiến tranh, Mĩ là trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất của thế giới.

+ Đầu những năm 70, Mĩ là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính thế giới.

Hãy nhớ rằng “ Có công mài sắt, có ngày nên kim “, hãy làm đi làm lại nhiều lần thuần thục trở thành kĩ năng thì học sinh sẽ rất dễ học, dễ nhớ và nhớ lâu Nói cách khác, đọc vở ghi chép hay nghe những lời tóm tắt chưa đủ, chính tập nhớ lại mới có tác dụng Các kĩ năng trí tuệ cũng được lưu giữ tốt nhất bằng cách dùng đi dùng lại, chứ không phải bằng những phương pháp thụ động Khi học tập theo phương pháp này, các em có thể tự tổ chức học nhóm

để kiểm tra nhau và tự điều chỉnh Ôn để thi trắc nghiệm vẫn rất cần điều đó

3.2.2 Ôn tập tổng hợp theo các giai đoạn:

Phương pháp này giúp học sinh hệ thống hóa từng giai đoạn lịch sử

cụ thể Khi ôn, trong mỗi giai đoạn giáo viên cần yêu cầu học sinh nêu những nét chính có so sánh, đánh giá, nhận xét Đây cũng là một cách học hiệu quả để ghi nhớ kiến thức Trong lịch sử có những nội dung kiến thức tương đồng hoặc tương

Trang 10

phản Học sinh so sánh bằng việc lập bảng là dễ hiểu nhất Với cách học này, học sinh đưa các nội dung kiến thức lại gần nhau, từ đó nhận rõ các nội dung kiến thức đó có điểm gì chung nhất và điểm nào khác biệt cần phải nhớ rõ Như vậy học sinh học một mà biết hai và đạt hiệu quả cao hơn

Ví dụ : Khi ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945, giáo viên có thể cho

học sinh so sánh phong trào cách mạng Việt Nam 1930 – 1931 và 1936 – 1939 bằng việc lập bảng sau:

1 Nhiệm vụ cách mạng - Đánh đế quốc và phong

kiến

- Giành độc lập dân tộc

và người cày có ruộng

- Đánh thực dân Pháp phản động và tay sai

- Đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình

2 Lực lượng tham gia - Liên minh công nông - Đông đảo các tầng

lớp nhân dân

Đông Dương

4 Hình thức đấu tranh - Bạo lực cách mạng, bí

mật, bất hợp pháp…

- Đấu tranh chính trị, công khai, hợp pháp

5 Địa bàn chủ yếu - Nông thôn - Thành thị

Từ bảng so sánh này học sinh có thể thấy được sự khác nhau giữa hai phong trào, rút ra được nguyên nhân của sự khác nhau và thấy được sự nhạy bén linh hoạt của Đảng ta

3.2.3 Xâu chuỗi các kiến thức cho cùng một vấn đề:

Trong qúa trình ôn tập, học sinh cần có lưu ý: Việc so sánh không chỉ dừng lại là so sánh trong cùng một giai đoạn mà có thể so sánh giữa các giai đoạn với nhau Ngoài ra, việc so sánh còn mở rộng ra là giữa các nước với nhau, giữa lịch sử dân tộc với lịch sử thế giới Các em có thể so sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên với Luận cương chính trị; giữa mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của tổ chức ASEAN với tổ chức Liên Hợp quốc…Học Lịch sử các

em rất sợ số liệu, ngày tháng Vậy chúng ta nên tìm ra những điểm chung tương đối và đưa ra so sánh thì một số sự kiện sẽ được ghi nhớ rất đơn giản

Cách ôn tập đó gọi là xâu chuỗi các kiến thức cho cùng một vấn đề.

Ví dụ 1:

Khi nói về thời gian, giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm ra những sự kiện có điểm tương đồng như:

- Cũng trong thời gian một năm, đó là từ khi Đức đánh bại Pháp cho đến khi đức tấn công Liên Xô ( 22/6/1940 – 22/6/21941 ) Đó cũng là từ khi tướng Nava được cử làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho đên khi Pháp bị thất bại ở Điện Biện Phủ ( 7/5/1953 - 7/5/1954 )

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w