Tôi đã tìm hiểu và tìm ra được nguyên nhân là do tâm lý học sinh HS vẫn còn nghĩ rằng kiến thức phần Địa lí tự nhiên khá trừu tượng và khó học dẫn đến ngại học, nội dung bài học thì nhi
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Xuất phát từ thực trạng học tập môn Địa lí hiện nay của các học sinh lớp
12 tại trường Trung học phổ thông (THPT) Nguyễn Quán Nho, tôi nhận thấy các
em chưa thực sự hứng thú trong các giờ học Địa lí và kết quả học tập môn Địa lí cũng chưa thực sự cao như mong muốn
Tôi đã tìm hiểu và tìm ra được nguyên nhân là do tâm lý học sinh (HS)
vẫn còn nghĩ rằng kiến thức phần Địa lí tự nhiên khá trừu tượng và khó học dẫn
đến ngại học, nội dung bài học thì nhiều và các em lại chưa biết cách học như thế nào để hiệu quả nhất, một số giáo viên (GV) sử dụng phương pháp dạy học chưa kích thích được sự hứng thú cho các em Mặt khác, do nhiều em suy nghĩ môn Địa lí là môn phụ, một số em lại có xu hướng học lệch các môn để có thể thi Đại học, Cao đẳng vì thế mà các em không có sự đầu tư nhiều cho môn Địa
lí
Để góp phần khắc phục tình trạng trên, tôi đã lựa chọn cho mình các phương pháp dạy học mới nhằm tạo sự hứng thú học tập cho các em và để kết quả học tập môn Địa lí của các em được cải thiện hơn Trong số các phương pháp đó, tôi thấy phương pháp sơ đồ tư duy (SĐTD) bước đầu thực hiện đã đạt hiệu quả Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp này của mỗi giáo viên (GV) và học sinh (HS) là khác nhau Mặt khác do chưa thực sự nắm rõ về phương pháp
này nên hiệu quả chưa thật cao Vì thế, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp vận dụng sơ đồ tư duy vào trong các bài học Địa lí tự nhiên, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí lớp 12” để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí
Nghiên cứu được thực hiện trong học kỳ I năm học 2020 - 2021 trên các nhóm tương đương là 12C6 và 12C4 của trường THPT Nguyễn Quán Nho Lấy lớp 12C4 làm lớp đối chứng, lớp 12C6 làm lớp thực nghiệm và tiến hành giải pháp thay thế trong các bài thuộc phần Địa lí tự nhiên lớp 12
So sánh kết quả thông qua bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút học kỳ I và bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 1 tiết của học kỳ I Kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS Các em của lớp thực nghiệm hứng thú, sôi nổi hơn trong tiết học, các em hiểu bài hơn và kết quả kiểm tra cũng cao hơn so với lớp đối chứng Từ đó có thể kết luận giải pháp thay thế mà tôi tiến hành có thể giúp làm tăng hiệu quả của việc học tập môn Địa lí của HS lớp 12 trường THPT Nguyễn Quán Nho
Trong bối cảnh cả nước ta đang tiến hành công cuộc vận động đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy - học Làm thế nào để phát huy tính tích cực chủ động của HS? Làm thế nào để thực hiện đúng phương châm dạy học lấy HS làm trung tâm? Điều đó đòi hỏi mỗi GV phải sử dụng một
số phương pháp mới trong giảng dạy trong đó phương pháp sơ đồ tư duy là một
trong những phương pháp có tác dụng rất tích cực, nếu GV vận dụng khéo léo sẽ
có tác dụng rất lớn
Qua nghiên cứu lý thuyết về sơ đồ tư duy (SĐTD), tôi thấy SĐTD có nhiều lợi ích trong giảng dạy và học tập Địa lí, tạo cho cho HS hứng thú học tập
Trang 22
và rèn luyện năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học, sáng tạo cho học sinh Chương trình, nội dung SGK Địa lí lớp 12 - phần Địa lí tự nhiên có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy và học để rèn luyện năng lực tự học, giúp học sinh có được cái nhìn tổng thể về các vấn đề Địa lí tự nhiên của đất nước
Trong quá trình dạy học Địa lí lớp 12 - phần Địa lí tự nhiên Việt Nam, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD), coi đó như là một công cụ, phương tiên dạy học thường xuyên nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua các hoạt động như: Sử dụng SĐTD làm công cụ ghi chú cho bài giảng, sử dụng SĐTD làm công cụ, phương tiện để tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh trong khi dạy trên lớp Sử dụng SĐTD để hướng dẫn học sinh
ôn tập, hệ thống lại kiến thức Sử dụng SĐTD để kiểm tra kiến thức HS
Qua việc thực nghiệm sư phạm tôi thấy rằng việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học Địa lí mang lại hiệu quả cao góp phần quan trọng vào việc rèn luyện năng lực tự học cho HS Đây là một trong những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở trường phổ thông Trong điều kiện dạy học ở các trường phổ thông hiện nay người GV hoàn toàn có thể dễ dàng sử dụng SĐTD trong dạy học để rèn luyện năng lực tự học cho HS và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Địa lí trong nhà trường
Tuy nhiên, trên thực tế, phương pháp SĐTD trong dạy học Địa lí ở các
trường phổ thông vẫn chưa được chú ý đúng mức, chưa phát huy hết tính tích cực của nó trong việc dạy và học Địa lí THPT
Từ những phân tích như trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp vận dụng sơ đồ tư duy vào trong các bài học Địa lí tự nhiên, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí lớp 12” với mong muốn góp một phần nào đó vào
hướng sử dụng phương pháp SĐTD có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Địa lí lớp 12 nói riêng và THPT nói chung
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Việc vận dụng phương pháp sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học Địa lí 12, sẽ làm tăng kết quả học tập môn Địa lí của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Quán Nho, đặc biệt là học sinh những lớp có đầu vào lớp
10 thấp và những học sinh đăng kí thi các môn Khoa học xã hội để thi THPT quốc gia Đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
và học tập Địa lí ở trường phổ thông nói chung và chương trình Địa lí lớp 12 cơ bản nói riêng
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 12 đang học tập môn Địa lí tại trường THPT Nguyễn Quán Nho, cụ thể là HS ở 2 lớp 12C6, 12C4
Đây đều là các lớp do tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2020 – 2021 Các lớp này được chọn để nghiên cứu đề tài vì có nhiều điểm tương đồng về mức độ hiểu biết của HS, dân tộc, độ tuổi và đều là các lớp đăng kí thi tốt nghiệp môn Khoa học xã hội, học chương trình địa lí cơ bản
Trang 3Mặt hạn chế về ý thức học tập môn Địa lí của HS các lớp này đều như nhau: còn thụ động, ngại suy nghĩ, tìm tòi, xây dựng bài và ngại học lý thuyết (đặc biệt lớp 12C6 là một trong những lớp có đầu vào lớp 10 thấp nhất trường)
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, xử lý tài liệu, số liệu có được để phù hợp với yêu cầu của đề tài bằng cách sử dụng kết quả các bài kiểm tra:
+ Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục + Nghiên cứu các giáo trình về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học, phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực… nhằm tạo cơ sở thiết kế giáo
án phù hợp với đặc điểm HS
+ Nghiên cứu nội dung SGK Địa lí 12 và các tài liệu dạy học hiện hành
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra:
Điều tra thực trạng sử dụng phương pháp giáo án của GV thông qua tiếp xúc, trao đổi trực tiếp, lấy ý kiến của GV và HS
+ Phương pháp quan sát:
Qua các tiết dạy có sử dụng phương pháp này tôi đều quan sát khả năng tiếp thu kiến thức ở một số đối tượng học sinh Đặc biệt ở những tiết thao giảng tôi thường sử dụng phương pháp này để nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp nhằm hoàn thiện bản thân
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tôi thường nghiên cứu rất kĩ chương trình sách giáo khoa và chương trình chuẩn kí năng - kiến thức để xây dựng và sử dụng sơ đồ cấu trúc một cách có hiệu quả nhất Bên canh đó tôi còn nhờ tới sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp trong tổ bộ môn để hoàn thiện hơn về phương pháp này
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Là quá trình chọn lớp thực nghiệm và đối chứng ở khối 12 Trường THPT Nguyễn Quán Nho Thiết kế các giáo án vận dụng phương pháp
sơ đồ tư duy vào giảng dạy ở lớp thực nghiệm
Bước đầu thí nghiệm thăm dò cho HS làm quen phương pháp mới, sau
đó thực hiện chính thức với 2 - 3 bài
Kiểm tra nhanh sau khi thực hiện các giáo án Từ kết quả đó phân tích, rút ra những kết luận có căn cứ khoa học
+ Phương pháp khảo sát, thống kê
Tôi đã khảo sát đề tài này trên 2 lớp khối 12 (12C6, 12C4) và trên 5 đối tượng học sinh ( giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) Qua từng tiết dạy tôi đều thống kê số lượng học sinh nắm kiến thức ở bài đó và cho kết quả rất khả quan
Trang 44
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận:
Trong giảng dạy địa lí THPT loại sơ đồ tư duy có thể sử dụng cho rất nhiều bài
Tuy nhiên giáo viên thường rất ít khi sử dụng chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong một tiết giảng dạy là rất thấp
Việc nghiên cứu và thử nghiệm để đi đến ứng dụng cho tất cả giáo viên địa
lí có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn
Đề tài có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên để thực hiện phương pháp sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn địa lí và có thể dùng cho học sinh nghiên cứu để hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua
sơ đồ cấu trúc
2.1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy… được phát
minh bởi Tony Buzan là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một
ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết được liên kết và sắp xếp tỏa tròn quanh từ khóa hay ý trung tâm Sơ đồ tư duy là một phương pháp đồ họa thể hiện ý tưởng và khái niệm
Giới thiệu một số sơ đồ tư duy vẽ bằng phần mềm
Sơ đồ tư duy - Đặc điểm tự nhiên Việt Nam
(Nguồn: Website: sites.google.com/site/hocdialythpt)
Trang 5Sơ đồ tư duy - Bài 2:Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ nước ta
(Nguồn: Website: sites.google.com/site/hocdialythpt)
Sơ đồ tư duy - Bài 8:Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
(Nguồn: Website: sites.google.com/site/hocdialythpt)
Trang 66
2.1.2 Ý nghĩa của sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy có thể áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt
là trong quá trình giảng dạy và học tập ở nhà trường, sơ đồ tư duy (SĐTD) có ý nghĩa rất quan trọng :
+ Logic, mạch lạc giúp người học nắm bắt kiến thức nhanh, hiệu quả
+ Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ
+ Giúp hệ thống hóa kiến thức: Giáo viên sử dụng SĐTD để hệ thống kiến thức một cách khoa học và logic, nội dung bài học được thể hiện trên sơ đồ một cách trực quan mà không bị bỏ sót ý
+ Nhìn thấy “bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết SĐTD hỗ trợ người học hệ thống hóa tất cả các thông tin liên quan một cách đơn giản
2.1.3 Cách vẽ và đọc sơ đồ tư duy:
Dùng bút màu bắt đầu từ giữa trang giấy nếu thuận tiện đặt ngang tờ giấy
để có nhiều khoảng trống ở hai bên hơn, sau đó thực hiện các bước sau:
+ Viết theo kiểu chữ in chủ đề hoặc ý tưởng chính ở giữa trang giấy, sau
đó đóng khung bằng hình tròn, hình vuông hoặc hình chữ nhật Nếu có thể chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh chủ đề vì một hình ảnh có thể diễn đạt cả nghìn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp ta tập trung vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn
+ Có thể sử dụng thêm màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh
+ Từ trung tâm kéo các nhánh chính (cấp 1) ra, mỗi nhánh dùng diễn tả một điểm quan trọng nhất hoặc ý tưởng chính Viết một từ hoặc một cụm từ chính lên mỗi nhánh Cụm từ chính là cụm từ chuyển tải được phần hồn của một
ý tưởng và kích thích bộ nhớ của chúng ta Sau đó từ các nhánh cấp 1 kéo các nhánh cấp 2 ra Số nhánh phụ thuộc các ý tưởng Tiếp đến là các nhánh cấp 3,4 các đường kẻ càng gần hình ảnh (hoặc chủ đề) trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều
+ Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm (hoặc chủ đề trung tâm)
2.1.4 Các bước rèn luyện học sinh vẽ sơ đồ tư duy:
- Trong những tiết học đầu giáo viên trình bày một vài sơ đồ tư duy đơn giản nhất trong bài giảng và cho học sinh biết đó là sơ đồ tư duy
- Sau đó GV ra bài tập về nhà cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy về một vấn đề nào đó để học sinh củng cố kiến thức
- Tiếp theo những tiết học sau, giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới ở một vấn đề nào đó theo hướng sử dụng sơ đồ tư duy để học sinh có bức tranh tổng thể về một vấn đề Đặc biệt đối với những vấn đề mang tính xã hội, môi trường Học sinh có thể có những phát hiện sâu sắc từ thực tế và qua đó ý thức về những vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường được nâng cao
Trang 7Trong môn Địa lí nếu từ một hiện tượng sinh ra nhiều hệ quả hoặc cơ cấu ngành kinh tế… thì học sinh có thể vẽ bất kỳ hệ quả hoặc ngành nào trước cũng được Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ Địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh (chủ yếu là các nhánh cấp 2, 3…), mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới
Sơ đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do đó, chúng ta sẽ thấy các từ ngữ nằm bên trái sơ đồ tư duy nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài) Các mũi tên xung quanh sơ đồ tư duy bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một cách hướng dẫn khác
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1 Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm của BGH, phụ huynh học sinh, cựu học sinh, nhà trường đã trang bị đầy đủ ti vi, máy chiếu cho việc dạy, học Địa lí
+ Học sinh ngoan ngoãn, hứng thú với việc học Địa lí theo phương pháp
sử dụng sơ đồ tư duy
+ Trong cấu trúc chương trình sách giáo khoa các nội dung được sắp xếp lôgic hơn so với sách giáo cũ nên việc thành lập sơ đồ tư duy trở nên dễ hơn + Chương trình chuẩn kĩ năng – kiến thức được đưa vào áp dụng giúp giáo viên dễ dàng định hướng kiến thức để thành lập sơ đồ
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 GV sử dụng phương pháp SĐTD trong các khâu lên lớp:
Phương pháp SĐTD có thể được GV vận dụng vào một trong các khâu lên lớp, như:
- Kiểm tra bài cũ : Giáo viên gọi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư
duy của bài học cũ trước lớp Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu hỏi
để học sinh trả lời Bắt buộc 100% hoc sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và các sơ đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi hồ sơ để sử dụng khi ôn tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vở ghi bài Học sinh cũng có thể có một tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học Về nhà học sinh sẽ tự chỉnh sửa sơ đồ tư duy bằng hình vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy và lưu trên máy tính cá nhân để ôn tập các kì thi
Trang 88
- Dạy bài mới: Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài
học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài theo kiểu cũ và giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các bạn trong nhóm
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số 1 và gọi học sinh học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 tương tự học sinh đã hoàn thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân
Để minh họa cho sơ đồ tư duy, giáo viên sẽ cho học sinh xem những hình ảnh, đoạn phim ngắn minh họa cho rõ ý hơn của từng nhánh cấp độ 1, cấp
độ 2
- Luyện tập : Giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày nội dung sơ đồ tư
duy mà các em đã thực hiện Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với sơ đồ tư duy như sau:
+ Hoạt động 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của giáo viên
+ Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập
+ Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ
đồ tư duy về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
cần nắm
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên
đã chuẩn bị sẵn hoặc một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn
chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
Lưu ý: Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các
nhóm học sinh có chung một kiểu sơ đồ tư duy, GV chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần)
Sau khi đã tìm hiểu về phương pháp SĐTD, tôi đã tiến hành vận dụng phương pháp này vào dạy trong các bài của Phần Địa lí tự nhiên của chương trình Địa lí lớp 12
2.3.2 GV chọn một bài trong phần Địa lí tự nhiên (Địa lí 12) để dạy thực nghiệm:
GV chọn Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
Các bước GV hướng dẫn HS vẽ sơ đồ tư duy:
Bước 1: Ghi chủ đề trung tâm vào giữa bảng:
“Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển”
Bước 2: Vẽ các nhánh cấp 1:
Trang 9- GV có thể đặt câu hỏi: Bài học hôm nay chúng ta cần tìm hiểu những nội dung chính nào?
- HS trả lời: Gồm 2 nội dung chính:
1 Khái quát về biển Đông
2 Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam
- GV vẽ lên bảng 2 nhánh cấp 1 với 2 nội dung HS vừa nêu
Bước 3: Vẽ các nhánh cấp 2:
+ Trong nhánh “Khái quát về biển Đông”:
GV đặt câu hỏi: Biển Đông có những đặc điểm gì?
HS trả lời 3 đặc điểm: Vùng biển rộng, vùng biển tương đối kín, nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
GV vẽ tiếp 3 nhánh cấp 2 tương ứng với 3 đặc điểm HS vừa nêu
+ Trong nhánh “Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam”
GV đặt câu hỏi: Biển Đông ảnh hưởng tới những yếu tố tự nhiên nào của nước ta?
HS trả lời: Ảnh hưởng tới 4 yếu tố: Khí hậu, địa hình và các hệ sinh thái ven biển, tài nguyên thiên nhiên vùng biển, thiên tai
GV vẽ tiếp 4 nhánh cấp 2 tương ứng với 4 yếu tố HS vừa nêu
Bước 4: Vẽ các nhánh cấp 3:
GV đặt các câu hỏi sau và tương ứng với các câu trả lời GV vẽ tiếp các nhánh cấp 3: Biển Đông ảnh hưởng tới khí hậu, địa hình và hệ sinh thái ven biển nước ta như thế nào? Nêu các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thiên tai ở vùng
biển nước ta
Bước 5: Vẽ nhánh cấp 4 (nếu có) và hoàn thiện sơ đồ:
+ GV gợi ý các em đặt ra các câu hỏi để trả lời và vẽ các nhánh cấp 4 để hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình
+ GV cho các nhóm thời gian để các em sẽ thêm hình ảnh hay thể hiện các ý tưởng của nhóm mình liên quan đến nội dung bài học để tăng tính thẩm mĩ
và hoàn thiện sơ đồ của mình để tạo dấu ấn riêng cho sơ đồ của nhóm mình
+ Lần lượt đại diện các nhóm trình bày kết quả của các nhóm, các nhóm còn lại sẽ nhận xét, GV nhận xét, chỉnh sửa và cho điểm các nhóm
+ Trong mỗi nội dung GV nêu thêm các câu hỏi khác liên quan để giúp
HS nắm rõ nội dung của bài học HS có thể vẽ sơ đồ tư duy như giáo viên hoặc trình bày theo cách thông thường vào vở của mình
2.3.3 GV thiết kế giáo án có vận dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) và chọn lớp để dạy thực nghiệm rồi so sánh với lớp không vận dụng SĐTD vào bài học:
- Giáo án được tôi thiết kế cho các lớp 12C6, 12C4 trường THPT Nguyễn Quán Nho GV vận dụng phương pháp sơ đồ tư duy (SĐTD) để áp dụng cho lớp thực nghiệm và dùng bài kiểm tra 15 phút trước khi vận dụng SĐTD so sánh với kết quả của bài kiểm tra 1 tiết sau khi vận dụng SĐTD của các lớp tương đương
để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung bình của 2 lớp trước và sau khi vận dụng SĐTD vào bài học
Trang 10* Nội dung giáo án như sau:
TIẾT 8 (ppct) BÀI 8 THIÊN NHIÊN CHỊU ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC CỦA BIỂN
I NỘI DUNG
Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
II CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ VÀ NĂNG LỰC
1.Kiến thức:
- Khái quát biển Đông
- Ảnh hưởng của biển Đông đến TNVN: khí hậu, địa hình và hệ sinh thái vùng biển, tài nguyên thiên nhiên vùng biển, thiên tai
2 Kỹ năng:
Sử dụng bản đồ Địa lý tự nhiên (hoặc Atlat), vẽ sơ đồ tư duy để trình bày đặc điểm khái quát của biển Đông và ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên nước ta
3.Thái độ:
- Yêu quê hương đất nước VN, biết khai thác và sử dụng TNTN một cách hợp lý
- Bảo vệ TNTN và môi trường, đặc biệt là môi trường biển, đảo
4 Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực chung: tự học, giải quyết vấn đề, tư duy, tự quản lý, giao tiếp, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, tính toán
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng bản đồ, lược đồ, atlat, số liệu thống kê, tranh ảnh, mô hình và các hình vẽ trong SGK
III PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT, HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ DẠY HỌC
- Phương pháp và kĩ thuật dạy học: PP sơ đồ tư duy, phát vấn, đàm thoại gợi mở, thảo luận…
- Hình thức tổ chức dạy học: Cá nhân, nhóm, lớp
- Phương tiện, thiết bị dạy học: Atat Địa lí VN, sơ đồ, tranh ảnh, Video…
IV CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:
1 Chuẩn bị của giáo viên:
- Atat Địa lí VN, tranh ảnh về thiên nhiên VN, bảng số liệu, phim
- Phiếu học tập, bảng phụ, sơ đồ tư duy
2 Chuẩn bị của học sinh:
- Bảng phụ, bút chì, bút màu, giấy A0
- Sưu tầm một số hình ảnh về con người và cảnh quan thiên nhiên VN
Trang 113 Hình thức tổ chức hoạt động: Cá nhân, cặp đôi, nhóm/cả lớp
4 Phương tiện: Bản đồ Tự nhiên Việt Nam, Atlat Địa lí Việt Nam trang 7,8,9
5 Tiến trình hoạt động:
Bước 1 Giao nhiệm vụ: Việt Nam là một đất nước có “rừng vàng, biển bạc, đất phì
nhiêu” tuy nhiên hàng năm phải chịu nhiều thiên tai, trong đó có thiên tai do vị trí của nước ta
ở trong vùng nhiệt đới và tiếp giáp với biển Bằng kiến thức đã học và hiểu biết của mình, em hãy chứng minh biển của nước ta nói riêng và Biển Đông nói chung có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều hệ sinh thái và dạng địa hình ven biển, bên cạnh đó lại chịu
nhiều thiên tai
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ: HS thực hiện nhiệm vụ trong thời gian 2 phút
Bước 3 HS suy nghỉ để nhớ lại kiến thức sau đó GV gọi một số HS trả lời
Bước 4 GV đánh giá kết quả của HS, trên cơ sở đó dẫn dắt HS vào bài học mới
B HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI:
HOẠT ĐỘNG 1: (cặp đôi/cả lớp )Tìm hiểu khái quát về biển Đông
Bước 1: GV yêu cầu HS đọc sgk tóm tắt
khái quát về biển Đông
- HS đọc sgk, trả lời
- GV đặt câu hỏi: Hãy nêu các ảnh hưởng
của yếu tố hải văn ở biển Đông đến thiên
nhiên nước ta?
(Gợi ý: + Nhiệt độ nước biển, độ muối,
sóng, thủy triều, hải lưu)
Bước 2: Hs thực hiện nhiệm vụ, trao đổi
1.Năng lực phân tích atlat, hình ảnh
2 Năng lực tư duy tổng hợp
I.ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ BIỂN ĐÔNG:
- Biển Đông rộng, nguồn nước dồi dào
- Là biển tương đối kín
- Có đặc tính nóng ẩm và ảnh hưởng của gió mùa
=> Biểu hiện: Qua các yếu tố hải văn
+ Nhiệt độ nước biển cao, trung bình trên 23°C và biến động theo mùa
+ Độ măn trung bình khoảng 32- 33‰, tăng giảm theo mùa
+ Sóng mạnh vào thời kì đầu có gió mùa Đông Bắc
- Biển giàu tài nguyên khoáng sản và hải sản
HOẠT ĐỘNG 2: (Nhóm/cả lớp )Tìm hiểu ảnh hưởng của biển Đông đến TNVN
Bước 1: GV chia lớp thành 4 nhóm, yêu
cầu HS đọc sgk, quan sát H8.1, và những
hiểu biết, hãy sử sụng sơ đồ tư duy để
trình bày “ảnh hưởng của biển Đông đến
thiên nhiên nước ta” Trong sơ đồ phải
thể hiện được:
+ Ảnh hưởng của biển Đông đến khí hậu
nước ta?
+ Ảnh hưởng của biển Đông đến địa hình
và hệ sinh thái vùng ven biển nước ta?
+ Ảnh hưởng của biển Đông đến TNTN
vùng biển nước ta?
+ Những thiên tai do biển Đông gây ra?
- GV hướng dẫn cho HS thiết lập sơ đồ
theo từng bước, rồi yêu cầu HS hoạt
động cá nhân, sau 2 - 3 phút thì cả nhóm
cùng thảo luận
II/ ẢNH HƯỞNG CỦA BIỂN ĐÔNG ĐẾN THIÊN NHIÊN VIỆT NAM:
1 Khí hậu: Nhờ có Biển Đông, khí hậu nước ta mang
nhiều đặc tính của khí hậu hải dương, điều hòa hơn
- Biển Đông là nguồn dự trữ ẩm, làm cho độ ẩm tương đối không khí > 80%
- Mang lại lượng mưa lớn
- Gió thổi từ biển vào làm giảm tính chất lục địa ở các vùng phía Tây
- Làm biến tính các khối khí khi qua biển vào nước ta
2 Địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển
- Các dạng địa địa hình ven biển rất đa dạng: vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu thổ với bãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng lì, các vũng vịnh nước sâu, các đảo ven bờ… có nhiều giá trị về kt biển ( xây dựng cảng biển, du lịch…)
- Giới sinh vật đa dạng và giàu có: rừng ngập mặn, san