1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỬ DỤNG một số bài tập ESTE để GIÚP học SINH lớp 12 TRUNG học PHỔ THÔNG tự học và tự bồi DƯỠNG NĂNG lực, NHẰM CHUẨN bị tốt CHO kì THI tốt NGHIỆP TRUNG học PHỔ THÔNG

47 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thựchành và bài tập thực nghiệm BTTN trong dạy học hóa học không những tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ thốn

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LÊ HOÀN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP ESTE ĐỂ GIÚP HỌC SINH LỚP 12TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỰ HỌC VÀ TỰ BỒI DƯỠNG NĂNGLỰC, NHẰM CHUẨN BỊ TỐT CHO KÌ THI TỐT NGHIỆP TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG

Người thực hiện: Hà Xuân Tuân

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác:

SKKN thuộc môn: Hóa học

THANH HOÁ NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 4

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 5

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấnđề 6

………

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 18

3 Kết luận, kiến nghị 19

3.1 Kết luận 20

3.2 Kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 21

Trang 3

đktc : Điều kiện tiêu chuẩn

ĐLBTKL : Định luật bảo toàn khối lượng

GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo

Trang 4

1 MỞ ĐẦU.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thựchành và bài tập thực nghiệm (BTTN) trong dạy học hóa học không những tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ thống tri thức, rèn luyện kĩ năngthực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp HS hình thành thế giới quan khoa họcđúng đắn Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nóiriêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tích cực, tự giác trong học tập,lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học Thực tiễn chứng tỏ rằng thiếuhứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng tư duy, giảmkhả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự yếu kémtrong học tập

Trong chương trình sách giáo khoa hoá học lớp 12, khi học về tính chất hoáhọc của este và một số nội dung khác thuộc môn hóa học lớp 12 ban cơ bản, thì họcsinh được học về lý thuyết và các bài tập về thí nghiệm, bài tập về phương trìnhphản ứng hóa học của este, cách điều chế este , cùng với các bài tập khác, Nhưngsách giáo khoa thì lại không hệ thống lại dược các dạng bài tập đó để xây dựng vàgiới thiệu cho học sinh theo từng phân dạng Như vậy, nếu học sinh không được giáoviên hướng dẫn hoặc không đọc sách tham khảo thì liệu các em có tìm được sự lựachọn đúng ở các dạng câu hỏi trên một cách chính xác không?

Trong quá trình giảng dạy ở trường THPT Lê Hoàn tôi thấy thực tế họcsinh khá giỏi cũng gặp khó khăn khi gặp những câu hỏi trắc nghiệm dưới dạngcâu hỏi thí nghiệm, câu hỏi biện luận tìm chất và các câu hỏi ở mức vận dụngcao , vậy thì học sinh có học lực trung bình và sinh có học lực yếu thì sẽ như thếnào? vấn đề đặt ra cho giáo viên là phải tìm tòi, đưa ra hệ thống câu hỏi và bàitập, để hướng dẫn học sinh tìm ra phương pháp từ đó định hướng cho học sinhgiải các dạng câu hỏi này sao cho nhanh nhất và chính xác nhất, hình thành nênkiến thức mới Mặt khác, do thời gian dạy học môn Hoá học trên lớp còn hạnhẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết và giải bài tập chưa được nhiều,không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng nhữngkiến thức mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc xây dựng tài liệu hướng dẫn,bồi dưỡng năng lực tự học cho HS là rất quan trọng và cần thiết Ngoài ra phầneste (Hóa hữu cơ 12) được đánh giá là phần kiến thức khó, rất quan trọng, cótính vận dụng cao trong thực tiễn sản xuất và đời sống Nội dung này cũngthường xuyên có mặt trong các đề thi kì thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh ĐH-CĐ,

thi chọn HSG, Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP ESTE ĐỂ GIÚP HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỰ HỌC VÀ TỰ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC, NHẰM CHUẨN BỊ TỐT CHO KÌ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ” Tôi hy vọng đề

tài sẽ góp phần giúp các em nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, năng lựcphát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, nhất lànhư năm học này năm học gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh covid-19 hoànhhành, tính đến ngày 20/5 đã có 1762 ca mắc covid-19/ 20 tỉnh thành có bệnh

Trang 5

nhân mắc covid-19, thì đề tài nhỏ bé này lại càng quan trọng hơn, nó cung cấpcho các em một hệ thống bài tập để tự ôn luyện, phục vụ cho các kỳ thi sắp tới.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu một số vấn đề về lí luận và thực tiễn của việc tự học từ đó thiết

kế và sử dụng một hệ thống bài tập hóa học hữu cơ phần este Hóa học 12 ban cơbản, nhằm giúp HS tự học hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Bài tập hóa học và việc rèn luyện kỹ năng quan sát cho học sinh THPT LêHoàn

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu lí luận về việc hỗ trợ HS rèn luyện kỹ năng quan sát, giải bàitập

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa

- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

Tiếp tục hoàn thiện thêm về đổi mới phương pháp dạy học theo hướngtiếp cận năng lực tự học thông qua câu hỏi bài tập hóa học trong dạy học

Góp phần xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng quan sát cho học sinh

để phát triển tư duy trong phần bài tập “Este” hóa học hữu cơ lớp 12 ban cơ bảntrong chương trình THPT

Trang 6

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

2.1.1 Vai trò của tự học [5].

Về mặt lí luận cũng như thực tiễn, tự học là một hoạt động có ý nghĩa quantrọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo, nó giúp cho conngười không những có tri thức trong học tập mà ngay cả trong đời sống hàng ngày

+ Tự học giúp học sinh có kiến thức trong học tập [5],[7],[8].

Thực tế cho thấy chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đườngnhiều hình thức như ôn lại bài, làm bài tập trong sách giáo khoa, sách nâng cao,hay các em đọc các tài liệu khác thì mỗi HS mới có thể tự bù đắp được nhữngthiếu khuyết về kiến thức khoa học về đời sống xã hội, việc tự học sẽ mang lạicho người học có những kiến thức chiếm lĩnh những tri thức đó và từng bước pháthuy năng lực hiệu quả trong học tập

Chính những khả năng này giúp các em có thời gian tìm tòi, khám phá kiếnthức, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình

+Tự học giúp người học có kinh nghiệm sống [7].

Trong thời đại bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ phát triển cực kỳnhanh chóng như ngày nay thì phương pháp tự học lại càng trở nên cần thiết vì

nó sẽ giúp ta có khả năng đáp ứng tốt với những thay đổi của công việc

+ Tự học giúp phát triển tư duy [8].

Tự học phát triển các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh và kháiquát hóa …

+ Tự học giúp học sinh khả năng sáng tạo, nhận biết tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề [7].

Ta đã biết ở lứa tuổi mẫu giáo và HS nhỏ, các em đã biểu lộ những nănglực sáng tạo, đến năm sáu tuổi các em đã nắm được tiếng mẹ đẻ biết được nhứngtri thức khác nhau cần thiết, cho hành động thực tiễn và cho việc tìm hiểu cáchiện tượng xung quanh Các em hay đặt ra những câu hỏi vì sao và tại sao lạinhư vậy

Điều đó chứng tỏ các em có lòng ham muốn được hiểu biết ngày càngnhiều Để phát huy được khả năng đó của HS ngay từ khi ngồi trên ghế nhàtrường tạo khả năng tự học cho HS giúp các em thõa mãn tính tò mò, sáng tạo,tìm tòi sáng tạo ra tri thức mới Điều đó làm HS nắm vững kiến thức, hiểu rõbản chất và từ đó có thể ứng dụng những tri thức vào cuộc sống

2.1.2 Các hình thức tự học.

2.1.2.1 Khái niệm tự học [9].

- Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi

cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động

cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan,

có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoahọc, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực

Trang 7

hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [29,tr.59-60]

2.1.2.2 Các hình thức tự học [8],[9].

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu

và vận dụng các kiến thức trong đó

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu

hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và có đối diện với GV, được

GV hướng dẫn giải sau đó về nhà tự học

2.1.3 Năng lực tự học [9].

Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ có khi cảnăng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm nhân sinh quan, thế giới quan để chiếmlĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại biến lĩnh vực đó thành sở hữu củamình

2.1.3.1 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông [5].

Để có động lực học tập mạnh mẽ, trước tiên cần khuyến khích tất cả HSphải có mơ ước (trở thành người như thế nào trong tương lai ? sau khi tốt nghiệpTHPT em muốn học tiếp trường nào ? làm nghề gì ? làm việc cho cơ quan, tổchức nào ? sống ở đâu ?, ), khi đã có mơ ước, em hãy đề ra mục tiêu, kế hoạch

cụ thể để phấn đấu đạt được mơ ước đó

2.1.3.2 Các kĩ năng cần thiết để tự học tốt [8].

Các kĩ năng cần có đó là

Thứ nhất: Kĩ năng kế hoạch hóa việc tự học Đảm bảo thời gian tự học

tương xứng với lượng thông tin của môn học, xen kẽ hợp lý giữa các hình thức

tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi;

Thứ hai: Kĩ năng nghe và ghi bài trên lớp Quy trình nghe giảng gồm các

khâu như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bàimới liên hệ với kiến thức đang nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hìnhdung trước Cần lưu

ý cách ghi bài khi nghe giảng như ghi một cách chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng

Thứ ba: Kĩ năng đọc sách Chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung

tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọngđiểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá Khi đọc sách cần phải tập trungchú ý, suy nghĩ, khi đọc phải ghi chép

2.1.4 Bài tập hóa học.

2.1.4.1 Khái niệm về bài tập hóa học [8].

Theo các nhà lí luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi vàbài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được hay hoàn thiện một trithức hoặc một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèmtheo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quanniệm này

2.1.4.2 Phân loại bài tập hóa học [3].

Trang 8

- Yêu cầu thứ nhất: Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp về mối liên hệ giữa những đại lượng và khái niệm đặc trưng cho quá trìnhhoặc hiện tượng, sao cho từng bước HS hiểu được kiến thức một cách vững chắc

và có kĩ năng, kĩ xảo vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đó

- Yêu cầu thứ hai: Mỗi bài tập được chọn phải là một mắt xích trong hệthống kiến thức của HS, giúp cho HS hiểu được mối liên hệ giữa các đại lượng,

cụ thể hóa các khái niệm và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làm sángtỏ

-Yêu cầu thứ ba: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính tích cực, chủ động,sáng tạo của HS trong học tập

- Yêu cầu thứ tư: Hệ thống các bài tập được lựa chọn phải giúp cho HSnắm được phương pháp giải từng loại, dạng cụ thể

- Yêu cầu thứ năm: Nội dung bài tập phải phù hợp với các đối tượng HS,thời gian học tập của HS ở lớp và ở nhà

Như vậy hệ thống bài tập được xây dựng vừa để thõa mãn các yêu cầutrên, vừa nhằm đáp ứng được mục tiêu bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duysáng tạo của HS thông qua việc sử dụng hợp lý hệ thống bài tập trong dạy học

2.1.5 Tác dụng của bài tập hóa học [3].

Bài tập hóa học đươc sử dụng làm phương tiện nghiên cứu tài liệu mới,giúp HS lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc Mỗi một vấn đềxuất hiện do nghiên cứu tài liệu mới cũng là bài tập đối với HS Việc xây dựngcác vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú caocủa HS đối với những kiến thức mới sắp được học mà còn tạo ra khả năng củng

cố kiến thức đã có và xây dựng mối liên quan giữa các kiến thức cũ và mới.Như vậy, bài tập hóa học có một vai trò to lớn trong việc tập luyện, bồidưỡng, phát hiện năng lực sáng tạo của HS trong dạy học

2.1.6 Tiến trình giải bài tập hóa học [3].

Căn cứ vào quá trình tư duy của việc giải bài tập, có thể đưa ra phương án khả

dĩ của tiến trình khái quát giải bài tập, bao gồm các bước chung với các hành động

cụ thể sau:

Nghiên cứu đề bài: Đọc kĩ đề bài Tìm điều kiện đầu bài cho và yêu cầu

các bài còn ẩn chứa trong từ ngữ, hiện tượng, công thức, phản ứng …

Có thể làm nhẩm trong đầu, hoặc mã hóa đầu bài bằng các kí hiệu quen dùnghoặc vẽ sơ đồ Đổi đơn vị của các đại lượng ra cùng một hệ thống nhất

Xác lập các mối quan hệ:

- Mô tả hiện tượng, quá trình hóa học xảy ra trong tình huống nêu lên ở đầu bài

- Vạch ra các quy tắc, định luật chi phối hiện tượng hoặc quá trình ấy Xáclập các mối quan hệ cụ thể giữa những cái đã cho và cái phải tìm

- Lựa chọn các mối liên hệ cơ bản cho thấy sự quan hệ giữa cái đã biết vàcái chưa biết để rút ra cái cần tìm

Thực hiện chương trình giải:

Trang 9

- Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để rút ra kết luận cần thiết.

- Từ các mối quan hệ cơ bản đã xác lập được bằng phương trình, tiếp tụcluận giải, tính toán, tìm ẩn số dưới dạng tổng hợp

- Thay giá trị bằng số của các đại lượng đã cho để tìm kết quả, thực hiệncác phép tính với độ chính xác cho phép

Kiểm tra, xác nhận kết quả

- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi của đè bài yêu cầu chưa, đã xét hếtcác trường hợp chưa Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không

- Thử giải bài tập theo cách khác xem có cùng kết quả

2.2 Thực trạng về khả năng tự học của học sinh ở bậc Trung học phổ thông hiện nay.

2.2.1 Mục đích điều tra.

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn hóa hiện nay của một sốtrường phổ thông:Trường THPT Lê Lợi, Trường THPT Lê Hoàn, Trường THPTLam Kinh Từ đó làm cơ sở để phát triển đề tài

- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng, sử dụng hệ thống bàitập bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy hoá học trong bối cảnh hiện nay

- Tìm hiểu về tinh thần, thái độ, cách sử dụng thời gian của HS đối với việc

tự học

2.2.2 Khó khăn.

-Về phía giáo viên.

Nhiều GV chưa đưa ra được hệ thống kiến thức trọng tâm hay những nộidung cần chú ý cho HS để HS cảm thấy dễ hiểu, từ những nội dung nhỏ, hẹp rồiphát triển thành nội dung rộng hơn mà GV chủ yếu sử dụng các bài tập trongSGK, sách bài tập hoặc từ internet mà không biên soạn lại cho phù hợp với đốitượng HS của mình

- Về phía học sinh.

+ HS từ việc nắm kiến thức trong khi nghiên cứu bài không vững chắc, thờigian dành cho luyện tập, củng cố kiến thức ít, không có điều kiện phân tích, làm

rõ đề bài, hay HS rất ít được làm việc theo nhóm, hay ít được thảo luận

+ HS tiếp thu kiến thức ở trên lớp còn thụ động, ít suy nghĩ về bài học,thuộc bài một cách máy móc nên còn phải lúng túng khi phải độc lập vận dụngkiến thức của mình khi làm bài

+ Nhiều em HS chưa chăm học, chưa có hứng thú học tập, học qua loa, đạikhái, chưa có kĩ năng cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ học tập; chưa biết phân

bố thời gian học các môn một cách hợp lí Các em chưa tự giác học tập, chưa có ýthức tự nghiên cứu cao, tự mình bồi đắp kiến thức của mình còn hổng Cần phải cóbiện pháp đồng bộ nhằm khuyến khích những HS học tốt và những GV dạy giỏi

2.2.3 Thuận lợi.

- Xã hội ngày càng phát triển và giáo dục đã được Đảng, Nhà nước vàngười dân quan tâm nhiều hơn Việc biên soạn SGK mới theo hướng kế thừa,khoa học, hiện đại, nội dung logic thuận lợi cho việc đổi mới PPDH

Trang 10

- GV được tham gia nhiều lớp tập huấn về kiến thức và PPDH do BộGD&ĐT, Sở GD&ĐT mở Các trường học đã quan tâm nhiều đến việc đổi mớiPPDH, các phong trào dạy học tích cực để đẩy mạnh phong trào học tập.

- Số lượng SGK, tài liệu tham khảo khá nhiều, phong phú về nội dung vàhình thức cho cả GV và HS

2.3 Các giải pháp xây dựng và sử dụng một số bài tập phần Este, cho học

sinh lớp 12 trung học phổ thông tự học và tự bồi dưỡng năng lực

2.3.1 Nguyên tắc xây dựng.

Để định hướng cho việc tuyển chọn, xây dựng BTHH, chúng tôi đã nghiêncứu và dựa vào các nguyên tắc sau:

+ Chính xác, khoa học

+ Phong phú, đa dạng, xuyên suốt chương trình

+ Khai thác được đặc trưng, bản chất hoá học

+ Phát triển tư duy, phát huy tính tích cực, tạo hứng thú cho học sinh

2.3.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập.

Ngoài các bài tập có sẵn trong SGK, sách bài tập hoặc các tài liệu thamkhảo khác, trong quá trình giảng dạy, người GV Hoá học cần biết cách xây dựngmột số bài tập mới phù hợp với đối tượng HS và quan trọng hơn cả là bài tậpmới phù hợp với trình độ nhận thức của HS lớp mình giảng dạy

Để biên soạn một bài tập mới cần tiến hành các bước sau đây:

Bước 1: Chọn nội dung kiến thức để ra bài tập

Bước 2: Xét tính chất và mối quan hệ qua lại giữa các chất (phù hợp vớinội dung kiến thức đã chọn) và tạo ra các biến đổi hóa học hướng đến cách giảiphải tìm

Bước 3: Viết đề bài tập (cần diễn đạt mạch lạc, dễ hiểu, ngắn gọn và súctích)

Bước 4: Giải bài tập vừa xây dựng bằng nhiều cách, phân tích ý nghĩa hóahọc, mỗi cách giải và xem mỗi cách giải đó ứng với trình độ tư duy của đốitượng HS nào

Bước 5: Loại bỏ các dữ kiện thừa; các câu, chữ gây hiểu nhầm đồng thờisửa chữa các lỗi ngữ pháp, chính tả để hoàn thiện bài tập

2.3.4 Một số phương pháp xây dựng bài tập mới [3].

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, để xây dựng bài tập hóa học có thể

sử dụng các phương pháp sau đây:

- Xây dựng các bài tập tương tự với các bài tập hay ở trong sách giáo khoahoặc các sách khác

- Xây dựng các bài tập mới bằng cách đảo câu hỏi, cách hỏi

- Xây dựng các bài tập mới bằng cách sử dụng các dữ kiện bằng các chữcái a, b, c, … để bài tập có tính tổng quát

- Xây dựng các bài tập mới bằng cách phối hợp nhiều phần của các bài tậphay trong sách đã in, hoặc của các bài tập học được của những người khác

2.4 Hệ thống bài tập và lí thuyết phần este.

2.4.1 Tóm tắt nội dung kiến thức cơ bản

Trang 11

2.4.1.1 Cấu tạo phân tử.

Este là hợp chất thu được khi thay nhóm - OH ở nhóm cacboxyl của axitcacboxylic bằng nhóm -OR1:

Este đơn chức: RCOOR1 hay R1OOCR, với R, R1 là gốc hiđrocacbon của axit

và ancol tương ứng Công thức tổng quát este no đơn chức: CnH2nO2 (n ≥ 2)

2.4.1.2 Tính chất vật lí.

- Este của các axit cacboxylic đầu dãy đồng đẳng là những chất lỏng dễbay hơi, có mùi thơm của hoa quả:

+ Metyl fomiat HCOOCH3: Mùi táo

+ Isoamyl axetat CH3COOCH2CH2CH (CH3)2: Mùi dầu chuối

+ Butyl butriat CH3CH2CH2COOCH2CH2CH2CH3: Mùi dứa

- Este sôi ở nhiệt độ thấp hơn so với axit có cùng số nguyên tử cacbon vìgiữa các phân tử este không có liên kết hiđro liên phân tử

- Este thường nhẹ hơn nước, ít tan hoặc không tan trong nước, có khảnăng hoà tan được nhiều chất hữu cơ khác nhau như chất béo, một số chất dẻo,paraffin,

2.4.1.3 Tính chất hoá học.

a)Phản ứng thuỷ phân.

+) Thuỷ phân trong môi trường axit là phản ứng thuận nghịch

RCOOR' + H2O H SO , t 2 4 0

    

     RCOOH + R'OH+) Thuỷ phân trong môi trường kiềm là phản ứng một chiều và còn đượcgọi là phản ứng xà phòng hoá

- Este của phenol: Phải dùng anhiđrit axit hoặc clorua axit tác dụng với phenol

C6H5OH + (CH3CO)2O CH3COOC6H5 + CH3COOH

2.4.2 Phân dạng bài tập và phương pháp giải.

Dạng 1: Đồng phân - danh pháp.

1 Đồng phân

Cách viết đồng phân este: RCOOR’ (R’≠ H)

+ Bước 1: Bắt đầu viết từ este fomat H-COOR’ (R’ mạch không nhánh,mạch có nhánh)

+ Bước 2: Viết các đồng phân ứng với R tăng 1cacbon, 2cacbon, tươngứng với R’ giảm 1cacbon, 2 cacbon, đảm bảo số tổng số C của este không đổi

Ví dụ: Viết CTCT các đồng phân este ứng với công thức phân tử C4H8O2

Trang 12

+ Các đồng phân dạng HCOOR’: HCOOCH2CH2CH3; HCOOCH (CH3)2

+ Tăng dần số C trong R, giảm tương ứng trong R’: CH3COOCH2CH3;

CH3CH2COOCH3

phân este, đồng phân axit, đồng phân tạp chức, đồng phân mạch vòng Cụ thể:

- Đồng phân cấu tạo:

+ Đồng phân este no đơn chức

+ Đồng phân axit no đơn chức, mạch hở (n ≥ 1)

+ Đồng phân ancol không no có một nối đôi hai chức (n ≥ 4)

+ Đồng phân ete không no có một nối đôi hai chức (n ≥ 4)

+ Đồng phân mạch vòng (ancol hoặc ete)

+ Đồng phân các hợp chất tạp chức:

Chứa 1 chức ancol, 1 chức anđehit (n ≥ 2)

Chứa 1 chức ancol, 1 chức xeton (n ≥ 3)

Chứa 1 chức ete, 1 chức anđehit (n ≥ 3)

Chứa 1 chức ete, 1 chức xeton (n ≥ 4)

Một ancol không no và một ete no (n ≥ 4)

Một ete không no và một ancol no (n ≥ 4)

- Đồng phân cis – trans:

+ Đồng phân ancol không no có một nối đôi hai chức

+ Đồng phân ete không no có một nối đôi hai chức

+ Một ancol không no và một ete no

+ Một ete không no và một ancol no

+) 1 xeton +1 ancol no, mạch hở: HOCH2COCH3

+) 1 ancol + 1 ete không no: HOCH2-O-CH=CH2

+) Ancol 2 chức, ete 2 chức; tạp chức xeton + ete không tồn tại vì số C<4

* Phương pháp tính nhanh đồng phân este

Bước 1: Nếu một hợp chất hữu cơ X cấu tại bởi 2 thành phần A và B:

Ví dụ: CH3COOC4H9 có bao nhiêu đồng phân ?

- CH3 là a có 1 đồng phân, -C4H9 là b có 4 đồng phân

- A có a đồng phân

- B có b đồng phân X có a.b đồng phân

Trang 13

Vậy este trên có 4.1 = 4 đồng phân.

+ C3H5 - có 3 đồng phân cấu tạo và 1 đồng phân hình học

+ C4H7 - có 8 đồng phân cấu tạo và 3 đồng phân hình học

Khi cho glixerol + n axit béo (n nguyên dương) thì số loại tri este tạo rađược tính theo công thức:  

Tên của este = tên gốc R' của ancol + tên gốc R của axit + at

Câu 1 Ứng với C5H10O2 có bao nhiêu đồng phân este ?

Câu 2 Cho glixerin tác dụng với hỗn hợp 3 axit béo gồm C17H35COOH,

C17H31COOH và C17H33COOH thì tạo được tối đa bao nhiêu loại chất béo ?

Số chất béo là số trieste, áp dụng công thức với n = 3 ta có:

1

= 18

Câu 3 Tổng số hợp chất hữu cơ no, đơn chức, mạch hở, có cùng công thức

phân tử C5H10O2, phản ứng với dung dịch NaOH nhưng không có phản ứngtráng bạc là

(Trích ĐTTS ĐH-CĐ khối B, 2010) Hướng dẫn:

C5H10O2 phản ứng được với dung dịch NaOH nhưng không có phản ứngtráng bạc → là axit hoặc este (không tạo bởi axit fomic)

Trang 14

Số đồng phân axit: R=4 → có 24-2 = 4 đồng phân (Gồm:

CH3CH2CH2CH2COOH; CH3CH2CH (CH3)COOH; CH3CH (CH3)CH2COOH;

Dạng 2: Bài tập về câu hỏi thí nghiệm.

GV cần hướng dẫn học sinh nắm trắc kiến về tính chất hóa học và nội dung các thí nghiệm trong bài để từ đó phân tích được hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm và kết hợp với đáp án trong câu hỏi để đưa ra sự lựa chọn đúng.

Câu 1: Tiến hành thí nghiệm điều chế isoamyl axetat theo các bước sau đây:

Bước 1: Cho 1 ml CH3CH(CH3)CH2CH2OH, 1 ml CH3COOH và vài giọt dung dịch H2SO4 đặc vào ống nghiệm

Bước 2: Lắc đều ống nghiệm, đun cách thủy (trong nồi nước nóng) khoảng 5

D Sau bước 3, chất lỏng trong ống nghiệm trở thành đồng nhất

Định hướng bài giải:

GV cho học sinh đọc và phân tích nội dung các bước để đưa ra sự lựa chọn đúng.

A Sai, H2SO4 đặc có vai trò làm chất xúc tác, hút ẩm và làm tăng hiệu suất của phản ứng

B Sai, Mục đích chính của việc thêm dung dịch NaCl bão hòa là để tạo hiện

tượng tách lớp rõ ràng hơn

C Đúng, Vì đây là phản ứng thuận nghịch

D Sai, Chất lỏng trong ống nghiệm trở nên tách lớp

Câu 2: Cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống khoảng 2ml etyl axetat, sau đó thêm

vào ống nghiệm thứ nhất 1ml dung dịch H2SO4 20%, thêm vào ống nghiệm thứhai 2ml NaOH 30% Lắc đều cả 2 ống nghiệm Lắp ống sinh hàn đồng thời đunsôi nhẹ trong 5 phút Hiện tượng thu được là

A Ở ống nghiệm 1, chất lỏng phân thành hai lớp; ở ống nghiệm thứ 2 chất

lỏng trở thành đồng nhất

B Ở cả hai ống nghiệm chất lỏng đều phân thành hai lớp.

C Ở cả hai ống nghiệm, chất lỏng đều trở thành đồng nhất.

D Ở ống nghiệm 1, chất lỏng trở thành đồng nhất; ở ống nghiệm thứ 2 chất

lỏng phân thành hai lớp

Trang 15

Định hướng bài giải:

GV cho học sinh đọc và phân tích nội dung các bước để đưa ra sự lựa chọn đúng.

GV đưa ra kết luận cả hai ống nghiệm đều xảy ra phản ứng thủy phân:

Ống 1: thủy phân trong môi trường axit, phản ứng xảy ra theo hai chiều thuận nghịch:

Kết quả thu được: chất lỏng phân thành hai lớp là este (không tan trong nước)

và lớp còn lại là phần dung dịch chứa các chất tan H SO ,CH COOH,C H OH 2 4 3 2 5 Ống 2: thủy phân trong môi trường bazơ, phản ứng xảy ra theo một chiều:

CH COOC H  NaOH  CH COONa C H OH 

Kết quả thu được: chất lỏng trở thành đồng nhất

Dạng 3: Bài tập về phản ứng thủy phân.

Dạng 1: Thủy phân este đơn chức

* Trường hợp 1: Este được tạo ra từ ancol no, đơn chức với axit đơn chức

Chú ý: - Este của axit fomic có phản ứng tráng bạc và phản ứng với

Cu(OH)2/OH- tương tự anđehit

HCOOR + 2 Ag NH OH  NH OCOOR + 2Ag + 3NH + H O

Hoặc: HCOOR + 2AgNO + 3NH + H O 3 3 2  NH OCOOR + 2Ag + 2NH NO 4 4 3

* Trường hợp 2: Este của ancol kém bền

- Este có dạng RCOOCH=CHR’: Este này khi thủy phân tạo ra ancol cónhóm -OH liên kết trên cacbon mang nối đôi bậc 1, không bền đồng phân hóatạo ra anđehit

Ví dụ: R-COOCH=CH2 + NaOH  to R-COONa + CH3 CHO

- Este có dạng RCOOC(R1)=CHR2khi bị thủy phân tạo ra ancol có nhóm

-OH liên kết trên cacbon mang nối đôi bậc 2 không bền → đồng phân hóa tạoxeton

Ví dụ:

CH3

Chú ý: - Este chưa no, mạch hở có tính chất tương tự hiđrocacbon chưa no

* Trường hợp 3: Este của phenol

Este này có gốc ancol là phenol hoặc đồng đẳng phenol

Trang 16

+ 2 NaOH t o

  RCOONa + C6H5ONa + H2O(do phenol có tính axit nên phản ứng tiếp với NaOH tạo ra muối và H2O)Vậy nên, nếu bài ra cho este đơn chức thủy phân trong môi trường kiềm tạo

ra 2 muối thì este đó là este của phenol

*Trường hợp 4: Este vòng

- Este + NaOH   1 sản phẩm duy nhất  Este đơn chức 1 vòng

R O

Phương pháp giải và một số chú ý quan trọng

a) Sử dụng phương pháp tăng - giảm khối lượng (m )

RCOOR +NaOH RCOONa + R OH

1 mol RCOOR 1 mol RCOONa ' 23

b) Sử dụng định luật bảo toàn khối lượng

meste + mNaOH = mmuối + mancol

→ Cô cạn dung dịch sau phản ứng được chất rắn khan, chú ý đến lượngNaOH còn dư hay không

Chú ý bài toán hỗn hợp:

Nếu đề bài cho hỗn hợp gồm 2 chất hữu cơ (phân tử chỉ chứa 1 loại nhómchức, mạch hở) tác dụng với kiềm tạo ra:

- Một muối và một ancol thì hai chất hữu cơ đó có thể là

+ Một este và một ancol có gốc hiđrocacbon giống ancol trong este:RCOOR1 và R1OH

+ Một este và một axit có gốc hiđrocacbon giống trong este: RCOOR1 vàRCOOH

+ Một axit và một ancol

- Hai muối và một ancol thì 2 chất hữu cơ đó có thể là

1

' '

 nếu nancol < nNaOH

- Một muối và hai ancol thì có khả năng hai chất hữu cơ đó là

Trang 17

A HCOOCH=CH2 và HCHO B CH3COOC2H5 và CH3CHO.

C CH3COOCH=CH2 và CH3CHO D CH3COOCH=CH2 và HCHO

(Trích đề thi tuyển sinh ĐH -CĐ, khối

A-2012).

Định hướng bài giải :

CH3COOCH=CH2 + NaOH(dd)  CH3COONa + CH3CHO

X Viết phương trình hóa học của các phản ứng đã xảy ra

Sự biến đổi từ X4  X5  X2 không làm thay đổi số cacbon trong phân tử

X4 là anđehit, X2 là muối của natri X là este không no, khi thủy phân tạo

ra ancol không no kém bền bị chuyển hóa thành anđehit (X4), X có 4 nguyên tửcacbon → X: CH2 = CH - OCOCH3

CH2 = CH - OCOCH3 + NaOH  CH3COONa + CH3CHO

(X2) (X4)Hỗn hợp hơi X3 gồm CH3CHO (X4) và CH2 = CH - OCOCH3 dư

DẠNG 4 Thủy phân este đa chức.

Trường hợp 1: Este của ancol đa chức và axit đơn chức

- Môi trường axit:

(RCOO)mR' + m H2O H SO , t 2 4 0

    

     mRCOOH+ R' (OH)m

Trang 18

- Môi trường kiềm:

(RCOO)mR' + m NaOH → m RCOONa + R' (OH)m

- Lưu ý: Chất béo cũng rơi vào trường hợp này vì chất béo là trieste củaglixerol và axit béo

Trường hợp 2: Este của ancol đơn chức và axit đa chức

- Môi trường axit:

- Môi trường kiềm:

R (COOR')n+ nNaOH → R (COONa)n + nR'OH

* Trường hợp 3: Este của ancol đa chức và axit đa chức

- Môi trường axit:

n+ mn NaOH → mR (COONa)n + nR' (OH)m

Phương pháp giải và một số lưu ý quan trọng

a) Xác định số nhóm chức este dựa vào phản ứng xà phòng hóa

R (COOR')n+ nNaOH → R (COONa)n+ n R'OH

(RCOO)mR' + m NaOH → m RCOONa+ R' (OH)m

+ Số lượng nhóm chức este = NaOH

este

n n

+ Thủy phân 1 este →2 ancol + 1 muối:

O

2NaOH R1 OH + R2OH + R(COONa)2C

O

b) Các phương pháp giải thường áp dụng

+ Bảo toàn nguyên tố; Bảo toàn khối lượng; Tăng giảm khối lượng

Câu 1 : [12](MH Lần 2 -2020) Thủy phân hoàn toàn chất hữu cơ E

(C9H16O4, chứa hai chức este) bằng dung dịch NaOH, thu được sản phẩm gồm ancol X và hai chất hữu cơ Y, Z Biết Y chứa 3 nguyên tử cacbon và

M  M  M Cho Z tác dụng với dung dịch HCl loãng, dư, thu được hợp chát hữu cơ T (C3H6O3) Cho các phát biểu sau:

(a) Khi cho a mol T tác dụng với Na dư, thu được a mol H2

(b) Có 4 công thức cấu tạo thỏa mãn tính chất của E

Trang 19

Đáp án C

Phương pháp giải:

T có CTPT là C3H6O3 → T là HOC2H4COOH → Z là HOC2H4COONa

Mà Y cũng có 3 nguyên tử C trong phân tử → Y là C2H5COONa

Bảo toàn nguyên tố C: tổng số C trong X, Y, Z là 9C → X là ancol có 3C→ X là

C3H7OH

Xét các phát biểu để xác định tính đúng/sai

Giải chi tiết:

T có CTPT là C3H6O3 → T là HOC2H4COOH → Z là HOC2H4COONa

Mà Y cũng có 3 nguyên tử C trong phân tử → Y là C2H5COONa

Bảo toàn nguyên tố C: tổng số C trong X, Y, Z là 9C → X là ancol có 3C → X

là C3H7OH

Xét các phát biểu:

Phát biểu (a): HOC2H4COOH + 2Na → NaOC2H4COONa + H2

Số mol H2 và số mol T bằng nhau → (a) đúng

Phát biểu (b): E có công thức dạng: C2H5COOC2H4COOC3H7

Gốc -C2H4- có 2 đồng phân

Gốc C3H7- có 2 đồng phân

→ E có 4 đồng phân cấu tạo → (b) đúng

Phát biểu (c): Ancol X là C3H7OH → (c) sai

Phát biểu (d): Khối lượng mol của Z (HOC2H4COONa) là 112 g/mol → (d) sai

Câu 2 Các chất A, B, C, D có cùng công thức phân tử C4H6O4 đều phảnứng với dung dịch NaOH theo tỉ lệ mol 1: 2 Trong đó:

A, B đều tạo một muối, một ancol

C, D đều tạo ra một muối, một ancol và nước

Biết rằng khi đốt cháy muối do A,C tạo ra thì trong sản phẩm cháy không cónước Xác định A, B, C, D và viết phương trình hóa học của các phản ứng vớiNaOH

Đốt cháy muối do A, C tạo ra thì trong sản phẩm cháy không có nước  A

là este của axit oxalic và C là HOOC-COOC2H5;

Còn D là HOOC-CH2-COOCH3

Các Phương trình hóa học:

Trang 20

HOOC - COOC H + 2 NaOH NaOOC - COONa + C H OH + H O

HOOC CH COOCH + 2 NaOH NaOOCCH

Sáng kiến kinh nghiệm là một phần kinh nghiệm của bản thân tôi được rút ra

trong quá trình tự học, tự bồi và thông qua tài liệu tập huấn, Internet, và sự góp ýxây dựng từ các đồng nghiệp đã tạo ra một đơn vị kiến thức nhỏ mặc dù chưađược hoàn thiện một cách tốt nhất, nhưng cũng là tài liệu tham khảo dùng đểkiểm tra, đánh giá học sinh khối 12 phần Este, trường THPT Lê Hoàn HuyệnThọ Xuân, đồng thời cũng là tư liệu để các đồng nghiệp tham khảo một cách cóhiệu quả

2.4.1 Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm đạt được

- Sáng kiến kinh nghiệm này tuy chỉ là một đề tài nhỏ bé của tôi nhưng đâycũng là phần nghiên cứu của tôi trong suốt năm học 2019 - 2020 và được ápdụng cho các kỳ thi ở lớp 12 năm học 2020-2021

- Đã xây dựng được 5 ví dụ có phân tích chi tiết để học sinh phát huy năng lực

và đã xây dựng được 9 Câu hỏi và 25 Câu hỏi hóa học tương tự theo dạng mãhóa – và phát triển năng lực tư duy tự học cho HS ( ở phụ lục 1)

- Đã đưa dạng bài tập này sử dụng vào giảng dạy ở chương trình chính khóa lớp 12 theo nội dung sách giáo khoa hóa học mới ban cơ bản và nâng cao

chương đại cương kim loại lớp 12 THPT

Khi chưa sử dụng sáng kiến kinh nghiệm (Năm học: 2019-2020)

Kiểm tra lần 1 ở học kì 1 (Bài 45 phút thứ nhất học kì 1)

Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)

Lớp Tổng

Số bài

8.0 – 10.0 6,5 – 7,9 5.0 – 6.4 3.5 – 4.9 0.0 – 3.4

Trang 21

12A3 40 6 15.0 8 20.0 11 27.5 10 25.0 5 12.5

12A1 43 6 14.0 5 11.6 14 32.6 10 23.2 8 18.6Tổng 127 21 16.4 19 15.0 34 26.8 34 26.8 19 15.0

Kiểm tra lần 2 ở học kì 1 (Bài 45 phút thứ hai học kì 1)

Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)

Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)

Trang 22

Tổng hợp sau 2 lần kiểm tra khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)

Đối chiếu trước và sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Kết quả bài kiểm tra 15 phút

Điểm Trước khi áp dụng SKKN Sau khi áp dụng SKKN

Trang 23

Rõ ràng, qua thực tế cho thấy sự thành công bước đầu của đề tài nghiêm cứunày, cụ thể là việc nâng cao được hiệu quả giảng dạy ở các lớp 12A3; 12A2,12A1

mà tôi đã áp dụng ở hai lần kiểm tra 15 phút và 45 phút cuối của học kì 1

2.4.2 Khả năng phổ biến ứng dụng của sáng kiến kinh nghiệm

- Hiện nay tôi mạnh dạn áp dụng đề tài này cho các chương còn lại củaphần hóa 12 và được nhân rộng ra đến với một số đồng nghiệp khác trongtrường

- Trong việc ôn tập củng cố kiến thức cuối chương, cuối học kì, cuối năm,

đặc biệt là kì thi THPT Quốc gia sắp tới tôi cũng mạnh dạn ứng dụng đề tài này

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Trong quá trình sử dụng một sô bài tập này, tôi nhận thấy học sinh rất hàohứng, vì nó gắn liền giữa lí thuyết với thực hành thí nghiệm, giúp các em tiếpcận gần hơn với các bài tập phát triển năng lực cho HS Bài tập này là một bướctrung gian cho học sinh đi từ lí thuyết được lĩnh hội đến thực hành, thực tiễn.Trên cơ sở bài tập dạng này có thể sử dụng trong hầu hết các tiết học như: dạybài mới, ôn tập - luyện tập, thực hành, ngoài ra có thể dùng bài tập để kiểm trakết quả học tập của học sinh ( ví dụ đề thi tuyển sinh đại học và cao đẳng bắtđầu từ các năm học 2013 đến năm 2021) năm học đổi mới thi THPT Quốc Gia,

kể cả đề thi mẫu Trong quá trình thực hiện và triển khai đề tài tôi nhận thấy đềtài đã góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn

- Sáng kiến kinh nghiệm này tuy chỉ là một đề tài nhỏ bé của tôi nhưng đây cũng là phần nghiên cứu của tôi trong suốt năm học 2020 – 2021 mặc dù đây là một năm học tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát rất mạnh trên cả nước, nhưng kết quả thu được cho đến cuối năm học đượcxem là đạt kết quả cao Cụ thể sau ba lần thi khảo sát chất lượng số lượt học sinhgiải quyết và chọn lựa được đáp án đúng ở các bài tập( câu hỏi) este từ mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng tương đối chính xác, đó cũng là cơ sở giúp các em vững tin hơn trong kì thi sắp tới

- Đề tài nhỏ bé này cũng giúp HS nắm chắc kiến thức lý thuyết, phân loại,xây dựng một số bài tập nhằm phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo cho

HS hơn trong kì thi sắp tới đặc biệt là phần kiến thức về este Đồng thời gópphần nâng cao tính hứng thú trong việc tự học, khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiếnthức của HS

- Đề tài đã được các GV dạy hoá học ở các trường hưởng ứng nhiệt tình

- Phát triển tính tích cực – chủ động – sáng tạo của người học

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học ở trường THPT

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w