Thay vì giảng dạy các môn học độc lập, các bài học tuần tự, khô khan và hỏi đáp dựa trên sự ghi nhớ vô thức của học sinh thì STEM được xây dựng để giúp các em học sinh thực hành và giải
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Mở đầu 1
I.1 Lí do chọn đề tài 1
I.2 Mục đích nghiên cứu 1
I.3 Đối tượng nghiên cứu 1
I.4 Phương pháp nghiên cứu 1
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
II.1 Cơ sở lí luận 2
II.1.1 Khái niệm 2
II.1.2 Ý nghĩa của việc dạy học tiếp cận giáo dục STEAM qua bài học chủ đề 3
II.2 Thực trạng việc dạy học tiếp cận giáo dục STEAM qua bài học chủ đề 3
II.3 Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 4
II.3.1 Những quy trình bài học STEAM 4
II.3.2 Xây dựng chủ đề: xây dựng quy trình làm nem chua Thanh Hóa 6
Mô tả chủ đề 6
Mục tiêu 7
Thiết bị 7
Tiến trình dạy học 8
Hoạt động 1 8
Hoạt động 2 11
Hoạt động 3 14
Hoạt động 4 15
Hoạt động 5 16
II.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
III Kết luận, kiến nghị 19
III.1 Kết luận 19
III.2 Kiến nghị 20
Tài liệu tham khảo 21
Danh mục các đề tài SKKN đã được hội đồng đánh giá xếp loại cấp Sở GD & ĐT 22
Trang 2I – MỞ ĐẦU
I.1 Lí do chọn đề tài
Bài học chủ đề STEM diễn ra theo qui trình thiết kế kĩ thuật, là một tiến trình linh hoạt đưa học sinh từ việc xác định một vấn đề hoặc một yêu cầu thiết
kế đến sáng tạo và phát triển giải pháp; cho phép áp dụng linh hoạt các nội dung
và phương pháp dạy học khác nhau, có thể tiến hành bài học theo lớp hoặc theo nhóm hay các câu lạc bộ học sinh
Yếu tố chìa khóa của STEM là đề cao phong cách học tập sáng tạo, sự kết hợp và tính thực tế Thay vì giảng dạy các môn học độc lập, các bài học tuần tự, khô khan và hỏi đáp dựa trên sự ghi nhớ vô thức của học sinh thì STEM được xây dựng để giúp các em học sinh thực hành và giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống hàng ngày Với học sinh phổ thông, việc theo học các chủ đề STEM còn có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển toàn diện Trong quá trình dạy học bộ môn hóa học hiện nay, việc tiếp cận giáo dục STEM sẽ hiệu ứng tích cực trong chương trình giáo dục mới Quê hương Thanh Hóa nói chung và Thị
xã Nghi Sơn nơi có trường THPT Tĩnh Gia 3 nói riêng có nhiều nguồn tư liệu, phương tiện trực quan có giá trị để xây dựng bài học chủ đề về quy trình làm nem chua Thanh Hóa nhằm tạo cho các em niềm vui, sự hứng khởi trong học tập nhằm phát huy tinh thần yêu quê hương và lòng tự hào đặc sản xứ Thanh, phát huy tiềm năng du lịch, bảo vệ môi trường sống đồng thời có tính hướng nghiệp
Xuất phát từ thực tế giảng dạy và phạm vi một sáng kiến kinh nghiệm tôi
lựa chọn đề tài “ Dạy học tiếp cận giáo dục STEM qua bài học chủ đề xây
dựng quy trình làm nem chua xứ Thanh, nhằm thúc đẩy hứng thú học tập
cho học sinh, nâng cao hiệu quả dạy và học”.
I.2 Mục đích nghiên cứu
Để nâng cao chất lượng bộ môn, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, tiếp cận, đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới, việc tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan, hoạt động trải nghiệm có vai trò quan trọng Tiếp cận giáo dục STEM dựa vào tư liệu địa phương ở địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong quá trình dạy học sẽ thúc đẩy hứng thú trong học tập
I 3 Đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình dạy học ở chương trình hóa học 11 và 12, qua việc xây dựng chủ đề giáo dục STEM của giáo viên, học sinh được tham gia trực tiếp chủ động, tích cực trong các hoạt động Tạo điều kiện để học sinh nhận thức năng lực và phát huy tiềm năng của bản thân, hình thành các phẩm chất và năng lực cốt lõi, tính cực hóa bản thân, phát huy tiềm năng du lịch và định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12
I 4 Phương pháp nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý thuyết theo phương pháp điều tra khảo sát thu thập thông tin về thực trạng dạy học có vận dụng sử dụng giáo dục STEM ở trường trung học phổ thông Tĩnh Gia 3, từ đó thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Thảo luận dưới dạng seminar kiến thức đã tiếp nhận
Phương pháp thống kê, sử lý số liệu để có những thông tin đánh giá Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh và có kế hoạch thực hiện cụ thể
Trang 3II – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
II.1 Cơ sở lí luận
II.1.1 Khái niệm
STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học) Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học Các kiến thức
và kỹ năng này (gọi là kỹ năng STEM) phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng
để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày
Với STEAM (Chữ A trong tiếng anh là ART – Nghĩa là nghệ thuật), thì
bổ sung kiến thức nghệ thuật vào STEM để tạo ra STEAM là kết hợp giữa tư duy sáng tạo và nghệ thuật Cho dù STEM hay STEAM, thì các nguyên tắc cơ bản và thực hành của hai nhóm đều rất giống nhau, đó là sự kết hợp của các kiến thức chính Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật và Toán học vào ứng dụng thực tế cuộc sống Những kiến thức và kỹ năng phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn
có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hàng ngày [1]
Quy trình mỗi bài học gồm : mở đầu, kiến thức mới, luyện tập, vận dụng, vận dụng cao được xây dựng kết hợp với chủ đề giáo dục STEAM
Các bước
của bài
học
Mục đích hoạt động dạy học
Mức độ nhận thức cần đạt
Tiếp cận dạy học STEM
Mở đầu Thu hút học sinh
vào nội dung bài học; Nhận định qua những kiến thức sẵn có; Học sinh đặt câu hỏi về hiện tượng, đề tài
Đưa ra được câu hỏi nhận thức, phỏng đoán, giả thuyết, kế hoạch (sơ lược) giải quyết vấn đề,…
Giáo viên lựa chọn các tình huống trong thực tế cuộc sống để xây dựng tình huống dạy học/tình huống
có vấn đề
Kiến thức
mới
Hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng
Nhớ, nhận biết, nhắc lại/mô tả lại được kiến thức, kĩ năng
đã học
Tăng cường hoạt động thí nghiệm, thực hành để tìm tòi kiến thức; liên hệ kiến thức với thực tế Luyện tập Chính xác hoá kiến
thức, rèn luyện kĩ năng
Hiểu kiến thức, kĩ năng đã học (trình bày, giải thích, phân tích, so sánh được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân);
áp dụng trực tiếp
Ra câu hỏi, bài tập định hướng giải quyết các vấn đề của thực tế cuộc sống thông qua hoạt động thí nghiệm, thực hành, thu thập số
Trang 4(theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết
để giải quyết các vấn đề trong học tập
liệu
Vận dụng Củng cố kiến thức,
kĩ năng; tăng cường ý thức và năng lực vận dụng kiến thức
Biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết vấn đề quen thuộc, tương tự trong học tập, trong cuộc sống
Giáo viên ra các bài tập yêu cầu học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức đã có (chủ yếu là kiến thức vừa học) để giải quyết vấn đề trong cuộc sống
Vận dụng
cao, tìm
tòi mở
rộng
Tăng cường ý thức tìm hiểu, ứng dụng kiến thức, năng lực sáng tạo; hiểu giá trị của việc học, học tập suốt đời
Vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp
lí trong học tập, trong cuộc sống một cách linh hoạt
Giáo viên ra các bài tập yêu cầu học sinh vận dụng tổng hợp các kiến thức đã có
để giải quyết vấn đề thực tế; tìm hiểu mở rộng vấn đề; đưa sản phẩm học ra áp dụng trong cuộc sống[2]
II.1.2 Ý nghĩa của việc dạy học tiếp cận giáo dục STEM qua bài học chủ đề
Hóa học lại là một ngành khoa học thực nghiệm, có vai trò quan trọng trong cuộc sống và cần thiết đối với các ngành khoa học công nghệ khác Trong
xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nền giáo dục đã được đầu tư nhiều hơn Nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu Muốn nâng cao hiệu quả dạy học, Giáo viên cần nắm vững kiến thức, linh hoạt về phương pháp, đặc điểm tâm lý của học sinh nhằm kích thích hoạt động sáng tạo độc lập, phát huy được trí thông minh, khả năng học hỏi, mặt khác phải gây hứng thú học tập Khi được học nhiều dạng kiến thức trong một thể tích hợp, thay vì thái độ e ngại hoặc tránh né một lĩnh vực nào đó, học sinh sẽ chủ động thích thú với việc học tập, phát huy tìm năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học từ
đó sẽ khuyến khích các em có định hướng tốt hơn khi chọn chuyên ngành cho các bậc học cao hơn và có tiền đề vững chắc cho sự nghiệp về sau
Từ đó, các em có thể tự tìm hiểu những điều mới lạ về cuộc sống và thế giới xung quanh cho mình Khi xây dựng được hứng thú học tập nơi học sinh thì mỗi kiến thức hóa học là một thế giới vui nhộn, bổ ích; mỗi tiết học là một trải nghiệm và gắn liền với sản xuất kinh doanh ở địa phương
II.2 Thực trạng việc dạy học tiếp cận giáo dục STEM qua bài học chủ đề
Trên toàn thế giới, các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học đều nhấn mạnh vai trò của giáo dục STEM Giáo dục STEM là một loại hình giáo dục hướng dẫn bạn học cách tự học[3]
Thời gian qua, ngành giáo dục đã tích cực thực hiện giáo dục STEM, xây dựng các chủ đề dạy học liên môn Việc dạy học các chủ đề STEM góp phần đổi
Trang 5mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ mục đích ý nghĩa của hoạt động giáo dục STEM khiến việc triển khai chưa hiệu quả.Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp liên môn (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán) chứ không phải là một môn học Trong đó, các bài học được xây dựng theo chủ đề STEM, nhằm lồng ghép kiến thức khoa học và toán, công nghệ, hướng đến sự vận dụng kỹ thuật trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể Nhiều chương trình của giáo dục STEM đã được các trường học lựa chọn triển khai giảng dạy cho học sinh và đã khích lệ được học sinh tham gia học tập, sáng tạo [4]
Tuy nhiên, việc triển khai giáo dục STEM tại một số trường vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm chưa đáp ứng cho hoạt động nghiên cứu khoa học Việc thực hiện cũng chưa đồng đều và thường xuyên, hoạt động giáo dục STEM chủ yếu thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và tham gia cuộc thi khoa học, kỹ thuật Chủ đề dự án học tập STEM chủ yếu là nội dung của các hoạt động ngoại khóa của nhà trường Một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ mục đích ý nghĩa, nội dung của hoạt động giáo dục STEM, từ đó việc triển khai chỉ đạo chưa thật tích cực, chưa động viên, khuyến khích kịp thời những giáo viên và học sinh tham gia nghiên cứu khoa học, kỹ thuật Tâm lý của nhiều học sinh và phụ huynh học sinh chỉ chú ý đến các môn văn hóa để chuẩn bị cho các kỳ thi mà chưa quan tâm đến các hoạt động giáo dục STEM Vì vậy, nhiều học sinh có năng lực khoa học nhưng không được cha mẹ ủng hộ tham gia hoạt động này
Đối với học sinh thông ở trường THPT Tĩnh Gia 3, qua tìm hiểu tôi thấy việc vận dụng giáo dục STEM kết hợp với tư liệu ở xứ Thanh đối với các em rất hiệu quả Đa số các em rất hứng thú với những giờ học sử dụng phương tiện trực quan, các giờ học trải nghiệm thực tế, tham quan ngoại khóa
II.3 Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
II.3.1 Những quy trình bài học STEM và STEAM
TS Nguyễn Vinh Hiển (nguyên thứ trưởng bộ GD&ĐT) giới thiệu quy trình bài học STEAM gồm 7 bước: Xác định vấn đề; nghiên cứu kiến thức nền;
đề xuất giải pháp; lựa chọn giải pháp tối ưu; phát triển và chế tạo một mô hình; thử nghiệm và đánh giá; hoàn thiện thiết kế và đặt tên sản phẩm Qui trình này
có thể được vận dụng linh hoạt cho các hình thức dạy học STEAM khác Quy trình dạy học 5E gồm 5 giai đoạn và có những đặc điểm chính sau
Engagement (Gắn kết): Trong giai đoạn đầu của chu kỳ học tập, giáo viên
làm việc để đạt được sự hiểu biết về kiến thức sẵn có của học sinh và xác định bất kỳ khoảng trống kiến thức nào Điều quan trọng là khuyến khích quan tâm đến các khái niệm sắp tới để học sinh có thể sẵn sàng tìm hiểu Giáo viên có thể làm cho học sinh đặt câu hỏi mở hoặc ghi lại những gì họ đã biết về chủ đề Thông qua các hoạt động đa dạng, giáo viên thu hút sự chú ý và quan tâm của học sinh, tạo không khí trong lớp học, học sinh cảm thấy có sự liên hệ và kết nối với những kiến thức hoặc trải nghiệm trước đó Giai đoạn này cho phép học sinh gắn kết, liên hệ lại với các trải nghiệm và quan sát thực tế mà các em đã có trước
đó Trong bước này, các khái niệm mới cũng sẽ được giới thiệu cho các em
Trang 6Exploration (Khảo sát): Học sinh tự đưa ra giả định, phỏng đoán, tự kiểm
chứng và tự rút ra kết luận thông qua bắt tay vào làm thí nghiệm, tìm tòi, khám phá, từ đó tự có thêm những hiểu biết về chủ đề được học Giáo viên chỉ đóng vài trò điều phối, giám sát, cung cấp nguyên vật liệu; giúp học sinh khám phá và dùng suy nghĩ phản biện (critical thinking) bằng cách đặt rất nhiều câu hỏi, thu thập và phân tích dữ liệu (data analysis) Giáo viên chia nhóm học sinh, phân công việc cụ thể cho từng thành viên của nhóm Quan trọng là dù làm nhiệm vụ
gì thì ai cũng cảm thấy mình quan trọng và là những nhà khoa học thực sự
Explaination (Giải thích): Giáo viên và học sinh cùng giải thích hiện
tượng, tìm câu trả lời cho phỏng đoán của mình Trong bước này học sinh giải thích, trao đổi với nhau và với giáo viên những gì mình học được, những gì mình đã nhìn thấy và làm được Đây cũng là bước để giáo viên giải thích các thuật ngữ liên quan đến bài học và những hiểu lầm (nếu có)
Elaborate (Áp dụng cụ thể) hay còn gọi là Extend: mở rộng đề tài, liên hệ
với những chủ đề khác tương tự trong các môn học hoặc làm những hoạt động khác liên quan đến chủ đề thông qua các môn học khác Elaborate cũng còn có nghĩa là mở rộng kiến thức học được từ bài học áp dụng vào đời sống, liên hệ với những chủ đề khác liên quan Bước này cũng giúp các em nhìn thế giới xung quanh với lăng kính và góc nhìn mới
Evaluation (Đánh giá): trong bước cuối cùng này, các em cùng giáo viên
nhìn lại, đánh giá xem mình đã học được điều gì, so sánh đối chiếu kiến thức mình vừa thu thập được với kiến thức sẵn có Công cụ đánh giá rất đa dạng Có thể là những ghi chép, hình minh họa của học sinh trong suốt quá trình của những E trên, có thể là những bài trình bày hay sản phẩm chứ không nhất thiết đánh giá phải là bài kiểm tra Thực ra việc đánh giá đã được phần nào thực hiện
ở những bước trước, trong suốt quá trình trên, qua quan sát của giáo viên, qua việc học sinh giao tiếp với nhau và với giáo viên,
Những học sinh theo học theo cách tiếp cận giáo dục STEAM đều có những ưu thế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nghệ thuật
và toán học chắc chắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội và có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn trong khi không hề gây cảm giác nặng nề, quá tải đối với học sinh
Giáo dục STEM và STEAM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trên thực hành, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Các phương pháp giáo dục tiến bộ, linh hoạt nhất như Học qua dự án – chủ đề, Học qua trò chơi và đặc biệt phương pháp Học qua hành luôn được áp dụng triệt để cho các môn học tích hợp STEM[3]
Trang 7II.3.2 Xây dựng chủ đề
1 Tên chủ đề: XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÀM NEM CHUA
(Số tiết: 03 – Lớp 12)
2 Mô tả chủ đề
Không biết tự bao giờ nem chua Thanh Hóa đã nổi tiếng trên khắp các tỉnh thành trong cả nước trải dài từ Nam ra Bắc Những người con của xứ Thanh luôn tự hào bởi chính nơi mà họ sinh ra, lớn lên có những đặc sản mang cả tâm tình quê hương, không pha lẫn nơi nào, để có nem chua thanh hóa mang đúng nghĩa đặc sản không phải cứ học là làm được, mà cần kinh nghiệm được truyền
từ đời này qua đời khác
Nem chua thanh hóa là đặc sản Thanh Hóa nổi tiếng của con người xứ Thanh bởi vị chua thanh, giòn, ngọt, cay đậm đà Để có được nem chua mà mọi người thưởng thức, người làm ra sản phẩm đã phải kì công qua nhiều công đoạn
Từ khâu chọn nguyên liệu cho tới khi tiến hành đóng gói sản phẩm
Sản xuất nem chua là quá trình lên men lactic thịt sống Bản chất của quá trình lên men là sự chuyển hóa đường thành axit lactic nhờ hoạt động của vi khuẩn lactic Quá trình chín nem không qua quá trình nhiệt nên phần lớn các chất dinh dưỡng trong thịt không bị mất Các yếu tố về men, nồng độ, nhiệt độ
có thể ảnh hưởng đến tốc độ của quá trình lên men Trong chủ đề này HS thực hiện nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất nem chua, theo đó học được kiến thức về chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật trong môn sinh học 10 (bài 22, 23 (mục II) và vận dụng các kiến thức liên quan
Hóa học: Sự đông tụ protein, sự thủy phân peptit, protein ( bài 11– Hóa học 12) Axit cacboxylic (bài 45 – Hóa học 11) Sự điện li của nước.pH của dung dịch (bài 3 – Hóa học 11)
Toán học: Tính toán thống kê
3 Mục tiêu
a Kiến thức:
– Nêu được khái niệm vi sinh vật, cá loại môi trường cơ bản và kiểu dinh dưỡng
– Nêu và phân biệt được hô hấp kị khí với sự hô hấp hiếu khí và lên men – Nêu được các quá trình đông tụ protein, quá trình phân giải protein, và ứng dụng của chúng
b Kĩ năng:
– Đọc, thu thập thông tin từ tài liệu
– Tiến hành, mô tả được hiện tượng của thí nghiệm trứng gà ngâm mật ong – Lập kế hoạch, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình lên men làm nem chua, ghi chép, đánh giá và đề xuất quy trình làm nem chua theo các tiêu chí cần đạt của sản phẩm
– Hợp tác trong nhóm để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập
Trang 8– Trình bày, bảo vệ được ý kiến của mình, lắng nghe, nhận xét và phản biện được ý kiến của người khác
– Tự đánh giá được quá trình làm việc cá nhân và cá nhóm theo các tiêu chí
GV đưa ra
c Phát triển phẩm chất:
– Nghiêm túc, chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ cá nhân, thảo luận nhóm xây dựng sản phẩm chung của cả nhóm
– Yêu thích khám phá, tìm tòi và vận dụng các kiến thức học được vào giải quyết nhiệm vụ được giao;
– Hòa đồng, giúp đỡ bạn
– Tuân thủ các tiêu chuẩn kĩ thuật và giữ gìn vệ sinh chung khi tiến hành thực nghiệm
d Định hướng phát triển năng lực:
Định hướng phát triển một số năng lực: khoa học tự nhiên, tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo
4 Thiết bị
– Dụng cụ tiến hành thí nghiệm làm giấm mẻ: 100 gam gạo tẻ; nước; sữa chua; 3 lọ thủy tinh có nắp
– Nguyên liệu và dụng cụ làm nem chua:
Nguyên liệu: thịt lơn nạc ( tốt nhất là thịt mới mổ xong): 500 gam Bì lợn:
100 gam , thính gạo : 50 gam, bột năng, tỏi, ớt, gừng, lá đinh lăng, lá chuối, rút nilon, nước nắm, đường, hạt tiêu, muối
5 Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: XÁC ĐỊNH YÊU CẦU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN
XUẤT NEM CHUA
(Tiết 1 – 45 phút)
A Mục đích:
– HS tiến hành được thí nghiệm làm giấm mẻ, quan sát mô tả được hiện tượng từ đó đặt ra các câu hỏi về quá trình xảy ra cũng như các quá trình lên men,… nói chung và các ứng dụng của các quá trình này
– HS tiếp nhận nhiệm vụ: nghiên cứu xây dựng quy trình làm nem chua bằng các nguyên liệu từ thịt, muối, đường và men vi sinh theo một số tiêu chí về sản phẩm, dựa trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình lên men
B Nội dung:
– HS tiến hành thí nghiệm làm giấm mẻ và đặt các câu hỏi về quá trình lên men, ứng dụng của các quá trình lên men
– GV giới thiệu về tác dụng của nem chua, đặt vấn đề “Làm thế nào để có thể tự làm nem chua thành công, đảm bảo vệ sinh”, giao nhiệm vụ xây dựng quy trình làm nem chua từ việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố như tỉ lệ cá
và muối, chất lượng cá, muối, nêu các tiêu chí đánh giá sản phẩm
Trang 9– GV hướng dẫn HS tự học kiến thức nền về chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật và tìm hiểu quy trình làm nem chua, lập kế hoạch nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình lên men, đề xuất quy trình làm nem chua
– HS thảo luận nhóm thống nhất kế hoạch thực hiện
c Dự kiến sản phẩm hoạt động của HS:
– Kết quả thí nghiệm làm giấm mẻ
– Các câu hỏi về quá trình lên men
– Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhóm (nghiên cứ kiến thức nền, thảo luận phương án nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố và phân tích, thảo luận đưa ra quy trình làm nem chua của nhóm), gồm: nhiệm vụ của các cá nhân, thời gian và nội dung thảo luận nhóm thực hiện nhiệm vụ tự học kiến thức nền và đề xuất quy trình
D Cách thức tổ chức hoạt động:
GV đưa ra một số hình ảnh liên quan đến các quá trình lên men như: rượu vang giấm ăn, nem chua, dưa muối; hỏi HS về điểm chung của các loại đồ ăn, uống trên (HS cần chỉ ra được chúng đều được tạo ra bằng quá trình lên men, nếu HS không trả lời được GV có thể gợi ý bằng các câu hỏi như: các đồ ăn, thức uống được làm từ nguyên liệu gì và bằng cách nào?)
GV đặt vấn đề bằng câu hỏi: lên men là gì? Và tổ chức cho HS làm thí nghiệm lên men, từ thí nghiệm làm giấm mẻ theo nhóm để tìm hiểu về sự lên men: GV phát phiếu học tập số 1 có hướng dẫn thí nghiệm và quan sát, báo cáo kết quả
Trang 10II.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Để kiểm nghiệm tính hiệu quả của đề tài, Tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Tĩnh Gia 3 như sau
- Dạy học tiếp cận giáo dục STEAM qua bài học chủ đề xây dựng quy
trình làm nem chua: Tôi chọn 2 lớp 12B1 (lớp thực nghiệm – TN ) và 12B6 (lớp đối chứng – DC).
+ Phương pháp tiến hành:
Ở lớp đối chứng: Sử dụng giáo án bình thường
Ở lớp thực nghiệm: Giáo án thể hiện dạy học tiếp cận giáo dục STEAM qua bài học chủ đề
+ Kết quả: Sau thời gian học tôi tiến hành khảo sát ở các lớp thực nghiệm và đối chứng thu được kết quả sau.
Lớp
Tổn
g số HS
Kết quả học tập
Số lượn g
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Kết quả học tập của học sinh
Dựa trên các kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy chất lượng học tập của học sinh các lớp thực nghiệm lĩnh hội kiến thức cao hơn học sinh các lớp đối chứng, điều đó thể hiện ở các điểm chính :
+ Tỷ lệ % học sinh yếu kém của lớp thực nghiệm trong đa số trường hợp là thấp hơn so với lớp đối chứng
+ Tỷ lệ % học sinh đạt trung bình đến khá, giỏi của các lớp thực nghiệm trong
đa số trường hợp là cao hơn so với với lớp đối chứng
Ngoài ra để tiếp nhận sự phản hồi về việc dạy học tiếp cận giáo dục STEAM qua bài học chủ đề, tôi tiến hành phát phiếu điều tra cụ thể cùng với kiến thức đã học đối với học sinh lớp 12 trường THPT Tĩnh Gia 3
Câu 1 Em có thích học tập tiếp cận STEAM qua bài học chủ đề không?
A Thích B Bình thường C Không thích
Câu 2 Việc học tập tiếp cận STEAM có gì khác so với học trên lớp?
A Dễ nhớ kiến thức, có ý thức, trách nhiệm với quê hương và cộng đồng
B Không khác gì
Câu 3 Em có hưởng ứng dạy học tiếp cận STEAM qua bài học chủ đề không?
A Có B Không
Câu 4 Em có định hướng gì cho hoạt động sản xuất, kinh doanh ở địa phương
sau khi tìm hiểu quy trình và sản xuất được nem chua,
Câu 5 Sau khi học tập xây dựng quy trình làm nem chua, em dự định xây dựng
quy trình sản xuất sản phẩm nào nữa?
Kết quả thu được phần lớn (95%) các em trả lời theo hướng tích cực Điều
đó cho thấy việc vận dụng giáo dục STEM và sử dụng tư liệu ở địa phương trong quá trình giảng dạy và học tập là cần thiết