1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí, áp dụng cho trung tâm lưu trữ dầu khí

121 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của đề tài Nghiên cứu những thành tựu và vướng mắc của các họat động dịch vụ khoa học kỹ thuật Dầu khí nói chung và dịch vụ khoa học kỹ thuật tại tung tâm lưu trữ nói riêng, tr

Trang 1

VŨ HẢI ANH

NGHIấN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ,

ÁP DỤNG CHO TRUNG TÂM LƯU TRỮ DẦU KHÍ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyờn ngành : Kimh Tế Cụng Nghiệp

Mó số: 60.31.09

người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Bớch Ngọc

Hà nội - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đó

Hà Nội, ngày 05 tháng 09 năm 2011

Tác giả

Vũ Hải Anh

Trang 3

Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Cơ quan tôi đang công tác, các Thầy Cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Lưu trữ dầu khí - Viện dầu khí Việt Nam và các đơn vị làm dịch vụ trong tập đoàn, các Thầy Cô giáo của trường Đại học Mỏ - Địa Chất, đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc và trân trọng nhất đến TS Nguyễn Thị Bích Ngọc, người đã hướng dẫn tôi có một định hướng toàn diện, xuyên suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Xin gửi đến các Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp lời chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất

Trang 4

Bảng 1.1: Dịch vụ dầu khí của các nước châu Á………22 Bảng 1.2: Dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại một số nước Đông Nam Á………… 23 Bảng 1.3: Dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở một số nước châu Âu……….25 Bảng 2.1: Năng lực cung cấp dịch vụ kỹ thuật giếng khoan của Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (VSP)……….……… 44 Bảng 2.2: Một số hợp đồng cung cấp dịch vụ kỹ thuật giếng khoan do PV Drilling thực hiện……….……… 45 Bảng 2.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường về các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí của các đơn vị dịch vụ Việt Nam 55

Bảng 2.4 Năng lực thực hiện các dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ trong nước 62 Hình 2.1: Sơ đồ hoạt động của Trung tâm Lưu trữ Dầu khí……….70 Bảng 2.5 Cơ cấu cán bộ nhân viên của Trung tâm Lưu trữ Dầu khí… …….71 Hình 3.1: Sơ đồ phân loại, bảo quản tài liệu ……….……… 101 Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức xử lý dữ liệu……….……… 105 Hình 3.3: Mô hình cung cấp dịch vụ qua mạng Internet……….… 109

Trang 5

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ 5

1.1 Hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật Dầu khí 5

1.1.1 Vai trò và nhiệm vụ của các hoạt động dịch vụ khoa học – kỹ thuật dầu khí 5

1.1.2 Đặc điểm dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí 7

1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng và định hướng phát triển của các hoạt động dịch vụ 9

a Đường lối phát triển và các mục tiêu của ngành Dầu khí 9

b Chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ dầu khí 10

* Xu hướng phát triển các lĩnh vực dịch vụ dầu khí thế giới và khu vực 14

* Tác động của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực đến lĩnh vực dịch vụ dầu khí 15 1.1.4 Định hướng phát triển 19

1.2 Đánh giá tình hình phát triển công nghiệp dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí các nước khu vực và trên thế giới 21

1.2.1 Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí 21

1.2.2 Dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ 28

1.2.3 Dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí 29

1.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường dịch vụ dầu khí trong nước và xuất khẩu 30

1.3.1 Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường 30

1.3.2 Khả năng cạnh tranh chiếm lính thị trường dịch vụ dầu khí trong nước và xuất khẩu 31

1.4 Kết luận 33

CHƯƠNG 2 36

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ 36

KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ NÓI CHUNG VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ DẦU KHÍ 36 2.1 Thực trạng hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí 36

2.1.1 Dịch vụ kỹ thuật dầu khí chuyên ngành 36

2.1.2 Dịch vụ Tư vấn đầu tư, khoa học và công nghệ 58

2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí tại Trung tâm Lưu trữ Dầu khí 65

2.2.1 Vị trí, vai trò của Trung tâm lưu trữ Dầu khí 65

Trang 6

2.2.3 Lĩnh vực hoạt động 68

2.2.4 Hiện trạng hoạt động 69

2.3 Kết luận 89

2.3.1 Về dịch vụ khoa học kỹ thuật chuyên ngành 90

2.3.2 Đối với các hoạt động dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí tại Trung tâm lưu trữ Dầu khí 92

CHƯƠNG 3 94

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ CHO TRUNG TÂM LƯU TRỮ DẦU KHÍ 94

3.1 Dự báo nhu cầu thị trường đối với sản phẩm/dịch vụ của Trung tâm 94

3.1.1 Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm/dịch vụ của Trung tâm trong giai đoạn đến năm 2015 94

3.1.2 Nhu cầu thị trường dịch vụ đối với sản phẩm/dịch vụ của Trung tâm đến năm 2025 94

3.2 Một số phương hướng hoạt động của tâm lưu trữ Dầu khí 94

3.2.1 Củng cố và phát triển các kho tài liệu 94

3.2.2 Tiến tới xây dựng kho lưu trữ điện tử 95

3.2.3 Nâng cấp hệ thống mạng và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 97

3.3 Các giải pháp tăng cường hoạt động dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật Dầu khí của trung tâm 97

3.3.1 Giải pháp thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ 97

3.3.2 Giải pháp công tác chỉnh lý, xử lý tài liệu 99

3.3.3 Giải pháp cho các hoạt động phục vụ người dùng tin 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở Việt Nam đến nay đã được tiến hành gần 50 năm còn nếu nói về hoạt động dầu khí nói chung, bao gồm cả phân phối, kinh doanh sản phẩm xăng dầu thì lịch sử còn lâu hơn rất nhiều Trong suốt quá trình đó chúng ta đã tạo ra một lượng dữ liệu khoa học - kỹ thuật - kinh tế rất đồ sộ, có giá trị lớn lao và đó là tài sản quốc gia vô giá vì nó không những phục

vụ cho nhu cầu điều hành, quản lý Nhà nước, quản lý sản xuất - kinh doanh và nghiên cứu khoa học hiện tại trong rất nhiều lĩnh vực mà cả cho tương lai của đất nước

Trong phạm vi quản lý của Tổng cục Địa chất và Tổng cục Dầu khí trước đây cũng như của Tổng công ty Dầu khí và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hiện nay, hoạt động dịch vụ phục vụ cho các hoạt động chung của ngành đã được hình thành từ lâu và đi vào hoạt đông song hành cùng sự phát triển chung của toàn ngành Dầu khí, công tác thu thập, bảo quản dữ liệu dầu khí đã được quan tâm từ rất sớm Trung tâm Thông tin - Tư liệu Dầu khí ra đời từ cuối thập niên 70 thế kỷ 20

đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp này Tuy nhiên cần phải nói rằng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiệm vụ này vẫn chưa được thực hiện như móng muốn, rất nhiều việc còn phải làm mới có thể tập hợp, bảo quản đầy đủ và dài lâu cũng như khai thác có hiệu quả nguồn tài sản quý giá này

Dữ liệu dầu khí bao gồm các văn bản quản lý của các cơ quan Nhà nước, các dữ liệu về sản xuất - kinh doanh, các công trình nghiên cứu khoa học - công nghệ, các mẫu vật, các số liệu cũng như các tài liệu đa dạng liên quan đến lịch sử hoạt động của ngành Dầu khí qua các thời kỳ Đó là những sản phẩm vật chất dễ bị xâm hại, hư hỏng bởi các điều kiện tự nhiên, các tác nhân hóa học, hoạt động của côn trùng, nấm mốc và cả sự vô ý thức của cón người Đặc biệt với khí hậu khắc nghiệt của nước ta cũng như sự quản lý chưa hoàn thiện, nếu không được quan tâm đúng mức thì chúng sẽ sớm trở thành tro bụi hoặc mất mát không ai hay biết

Các dữ liệu nói trên, cho đến nay phần lớn đã được thu thập bảo quản tập trung nhưng một khối lượng không nhỏ còn đang nằm tản mát ở các nơi, kể cả ở những đơn vị đã từ lâu không còn tồn tại và không có ai quản lý Các văn bản pháp quy về công tác thu nộp tài liệu, hiện vật vừa thiếu vừa không cụ thể Ngay cả những dữ liệu đã được tập trung chúng ta cũng chưa có những quy định về tiêu

Trang 8

chuẩn xác định giá trị, các quy trình hoạt động cụ thể để xác định giá trị cũng như xác định mức độ mật thay đổi theo thời gian để quản lý, sử dụng hợp lý

Về mặt bảo quản, mức độ hoàn thiện phụ thuộc vào sự quan tâm của các nhà lãnh dạo, quản lý, vào ngân sách được cấp, vào phương tiện trang thiết bị, vào cơ sở hạ tầng giành cho công tác này cũng như trình dộ, ý thức của những cán

bộ trực tiếp làm công tác bảo quản Nhiệm vụ chủ yếu của công tác bảo quản dữ liệu là thu thập đầy đủ các tư liệu của quốc gia và Tập đoàn, các báo cáo khoa học, các mẫu vật thuộc lĩnh vực dầu khí trong nước và một phần của nước ngoài, đảm bảo tuổi thọ, sử dụng hiệu quả, thiết lập các văn bản pháp quy cùng các chính sách

đi kèm phù hợp với từng loại dữ liệu cũng như kiểm tra và bảo quản dự phòng các

dữ liệu đó Từ những nhiệm vụ này, các nhà lãnh đạo các cấp sẽ chỉ đạo và đưa ra các giải pháp quản lý cụ thể để toàn hệ thống thực hiện

Cho đến nay chúng ta chưa có một hệ thống kho thực sự đáp ứng các yêu cầu của công tác bảo quản cũng như khai thác dữ liệu Các vấn đề như địa điểm đặt kho, quy mô kho, mặt bằng, hướng nhà kho, quy cách kho, nền móng, tải trọng, sàn, lối

đi lại trong kho, hệ thống điện, nước, chế độ nhiệt độ, độ ẩm, chế độ ánh sáng, chế

độ thông gió… chưa được đề cập đầy đủ trong thiết kế hệ thống kho mà thường giải quyết tùy theo khả năng tình thế Do ngân sách cấp rất eo hẹp nên các trang thiết bị bảo quản vừa lạc hậu vừa thiếu Dụng cụ đo Iiên tục nhiệt độ, độ ẩm tự động, máy hút ẩm, hút bui, quạt thông gió, may điều hòa không khí, thiết bị phòng chống cháy, thiết bị làm vệ sinh cho tài liệu, mẫu vật … còn Ià những ước mơ của những cán bộ trực tiếp làm công tác lưu trữ

Dữ liệu dầu khí là một tài sản quý nhưng là tài sản để sử dụng, để tạo ra giá trị mới chứ không phải là tài sản để giữ trong kho, do đó nếu công tác bảo quản, phục chế, nhân bản cần được coi trọng thì công tác dịch vụ dữ liệu lại càng phải được coi trọng gấp nhiều lần Ứng dụng tin học để lập cơ sở dữ liệu và cung cấp dữ liệu cho khách hàng trong những năm gần đây Petrovietnam đã có chú ý nhiều hơn trước nhưng kết quả còn rất hạn chế Đây là một công việc lâu dài vì cần nâng cấp chất lượng lên từng bước theo yêu cầu cuộc sống cũng như khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật bên cạnh việc bổ sung, cập nhật kịp thời, liên tục các tư liệu mới chứ không phải chỉ giải quyết trong một vài đề tài là xong Các quốc gia sản xuất dầu khí còn có cả các cơ sở dịch vụ dữ liệu dầu khí đặt ở nước ngoài để tạo diều kiện thu hút đầu tư và điều này cần phải có một chế độ tài chính thật hấp dẫn, linh hoạt đi kèm, bên cạnh việc quản lý dữ liệu một cách hiệu quả và khoa học Chúng ta đang triển khai các hoạt động dầu khí ra nước ngoài nên việc thu thập dữ

Trang 9

liệu dầu khí các loại qua con đường hợp tác cũng cần phải được đặt ra cho toàn Tập đoàn chứ không phải cho từng đơn vị thành viên riêng lẻ

Trong thế giới ngày nay thông tin là tiền bạc Cơ sở dữ liệu dầu khí chứa đựng một lượng thông tin lớn cho nên cần quan tâm đúng mức để các thông tin

đó có ích đối với tất cả các họat động của ngành Điều quan trọng là các nhà lãnh đạo đừng vì bận bịu với các nhiệm vụ to lớn hơn mà bỏ sót lĩnh vực này

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu những thành tựu và vướng mắc của các họat động dịch vụ khoa học kỹ thuật Dầu khí nói chung và dịch vụ khoa học kỹ thuật tại tung tâm lưu trữ nói riêng, trên cơ sở đó để xây dựng luận cứ khoa học nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động dịch vụ tại trung tâm một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế mới và các quy chế quản lý và khai thác tài liệu đã được PVN ban hành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu:Các họat động dịch vụ khoa học – kỹ thuật Dầu khí,

dữ liệu dầy khí và công tác thu thập, quản lý và khai thác tài liệu, thông tin khoa

học kỹ thuật từ tài liệu lưu trữ ở Trung tâm lưu trữ Dầu khí

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá những nhân tố ảnh hưởng và định

hướng phát triển của họat động dịch vụ khoa học kỹ thuật ngành Dầu khí Vận dụng

lý thuyết về dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí áp dụng vào điều kiện thực tế tại trung tâm lưu trữ dầu khí nhằm cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời Trong nội dung của luận văn, do phạm vi của các dịch vụ về kỹ thuật dầu khí chuyên ngành là rất rộng nên chúng tôi không nghiên cứu chi tiết mà chủ yếu phân tích những vấn đề có liên quan đến các hoạt động của dịch vụ cung cấp thông khoa học kỹ thuật dầu khí tại TTLTDK

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Hệ thống hoá các lý thuyết và thực tiễn về dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí Tìm hiểu và phân tích thực trạng các họat động dịch vụ khoa học kỹ thuật ngành Dầu khí và các Hoạt động dịch vụ cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí tại Trung tâm Lưu trữ Dầu khí

Nghiên cứu, đề suất giải pháp tăng cường các họat động dịch vụ khoa học –

kỹ thuật tại Trung tâm Lưu trữ Dầu khí – Viện Dầu khí Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện Đề tài, tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và đánh giá các tài liệu liên quan, các tài liệu về chiến lược phát triển của các đơn vị cung cấp dịch vụ cho ngành Dầu khí; Khảo sát thực tế tình trạng hoạt

Trang 10

động dịch vụ dầu khí; Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện cơ sở kỹ thuật - vật chất - nhân lực của các đơn vị hoạt động dịch vụ dầu khí; Dự báo nhu cầu thị trường dịch vụ căn cứ theo tiềm năng phát triển của các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của ngành Công nghiệp Dầu khí; Đánh giá phạm vi hoạt động, thị phần dịch

vụ của các công ty dịch vụ dầu khí nước ngoài đang hoạt động ở nước ta và khả năng cạnh tranh của mỗi đơn vị

Các phương pháp mà tác giả đã sử dụng để nghiên cứu :

Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu và khảo sát thực tế

Phương pháp thống kê

Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hoá và khái quát những lý luận cơ bản về dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí, dịch vụ thông tin tư liệu dầu khí

Đánh giá thực trạng dịch vụ cung cấp thông tin tại trung tâm lưu tữ dầu khí

Từ đó đưa ra những giải pháp hợplý để tăng cường hoạt động dịch vụ của tung tâm sao cho phù hợp với điều kiện hiện nay Từ đó áp dụng cho tung tâm nhằm cung cấp thông tin về các hoạt động của ngành dầu khí một cách nhanh chóng và chính xác

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan về dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí

Chương 2: Đánh giá thực trạng các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí nói chung và dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí tại trung tâm lưu trữ dầu khí

Chương 3: Nghiên cứu áp dụng một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí cho trung tâm lưu trứ dầu khí

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ KHOA HỌC KỸ THUẬT DẦU KHÍ

1.1 Hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật Dầu khí

1.1.1 Vai trò và nhiệm vụ của các hoạt động dịch vụ khoa học – kỹ thuật dầu khí

1.1.1.1 Vai trò

Dầu khí là ngành hoạt động đa chức năng và có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí đóng vai hỗ trợ khoa học, kỹ thuật chuyên ngành Dầu khí cho các hoạt động chung của toàn ngành như: Công tác quản lý của tập đoàn Các hoạt động tìm kiếm, thăm dò

và khai thác dầu khí, hoạt động chế biến dầu khí, phân phối sản phẩm, xuất nhập khẩu…Do đó, các lính vực dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí giữ vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của ngành dầu khí và chiếm tỷ trọng tương đối cao Đến năm 2010 thì tỷ trọng doanh thu của các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật đối với tổng doanh thu của ngành dầu khí là khoảng 27% - 28% Tỷ lệ này tăng đều đặn hàng năm khoảng 5% - 7% do có sự quan tâm và đầu tư mạnh từ phía tập đoàn nhằm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng để có thể đáp ứng được 100% nhu cầu trong nước, đồng thời phát triển dịch vụ ra nước ngoài

Dịch vụ Dầu khí với tính chuyên môn hóa cao vì vậy mỗi đơn vị trực thuộc tập đoàn thường được tổ chức một số hoạt động dịch vụ nhất định như: Hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật Dầu khí chuyên ngành là Tổng công ty cổ phần dịch

vụ kỹ thuật Dầu khí (PTSC), Hoạt đông trong lĩnh vực dịch vụ vân tải là Tổng công

ty cổ phần vận tải Dầu khí (PV Trans)…

Các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí chủ yếu được thực hiện tại viện dầu khí với các lĩnh vực như: Dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ

Các hoạt động cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật Dầu khí được thực hiện tại Trung tâm lưu trữ Dầu khí

1.1.1.2 Nhiệm vụ

a Dịch vụ kỹ thuật dầu khí chuyên ngành

Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cho ngành công nghiệp dầu khí Trong đó, có

nhiều loại hình dịch vụ chiến lược, mang tính chất mũi nhọn, đã phát triển và được chuyên nghiệp hóa đạt trình độ quốc tế như: dịch vụ tàu chuyên ngành; dịch vụ căn

cứ cảng, dịch vụ thiết kế, chế tạo lắp đặt các công trình dầu khí; dịch vụ vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình dầu khí, dịch vụ khảo sát công trình ngầm bằng R.O.V, dịch vụ thăm dò địa chất, tàu chứa và xử lý dầu thô, đầu nối chạy thử các

Trang 12

công trình dầu khí; dịch vụ vận hành bảo dưỡng, sửa chữa các công trình dầu khí,

đóng tàu dịch vụ, cung cấp nhân lực kỹ thuật và vật tư thiết bị dầu khí

b Dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ bao gồm:

Nghiên cứu địa chất - địa vật lý (G&G): thực hiện lập các báo cáo kỹ thuật chuyên ngành, đánh giá trữ lượng dầu khí; nghiên cứu đánh giá tiềm năng các bể trầm tích, tính toán trữ lượng mỏ và lập báo cáo phát triển mỏ; nghiên cứu thiết kế quy trình công nghệ khai thác mỏ dầu khí; thiết kế giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác…;

Phân tích mẫu: mẫu dầu, khí, mẫu địa chất; mẫu giếng khoan…

Nghiên cứu khoa học kỹ thuật; ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ phục vụ các hoạt động dầu khí

Phân tích, kiểm định, giám định nguyên liệu và sản phẩm dầu khí

Tư vấn lập báo cáo đầu tư; báo cáo kỹ thuật; nghiên cứu khả thi và thẩm định các dự án đầu tư các công trình dầu khí

Xây dựng các phương án phòng chống, giải quyết các sự cố về an toàn, bảo

vệ môi trường, tư vấn giám sát, kiểm soát các vấn đề liên quan đến công tác an toàn

và bảo vệ môi trường

Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, giám định các thông số kỹ thuật an toàn, điều kiện an toàn, vệ sinh công nghiệp

Các dịch vụ khoa học kỹ thuật, công nghệ khác theo yêu cầu của nhà thầu dầu khí

c Dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật Dầu khí

Trước đây nhiệm vụ của bộ phận lưu trữ trong Trung tâm Thông tin Tư liệu Dầu khí chỉ bó gọn việc lưu trữ các tài liệu khoa học kỹ thuật mà chủ yếu là các tài liệu tìm kiếm và thăm dò dầu khí Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ Dầu khí còn có nhiệm vụ thu thập và bảo quản các tài liệu kinh tế, hành chính của Tập đoàn Hơn nữa, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là một tập đoàn đa ngành, vì vậy Trung tâm Lưu trữ cũng có nhiệm vụ bám sát các hoạt động của Tập đoàn để thu thập các tài liệu cần lưu giữ

Nhiệm vụ Trung tâm Lưu trữ Dầu khí là thu thập toàn bộ dữ liệu, tài liệu phát sinh từ tất cả các lĩnh vực mà ngành dầu khí triển khai Đồng thời bảo quản và

sử dụng tối ưu nhất các dữ liệu, tài liệu đó phục vụ cho việc cung cấp thông tin, tài liệu cho các đơn vị trong ngành dầu khí Việc thu thập và lưu giữ dữ liệu không chỉ

bó gọn trong ngành mà cả ở ngoài ngành và mọi nguồn trên thế giới Dữ liệu, tài liệu cung cấp không chỉ ở dạng thô mà còn được lựa chọn, xử lý nâng cao giá trị Như vậy chúng ta cần:

Trang 13

Lưu trữ toàn bộ tài liệu liên quan đến tất cả các lĩnh vực mà ngành dầu khí phát triển (tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu) Lưu trữ không chỉ tài liệu trong nước mà cả những tài liệu quốc tế liên quan đến sự phát triển của ngành dầu khí: Những tài liệu mang tính chất quy chuẩn của thế giới; những tài liệu mang tính chất dự báo, tham khảo ở những vùng mà Tổng công ty có hướng đầu tư phát triển; Những tài liệu của các công ty, tổ chức nước ngoài về dầu khí có thể cùng liên kết khai thác…

Trung tâm Lưu trữ Dầu khí tham gia vào việc xây dựng, chỉnh sửa các văn bản, quy định, quy chế liên quan đến nghiệp vụ lưu trữ của Tập đoàn Tham gia vào việc xây dựng và củng cố hệ thống lưu trữ của các đơn vị trong Tập đoàn

- Tạo mối quan hệ với các tổ chức lưu trữ trong nước và ngoài nước để thu

thập tài liệu; củng cố, phát triển và nâng cao vị thế của đơn vị

1.1.2 Đặc điểm dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí

Khâu cuối bao gồm các lĩnh vực chế biến và phân phối sản phẩm

Đối với mỗi lĩnh vực trong công nghiệp dầu khí có hàng loạt dịch vụ đi theo

để phục vụ và hỗ trợ như Dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành, Dịch vụ tư vấn đầu tư khoa học công nghệ, Dịch vụ thông tin tư liệu dầu khí

1.1.2.2 Vốn đầu tư cao

Mỗi một loại hình dịch vụ cũng có thể là một ngành công nghiệp riêng biệt, nếu đầu tư riêng biệt cần có một số vốn rất lớn:

Ví dụ:

Xây dựng các dàn khoan biển, các loại tầu khoan với giá trị của mỗi loại từ

50 triệu đến 100 triệu USD

Các tầu địa vật lý mỗi chiếc giá trị hàng chục triệu USD

Mỗi chiếc máy bay trực thăng bay dịch vụ dầu khí ngoài biển giá trị 10 –

15 triệu USD

Mỗi căn cứ dịch vụ hoàn chỉnh phải đầu tư hàng trăm triệu USD, nếu chỉ nâng cấp căn cứ dịch vụ hiện có tại Vũng Tàu để đáp ứng cho tìm kiếm thăm dò và khai thác ngoài khơi Vũng Tàu cũng cần có hàng chục triệu USD

Thuê các Trung tâm xử lý số liệu: 10.000 USD/ tháng

Xây dựng kho bảo quản tài liệu đủ tiêu chuẩn tốn hàng triệu USD

Trang 14

Dự án xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu dầu khí dự tính khoảng 40 triệu USD

1.1.2.3 Kỹ thuật công nghệ cao

Hiện nay trên toàn thế giới có nhiều công ty dịch vụ đi sâu vào từng lĩnh vực riêng biệt, không những họ đầu tư vốn lớn về trang thiết bị mà đầu tư không ngừng về kỹ thuật và công nghệ, có những công ty độc quyền về một số dịch vụ công nghệ cao như: Schlumbager với các dịch vụ Carota điện tử, thử vỉa

Dịch vụ địa vật lý : GECO, CGG, Westem Attlas…

Dịch vụ khoan: có công ty chuyên về tầu khoan, có những công ty chuyên

về tầu tự nâng, chuyên về khoan sâu, khoan ở vùng nước sâu, khoan ở vũng có áp suất cao, nhiệt độ cao (HP/HT)

Dịch vụ khoan định hướng: Anadrill, Collins vv…và vv…

Đối với các loại dịch vụ có kỹ thuật và công nghệ cao, những nước đang phát triển như Việt Nam không thể tự mình làm được mà phải liên doanh, liên kết, hợp tác hoặc cho thuê nhà cửa kho bãi để xây dựng xí nghiệp 100% vốn của họ, trên

cơ sở đó họ có trách nhiệm đào tạo người địa phương và chuyển giao công nghệ dần dần

Việc hợp tác trong sản xuất và điều hành hàng ngày đòi hỏi phải có trao đổi thông tin lẫn nhau, nếu ngôn ngữ bất đồng thì không sao có thể thực hiện được Trình độ ngoại ngữ hiện nay của các cán bộ kỹ thuật, quản lý và công dân Việt Nam trong mọi lĩnh vực còn quá yếu – đây cũng là một điểm yếu cần phải khắc phục trong thời gian tới

Trang 15

1.1.2.5 Tính cạnh tranh quốc tế

Trên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á, đối với mỗi loại hình dịch vụ, có nhiều công ty cũng thực hiện và cạnh tranh nhau quyết liệt cả về chất lượng phục vụ và giá cả Vì vậy thường thường các công ty Dầu khí phải tổ chức đấu thầu quốc tế trước khi ký một hợp đồng dịch vụ

Các công ty dịch vụ của Việt Nam muốn phát triển ngang tầm của công ty dịch vụ quốc tế thì cũng phải đáp ứng được các đòi hỏi rất cao của các công ty dầu

và phải cạnh tranh được với các dịch vụ tương tự của các công ty dịch vụ khác trong khu vực và trên thế giới

Hiện nay trong khu vực Đông Nam Á Singapore, Thái Lan , Indonesia, Maylaysia có rất nhiều căn cứ dịch vụ và nhiều công ty dịch vụ dầu khí có chất lượng rất cao và giá thành dịch vụ của họ rẻ

Mặt khác đối với một số thiết bị, hàng hóa vật tư sản xuất tại Nhật, Hàn Quốc giá thành rất thấp nhưng chất lượng tương đối cao vì họ sử dụng các loại công nghệ tương đối hiện đại, đem lại năng suất cao Vị vậy, nếu Việt Nam muốn cung cấp được các loại thiết bị hàng hóa tương tự, đảm bảo chất lượng tương đương, chắc chắn giá cả sẽ cao hơn, đòi hỏi phải có chính sách trợ giá hoặc chính sách ưu tiên mới có thể cung cấp được

1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng và định hướng phát triển của các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật Dầu khí

1.1.3.1 Những nhân tố trong nước

a Đường lối phát triển và các mục tiêu của ngành Dầu khí

Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 386/QĐ-

TTg ngày 9/3/2006, với mục tiêu: “Phát triển ngành Dầu khí trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu Xây dựng Tập đoàn Dầu khí mạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế.”

Quan điểm phát triển ngành Dầu khí, trong đó có lĩnh vực dịch vụ dầu khí được thể hiện ở một số nội dung chính như sau:

Phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam trên cơ sở nguồn tài nguyên trong nước, đồng thời tích cực mở rộng đầu tư ra nước ngoài; khai thác và sử dụng dầu khí một cách hợp lý, đảm bảo an ninh năng lượng và sự phát triển bền vững đất nước Phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đồng bộ, hiệu quả, an toàn, mang tính đa ngành và liên ngành

Trang 16

Phát huy nội lực, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài để thăm dò, gia tăng nhanh trữ lượng dầu khí có thể khai thác; ưu tiên tìm kiếm, thăm dò, khai thác trước những vùng nước sâu, xa bờ, những vùng chồng lấn, tranh chấp Khuyến khích sự tham gia tối đa của các thành phần kinh tế khác trong các lĩnh vực dịch vụ, chế biến, phân phối sản phẩm,…

Phát triển Ngành Dầu khí đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, đảm bảo an ninh quốc pḥòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

Sự phát triển mạnh mẽ hoạt động thăm dò khai thác, chế biến và phân phối các sản phẩm dầu khí là động lực thúc đẩy phát triển lĩnh vực dịch vụ dầu khí như một hậu quả tất yếu của một nền kinh tế thị trường Thời gian gần đây, Nhà nước và Ngành dầu khí đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển lĩnh vực này với hàng loạt dự án

đã được lên kế hoạch, tổng số vốn đến hàng tỷ USD như: xây dựng căn cứ dịch vụ Sao Mai Bến Đình, Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Tiền Giang, Dự án đầu tư mua sắm giàn khoan, Dự án xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu dầu khí Đây là những tiền đề quan trọng để tăng tốc phát triển lĩnh vực dịch vụ trong nước, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển của Ngành dầu khí đề ra

b Chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ dầu khí

Chủ trương của Nhà nước và của Ngành dầu khí đối với lĩnh vực dịch

vụ dầu khí

Chủ trương của Nhà nước:

Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 với định hướng phát triển lĩnh vực dịch vụ với mục tiêu tổng quát là:

Tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh cao, chú trọng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống, phát triển các dịch vụ mới, nhất là những dịch vụ có hàm lượng chất xám cao, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Phát triển và tăng khả năng cạnh tranh những ngành dịch vụ có tiềm năng Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2006-2010 là 7,7-8,2 %/năm Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu, tăng tỷ trọng dịch vụ trong GDP lên 40-41% vào năm 2010

Tiếp tục phát triển mạnh thương mại và dịch vụ theo đúng với tiềm năng của từng vùng; nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ góp phần tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa dịch vụ với sự tham gia của tất cả thành phần kinh tế Nâng cao hơn nữa vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ đảm bảo cạnh tranh bình đẳng đáp ứng nhu cầu đa dạng trong sản xuất kinh doanh và đời

Trang 17

sống xã hội, góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường và hội nhập có hiệu quả

Hoàn thiện cơ chế chính sách hài hòa với tiêu chuẩn của Tổ chức Thương mại thế giới và Hiệp định chung về thương mại-dịch vụ để tạo thuận lợi cho các đàm phán và giải quyết tranh chấp Chuẩn bị các điều kiện để thực hiện tốt các cam kết dịch vụ khi gia nhập WTO và thực hiện các cam kết tự do hóa mậu dịch trong khuân khổ ASEAN đến năm 2010 và các giai đoạn tiếp theo

Các định hướng phát triển trên sẽ là cơ sở thuận lợi để ngành Dầu khí và các ngành liên quan vận dụng tùy theo đặc điểm cụ thể và hoàn cảnh của mình để đề ra chiến lược, kế hoạch phát triển hợp lý

Chủ trương của ngành Dầu khí

Chủ trương phát triển dịch vụ của ngành Dầu khí được thể hiện trong Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt nam giai đoạn 2006-2015, định hướng 2025 với nội dung chủ yếu như sau:

Thu hút tối đa các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ để tăng nhanh tỉ trọng doanh thu dịch vụ trong tổng doanh thu của cả Ngành Phấn đấu đến năm 2010, doanh thu dịch vụ dầu khí đạt 20 – 25%, đến năm 2015 đạt 25 – 30% tổng doanh thu của Ngành và ổn định đến năm 2025

Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực để chiếm lĩnh tối đa các dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành công nghệ cao: khảo sát địa chấn, khoan tìm kiếm, thăm dò, chế tạo

và xây lắp công trình biển, dịch vụ khai thác, bảo dưỡng, vận hành, xuất khẩu lao động có tay nghề cao v.v

Thông qua các chủ trương, chính sách, Nhà nước, Ngành Dầu khí thể hiện sự quyết tâm đẩy mạnh đầu tư phát triển dịch vụ nói chung và dịch vụ dầu khí nói riêng nhằm tạo ra bước phát triển đột phá trong thời gian tới Đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ dầu khí

Cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ dầu khí

Hiện nay các đơn vị tham gia cung ứng dịch vụ dầu khí trong nước phải tuân thủ theo các luật sau:

Luật doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 Luật dầu khí được Quốc hội IX thông qua ngày 6/7/1993, đã được bổ sung sửa đổi lần một ngày 9/6/2000 và lần hai ngày 3/6/2008

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam được Quốc hội khóa VII thông qua ngày 29/12/1997, được sửa đổi vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và 2006

Các luật và văn bản dưới luật liên quan khác

Trang 18

Nhận xét:

Dịch vụ dầu khí là một hoạt động mang tính đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, vì vậy dẫn đến tình trạng nhiều đầu mối quản lý Việc phân định chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý chưa rõ ràng, còn chồng chéo, gây trở ngại cho sự phát triển

Nghị định, Qui định, cơ chế, chính sách quản lý lĩnh vực dịch vụ dầu khí nằm dải rác ở nhiều luật và các văn bản dưới luật khác nhau Điều này gây ra sự khó khăn cho việc quản lý thống nhất ở tầm vĩ mô và dễ nhầm lẫn cho các doanh nghiệp làm dịch vụ khi áp dụng Phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí hiện chỉ bao quát đến thăm dò và khai thác dầu khí Các hoạt động khác như vận chuyển, chế biến, lọc hóa dầu, dịch vụ dầu khí không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí hiện hành Vì vậy, việc sớm xây dựng và hoàn thiện Luật Dầu khí bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động dầu khí là rất cần thiết nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho việc sản xuất, kinh doanh và dịch vụ dầu khí

Luật quy định về hoạt động mua sắm hàng hóa giá trị lớn vận dụng cho việc đầu tư phương tiện, thiết bị đắt tiền phục vụ cho hoạt động dịch vụ còn bất cập, chưa giao quyền quyết định và chịu trách nhiệm tối đa cho chủ đầu tư phương tiện dịch vụ, gây khó khăn và chậm chễ đầu tư dẫn đến mất cơ hội kinh doanh, chưa kể đến thủ tục hành chính trong việc phê duyệt đầu tư còn phức tạp, chưa hoàn toàn được cải cách triệt để

Cơ chế, chính sách đầu tư cho dịch vụ dầu khí

Chính sách về ngành nghề ưu đãi đầu tư: Nghị định số 108/2006/NĐ-CP

ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, trong đó lĩnh vực dịch vụ dầu khí thuộc danh mục ưu đãi đầu tư

Với việc đưa lĩnh vực dịch vụ dầu khí vào danh mục ưu đãi đầu tư là bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy, thu hút vốn đầu tư cho phát triển lĩnh vực dịch

vụ dầu khí Thực tế cho thấy vốn đầu tư cho dịch vụ dầu khí trong những năm gần đây đã tăng đột biến với hàng loạt các dự án cỡ lớn đang được xúc tiến đầu tư như: xây dựng nhà máy chế tạo giàn khoan, đóng tàu; căn cứ dịch vụ Sao Mai Bến Đình,.v.v thu hút vốn dự kiến lên đến hàng tỷ USD

Cơ chế, chính sách thuế đối với dịch vụ dầu khí

Chính sách ưu đãi về thuế:

Về thuế thu nhập doanh nghiệp Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22

tháng 12 năm 2003 qui định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo

“DANH MỤC A- NGÀNH NGHỀ, LĨNH VỰC ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ”, ngành Dịch vụ Dầu Khí thuộc loại ngành nghề được ưu đãi về thuế

Trang 19

Thực hiện chủ trương áp dụng thống nhất chính sách thuế đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngày 17/6/2003, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Luật này Theo Nghị định thì các doanh nghiệp thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi được áp dụng thuế suất ưu đãi Như vậy, ngành dịch vụ Dầu khí cũng được hưởng chính sách này

Về Thuế giá trị gia tăng Hiện nay, nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng đối với tổ

chức, cá nhân sản xuất và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật và dưới luật sau đây:

Luật Thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997;

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng số 07/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003;

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biết và Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2005;

Nghị định của Chính phủ số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;

Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng;

Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng

Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số

158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-158/2003/NĐ-CP ngày 23/7/2004 và Nghị định

số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng

Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, các nghề, lĩnh vực dịch

vụ dầu khí sẽ được áp dụng như sau:

Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng (Điều 4 của Nghị định

158/2003/NĐ-CP):

Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập

Trang 20

khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp Thiết bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận tải thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuê của nước ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được dùng cho sản xuất, kinh doanh Thiết bị, máy móc, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí

Trường hợp cơ sở nhập khẩu dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng nhưng trong dây chuyền đồng bộ đó có cả loại thiết bị, máy móc trong nước đã sản xuất được thì không tính thuế giá trị gia tăng cho cả dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ

1.1.3.2 Những nhân tố nước ngoài, bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động đến phát triển dịch vụ dầu khí

* Xu hướng phát triển các lĩnh vực dịch vụ dầu khí thế giới và khu vực

Xu hướng phát triển dịch vụ dầu khí thường phụ thuộc vào một số yếu tố chính như: nhu cầu tiêu thụ năng lượng, mức độ đáp ứng hiện tại của dịch vụ dầu khí, trữ lượng dầu khí,

Trong tất cả các nguồn năng lượng được sử dụng thì năng lượng từ dầu mỏ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các nguồn năng lượng khác Theo số liệu của Douglas-Westwood Ltd (2003) thì dầu khí cung cấp khoảng 62% trong toàn bộ nhu cầu tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới, và dự báo nhu cầu về dầu và khí vẫn sẽ tiếp tục gia tăng

trong những năm tới

Khai thác dầu khí trên đất liền đã được phát triển sớm do khả năng tìm kiếm, thăm dò, khai thác trên đất liền dễ dàng hơn và chi phí thấp hơn so với khai thác dưới biển Vì vậy, các dịch vụ dầu khí phục vụ cho công nghiệp khai thác trên đất liền cũng

đã phát triển mạnh, có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại và tương lai

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai, việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí dưới biển ngày càng được quan tâm và phát triển, đặc biệt là ở các vùng nước sâu và xa bờ, dẫn đến sự gia tăng về nhu cầu về các dịch vụ dầu khí dưới biển như: kho nổi, giàn khoan biển, vận tải dầu khí,

Theo số liệu của Infield Systems, khu vực Trung Đông có trữ lượng dầu khí lớn nhất, tiếp theo là khu vực Tây Phi, Mỹ La Tinh, Úc và Châu Á Tuy nhiên, theo dự báo IEA, Châu Á lại là khu vực có tốc độ gia tăng nhu cầu về dầu mỏ cao nhất, kế tiếp là Trung Đông và Châu Phi

Trang 21

* Tác động của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực đến lĩnh vực dịch vụ dầu khí

Hiện nay, Việt Nam nằm trong khối ASEAN và tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam khi được kết nạp vào ASEAN phải tham gia ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa các nước trong khối ASEAN (AFTA), thực hiện một

số nội dung chính như:

Cắt giảm thuế quan cho hàng hóa xuất xứ từ ASEAN xuống còn 0 – 5%;

Loại bỏ hàng rào phi thuế quan, trong đó chủ yếu loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan khác;

Hài hòa các thủ tục hải quan, xúc tiến hợp tác trong lĩnh vực hải quan

Theo cam kết khi đàm phán gia nhập WTO, Việt nam chấp thuận mở cửa lĩnh vực dịch vụ dầu khí từ năm 2012 (5 năm sau khi gia nhập WTO) với việc cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài để cung ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của TTLTDK bởi vì khi đó, nghĩa vụ giao nộp tài liệu kinh tế, khoa học kỹ thuật dầu khí của các đôn vị này sẽ không nằm trong quy chế giao nộp tài liệu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia việt nam Tuy nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các công ty thăm dò, khai thác tài nguyên Bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ… Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

Nhận xét:

Những lợi thế khi tham gia AFTA và WTO:

Tăng khả năng xuất khẩu dịch vụ sang các nước trong khối ASEAN, các nước thành viên WTO, ngược lại các nước trong khối cũng sẽ được hưởng lợi khi xuất khẩu dịch vụ sang Việt Nam do những điều kiện thuận lợi theo quy định của AFTA, WTO

Được đảm bảo các quyền lợi thương mại quốc tế theo Hiệp định WTO, tăng cường sự minh bạch và khả năng tiên đoán về các qui tắc được áp dụng trong thương mại quốc tế

Trang 22

Môi trường sản xuất kinh doanh được cải thiện: các hoạt động sản xuất kinh doanh phải chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực sản xuất và dịch vụ theo hướng chuyên nghiệp hơn, chất lượng dịch vụ được cải thiện hơn

Nâng cao trình độ tri thức kinh tế: Hội nhập tạo điều kiện để người lao động tiếp xúc và làm quen, học hỏi phương pháp quản lý, phương pháp làm việc, cách thức kinh doanh với các công ty và các nền kinh tế khác Đó là môi trường thuận lợi giúp cán bộ nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn trong việc thực hiện các dịch vụ kỹ thuật dầu khí

Thách thức cho ngành dịch vụ dầu khí khi hội nhập:

Ngành Dịch vụ Dầu khí Việt nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi được tự do hóa trong khuôn khổ Thỏa thuận về thương mại dịch vụ (GATS), đặc biệt là thỏa thuận cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam để cung ứng dịch vụ dầu khí Cạnh tranh sẽ ngày càng ngay gắt hơn ở ngay thị trường trong nước Đây sẽ là một thách thức lớn khi mà lĩnh vực dịch vụ dầu khí trong nước còn chưa phát triển mạnh, trình độ kỹ thuật, công nghệ còn thấp so với khu vực và thế giới

1.1.3.3 Yếu tố tác động đến trung tâm lưu trữ dầu khí

Đối với trung tâm lưu trữ Dầu khí, với những vai trò của cơ quan làm dịch vụ cung cấp thông tin (làm dịch vụ của dịch vụ) thì bên cạnh những yếu tố tác động chung đến hoạt động dịch vụ của ngành dầu khí còn có những yếu tố ảnh hưởng có tính đặc thù riêng Trong những năm tới, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nói chung và Trung tâm Lưu trữ Dầu khí nói riêng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng tích cực, hạn chế khác nhau tới sự phát triển và hoạt động sản xuất - kinh doanh Những yếu tố này có thể xuất phát từ trong nước hoặc ngoài nước do quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, mức độ cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước ngày càng gay gắt trong lĩnh vực dầu khí và từ những yêu cầu phát triển đa dạng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Những nhân tố ảnh hưởng đó là:

a Những nhân tố trong nước

Nhân tố tích cực

Trong giai đoạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, sự phát triển của Trung tâm sẽ chịu những ảnh hưởng tích cực từ những đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, mục tiêu tổng quát trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển… Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo

Trang 23

hướng hiện đại vào năm 2020” Mục tiêu này sẽ đặt ra những yêu cầu cao về sự phát triển các ngành, nghề trong nền kinh tế cả nước trong đó có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là một tất yếu khách quan Sự phát triển của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ tác động mạnh tới sự phát triển của Trung tâm Lưu trữ Dầu khí Đây là nhân tố quan trọng, là cơ hội cho sự phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động lưu trữ - khai thác tài liệu và hoạt động kinh doanh dịch cụ của Trung tâm Vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí được gia tăng, sự gia tăng đầu tư từ nước ngoài không chỉ dựa vào công cụ thuế, cung cấp cơ sở hạ tầng….vv mà sẽ dựa vào sự đa dạng thông tin, mức độ chính xác của những thông tin mà Trung tâm đang lưu trữ

Quan điểm và mục tiêu phát triển ngành Dầu khí đồng bộ, đa dạng và liên ngành để trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đất nước, đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài được thể hiện trong Quy hoạch phát triển ngành Dầu khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2025 là nhân tố thuận lợi cơ bản đối với định hướng phát triển Trung tâm trong dài hạn Như vậy, mọi thông tin, tài liệu được lưu trữ tại Trung tâm sẽ phải là một trong những căn cứ quan trọng giúp các nhà quản lý của Tập đoàn đưa ra các quyết định đầu tư hoặc không đầu tư, sự phát triển của Trung tâm trở thành yêu cầu quan trọng gắn liền với sự phát triển của Tập đoàn

Luật pháp và cơ chế, chính sách liên quan đến ngành Dầu khí nói chung và công tác lưu trữ, khai thác tài liệu dầu khí dần được xây dựng hoàn chỉnh như: Luật Dầu khí Việt Nam, Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia, Quy định về chế độ báo cáo

và nghĩa vụ giao nộp tài liệu kinh tế kỹ thuật, Quy chế quản lý và sử dụng tài liệu mật trong ngành Dầu khí tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu thập và khai thác tài liệu của Trung tâm

Đến giai đoạn 2015, nguồn nhân lực của Trung tâm sẽ được phát triển lên một mức cao hơn bởi quá trình tích tụ kinh nghiệm và nếu liên tục được đào tạo mới, đào tạo lại thì sẽ trở thành nguồn lực quyết định cho sự phát triển của Trung tâm trong giai đoạn định hướng đến năm 2025

Trong giai đoạn 2015, những yêu cầu về cơ sở vật chất sẽ được giải quyết đáng kể về trụ sở làm việc, kho tài liệu giấy tại miền Bắc Đây là nhân tố ảnh hưởng tích cực tạo ra sự ổn định về chỗ làm việc và công tác lưu trữ - khai thác tài liệu của Trung tâm Nhưng đến những năm 2025, cơ sở vật chất của Trung tâm cần phải được mở rộng thêm để đáp ứng yêu cầu theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao

Trang 24

Việc thực hiện điện tử hoá tài liệu kỹ thuật ngành dầu khí Việt Nam bắt đầu

từ những năm 2008 và kết thúc năm 2011 sẽ là tiền đề cho sự phát triển và nâng cao chất lượng trong xử lý - lưu trữ - khai thác tài liệu tại Trung tâm, giúp cho Trung tâm thực hiện tốt công tác chuyên môn hoá các hoạt động trong giai đoạn năm 2015 và định hướng đến 2025

Nhân tố khó khăn, hạn chế

Trong giai đoạn 2015 và định hướng đến năm 2025, số lượng và thời gian giao nộp tài liệu từ các đơn vị, nhà thầu về Trung tâm tiếp tục không đầy đủ và đúng hạn tạo ra khó khăn trong công tác thu thập, xử lý, khai thác tài liệu của Trung tâm

Hàng năm, yêu cầu đối với cán bộ, nhân viên trong công tác đào tạo mới, đào tạo lại, học tập trong nước hoặc tại các cơ sở lưu trữ của nước ngoài chưa được Tập đoàn quan tâm đúng với yêu cầu phát triển của Ngành là một hạn chế của Trung tâm Hạn chế này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực của Trung tâm

Máy móc thiết bị, công nghệ không đồng bộ, hiện đại cũng là một hạn chế nhất định ảnh hưởng tới công tác lưu trữ - khai thác tài liệu của Trung tâm

Hiện nay, tính cạnh tranh trong việc cung cấp tài liệu không cao, nhưng trong dài hạn khi các đơn vị, nhà thầu xây dựng các kho dữ liệu của mình thì sẽ xuất hiện sự cạnh tranh trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu giữa Trung tâm và các đơn

vị, nhà thầu có kho dữ liệu Như vậy, những khó khăn sẽ xuất hiện nhiều hơn trong dài hạn nếu Trung tâm không có sự thay đổi về chất lượng nhân sự, công nghệ, thông tin, tài liệu

b Những nhân tố ngoài nước

Nhu cầu dầu khí của các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng cao khiến cho công tác tìm kiếm, thăm dò của các Công ty, Tập đoàn dầu khí trên thế giới tại các khu vực có tiềm năng dầu khí như ở Việt Nam được đẩy mạnh Đây là nhân tố thuận lợi để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng như Trung tâm Lưu trữ Dầu khí tăng cường các hoạt động dầu khí, cung cấp dịch vụ thông tin, tài liệu về các khu vực có tiềm năng dầu khí của Việt Nam

Yêu cầu về sự đa dạng, chính xác của các tài liệu, sự thuận tiện, hình thức trong xử lý, tra cứu, khai thác tài liệu của các nhà thầu, đơn vị nước ngoài tăng lên nhằm giảm thiểu rủi ro trở thành thách thức lớn đối với các hoạt động hiện tại của Trung tâm

Tóm lại, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của Trung tâm nhưng trong suốt thời gian thực hiện theo chức năng nhiệm vụ cho thấy, những

Trang 25

nhân tố xuất phát từ ngoài nước tác động mạnh nhất tới doanh thu và các hoạt động của Trung tâm, còn những nhân tố trong nước có tác động nhưng không lớn vì Trung tâm thực hiện hạch toán phụ thuộc và thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Tập đoàn

Dịch vụ cho thuê các phương tiện hạ tầng kỹ thuật;

Dịch vụ tàu chứa, xử lý và xuất dầu thô FPSO/FSO;

Dịch vụ thu dọn, tháo dỡ các công trình dầu khí;

Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp các công trình biển;

Dịch vụ khảo sát địa chất công trình

Dịch vụ khảo sát và sửa chữa công trình ngầm dưới biển

b Đồng thời hợp tác, liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài để nâng dần tỷ trọng thực hiện các loại hình dịch vụ sau:

Dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan;

Dịch vụ khảo sát địa chấn 2D, 3D;

Dịch vụ vận chuyển, hạ thủy các kết cấu siêu trường, siêu trọng;

Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp các công trình dầu khí phức tạp như giàn

khoan, giàn khai thác, tàu dịch vụ, các nhà máy chế biến dầu khí và hóa dầu

1.1.4.2 Dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ

a Tập trung đầu tư phát triển, phấn đấu có thể đáp ứng 100% nhu cầu trong nước các loại hình dịch vụ sau:

Dịch vụ phân tích mẫu;

Dịch vụ nghiên cứu địa chất - địa vật lý (G & G): nghiên cứu đánh giá tiềm năng các bể trầm tích, lập các báo cáo kỹ thuật chuyên ngành; báo cáo phát triển

mỏ, thiết kế các chương trình thu nổ địa chấn; thiết kế giếng khoan;

Dịch vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tiếp thu ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực dầu khí;

Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường; phân tích, giám định, đánh giá chất lượng dầu, khí và sản phẩm xăng dầu, sản phẩm hóa dầu;

Tư vấn đầu tư, thẩm định các dự án vừa và nhỏ

Trang 26

b Đồng thời hợp tác, liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài để nâng dần tỷ trọng thực hiện các loại hình dịch vụ sau:

Minh giải tài liệu địa chấn; đánh giá trữ lượng dầu khí;

Tư vấn đầu tư, thẩm định các dự án lớn như các dự án lọc dầu, hóa dầu, v.v…

Dịch vụ nghiên cứu và phát triển mỏ, công nghệ phục vụ thăm dò khai thác, vận chuyển và chế biến dầu khí và hóa dầu

1.1.4.3 Dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật Dầu khí

a Nâng cao chất lượng lưu trữ và khai thác tài liệu

Trang bị hệ thống kho tàng và các thiết bị bảo dưỡng hiện đại, phù hợp với từng loại tài liệu cần lưu giữ

Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc thu thập, bảo quản, gia tăng giá trị cho các tài liệu lưu trữ

Thiết lập các cơ sở dữ liệu có khả năng quản lý mọi loại dữ liệu liên quan đến ngành dầu khí ;

Số hóa, điện tử hóa toàn bộ tài liệu: tạo khả năng quản lý tài liệu tốt hơn; sử dụng nhanh chóng, hiệu quả hơn; chi phí quản lý, bảo dưỡng thấp hơn;

Cài đặt các phần mềm ứng dụng có khả năng xử lý các tài liệu thô thành những dữ liệu có giá trị hơn (gia tăng giá trị của tài liệu) Đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của người dùng

Phục vụ tốt cho người dùng và đảm bảo an toàn tài liệu cần được trang bị đồng bộ và đầy đủ các phương tiện in ấn, sao chép, gia công (mẫu);

Cần có trang thiết bị để có thể cung cấp cho người dùng hình ảnh, nội dung, chất lượng tài liệu mà họ có yêu cầu cung cấp;

Ngoài việc cung cấp tài liệu riêng lẻ, còn có thể cung cấp tài liệu theo từng chuyên đề, mang tính tổng hợp

Hiện nay tài liệu lưu trữ hầu hết chỉ mới sử dụng trong nội bộ Tập đoàn, cần

có quy định rộng hơn về đối tượng được tham khảo tài liệu Hàng năm cần xác định, đánh giá lại cấp độ mật của tài liệu để những tài liệu không cần bí mật có thể được sử dụng rộng rãi hơn cho mục đích tham khảo và nghiên cứu khoa học; Cần

có kế hoạch quảng bá, giới thiệu tài liệu để gia tăng số người quan tâm tìm hiểu nhằm tăng hiệu quả đầu tư

Chúng ta có thể gia công tài liệu cho các cơ quan khác hoặc các công ty dầu khí các nước Ví dụ: chuyển đổi băng từ lên băng mật độ cao; số hóa các tài liệu cũ; hiệu đính, chỉnh lý tài liệu …

Trang 27

b Nâng cao trình độ cán bộ lưu trữ và bổ xung các cán bộ lưu trữ có trình độ và kinh nghiệm

Công tác lưu trữ của một Tập đoàn đa ngành đòi hỏi cán bộ lưu trữ phải có trình độ hiểu biết rộng về chuyên môn và phải có trình độ nghiệp vụ lưu trữ Hiện nay, cán bộ của Trung tâm Lưu trữ mới đáp ứng được một phần công việc Đa số là cán bộ có chuyên môn về chuyên ngành thăm dò, khai thác dầu khí Các chuyên môn khác hầu như chưa có Nghiệp vụ lưu trữ còn yếu Một số có bằng 2 công nghệ thông tin Để làm tốt nhiệm vụ được giao cần phải được đào tạo bàn bản cả về chuyên môn, CNTT và nghiệp vụ lưu trữ Mặt khác, cần tăng cường thêm cán bộ có chuyên môn sâu và có trình độ nghiệp vụ lưu trữ cao để có thể nâng cao chất lượng lưu trữ và khai thác tài liệu Cần có chính sách ưu đãi cán bộ giỏi, có kinh nghiệm

1.2 Đánh giá tình hình phát triển công nghiệp dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí các nước khu vực và trên thế giới

1.2.1 Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí

Khu vực Châu Á

Các dịch vụ dầu khí tại khu vực này khá đa dạng Các nước châu Á phát triển

có trình độ về công nghệ và dịch vụ, có kế hoạch cung cấp và phát triển dịch vụ dầu khí cho các nước còn kém phát triển Trong khu vực châu Á, các nước có ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí phát triển mạnh ngang tầm quốc tế là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ

Trang 28

Bảng 1.1: Dịch vụ dầu khí của các nước châu Á Quốc gia

Lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật Khu vực cung cấp

dịch vụ

Trung

Quốc

- Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật trong nước

gồm dịch vụ địa vật lý và khoan khai thác

- Chế tạo giàn khoan đất liền: giàn khoan, cần khoan, ống chống và phụ kiện

Honghao là công ty hàng đầu của Trung

Quốc về lĩnh vực này

- Thiết kế công trình biển: chế tạo giàn khoan biển các loại như giàn khoan biển nông, tự nâng, nửa chìm, kho nổi FPSO,

FSO và hệ thống neo kiểu tháp quay

- Đóng tàu: chở khí thiên nhiên lỏng LNG tại xưởng đóng tàu ở Thượng Hải của Tổng

công ty đóng tàu nhà nước CSSC

- Cung cấp dịch vụ cải hoán tàu chở dầu thành kho nổi FPSO hoặc đóng mới Xây

lắp đường ống dẫn dầu

- Khách hàng nước ngoài về đóng giàn khoan của Trung Quốc

là NaUy, Myama, Úc

và các nước Trung

Đông

- Các nước nhập khẩu dịch vụ chính là Mỹ (chiếm 32%), Nga, Algeria, Ấn Độ, Iran

và Uzbekistan

- Na Uy

- Nhật, Brazin

Nhật Bản

- Cho thuê tàu chở khí thiên nhiên

- Cung cấp tài chính và vốn vay bảo hiểm cho các liên doanh tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài của các công ty

Nhật Bản

- Đài Loan và các nước Đông Nam Á, thế giới

- Cung cấp thiết bị cho công nghiệp khí

- Châu Á, châu Âu và châu Phi

- Các nước Trung Đông

Ấn Độ

- Cung cấp dịch vụ khoan khai thác ngoài

khơi (Đứng đầu khu vực Nam Á)

- Cung cấp các phương tiện dự trữ và khai

thác di động

- Châu Á, Trung Đông

(Nguồn UN-Upstream News)

Tại khu vực châu Á, dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Trung Quốc hiện đang cung cấp khá đầy đủ các hạng mục không chỉ trong nước mà còn vươn ra thị trường

Trang 29

các nước trong khu vực và trên thế giới Trung Quốc đã tự đóng tàu chở khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) Nước này đang có tham vọng vượt Hàn Quốc và Nhật Bản

và trở thành nhà đóng tàu lớn nhất thế giới Các công ty chế tạo và xây lắp công trình biển, các xưởng đóng tàu – giàn khoan biển của Trung Quốc ngày càng nhận được nhiều hợp đồng và đang ở thế mạnh trong cuộc cạnh tranh với các công ty của Phương Tây, Nhật Bản và Hàn Quốc nhờ sử dụng lao động rẻ Giá trị xuất khẩu thiết bị như máy khoan, cần khoan, ống chống và phụ kiện, phụ tùng dầu khí của Trung Quốc ngày càng tăng, năm 2007 tăng hơn 60% so với năm 2006

Khu vực Đông Nam Á

Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực Đông Nam Á năm 2006 đạt mức cao nhất trong 10 năm qua (theo đánh giá của công ty tư vấn Wood Mackenzie) Nhịp độ này còn phát triển nếu không bị thiếu giàn khoan Trong năm

2006, toàn vùng có 270 giếng khoan tìm kiếm thăm dò và thẩm lượng Các nước có mức tăng trưởng cao trong lĩnh vực này là Indonesia, Thái Lan và Việt Nam Các công ty hoạt động tích cực nhất ở khu vực này là CNOOC, CNPC và Petronas của Malaysia hay các công ty độc lập như Premier Oil (Anh) và Asbar Petroleum (Abu Dhabi) Indonesia, Thai Lan, Singapo và Malaysia là những nước có ngành dịch vụ

kỹ thuật dầu khí phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á

Bảng 1.2: Dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại một số nước Đông Nam Á

- Cho các dự án ngoài biển và trong đất liền trong nước

Thái Lan

- Chuyên thiết kế, chế tạo và lắp đặt các thiết bị, công trình dầu khí biển: chế tạo lắp ráp modul, thiết kế các khối thượng tầng, các công trình biển hạng nhẹ như giàn đầu

giếng, đường ống từ 8 in đến 24 in

- Chế tạo,Xây lắp giàn đầu giếng cho các nhà thầu nước ngoài như Chevron,

Technip

- Khách hàng chính là

Chevron Thái Lan, Pearl Energy, PTTEP và các hợp đồng thầu phụ cho các dự án ở vùng biển phát triển chung Thái-

Malaysia và ở Ấn Độ

Trang 30

Quốc gia Dịch vụ Khu vực, đối tượng

cung cấp dịch vụ

Malaysia

- Thiết kế, chế tạo, xây lắp giàn khoan

- Thiết kế, chế tạo tàu-giàn khoan, phụ kiện

và thiết bị khoan, chế tạo giàn khai thác

nửa chìm, kho nổi FPSO

- Cho thuê tàu khai thác, cho thuê giàn

khoan

- Cung cấp dịch vụ xây lắp đường ống

- Trong nước và ngoài nước với khách hàng chính là các nước Đông Nam Á

- Cho các nhà thầu như Shell, Murphy Oil hoạt động tại nước này

- Các nước Đông Nam

Á

Singapo

- Cho thuê, cải hoán tàu, giàn khoan

- Thiết kế, chế tạo tàu thuyền dịch vụ

- Dịch vụ đóng tàu khá phát triển: thiết kế

và chế tạo tàu thuyền dịch vụ

- Thái Lan, Indonesia

- Cung cấp cho các nước Bắc Âu, chủ yếu là Đan Mạch

(Nguồn WPA- Weekyly Petroleum Agency, UN- Upstream News ,AP)

Tại khu vực châu Á, Petronas của Malaysia tham gia vào nhiều hoạt động

trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí như tìm kiếm thăm dò, khai thác trong khu vực và trên thế giới Các công ty lớn của Malaysia đang mở rộng hoạt động sang châu Phi và Úc sau những thành công ở thị trường nội địa Bước đột phá của nước này là việc cho Tây Phi thuê kho nổi FPSO bên cạnh khách hàng truyền thống là các nước Đông Nam Á Chính phủ Malaysia đang có chiến lược dài hạn phát triển thành đầu mối trung tâm phân phối khí ở Đông Nam Á Singapore chiếm vị trí trung tâm thương mại và trung chuyển tàu thuyền khu vực Nước này có dịch vụ đóng tàu khá phát triển Khu bể chứa dầu dung tích lớn nhất châu Á đặt tại Singapo

và Chính phủ nước này đang cho phép mở rộng để 2008 sẽ có tổng công suất chứa

tăng lên 1,2 triệu thùng Singapo có các xưởng đóng tàu mua lại của các nước khác

như Nantong của Trung Quốc, Bantagas ở Philippin

Chính phủ các nước trong khu vực đang đua ra nhiều chính sách để khuyến khích phát triển các dịch vụ kỹ thuật dầu khí trong nước Tiêu biểu là việc giảm thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ cho dịch vụ tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khi Tại Thái Lan, chính phủ khuyến khích bằng cách giảm thuế từ 15%-0% bắt đầu từ 01/01/2008

Phần lớn các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí của các nước Đông Nam Á có

xu hướng liên doanh liên kết với nước ngoài nhằm duy trì hoạt động Như PT Aldaberta Indonesia là một công ty liên kết với PENSPEN-APA của Anh, Thái Lan

Trang 31

hiện có Thai Nippon Stell là liên doanh giữa Nippon Stell của Nhật và Tập đoàn xây lắp Italthai của Thái Lan Về dịch vụ khoan, các công ty dầu khí của Đông Nam

Á chủ yếu thuê giàn khoan tự nâng từ nước ngoài như Malaysia thuê Transocean, Singapo thuê của Na Uy

Khu vực Châu Âu

Các nước châu Âu không có nhiều mỏ dầu và khí nhưng lại có nhiều kinh nghiệm cung ứng các dịch vụ kỹ thuật dầu khí với đối tác là các nước có trữ lượng dầu khí lớn trên thế giới Các công ty đa quốc gia lớn tại châu Âu như Total, Technip của Pháp, Royal Dutch Shell của Hà Lan, BG Group của Anh… đều có mặt tại các khu vực hoạt động dầu khí sôi động trên thế giới với tư cách là các nhà cung cấp dịch vụ thăm dò khai thác dầu khí và cung cấp dịch vụ khoan và kỹ thuật khoan, thiết kế chế tạo các công trình dầu khí, cung ứng trang thiết bị chuyên ngành

và đặc biệt là dịch vụ tư vấn có trình độ cho các khu vực đang phát triển mạnh về công nghiệp dầu khí như Trung Đông, châu Á và châu Phi

Bảng 1.3: Dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở một số nước châu Âu Quốc gia Lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật Khu vực, đối tượng

cung cấp dịch vụ

Đan Mạch

- Nhà cung ứng dịch vụ lớn trong lĩnh vực dầu khí

- Chuyên cung cấp các dịch vụ về khoan giếng các loại, lắp đặt giàn khoan, giàn khai thác và các block nhà tại mỏ

- Trung Đông, Châu Á

Na Uy - Dịch vụ chính là cho thuê giàn khoan,

Nga

- Chuyên đánh giá đầu tư và nắm bắt các

cơ hội tại Nga và Tây Âu với mục đích cung cấp giấy phép nguồn tài nguyên tự nhiên và điều hành công ty

- Vận chuyển khí qua đường ống, trung chuyển khí, đặc biệt là cho thuê đường ống dẫn khí thông qua hệ thống đường ống của Gazprom

- Các nhà đầu tư châu

Âu

- Trong nước, các khu vực lân cận, châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản

(Nguồn WPA- Weekyly Petroleum Agency, UN- Upstream News ,AP)

Trang 32

Các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở châu Âu có xu hướng hợp nhất các hoạt động để phát triển ở nước ngoài Việc hợp nhất sẽ tạo ra một công ty điều hành lớn tập trung vào khai thác, tăng tính cạnh tranh và phát triển các cơ hội về dầu khí tại nhiều nước trên thế giới Ở châu Á như STTC Group, liên doanh Pháp - Italia chuyên thiết kế, cung ứng và xây lắp bể chứa LNG; tại Qatar, Technip của Pháp và Chiyoda của Nhật liên kết để dịch vụ thiết kế, cung ứng và xây dựng nhà máy khí hóa lỏng LNG tại nước này

Trong khu vực châu Âu, Cộng hòa Liên bang Nga có một vị trí khá quan trọng Nước này là một trong những nước khai thác dầu thô lớn nhất trên thế giới Trên 70% sản lượng dầu thô của Nga được xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài Dịch

vụ dầu khí ở Nga diễn ra khá đa dạng và phức tạp vì nước này có nhiều công ty dầu khí lớn và các công ty đa quốc gia đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực

Các công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí của châu Âu đều có trình độ

về quản lý và công nghệ cao, có uy tín trong các dự án dầu khí trên bờ và ngoài khơi Hầu hết các công ty đều có các chứng chỉ quản lý chất lương quốc tế như International Quality Standards (ISO 9001) và các chứng chỉ quản lý môi trường Environmental Management Standards (ISO 14001) được kiểm định bởi Nhà đăng

ký bảo hiểm chất lượng như LLOYD (LLOYD’s Register Quality Assurance LRQA-UK) để đảm bảo hình ảnh trong cộng đồng công nghệ toàn cầu

Khu vực Châu Mỹ

Tại khu vực châu Mỹ, ngoài Mỹ và Canada có ngành kỹ thuật dầu khí phát triển, có khả năng cung cấp hầu hết các loại hình dịch vụ kỹ thuật cho nhu cầu trong nước Các nước còn lại đa phần đều thuê các dịch vụ từ nước ngoài, từ Mỹ hoặc khu vực châu Á

Mỹ là nước có dịch vụ kỹ thuật dầu khí khá đầy đủ Nước này chuyên cung cấp các dịch vụ như khoan, thiết kế, chế tạo và lắp đặt giàn khai thác, lắp đặt đường ống, bơm áp suất và các dịch vụ kỹ thuật khác cả trên bờ và ngoài khơi cho các khu vực công nghiệp dầu khí trên toàn thế giới

Về khoan và thiết bị khoan, nhu cầu của Mỹ về các sản phẩm và dịch vụ trong khoan dầu và xử lý giếng khoan ngày càng gia tăng Canada là quốc gia có nhiều máy khoan cần cuộn nhất (75 máy), chiếm 20% của toàn thế giới Các công ty dịch vụ khoan biển lớn của Mỹ đang có xu hướng sáp nhập làm một để tăng tính cạnh tranh Vừa qua, 2 công ty dịch vụ là Transocean Inc và GlobalSantaFe Corp sáp nhập thành một công ty dịch vụ khoan biển lớn nhất thế giới với giá trị thị trường là 53 tỷ USD, sở hữu 146 giàn khoan biển di động, có thể khoan ở mọi vùng biển trên khắp thế giới Sự việc này đang thúc đẩy giải pháp hiệu lực của các công

Trang 33

ty dịch vụ, nhất là các công ty khoan biển trong bối cảnh vốn đầu tư cho khu vực tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí tăng mạnh, khách hàng của họ ngày càng nhiều

và phân bố ngày càng rộng về mặt địa lý

Bên cạnh đó, Mỹ còn là nước cung cấp các thiết bị công nghệ dầu mỏ hiện đại như ống cuộn CN (sử dụng trong hoạt động khoan giếng, kích thích giếng, hoàn thiện và sửa chữa giếng), cung cấp công nghệ khoan xiên,… Có đến 60% thị trường ống cuộn trên thế giới được thực hiện bởi 3 công ty Schlumberger, BJ Services và Halliburton

BJ Services là một trong những nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu cho khu vực

Mỹ Latinh, khu vực Trung Đông và Đông Nam Á Công ty này cung cấp các dịch

vụ vận hành thử và kiểm tra phát hiện độ rò rỉ tới các giàn khoan ngoài khơi và các đường ống dẫn Bên cạnh đó, BJ services còn cung cấp dịch vụ hóa chất chuyên ngành phục vụ ngành công nghiệp lọc dầu, hóa dầu tại Mỹ

Trong khi đó, các quốc gia khác ở khu vực Mỹ Latinh lại có xu hướng thuê

các dịch vụ kỹ thuật dầu khí từ nước ngoài (tiêu biểu là Brazil, Venezuela) Brazil

mua giàn khoan và các dịch vụ thiết kế chế tạo cũng như thuê giàn, tàu chở dầu và các thiết bị dầu khí chủ yếu từ nước ngoài Công ty Petrobras của Brazil đang có kế hoạch đặt chế tạo nhiều giàn khai thác cho vùng biển sâu, trong đó chủ yếu là loại giàn có bể chứa kiểu FPSO dạng nửa chìm hình hộp hay dạng tàu biển có công suất khác nhau, thuộc loại giàn cực lớn, có giá trị chế tạo lắp ráp đến hàng tỷ USD Các dịch vụ kỹ thuật dầu khí cho nước này phần lớn do các tập đoàn lớn trên thế giới cung cấp, như tập đoàn ExxonMobil, Chevron, ConocoPhillips, BP, Total và Statoil

Nhu cầu về dịch vụ kỹ thuật của các công ty dầu khí lớn như Petrobras thu hút được sự quan tâm của nhiều công ty đa quốc gia trong lĩnh vực này Về dịch vụ đóng tàu, nước này có nhiều hợp đồng với các xưởng đóng tàu của Singapo và Trung Quốc Giàn khai thác có một phần do trong nước cung cấp, còn lại vẫn phải thuê các công ty châu Âu như SBM Offshore (Monaco), Technip (Pháp)

Tại khu vực vùng vịnh của Mỹ, hệ thống khai thác dầu có bể chứa FPSO và tàu chở dầu con thoi đang là phương án thay thế đường ống đắt đỏ cho các dự án khai thác dầu biển sâu Theo tính toán của công ty tư vấn Wood Mackenzie, cước vận tải dầu bằng tàu chở dầu thấp hơn 30-40% so với vận tải bằng đường ống Điều này khuyến khích các công ty dầu khí châu Mỹ sử dụng tàu con thoi hay đóng giàn

có bể chứa FPSO

Trang 34

Khu vực Trung Đông

Khu vực Trung Đông có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và có nền công nghiệp dầu khí phát triển mạnh nhưng dịch vụ kỹ thuật dầu khí chưa phát triển nhiều Dịch vụ đóng giàn khoan tự nâng là lĩnh vực phát triển nhất ở khu vực Trung Đông do các công ty thuộc Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập cung cấp Khách hàng là các nước châu Phi

Phần lớn các khu vực có trữ lượng dầu khí lớn, khai thác với chi phí thấp đang thuộc độc quyền của các công ty dầu mỏ quốc gia của nước chủ nhà Khu vực này đang cần có một cơ chế, chính sách đầu tư để khai thác có hiệu quả do các công ty quốc gia còn ít kinh nghiệm Sự phong tỏa của Mỹ trong các năm qua khiến các nước này thất bại trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên những công ty dầu khí quốc gia phải xây dựng kế hoạch phát triển các dự án dầu khí để tăng công suất khai thác Tuy nhiên việc thiếu vốn và thiếu thiết bị hiện đại có thể làm chậm trễ các chương trình tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ

Khu vực Châu Phi

Ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở các nước châu Phi có sự đầu tư lớn về tài chính và kỹ thuật từ các công ty nước ngoài Các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia đang nỗ lực cạnh tranh để dành quyền tìm kiếm thăm dò và khai thác với các điều khoản ưu đãi bằng cách xây dựng các cơ sở hạ tầng dầu khí như xây dựng lại tuyến đường sắt nối các cảng biển, tuyến đường ống dẫn khí Trong số các nước đầu tư vào châu lục này thì Malaysia có độ chín hơn

thông qua công ty đa quốc gia Petronas

1.2.2 Dịch vụ tư vấn đầu tư, khoa học công nghệ

Chi phí tăng đang ảnh hưởng xấu tới các dự án dầu khí cốt lõi trong kế hoạch tăng sản lượng của các công ty dầu lớn Các nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ và đổi mới thiết bị là những yếu tố quan trọng góp phần giảm chi phí và đảm bảo chất lượng của dự án

Công nghệ là động lực chính tạo ra sự thay đổi quan hệ của Trung Đông với các công ty dầu quốc tế Nguồn thu kỷ lục hiện nay cho phép hầu hết các nước sản xuất trong khu vực có thể chi trả cho mọi công nghệ mới nhất Các nước trong khu vực này đang tìm kiếm công nghệ tăng thu hồi dầu từ các nước phát triển để khai thác các mỏ dầu nặng Ả Rập Xê Út là một nhà sản xuất dầu lớn trong khu vực đã tự nghiên cứu phát triển công nghệ cho mình Công ty dầu quốc gia Aramco ứng dụng công nghệ “mỏ dầu thông minh” để giảm 10% chi phí phát triển mỏ Sự khác biệt giữa nước này và các nước láng giềng biểu hiện rõ rệt trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển Qatar chọn công ty Total của Pháp là đối tác hợp tác nghiên cứu, trong

Trang 35

khi Ả Rập Xê Út chọn công ty Schlumberger liên kết tham gia trong một trung tâm nghiên cứu mới khai trương ở Dhahran Mỹ với các tập đoàn đa quốc gia lớn như Chevron, ExxonMobil, Shell, BP …cung cấp nhiều công nghệ mới trong thu hồi dầu cho các nước ở Trung Đông và trên thế giới Wood Mackenzie là công ty tư vấn

dầu khí hàng đầu trên thế giới Tiếp đến các quốc gia ở tây Âu như

PENSPEN-APA của Anh chuyên cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ kỹ thuật và tư vấn cho ngành công nghiệp dầu khí trong các dự án cả ngoài biển và trong đất liền

Canada là nước có ngành nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật khai thác dầu khí khá phát triển, đặc biệt là kỹ thuật khai thác dầu nặng, một đặc trưng về loại dầu thô nước này Các quy trình công nghệ khai thác mỏ mới do Canada phát minh được rất nhiều nước trong khu vực châu Mỹ và trên thế giới như Petroleos de Venezuela, Petrobras, Petrochina, Ecopetrol (Colombia), Petroecuador đánh giá cao như công nghệ SAGD (sử dụng hơi nước nóng để khai thác), công nghệ khai thác ISC mới là THAI (Toe-to-heel air injection)

Mặc dù có những nỗ lực để thu hút nhân tài vào khu vực dịch vụ thiết kế chi tiết, đặc biệt là ở châu Á – Thái Bình Dương và Trung Đông, CERA dự báo ít nhất phải mất 5 năm nữa những người mới tuyển dụng mới có thể đạt được kinh nghiệm cần thiết Các nhà phân tích cho rằng dịch vụ thiết kế và quản lý dự án sẽ có thị trường phát triển, lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí biển sâu, khai thác dầu khí ngầm dưới biển và quản lý dự án sẽ có nhu cầu lớn

1.2.3 Dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật dầu khí

Tại các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển như Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Mỹ, Anh, Úc… công tác tổ chức tài liệu, mẫu vật là cả một khoa học rất tỉ mỉ, tinh tế Việc phân loại dữ liệu dược thực hiện theo hệ thống mã số khu vực hoặc quốc tế nên việc liên kết, trao đổi thông tin, cung cấp thông tin liên quốc gia rất thuận lợi Việc xử lý dữ liệu trước khi nhập kho cũng như đưa ra sử dụng theo những trình tự rất nghiêm túc Tên, tóm tắt nội dung, các thông tin về tài liệu, mẫu vật kể cả sơ đồ vị trí nơi cất giữ, số lượng, tình trạng sử dụng… đều được tin học hóa nên việc tìm kiếm dữ liệu thường do người có nhu cầu tự thực hiện theo bảng hướng dẫn dặt ngay tại bảng điều khiển Người cần thông tin chỉ cần đưa yêu cầu về lĩnh vực mình quan tâm là có thể được cung cấp đầy đủ danh sách các tài liệu, mẫu vật có liên quan để chọn lựa Người quản lý kho chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn, tư vấn và giám sát, kiểm tra nên biên chế rất gọn do đó tiết kiệm được nhiều chi phí quản lý hàng năm

Trang 36

1.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường dịch vụ dầu khí trong nước và xuất khẩu

1.3.1 Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường

Thuận lợi

Sự quan tâm đặc biệt và sự ủng hộ thể hiện ở chủ trương, đường lối cũng như

cơ chế chính sách ưu tiên đầu tư phát triển của Nhà nước và Tập đoàn dầu khí, các bộ, ngành liên quan nhằm tạo bước phát triển đột phá trong lĩnh vực dịch vụ ngành Dầu khí

Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, trong lĩnh vực dịch vụ ngành Dầu khí

đã hình thành được một nền tảng cơ sở vật chất tương đối tốt, có khả năng cung ứng đa dạng các loại hình dịch vụ dầu khí Bước đầu đã khẳng định được uy tín và thương hiệu ở một số lĩnh vực dịch vụ đối với các nhà thầu dầu khí trong nước và khu vực

Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển một số loại hình dịch vụ dầu khí: Việt Nam có bờ biển dài, tài nguyên dầu khí chủ yếu tập trung ở thềm lục địa, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các căn cứ và phương tiện dịch vụ (cảng biển, kho nổi, tàu dịch vụ, tàu chuyên chở v.v), các lĩnh vực dịch vụ như tìm kiếm thăm dò, khoan và

kỹ thuật khoan, thu gom, vận chuyển v.v

Nhu cầu dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí dự báo tiếp tục tăng do ngành Dầu khí chủ trương đẩy mạnh hoạt động ở tất cả các khâu không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Tổng chi phí cho các loại hình dịch vụ dự báo trên 3 tỷ USD mỗi năm (năm 2009 trên 4 tỷ USD) Đây là cơ hội để phát triển các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí của các đơn vị dịch vụ trong nước

Khó khăn

Cạnh tranh ngày càng khốc liệt: với sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt khi đã trở thành thành viên của WTO (năm 2007), Việt Nam sẽ phải mở cửa cho các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế vào hoạt động, trong đó có các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí Đây sẽ là thách thức đối với các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí trong nước khi đối thủ cạnh tranh là những nhà dịch vụ chuyên nghiệp, vượt trội về năng lực và trình độ kỹ thuật, công nghệ

Ngoài Singapore, là nước cung cấp dịch vụ dầu khí lớn nhất trong khu vực từ trước đến nay, Trung Quốc cũng đang hình thành căn cứ dịch vụ dầu khí Bột Hải – Nam Trung Quốc với mục tiêu đáp ứng tất cả các nhu cầu dịch vụ dầu khí trong khu vực biển Nam Trung Hoa Các nước khác như Malaysia, Thai Lan, Indonêxia một mặt tiếp tục hoàn chỉnh chính sách bảo hộ, hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí

Trang 37

trong nước, mặt khác cũng đang tận dụng các cơ hội ( cùng là thành viên của AFTA, WTO), để cung cấp dịch vụ dầu khí vào Việt Nam

Yêu cầu về mức độ phức tạp và tính chuyên nghiệp ngày càng cao: điều kiện tìm kiếm thăm dò, khai thác ngày càng khó khăn, phức tạp đặt ra yêu cầu cho dịch

vụ kỹ thuật dầu khí những thách thức mới, đòi hỏi phải áp dụng công nghệ cao, hiện đại, chất lượng dịch vụ phải đạt chuẩn quốc tế Trong bối cảnh các đơn vị dịch vụ

kỹ thuật dầu khí trong nước chưa phát triển mạnh, trình độ còn thấp so với khu vực

và thế giới thì đây sẽ là một khó khăn không nhỏ trong việc cạnh tranh cung ứng dịch vụ

Cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã và đang tác động xấu đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nói chung và lĩnh vực dịch vụ dầu khí nói riêng Giá dầu thô diễn biến bất thường ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động dầu khí Việc dự báo nhu cầu dịch vụ dầu khí sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây khó khăn cho việc định hướng đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ

1.3.2 Khả năng cạnh tranh chiếm lính thị trường dịch vụ dầu khí trong nước

và xuất khẩu

1.3.2.1 Về khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường dịch vụ trong nước

Qua phân tích đánh giá hiện trạng lĩnh vực dịch vụ dầu khí Việt Nam, xu thế phát triển của dịch vụ dầu khí thế giới, tác động khi gia nhập WTO, thuận lợi và khó khăn trong việc cạnh tranh thị trường dịch vụ kỹ thuật dầu khí, có thể thấy khả năng chiếm lĩnh thị trường của các đơn vị dịch vụ Việt Nam trong giai đoạn tới như sau:

Lĩnh vực dịch vụ có thể chiếm lĩnh 100% thị trường trong nước:

Nhóm dịch vụ kỹ thuật: dịch vụ cho thuê hạ tầng kỹ thuật; tàu dịch vụ; dịch

vụ ứng cứu sự cố tràn dầu; dịch vụ thu dọn và tháo dỡ công trình dầu khí; dịch vụ khảo sát địa chất công trình; dịch vụ thiết kế, xây lắp các công trình dầu khí biển

Nhóm dịch vụ vận tải dầu khí: vận tải dầu thô, sản phẩm dầu, khí và sản phẩm hóa dầu v.v

Nhóm dịch vụ vận hành bảo dưỡng (O&M): các nhà máy điện, đạm, lọc hóa dầu, các công trình khí, các trang thiết bị dầu khí

Nhóm dịch vụ về thông tin khoa học kỹ thuật: Cung cấp mẫu vật, cung cấp

cơ sở dữ liệu dầu khí

Nhóm dịch vụ khác: phân tích mẫu, nghiên cứu địa chất địa vật lý, đào tạo và cung ứng lao động, bảo hiểm dầu khí, thương mại dầu khí v.v

Trang 38

Lĩnh vực dịch vụ chỉ chiếm lĩnh được một phần thị trường trong nước:

Dịch vụ kỹ thuật: dịch vụ khảo sát địa chấn, dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ thiết kế, chế tạo xây lắp các công trình chế biến lọc hóa dầu, chế biến khí

Dịch vụ vận hành bảo dưỡng (O&M): các giàn khai thác dầu và khí

Nhóm dịch vụ khác: nghiên cứu minh giải, tính toán trữ lượng dầu khí, tư vấn, thẩm định các dự án lớn, đào tạo và cung ứng chuyên gia, thu xếp vốn v.v

1.3.2.2 Về khả năng cạnh tranh xuất khẩu dịch vụ kỹ thuật dầu khí

Hiện tại các đơn vị dịch vụ của Việt Nam đã bước đầu thâm nhập vào thị trường dịch vụ dầu khí khu vực và thế giới PV Trans đã tham gia vận tải dầu thô cho các nhà máy lọc dầu của Úc, Trung Quốc , PTSC thâm nhập thành công thị trường Malaysia với Dự án chế tạo các cấu kiện gồm khối nhà ở 48 người và các cầu dẫn cho Talisman…, Ngoài ra các đội tàu vận tải viễn dương cũng tham gia vận tải xăng dầu cho các nước trong khu vực Tuy nhiên năng lực và thị phần của các đơn vị dịch vụ Việt Nam còn rất khiêm tốn

Đối với dịch vụ thông tin khoa học kỹ thuật Dầu khí thì khả năng bị cạnh tranh hiện nay là không nhiều Tuy nhiên, theo định hướng phát triển của Tập đoàn

là mở rộng công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ra thế giới do đó trung tâm lưu trữ cũng cần phải quan tâm mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế nhằm khẳng định vị thế của mình đối với ngành công nghiệp Dầu khí nói chung và đối với các hoạt động dịch vụ khác của ngành Dầu khí

Nhận xét:

Ngành dịch vụ dầu khí của Việt Nam chưa phát triển mạnh, trình độ còn thấp

so với khu vực và thế giới Do vậy, các hoạt động dịch vụ còn hạn chế cả về quy

mô, trình độ, chất lượng và chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu dịch vụ dầu khí trong nước Để có thể cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường trong nước, từng bước

mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới trong bối cảnh nước nước ta đã gia nhập WTO, các đơn vị dịch vụ dầu khí trong nước cần phải có kế hoạch cụ thể nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết về đầu tư cơ sở vật chất, trong thiết bị, nhân lực.v.v để có thể hội nhập thành công Bên cạnh đó, sự ủng hộ và hỗ trợ của Nhà nước và Tập đoàn dầu khí, các bộ ngành liên quan về cơ chế hoạt động, chính sách

ưu đãi thuế, vốn đầu tư là rất cần thiết, góp phần đảm bảo cho các đơn vị dịch vụ trong nước có thể đứng vững và phát triển khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường dịch vụ này ( sau năm 2012)

Trang 39

Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh dầu khí, lĩnh vực hoạt động dịch vụ dầu khí cũng được hình thành và phát triển theo, như là một hậu quả tất yếu của qui luật cung cầu của một nền kinh tế thị trường Từ những hoạt động dịch vụ đơn lẻ mang tính tự cung tự cấp trước đây, đến nay trong nước đã hình thành những đơn vị dịch vụ chuyên sâu với cơ sở vật chất tương đối đồng bộ và hiện đại Đã hình thành được một số lĩnh vực dịch vụ thế mạnh như dịch vụ hạ tầng

cơ sở và phương tiện kỹ thuật như cầu cảng, tàu dịch vụ…và có khả năng cung ứng nhiều loại hình dịch vụ kỹ thuật với chất lượng cao mà trước đây phải đi thuê nước ngoài như dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ cơ khí đóng mới các phương tiện dầu khí, thiết kế chế tạo đường ống, bể chứa v.v

Công tác đầu tư và phát triển lĩnh vực dịch vụ ngành Dầu khí đã được Nhà nước, các ngành các cấp chú trọng và có những bước chuyển biến tích cực, đặc biệt

là trong những năm gần đây Hệ thống tổ chức quản lý hoạt động dịch vụ được cải tiến hàng năm theo hướng gọn nhẹ, linh hoạt và tập trung, đáp ứng kịp thời nhu cầu của nhà sản xuất kinh doanh, chất lượng dịch vụ được cải thiện, phong cách dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn

Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động dịch vụ dầu khí vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục Chiến lược cho phát triển dài hạn một số lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí chưa được quan tâm Công tác đầu tư còn chưa hợp lý, dàn trải, thủ tục phức tạp, nhiều hạng mục đầu tư còn chậm, đầu tư không đúng trọng tâm, tỷ lệ thuê ngoài khá lớn gây lãng phí Chưa phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ giữa các đơn vị dịch vụ dẫn đến hoạt động chồng chéo, gây cạnh tranh nội

bộ, làm phân tán nguồn lực Chất lượng dịch vụ của nhiều đơn vị chưa cao, thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả kinh tế còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển

Các đơn vị dịch vụ dầu khí trong nước chiếm thị phần lớn trong các loại hình dịch vụ dầu khí không quá phức tạp, có lợi thế về mặt tự nhiên như: dịch vụ cho thuê căn cứ, thuê phương tiện hạ tầng kỹ thuật, tầu dịch vụ, dịch vụ khảo sát địa chất, khảo sát công trình ngầm, chế tạo và lắp đặt cấu kiện chân đế, thiết kế chế tạo

và xây lắp đường ống, bồn bể chứa, dịch vụ vận hành bảo dưỡng các công trình

Trang 40

biển … Đối với các loại hình dịch vụ kỹ thuật cao, phức tạp thì chỉ chiếm thị phần nhỏ như: dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ thiết kế chế tạo cấu kiện phức tạp như giàn khoan, tầu dịch vụ… Ngoài ra một số dịch vụ kỹ thuật trong nước chưa có khả năng thực hiện, phải đi thuê nước ngoài như dịch vụ thu nổ địa chấn, thiết kế, chế tạo các công trình chế biến dầu khí, các phương tiện, thiết bị phức tạp phục vụ thăm dò khai thác dầu khí…

Lĩnh vực dịch vụ dầu khí đang đứng trước những thuận lợi lớn Một mặt là

sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, của ngành Dầu khí và các ngành liên quan, thể hiện qua các chủ trương chính sách ưu tiên đầu tư phát triển Mặt khác, nhu cầu thị trường dịch vụ còn rất lớn do sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dầu khí Đây sẽ là cơ hội để các đơn vị dịch vụ dầu khí trong nước tận dụng để tăng tốc phát triển

Tuy nhiên, lĩnh vực dịch vụ dầu khí cũng đang đối mặt với không ít khó khăn thách thức Trước hết là năng lực của đa số các đơn vị dịch vụ còn hạn chế cả

về quản lý, tổ chức, quy mô, trình độ, phương tiện và chất lượng dịch vụ Chưa có đơn vị nào đủ mạnh, chuyên sâu về một lĩnh vực dịch vụ cụ thể, đủ sức đảm đương các loại hình dịch vụ phức tạp, đòi hỏi công nghệ cao Ngoài ra, với xu thế hội nhập kinh tế thế giới phát triển manh mẽ như hiện nay, nước ta đã tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế (AFTA, WTO, OPEC ) thì các đơn vị dịch vụ trong nước

sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt ngay trên thị trường trong nước, đặc biệt

là sau năm 2012, khi nước ta thực hiện các cam kết của WTO về mở cửa thị trường dịch vụ dầu khí Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu dầu khí đã được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phê duyệt và đước Trung tâm Thông tin Tư liệu Dầu khí (tiền thân của trung tâm Lưu trữ Dầu khí) tổ chức thực hiện gần 10 năm nhưng vẫn chưa hoàn thành mà mới chỉ dừng ở mức chạy thử, chưa đáp ứng được yêu cầu do tập đoàn đặt

ra do đó ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh và uy tín của trung tâm Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đúng mức của Tập đoàn, bên cạnh đó là trình độ cán bộ của trung tâm còn yếu nên chưa đáp ứng được đòi hỏi chuyên môn cao của dự án

Vì vậy, để có thể phát triển bền vững lĩnh vực dịch vụ dầu khí, tăng sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, các đơn vị dịch vụ dầu khí trong nước cần phải có kế hoạch cụ thể nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết về đầu tư cơ sở vật chất, trong thiết bị, nhân lực, tận dụng tối đa các yếu tố tự nhiên sẵn có Bên cạnh đó, sự ủng

hộ và hỗ trợ của Nhà nước và các Bộ, Ngành liên quan về các chính sách bảo hộ dịch vụ trong nước, chính sách đầu tư, thu hút vốn, ưu đãi thuế… là hết sức cần

Ngày đăng: 22/05/2021, 15:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w