UBND TỈNH THANH HÓASỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TRÒ CHƠI VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUẢ CHỦ ĐỀ KÍ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
Trang 1UBND TỈNH THANH HÓA
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG TRÒ CHƠI VÀ SƠ ĐỒ TƯ DUY
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUẢ CHỦ ĐỀ
KÍ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
Người thực hiện: Trương Thị Hiền Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trung tâm GDNN-GDTX Hoằng Hóa SKKN thuộc bộ môn (lĩnh vực): Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2021
Trang 22.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 72.3.1 Giải pháp 1: Xác định mục tiêu năng lực cụ thể cho bài học 72.3.2 Giải pháp 2: Thiết kế trò chơi qua các sản phẩm học tập và trải
nghiệm trước tiết học (hoạt động chuẩn bị bài)
2.3.5 Giải pháp 5: Vận dụng trò chơi qua việc huy động kiến thức liên
môn đa dạng từ nhiều lĩnh vực trong hình thành kiến thức, năng lực
12
2.3.6 Giải pháp 6: Vận dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động luyện tập,
vận dụng
13
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
16
2.4.1 Nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục 16
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Hỉnh ảnh, tranh vẽ của học sinh
Phụ lục 2: Giáo án thực nghiệm
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là nguyên tắc và làđòi hỏi của dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Bên cạnh thơtrữ tình với thế giới của cảm xúc, suy tư, thể truyện với bức tranh đời sống, conngười trọn vẹn, kịch với những xung đột và hành động hấp dẫn thì văn bản kínhư sự gặp gỡ giữa văn xuôi và thơ cùng báo chí, chủ thể trữ tình có vai trò khá
rõ rệt bên cạnh sự ghi chép cảnh vật, tái hiện con người và văn hóa Thực tiễndạy học kí gần đây đã cho thấy những hiểu biết chưa đầy đủ về thể tài ở học sinh
về kí, sự theo đuổi lượng kiến thức phong phú trong văn bản kí đầy hấp dẫn ởgiáo viên có thể khiến cho bài học quá tải, mất đi ít nhiều hứng thú của học sinh
Có rất nhiều khó khăn để các văn bản kí hiện đại trong chương trình sách giáokhoa Ngữ văn 12 đến với sự tiếp nhận tự nhiên của học sinh song phải đáp ứngyêu cầu của dạy học tiếp cận năng lực Những trang viết của Nguyễn Tuân vàHoàng Phủ Ngọc Tường giàu nghệ thuật và tươi mới chất sống càng phải đượcdạy và học với sự tổ chức dạy học chủ động, đa dạng, phát huy tất cả phẩm chất
và năng lực học sinh
Phù hợp thực tiễn dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực, ngày
27/08/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn 3280/BGDĐT-GDTrH
về điều chỉnh nội dung dạy học THCS, THPT, văn bản hướng dẫn xây dựng
thành một chủ đề tích hợp với 04 bài học:Người lái đò sông Đà (trích, Nguyễn Tuân); Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích, Hoàng Phủ Ngọc Tường); Luyện tập
vận dụng các phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận; Luyện tập vận dụngkết hợp các thao tác lập luận Đó là căn cứ cơ sở để các tổ chuyên môn xây dựngchủ đề dạy học tích hợp và hướng dẫn giáo viên thực hiện các hoạt động dạy họctheo định hướng tiếp cận năng lực học sinh Để thực hiện thành công dạy họcchủ đề này, GV cần tổ chức dạy học với các kĩ thuật, phương pháp dạy học tíchcực nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh Hấp dẫn nhất với các văn bảngiàu kiến thức văn hóa, địa lí thực tiễn chính là dạy học thông qua các trò chơi
và sơ đồ tư duy Các hình thức này sẽ giúp học sinh mở rộng hình thức ghi chép,ghi nhớ kiến thức, tăng cường các năng lực qua việc tự học nhất là năng lực giaotiếp và thẩm mĩ
Hiện đã có một số kinh nghiệm từ đồng nghiệp bàn về dạy học kí hiệnđại, song chưa có giải pháp cụ thể đối với chủ đề kí sau văn bản điều chỉnh dạy
học cũng như việc vận dụng hai hình thức: Vận dụng trò chơi và sơ đồ tư duy
nhằm phát triển năng lực học sinh qua chủ đề kí hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12 với học sinh trung tâm GDNN-GDTX Hoằng Hóa Bản thân tôi hi
vọng qua tổ chức các trò chơi và sơ đồ tư duy, nâng cao mức độ tích cực, chủđộng học tập của học sinh cuối cấp với môn học Ngữ văn, giúp các em tự học,
tự ôn tập qua nhiều hình thức sáng tạo Đó cũng chính là cách để đạt mục tiêugiáo dục năng lực và phẩm chất, để các trang viết kí đọng lại mãi nơi tình yêu và
ấn tượng sâu sắc vào cuộc sống của học trò
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Nghiên cứu đề tài để góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thúhọc tập bộ môn Ngữ văn với học sinh cuối cấp; nhằm giáo dục các năng lực: tựhọc, giải quyết vấn đề, sáng tạo thẩm mĩ
Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn,mạnh dạn thử nghiệm, đổi mới phương pháp dạy học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là học sinh lớp 12 trung tâm GDNN-GDTX Hoằng Hóa với sĩ
số là 87 học sinh (lớp 12A6: 47, lớp 12A7: 40), bên cạnh đó là nghiên cứu giờdạy, giải pháp có hiệu quả từ các lớp học cùng khối 12 của đồng nghiệp dạy bộmôn Ngữ văn tại nhà trường, thực tiễn dạy và học môn Ngữ văn ở một số Trungtâm GDNN-GDTX tỉnh Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo tài liệu và nội dung chương trình - SGK môn học để tìm ranhững kiến thức cơ bản phục vụ cho việc viết đề tài và áp dụng đề tài vào trongquá trình giảng dạy
Điều tra khả năng và hứng thú học tập của học sinh với các giải pháptrước và sau khi áp dụng
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Lý luận về dạy học phát triển năng lực
Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể
nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xãhội …và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm
và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt (WEINERT 2001)
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành
động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hộihay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹxảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động
Cấu trúc năng lực:Năng lực chuyên môn; Năng lực phương pháp; Nănglực xã hội; Năng lực cá thể …
Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến:
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
- Năng lực tạo lập và tiếp nhận văn bản (năng lực thưởng thức vănhọc/cảm thụ thẩm mĩ)…
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là chuyển mạnh quá trình
giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực vàphẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dụcnhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Chương trình giáo dục định hướng năng lực dạy học định hướng kết quảđầu ra nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Với rất nhiều những đích
Trang 5hướng tới của năng lực, năng lực hợp tác được xem là năng lực tố chất quantrọng trong dạy học hiện đại cần có trong dạy và học hiện nay Trong số cáchình thức dạy học phát triển năng lực thì hình thức hoạt động nhóm được xem làcách thức tổ chức phát huy năng lực hợp tác hiệu quả nhất Bên cạnh đó là cácphương pháp như: trò chơi, học theo dự án, sơ đồ tư duy…
Để đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực, giáo viên cần chú
ý hình thành cho học sinh phương pháp tự học, từ phương pháp tiếp cận,phương pháp đọc hiểu đến cách thức tạo lập văn bản và nghe-nói; thực hành,luyện tập và vận dụng nhiều kiểu loại văn bản khác nhau để các em có khảnăng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chứccác hoạt động học tập cho học sinh; hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ học sinh đểcác em từng bước hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực màchương trình giáo dục mong đợi
Để khuyến khích học sinh trao đổi và tranh luận, đặt câu hỏi cho mình vàcho người khác khi đọc, viết, nói và nghe, giáo viên cần thiết kế các hoạt độnghọc tích cực để thu hút sự tham gia chủ động của học sinh, tạo tâm lí hứng thú.Qua nghiên cứu phương pháp thì việc thực hiện các trò chơi trong dạy học, cáchình thức của tranh vẽ, sơ đồ tư duy có khả năng kích thích sự hứng thú và pháthuy các năng lực của học sinh tốt nhất Học sinh có thể thể hiện bản thân, sángtạo thẩm mĩ, trình bày vấn đề, hợp tác nhóm thông qua các hình thức hoạt độngnày [12]
2.1.2 Trò chơi trong hoạt động học tập
*Khái niệm:Trò chơi là hoạt động rất quen thuộc gần gũi với con người.
Bất cứ ai trong cuộc đời cũng từng tham gia các trò chơi "Trò chơi là con đường
để trẻ nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi" Cũng như lao động, học tập, trò chơi là một loại hình hoạt động
sống của con người Trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định, cónhững quy chế nhất định mà ngư ời chơi phải tuân thủ
Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh, dùkhông còn là hoạt động chủ đạo song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọngtrong hoạt động sống của mỗi người, vẫn có một ý nghĩa lớn lao với học trò Lýluận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho học trò vui chơi mộtcách hợp lý, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Qua trò chơi các emkhông những được phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hìnhthành nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức Chính vì vậy tổ chức trò chơi được
sử dụng như là một phương pháp quan trọng để giáo dục hành vi đạo đức chohọc sinh Hoạt động trò chơi thúc đẩy học sinh về: Nhận thức hiện thực, hìnhthành những nhận thức nhất định về hành vi, tiếp nhận những quy tắc và quyluật của sinh hoạt xã hội, hình thành năng lực quan sát và đánh giá có phê phánnhững cử chỉ của người khác cũng như đặt nền móng cho những niềm tin và thóiquen, việc tổ chức trò chơi trong các giờ học sẽ có tác dụng to lớn trong việcgiúp học sinh hình thành các biểu tượng, chuẩn mực đạo đức cũng như rèn luyện
kỹ năng thể hiện hành vi, giáo dục kĩ năng sống cho các em
*Cách lựa chọn, tổ chức trò chơi:
Trang 6Xây dựng kế hoạch dạy học có hình thức trò chơi
Trong giờ học Ngữ văn với đặc trưng của môn học người giáo viên cóthể tổ chức trò chơi vào bất cứ lúc nào, tuỳ từng nội dung bài học có thể là khởiđộng, giới thiệu bài, có thể để học sinh tìm hiểu bài, phát hiện nội dung bài họchoặc có thể để củng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh Tuy nhiên thường thìchúng ta lựa chọn, tổ chức trò chơi ở cuối giờ, phần củng cố bài học Sau khihọc sinh đã nỗ lực tự giác giải quyết các nhiệm vụ của bài học, nếu giáo viênchuyển sang một hình thức học tập mới (trò chơi) thì các em sẽ được chuyển từtrạng thái "căng thẳng" sang một trạng thái "hưng phấn" phù hợp với đặc điểmtâm sinh lý của trẻ
*Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong dạy học:
Phải đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với chủ đề bài học và đối tượng kiến thức, với hoàn cảnh, điều kiện của lớp học Đảm bảo yêu cầu phổ cập,
nghĩa là trò chơi phù hợp với năng lực và trình độ của mọi học sinh với sức khoẻcủa các em Bởi vì, nếu trò chơi quá khó thì học sinh sẽ không thể thực hiệnđược; còn nếu quá đơn giản thì học sinh sẽ nhàm chán, không muốn chơi, nếu tổchức vào tiết 5 khi học sinh mệt mỏi thì hiệu quả cũng không cao
Bảo đảm cho học sinh hiểu rõ yêu cầu, nội dung và cách thức tổ chức trò chơi Yêu cầu đối với trò chơi có tác dụng định hướng đối với toàn bộ quá
trình tổ chức trò chơi, nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của bài học Nội dungtrò chơi giúp cho học sinh biết cần làm những gì và cách thức tổ chức trò chơigiúp cho học sinh cần phải làm như thế nào trong khi chơi Vì vậy trước khi tổchức trò chơi yêu cầu giải thích rõ ràng những nội dung cần đạt, cách thức hoạtđộng cần thực hiện Bởi nếu không thì các em sẽ tiến hành chơi một cách vô ýthức, tuỳ tiện và không thu được kết quả giáo dục mong muốn
Bảo đảm phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh trong quá trình tổ chức chơi
Giáo viên chọn và hướng dẫn trò chơi, còn học sinh tự tổ chức trò chơi Giáo viên chọn trò chơi, còn học sinh tự nghiên cứu và tự tổ chức tròchơi
Học sinh tự chọn, tự hướng dẫn và tổ chức trò chơi
Đảm bảo tổ chức trò chơi được tự nhiên, không gò ép Khi tổ chức
các trò chơi tôi thường giúp học sinh tham gia một cách tự nhiên không gò ép,thường là các em nhập vai thành công Nhờ sự nhập vai thành công này, các emđược vui chơi thoải mái, dễ dàng thể nghiệm
Bảo đảm luân phiên các trò chơi một cách hợp lý: Không nên tổ chức
một trò chơi quá dài, quá nhiều lần mà căn cứ vào yêu cầu giáo dục của từng bàihọc, căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh để lựa chọn trò chơi thíchhợp, để có thể luân phiên nhau giúp học sinh chuyển hướng chú ý và hứng thúmột cách hợp lý
Bảo đảm tổ chức trò chơi với tinh thần thi đua đồng đội Trong khi tổ
chức cho học sinh chơi các trò chơi có tính chất đồng đội(thi đua theo nhóm)cần luôn quan tâm đến yếu tố thi đua có chuẩn và thang đánh giá thành tích của
cá nhân cũng như thành tích chung của nhóm
Trang 7*Thiết kế đồ dùng, thiết bị phục vụ cho trò chơi.
Các đồ dùng thiết bị phục vụ cho trò chơi phải đảm bảo các nguyên tắcsau:
Tiện dụng (dễ sử dụng)
Dễ làm (ai cũng có thể làm được, làm nhanh)
Rõ ràng, đẹp mắt, nổi bật nội dung trò chơi
Tiết kiệm (sử dụng được nhiều lần, làm bằng các vật liệu dễ kiếm,
rẻ tiền )
2.1.3 Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Kĩ thuật sơ đồ tư duy hay còn gọi Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind
Map) là kĩ thuật dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tựhọc nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề haymột mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh,đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng
sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, học sinh có thể
vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng nhữngmàu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau Có thể sử dụng
sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức, ôn tập, khái quát, kiểm tra đánh giá…
Tạo sơ đồ tư duy bằng các ứng dụng Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin đã tham gia tích cực vào quá trình dạy học, đặc biệt
là việc ứng dụng các phần mềm của nó vào việc tạo lập các sơ đồ và hệ thốngkiến thức rất trực quan, sinh động
Trước hết chúng ta có các phần mềm giúp chúng ta tạo lập các sơ đồ và
hệ thống rất hữu ích như: Word, Excel, Photoshop, MindMapper 8.0Professional, MindManager, ConceptDraw, Mindmap 5 Professional…khoảngvài chục chương trình hỗ trợ chúng ta vẽ sơ đồ bằng công nghệ thông tin từ đơngiản đến phức tạp Bên cạnh đó chúng ta có thể vận dụng luôn các mô hình sẵn
có chỉ việc chèn Text Box Các chương trình này hầu hết đều tải được miễn phí,
sử dụng đơn giản với giáo viên, khi sử dụng trên lớp tiết kiệm thời gian, có thểcho chạy từng phần, mục, ý theo ý tưởng thiết kế tương ứng với từng phần bàihọc
Sơ đồ tư duy vẽ thủ công
Nếu không sử dụng phần mềm để tạo sơ đồ tư duy, giáo viên và học sinhvẫn có thể tạo các sơ đồ tư duy ngay tại lớp hoăch ở nhà, cá nhân hay theo nhómbằng các dụng cụ dễ tìm: Giấy A0, Bút chì, bút màu, thước kẻ, một số tranh, ảnh
có sẵn
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Nếu có sẵnhình ảnh có thể dán ngay vào Hình ảnh có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúpchúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình Sau đó có thể bổ sung từ ngữvào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hìnhảnh
Trang 8+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấntượng sâu sắc về chủ đề.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làmnổi bật
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thểđược vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻcong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng tathay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
- Bước 4: Giáo viên có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan
trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1.Thuận lợi
Công tác dạy và học bộ môn Ngữ văn ở trung tâm GDNN-GDTX HoằngHóa luôn được BGĐ quan tâm, chú trọng tạo mọi điều kiện tốt nhất để HS họctập và ôn thi THPT QG Môi trường học tập tích cực, thân thiện, luôn kích thích
GV và HS tìm tòi, sáng tạo Nhà trường và tổ bộ môn được chú trọng đến côngtác đổi mới phương pháp dạy và học, thường xuyên trao đổi 2 lần/tháng về cáchthức tổ chức, nghiên cứu bài học Với những bài học của các tác giả lớn và vănbản trọng tâm ôn thi luôn được tổ chuyên môn chú trọng tổ chức thảo luận,nghiên cứu và học tập
Về phía học sinh: HS chăm lo cho học tập, chú ý đến các tác phẩm vănchương là trọng tâm kiến thức trong đó có 2 văn bản kí của Nguyễn Tuân vàHoàng Phủ Ngọc Tường HS cũng hào hứng tham gia các hoạt động học tập tíchcực, sưu tầm tài liệu, sẵn sàng thực hiện các trò chơi hứng thú nên giờ học Ngữvăn luôn sinh động, hấp dẫn Học sinh khá yêu thích phong cách văn chương tàihoa độc đáo của hai tác giả
2.2.2 Khó khăn
Để thiết kế tổ chức dạy học một văn bản nghệ thuật độc đáo của NguyễnTuân hay Hoàng Phủ Ngọc Tường thì GV phải có kiến thức lý luận chắc, có
Trang 9năng lực tổ chức dạy học và khả năng thiết kế, ứng dụng các thiết bị dạy họcsinh động để sưu tầm, chỉnh sửa các thông tin địa lí, lịch sử về sông Đà, sôngHương, làm video Song không phải GV nào cũng có đủ năng lực đảm bảo vừathiết kế một giờ học bám sát đặc trưng phong cách tác giả lại vừa sinh động, hấpdẫn.
Về phía chương trình dạy học, chủ đề được thiết kế trong 06 tiết học vớidung lượng kiến thức khá nhiều và phong phú Với tâm lí xác định đây là cácvăn bản trọng tâm nên kiến thức về mọi yếu tố nội dung và nghệ thuật tác phẩmđều phải đảm bảo cũng tạo áp lực cho việc lựa chọn kiến thức với tổ chức cáchoạt động học
Học sinh còn lười đọc văn bản, nhất là những văn bản dài, hơn nữa lạithuộc thể tùy bút, bút kí (không thể tóm tắt như truyện ngắn hay kịch) Nhữnghọc sinh khối tự nhiên hầu hết không hứng thú với những bài học dài, đòi hỏihọc và ghi nhớ nhiều kiến thức Học sinh có thói quen học văn mẫu, chép vănmẫu nên không chủ động định hướng cách học Việc học đóng khung trong ghichép vào vở chưa thu hút được sự hứng thú đa chiều của học sinh
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giải pháp 1: Xác định mục tiêu năng lực cụ thể cho bài học
Từ khâu thiết kế hoạt động dạy học, tôi xác định mục tiêu về năng lực:
Năng lực được giáo dục Địa chỉ cụ thể
Hoạt động/đơn vị KT Năng lực giải quyết vấn đề (giải quyết
các câu hỏi chuẩn bị bài, thực hiện các
nhiệm vụ, yêu cầu học tập mà giáo viên
định hướng)
- Hoàn thiện phiếu học tập
- Tìm các thông tin về dòng sông Đà,sông Hương qua vị trí địa lí, văn hóa,lịch sử
- Vì sao văn bản có nhan đề như vậy?
Năng lực tự học, tự khám phá tri thức,
thu thập thông tin: chủ động tham gia,
tiếp cận kiến thức, hình thành kỹ năng
đọc hiểu văn bản, cảm nhận văn học…
- Đọc và nghiên cứu văn bản, ghi nhớcác thông tin
- Đánh dấu các hình ảnh, chi tiết đểnghiên cứu, lí giải
- Tóm tắt nội dung đọc hiểu bằng sơ
đồ tư duy
Năng lực hợp tác (phối hợp với các
thành viên trong lớp qua hoạt động
nhóm để giải quyết các câu hỏi, bài tập
khó, sưu tầm tài liệu…)
- Hoạt động nhóm ở phần 2
- Phối hợp để chơi các trò chơi cầntrợ giúp nhóm
Năng lực sáng tạo: Đưa ra những ý
tưởng, phát hiện mới mẻ khi GV yêu
cầu đánh giá bài học, khi vẽ sơ đồ tổng
kết bài học
- HĐ đọc sáng tạo
- HĐ đánh giá, nhận xét về hìnhtượng
Năng lực tự quản bản thân: Tự đánh
giá, điều chỉnh hành động phù hợp với
những tình huống mới HS cần biết xác
định các kế hoạch hành động cho cá
- Thực hiện các nhiệm vụ HT ở nhà:Hoàn thành phiếu HT, sơ đồ tư duytóm tắt bài học, dòng chảy con sôngtrên bức tranh đất nước
Trang 10nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch
để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết
những tác động của ngoại cảnh đến việc
tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng
của cá nhân để khai thác, phát huy
những yếu tố tích cực, hạn chế những
yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các
hành vi đúng đắn, cần thiết trong những
tình huống của cuộc sống
Năng lực giao tiếp tiếng Việt: biết đọc
sáng tạo văn bản, biết trình bày suy
nghĩ, quan điểm của bản thân về nội
dung kiến thức được tìm hiểu; biết trao
đổi thảo luận với giáo viên, bạn bè
- Hoạt động đọc; chơi trò chơi; phảnbiện, thuyết trình qua việc tham giacác HĐ học
- Các HĐ báo cáo sản phẩm học tập
Năng lực thưởng thức văn học/cảm
thụ thẩm mĩ : Biết nhận diện, thưởng
thức và đánh giá cái đẹp trong văn học
và cuộc sống, biết làm chủ cuộc sống,
biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết
hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện
- Cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận ra
những giá trị thẩm mĩ trong văn học,
biết rung cảm, hướng thiện
- HĐ đọc hiểu, cảm nhận theo đặctrưng thể loại
- Các HĐ tập thuyết minh, bình thơ,giải thích từ ngữ, hình ảnh thơ
- HĐ vẽ tranh/sơ đồ tư duy về vẻ đẹpcủa những dòng sông
2.3.2 Giải pháp 2: Thiết kế trò chơi qua các sản phẩm học tập và trải nghiệm trước tiết học (hoạt động chuẩn bị bài)
* Mục tiêu và tác dụng:
- Giúp học sinh chủ động nhớ lại, học tập những đặc điểm phong cách nghệthuật Nguyễn Tuân đã học ở truyện ngắn Chữ người tử tù, từ những đặc điểm ấy
mà soi vào việc học tập tác phẩm
- Học sinh tự tìm hiểu các kiến thức địa lí, văn hóa, lịch sử của dòng sôngHương và ghi lại, chỉnh sửa theo cảm hứng và sở thích
Câu 3: Tên tập tùy bút của Nguyễn Tuân? (6 chữ cái) Sông Đà
Câu 4: Câu thơ này nhắc đến dòng sông nào?
“Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”- Thu Bồn - (9 chữ cái) – SôngHương
Trang 11Câu 5: Câu thơ “Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ” – Nguyễn Bính nhắc đến cầu nào? (9chữ cái) – Tràng Tiền
Từ chìa khóa: Giang
TRÒ CHƠI: AI NHANH HƠN
- GV chia lớp thành 6 hàng tương ứng 6 ô kẻ trên bảng, mỗi hàng được
phát một viên phấn Khi bắt đầu tính thời gian, GV đọc câu hỏi: Kể tên những tác phẩm thuộc thể kí Việt Nam hiện đại đã học trong chương trình THCS?
- Kết quả:
Lớp 6: Tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài; Cô Tô (trích phần
cuối bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân); Cây tre Việt Nam của tác giả Thép Mới; Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (là một bài bút kí mang nhiều yếu tố hồi kí – văn bản nhật dụng) (Theo Thúy Lan, báo Người HàNội)
Lớp 7: Mùa xuân của tôi được trích từ thiên tùy bút Tháng Giêng mơ về
trăng non rét ngọt trong tập tùy bút – bút kí Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng;
Ca Huế trên sông Hương (theo Hà Ánh Minh, báo Người Hà Nội, văn bản
nhậtdụng)
Lớp 8: Tùy bút Trong lòng mẹ được trích tập hồi kí Những ngày thơ ấu
của tác giả NguyênHồng
(2) Bài học: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
- Đọc văn bản và ghi lại tóm tắt theo phiếu học tập sau đây:
Kiến thức Thông tin kiến thức
thu thập được
Nguồn/trang
(Ghi rõ dòng/trang)Nguyễn Tuân
Sông Đà
Người lái đò sông Đà
Các chi tiết/tình huống
Trang 12từ internet, lời thuyết trình của cá nhân trong nhóm).
+ Nhóm 2,4: Làm phóng sự qua ảnh hoặc video về sông Đà (có thể sưutầm, cắt ghép từ internet)
+ Nhóm 5,6: Vẽ tranh minh họa, thuyết trình qua sơ đồ tư duy ấn tượngkhái quát về sông Đà và cảnh vượt thác dữ của ông đò
(3) Bài học: Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Học sinh truy cập theo đường link Youtube:
https://www.youtube.com/watch?v=rXG_XfOe5_A
- Ghi lại thủy trình dòng sông theo miêu tả của video
- Video có sử dụng những đoạn trích nào từ văn bản của Hoàng PhủNgọc tường trong SGK Ngữ văn 12, hãy đánh dấu và nêu ý nghĩa
2.3.3 Giải pháp 3: Vận dụng trò chơi trong hoạt động Khởi động
* Mục tiêu và tác dụng:
- Giúp HS ghi nhớ lại những kiến thức đã học về Nguyễn Tuân (conngười, tư tưởng, phong cách và sự nghiệp sáng tác - những kiến thức HS đãđược học từ truyện ngắn Chữ người tử tù)
- Tạo sự hứng thú và tâm lí thoải mái khi vào bài học Kết nối tri thức đãbiết với tri thức cần học
* Cách thức thực hiện:
(1) Bài học: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
TRÒ CHƠI: AI LÀ TRIỆU PHÚ
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ cho HS: Sau đây chúng ta sẽ chơi trò
chơi Ai là triệu phú với 10 câu hỏi? Chúng ta sẽ chia 4 đội chơi và tìm ra độinhanh nhất có thể tham gia chơi:
- Đội nhanh nhất: Đọc được 3 lời nhận định về Nguyễn Tuân
- Đội nhanh nhất cử đại diện ngồi ghế nóng, GV sẽ cho chạy câu hỏi,người chơi có quyền trợ giúp: Hỏi ý kiến đồng đội và loại bỏ phương án sai.Mỗi câu trả lời đúng tính 1 điểm Sai về chỗ nhường cho đội khác
- Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ: GV cho các nhóm thi chọn đội nhanh