Cần thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, theo phương pháp dạy học tích cực với các kĩ thuật dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích
Trang 1MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƯ DUY PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12
& &
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài.
Hiện nay ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo
ra những con người năng động, “vừa hồng vừa chuyên” thích nghi với sự phát triển
của xã hội, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên ở nhà trường phổ thông nói chung cũngnhư giáo viên môn Địa lí nói riêng phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy họcnhằm đáp ứng kịp thời những thay đổi của ngành GD&ĐT và bắt kịp sự phát triển
của xã hội Cần thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học “lấy học sinh
làm trung tâm”, theo phương pháp dạy học tích cực với các kĩ thuật dạy học nhằm
giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen
và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tìnhhuống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm vui, hứng thú trong họctập cho HS Đặc biệt, Bộ GD&ĐT đã có những đổi mới về hình thức thi TN THPT,trong đó có môn Địa lí, thì việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầuhọc và thi của HS càng trở nên cấp thiết
Để thực hiện những yêu cầu đổi mới về phương diện, phương pháp đáp ứng tốthơn chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú, sinh động, khắc sâubài học bằng một kĩ thuật mới đó là tổ chức các đơn vị kiến thức trên hệ thống sơ đồ,
ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy Nó không chỉ giúp cho học sinh có sựhiểu biết sâu rộng, dễ tái hiện kiến thức Địa lí mà còn góp phần chấp cánh cho nhữngphương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn này Đồng thời, tạo hứng thú để học sinhtham gia học tập tích cực, chủ động Thực tế trong những năm qua, vận dụng sơ đồ tưduy vào một số tiết dạy ở bộ môn Địa lí và quá trình ôn thi HSG, ôn thi TN THPT,tôi thấy nó đã đem lại những hiệu quả nhất định Để tiến đến sử dụng sơ đồ tư duy lâudài và đem lại hiệu quả tối ưu, tôi tiến hành tìm hiểu những cơ sở khoa học của nó để
sử dụng cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn Địa lí Bản thân tôi trong quá trìnhdạy học môn Địa lí ở Trung tâm GDNN - GDTX Thọ Xuân đã sử dụng phương phápnày vào giảng dạy và đã thấy những tiến bộ rất tích cực, hiệu quả từ phía học sinh
Do đó tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm này là “Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp bản đồ tư duy phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Địa lí 12 ” Mong rằng với những kinh nghiệm này có thể cùng traođổi, chia sẻ với đồng nghiệp ít nhiều làm phong phú thêm phương pháp, kĩ thuật dạyhọc môn Địa lí, đồng thời tôi rất mong có sự góp ý chân thành của quý vị để đề tàinày được sâu sắc hơn về giá trị khoa học và tính hiệu quả của nó
2.Mục đích nghiên cứu:
Trang 2Việc phát triển tư duy, tính tích cực của học sinh luôn là một trong nhữngmục tiêu hàng đầu của giáo dục Để học sinh có phương pháp học tập thích hợp, tíchcực, tự chủ, chúng ta không chỉ giúp các em khám phá, lĩnh hội kiến thức mới mà cònphải hệ thống hóa được các kiến thức đó Vì vậy đề tài này giúp học sinh có khả năngtiếp nhận kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức trên cơ sở những tri thức giáo viên đãnghiên cứu, truyền tải thông qua các thiết bị dạy học trong một tiết học Góp phầnnâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lí Việt Nam lớp 12, giúp học sinh phát huytính tích cực, hiểu bài, nắm vững kiến thức, phát triển kĩ năng địa lí để thi TNTHPTđạt kết quả cao và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Một số tiết học Địa lí lớp 12
- Học sinh khối 12 Trung Tâm GDNN - GDTX Thọ Xuân
4 Phương pháp nghiên cứu:
Thông qua kinh nghiệm giảng dạy môn Địa lí trong nhiều năm và kinh nghiệmnghiên cứu thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
Phương pháp tìm hiểu liên quan đến đề tài
Phương pháp khảo sát điều tra trên lớp thông qua các tiết dạy
5.Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Năm học 2012 - 2013 tôi cũng đã tìm hiểu áp dụng và đúc kết sáng kiến “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học địa lí lớp 12 góp phần nâng cao chất lượng môn Địa lí.” Từ đó đến nay tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp BĐTD trong
giảng dạy và học tập nói chung và học Địa lí nói riêng sẽ giúp học sinh học tập mộtcách tích cực, tạo ra không khí học tập mới mẻ, huy động tối đa tiềm năng của bộnão, từ đó học sinh có thể tự mình tiếp cận tìm ra kiến thức, học thuộc và ghi nhớkiến thức chủ động, nhanh chóng, qua đó khắc phục được việc học thuộc, ghi nhớ thụđộng, máy móc
Khác với các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp sử dụngBĐTD là một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điềukiện cơ sở vật chất của các nhà trường hiện nay và có thể áp dụng với mọi đối tượng
HS, nhất là từ khi Bộ GD và ĐT đã thay đổi hình thức thi các môn, trong đó có mônĐịa lí sang thi theo hình thức trắc nghiệm Khi sử dụng phương pháp này, HS có thểthiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu,tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm BĐTD Với những trường có điềukiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềmMindmap cho GV, HS sử dụng Phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng vàviệc sử dụng nó cũng khá đơn giản
Sử dụng BĐTD trong dạy học, nhất là dạy học Địa lí - THPT sẽ giúp HS dễdàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới Nhờ sự liênkết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người,BĐTD giúp bộ não liên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, kiến thức
đã biết trong cuộc sống… để phát triển, mở rộng ý tưởng Sau khi HS tự thiết lập
Trang 3BĐTD kết hợp việc thảo luận nhóm, dưới sự gợi ý, dẫn dắt của GV sẽ giúp HS chủđộng tìm hiểu, khai thác kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên.
Qua nghiên cứu lí luận và thực nghiệm dạy học Địa lí ở các lớp khối 12 ởTrung Tâm GDNN - GDTX Thọ Xuân cho thấy, sử dụng BĐTD trong dạy học kiếnthức mới giúp HS học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS
tham gia xây dựng bài một cách hào hứng để tạo ra sản phẩm độc đáo “kiến thức +
hội họa” Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không
chỉ về trí tuệ (vẽ, viết trên BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đãhọc trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợphình vẽ, chữ viết, màu sắc), mà còn vận dụng được kiến thức đã học qua sách vở vàocuộc sống
Trước đây, trong quá trình dạy học, ở các tiết ôn tập chương, một số GV cũng
đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống nhưcách của GV hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu củamình Hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.Tuy nhiên sau khi GV áp dụng thành công phương pháp dạy học với việc thiết kếBĐTD đã bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong cáchoạt động dạy học của nhà trường
Qua đó có thể kết luận: Việc sử dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thànhcho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề mộtcách hệ thống, khoa học Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tíchcực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề… sẽmang lại hiệu quả cao, phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần đổi mới PPDH,đặc biệt là đối với dạy học Địa lí 12
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, việc nâng cao dân trí, đào tạo bồidưỡng nhân tài ngày càng đóng vai trò cao Do vậy, giáo dục luôn là vấn đề đượcĐảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm, vì thế trách nhiệm của người giáo viên càng
phải nâng cao."Dạy học là một nghệ thuật" nên giáo viên phải có kĩ năng vận dụng
các phương pháp để truyền đạt kiến thức cho học sinh Tùy theo nội dung của từngtiết học mà giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn
và từng đối tượng học sinh Không những thế, giáo viên còn rèn luyện cho học sinhcác kĩ năng quan sát, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp
Để đánh giá một tiết dạy có hiệu quả hay không đều do kĩ năng vận dụng tốtcác phương pháp giúp học sinh hiểu bài, nắm bài và rèn luyện các kĩ năng Chính vìvậy, sử dụng bản đồ tư duy góp phần phát huy tính tích cực của học sinh, học sinhyêu thích môn học địa lí, có ý nghĩa lớn, góp phần nâng cao chất lượng môn Địa lí.Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tập trung thiết kế các hoạtđộng của trò sao cho các em tự khám phá, chiếm lĩnh các tri thức mới dưới sự hướngdẫn của thầy Nếu người học không chủ động tự giác, không có phương pháp học tậptốt thì mọi nỗ lực của thầy cũng không đem lại hiệu quả tốt
Trang 4Trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm học trước, năm học
2020-2021 ngành Giáo dục - Đào tạo tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIIIcủa Đảng, triển khai Chương trình tập huấn và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý
cơ sở giáo dục phổ thông Qua thực tế giảng dạy Địa lí 12, tôi đã đề cập đến việc đổimới phương pháp dạy học và đề cao vai trò đánh giá kết quả học tập thật sự của họcsinh Vì vậy, khi giảng dạy, giáo viên hướng dẫn hệ thống kiến thức bằng bản đồ tưduy có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ độngnhận thức, rèn luyện kĩ năng làm việc với bản đồ, atlat Địa lí Việt Nam và biết hệthống hóa kiến thức là điều rất cần thiết
Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ
tư duy như thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao chất lượng cácgiờ học địa lí? Đó là vấn đề tôi muốn chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiếnnày
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng vàđào sâu các ý tưởng Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu
tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màusắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khaithác tiềm năng vô tận của não bộ
Bản đồ tư duy giúp học sinh có phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyệnphương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy, một số học sinh chăm chỉ nhưngkết quả học tập vẫn thấp vì các em thường học bài nào biết bài đấy, học trước quênsau, không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã họcphần trước vào phần sau Phần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớpkhông biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ củamình Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh có phươngpháp học, tăng cường tính độc lập, sáng tạo, chủ động, phát triển tư duy
Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, não hiểu sâu, nhớ lâu
và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình.Các nhà nghiên cứu cho rằng với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ nãoBản đồ tư duy giúp:
1/ Sáng tạo hơn
2/ Tiết kiệm thời gian hơn
3/ Ghi nhớ tốt hơn
4/ Nhìn thấy bức tranh tổng thể
5/ Tổ chức và phân loại suy nghĩ của bạn
6/ Ghi dấu ấn cá nhân riêng của học sinh…
Vì vậy sử dụng bản đồ tư duy giúp học sinh học tập tích cực, huy động tối đatiềm năng của não, nâng cao hiệu quả môn Địa lí
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TTGDNN-GDTX.
Trang 51 Thực trạng của việc dạy và học Địa lí trong TTGDNN- GDTX Thọ Xuân.
Qua công tác giảng dạy cũng như chấm thi các bài kiểm tra Địa lí ở Trung tâmGDNN - GDTX Thọ Xuân, tôi nhận thấy thực trạng của việc học Địa lí hiện nay củahọc sinh như sau:
- Kĩ năng học bài hạn chế: Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa
biết cách học, cách nhớ bài khoa học mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt một cáchmáy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được
“sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức
có liên quan với nhau và không biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn
- Khả năng làm bài còn kém : Khi HS trình bày một bài làm môn Địa lí hay khi
vẽ biểu đồ, nhận xét và giải thích giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơbản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, không biết liên hệcác kiến thức đã học và hiểu biết của bản thân để giải thích một vấn đề địa lí tự nhiên,kinh tế - xã hội…khiến chúng ta có cảm giác HS thiếu những hiểu biết thực tế Đây làmột tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta
Tuy nhiên, môn Địa lí lại là môn trong tổ hợp Khoa học xã hội được học sinhlựa chọn để đăng kí thi tốt nghiệp, Cao đẳng, Đại học nên áp lực đối với giáo viêngiảng dạy Địa lí rất lớn
Trong những năm qua hầu hết đội ngũ giáo viên đã được tham dự các chươngtrình tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới phương pháp giảng dạy
Vì vậy để HS quan tâm và yêu thích học Địa lí, GV cần phải tích cực đổi mới phươngpháp dạy học, khơi gợi hứng thú học cho học sinh, hình thành cho các em phươngpháp học hiệu quả nhất Tuy nhiên, việc sử dụng sơ đồ tư duy còn khó khăn, lúngtúng, nhất là những giáo viên cao tuổi, chưa thành thạo ứng dụng công nghệ thông tintrong giảng dạy
2 Thực trạng sử dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí 12.
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thứcghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề haymột mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đườngnét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, khôngyêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh,mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khácnhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng BĐTD theomột cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo củamỗi người Như vậy có thể thấy sử dụng phương pháp BĐTD là phương pháp dạyhọc có rất nhiều ưu điểm, tuy nhiên thực tế việc áp dụng PP này vào dạy và học Địa lívẫn còn đặt ra nhiều vấn đề
Vì vậy, cần phổ biến hơn nữa việc sử dụng phương pháp BĐTD trong dạy học môn Địa lí ở các khối lớp, nhất là chương trình Địa lí 12 Giúp giáo viên và họcsinh, đặc biệt là học sinh có thể tự mình chủ động tìm ra kiến thức, biết cách hệ
Trang 6-thống, khái quát hóa kiến thức, ghi nhớ kiến thức theo cách riêng, phù hợp với khảnăng của bản thân và cũng là PPDH phù hợp, nhằm đáp ứng kịp thời những thay đổicủa kì thi TN THPT năm nay Từ đó khiến học sinh không còn thờ ơ, xa lạ với mônhọc, trái lại cảm thấy hứng thú và yêu thích môn học hơn, đồng thời đem đến cho các
em cái nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn Địa lí
Đầu năm học 2020-2021, tôi được Ban Giám đốc phân công dạy môn Địa líkhối 12 Hầu hết các năm học trước các em ít được học tập bằng phương pháp sửdụng bản đồ tư duy, qua việc kiểm tra bài cũ, đánh giá kết quả các em học bài tôi đãthu được kết quả học tập như sau:
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 TẠI TRUNG TÂM GDNN-GDTX THỌ XUÂN
1 Bản đồ tư duy và cách thức sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí THPT.
BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy, giúp người học chuyểntải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồngthời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu kiến thức và kếtnối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng Vì vậy dạy họcbằng bản đồ tư duy là một phương pháp dạy học tích cực góp phần đổi mới cơ bảngiáo dục
1.1 Bản đồ tư duy phát huy các năng lực của HS.
a Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để học sinh có thể hình dung về
kiến thức cần nhớ Đối với não bộ, BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnhmàu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán
b Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một
cách rất rõ ràng
c Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, sử dụng
BĐTD cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc
sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc BĐTD dùng rấtnhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo
Trang 7đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡthông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ
về những gì được học
d BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não: BĐTD giúp HS tận dụng các chức năng
của cả hai bán cầu não(não trái lẫn não phải) khi học Đây chính là công cụ học tậpvận dụng được sức mạnh của cả bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ giải phóngnhững năng lực tiềm ẩn, phát huy mọi khả năng trong quá trình học, tìm hiểu, ghi nhớkiến thức
1.2 Nguyên lý và ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học
Bản đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hìnhảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởnghay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2
để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hìnhảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổngthể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
Những yếu tố đã làm cho bản đồ tư duy có tính hiệu quả cao:
Bản đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạtđộng Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của conngười đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi cómột thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với cácthông tin cũ đã tồn tại trước đó
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một côngdụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp này
sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ vàtính sáng tạo của chủ nhân bộ não
Bản đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổthông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việctrình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ,tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức
đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới
1.3 Quy tắc bản đồ tư duy
- Viết một chủ đề ở giữa, hay vẽ một bức tranh ở trung tâm phản ánh về chủ đề
- Trên mỗi nhánh chính, viết một khái niệm, nội dung lớn của chủ đề, viết bằngchữ in hoa
- Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm
- Chỉ sử dụng những thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Trên mỗi nhánh, vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp các suy nghĩ, nội dung ởbậc thứ hai Các từ được viết bằng chữ thường
Trang 8- Tiếp tục như vậy ở các tầng bậc tiếp theo
1.4 Một số gợi ý khi tạo bản đồ tư duy
- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề
- Luôn sử dụng màu sắc tác dụng kích thích não như hình ảnh
- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp haiđến các nhánh cấp một,… bằng các đường kẻ, đường cong với màu sắc khác nhau.Các ý trong cùng một vấn đề (cùng nhánh) thể hiện cùng một màu
- Mỗi từ /ảnh /ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ hayđường cong
- Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
- Nên dùng các đường cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được
tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều so với đường thẳng
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
1.5 Cách sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học.
- Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số “bảnđồ” cùng với dẫn dắt của GV để các em làm quen
- Tập “đọc hiểu” BĐTD, sao cho chỉ cần nhìn vào BĐTD bất kỳ HS nào cũng
có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo mạchlôgic của kiến thức
- Hướng cho HS có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trênBĐTD
- Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, thứba mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn Cácđường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong
- Cho HS thực hành vẽ BĐTD trên giấy: Chọn tên chủ đề hoặc hình vẽ của chủ
đề chính cho vào vị trí trung tâm, chẳng hạn: Bản đồ, Vũ trụ, Trái đất, Mặt Trời để
Trang 9HS có thể tự mình ghi tiếp kiến thức vào tiếp các nhánh nhỏ hơn theo cách hiểu củacác em
- Vẽ BĐTD theo nhóm hoặc từng cá nhân
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với BĐTD như sau:
- Hoạt động 1: HS lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của GV.
- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến
thức của bài học đó GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD,
từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
- Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn
hoặc một BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lên trình bày,thuyết minh về kiến thức đó
2 Giảng dạy theo sơ đồ tư duy tăng cường tính tích cực của học sinh
Qua thực tế cho thấy, bản đồ tư duy là phương pháp hỗ trợ tích cực cho việcgiảngdạy, phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học sinh mà còn tạohứng thú, khả năng hệ thống kiến thức, lên hệ với thực tế cho học sinh Mỗi học sinh
có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trởnên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn Cùng một nội dung nhưng các em có thể thêmnhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnhhội kiến thức trong bài học của mình
Ngay từ đầu năm học, tôi đã áp dụng dạy học Địa lí 12 bằng sơ đồ tư duy đểphát huy tính tích cực, chủ động tự giác của học sinh Từ đó tôi tự lập kế hoạch giảngdạy cho từng tiết học Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sửdụng hình vẽ tay(dùng phấn màu) với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khácnhau nhằm giúp học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngaytại lớp học
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn thểhiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng) Từ phần nội dung chính, giáoviên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài giảng và chú thích, giảnggiải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học sinh
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bàigiảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệmqua hình vẽ Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các em nhớđược phần trọng tâm của bài giảng Cách học này còn phát triển được năng lực riêngcủa từng học sinh không chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiếnthức chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình
vẽ, chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống
3 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh học tập tích cực.
Trang 10Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho họcsinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động Với việc giảng dạy bằng
sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự
vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổsung những phần còn thiếu Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyềnthống, học sinh có thể tự ghi bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hìnhảnh khác nhau Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được nhữngphần trọng tâm của bài học Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thểvận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kếtrên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kếtrên phần mềm sơ đồ tư duy Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hìnhthành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn
đề một cách hệ thống, khoa học, logic
Sau khi cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, giáo viên đưa ramột chủ đề chính, đặt chủ đề này ở vị trí trung tâm bảng (hoặc vào trang vở, tờ giấy/bìa) rồi đặt câu hỏi gợi ý để học sinh vẽ tiếp các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3 Mỗi bàihọc được tự vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang giấy, giúp học sinh dễ ôn tập, dễxem lại kiến thức khi cần
Đối với học sinh, khi thường xuyên tự lập sơ đồ tư duy học sinh sẽ phát triểnkhả năng thẩm mỹ do việc thiết kế bài học phải bố trí bố cục màu sắc, các đường nét,các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng một cách hệ thống, khoa học, súc tích
4 Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học Địa lí 12
4.1 Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
a Dùng BĐTD để dạy bài mới:
Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu họcsinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liênquan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD Qua BĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiếnthức bài học một cách dễ dàng Để sơ đồ tư duy được sinh động GV có thể đưa thêmvào sơ đồ các hình ảnh, biểu đồ, có nội dung liên quan đến bài học
Ví dụ 1: Bài 2: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ.(Phần: Địa lí tự nhiên)
Giáo viên có thể vẽ mô hình BĐTD lên bảng Đưa từ khóa “Vị trí địa lí Việt
Nam” lên bảng, BĐTD gồm 4 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều
nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học
Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sử dụng hệthống câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Các đặc điểm vị trí địa lí của Việt Nam?
+ Việt Nam tiếp giáp với những quốc gia nào? Biển nào?
+ Phạm vi lãnh thổ của nước ta gồm những bộ phận nào? Đặc điểm từng bộphận?
+ Ý nghĩa vị trí địa lí của nước ta? Thuận lợi gì? Khó khăn?
Trang 11Sau đó tiếp tục đặt ra các câu hỏi nhỏ hơn để giúp HS tìm hiểu, khai thác sâuhơn về từng phương pháp chiếu hình bản đồ Chia lớp thành các nhóm nhỏ cùng thảoluận để tìm ra vấn đề Sau khi đại diện các nhóm trình bày, giáo viên sẽ là người nhậnxét và chốt lại vấn đề.
Sơ đồ như sau:
Ví dụ 2: Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.(Phần Đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam)
Giáo viên đưa từ khoá hoặc hình ảnh “ rừng cây” đặc trưng cho thiên nhiênnhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta, sau đó yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặtcâu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ýnhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…):
+ Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta được biểu hiện qua các thànhphần tự nhiên nào?
+ Biểu hiện của tính chất nhiệt đới của khí hậu?
+ Biểu hiện của tính chất ẩm(lượng mưa, độ ẩm lớn) của khí hậu?
+ Biểu hiện của tính chất gió mùa của khí hậu?
+ Biểu hiện qua các thành phần tự nhiên khác: Địa hình, sông ngòi, đất đai,sinh vật?
+ Ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa tới sản xuất,đời sống? Sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để cáchọc sinh khác bổ sung ý Giáo viên nhận xét và kết luận vấn đề, qua đó giúp các em
tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thờikích thích hứng thú học tập của học sinh
Sơ đồ như sau: