1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nước sạch của công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh nam định

106 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 502,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu Qua tìm hiểu tài liệu và thực tế về Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh Nam Định tác giả nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty và trên cơ sở đó đưa

Trang 1

VƯƠNG THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NƯỚC SẠCH CỦA CÔNG

TY CỔ PHẦN NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

VƯƠNG THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NƯỚC SẠCH CỦA CÔNG

TY CỔ PHẦN NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CÔNG NGHIỆP

Trang 3

riêng tác giả Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đó

Hà Nội, ngày tháng năm 2010

Tác giả luận văn

Vương Thị Thu Hiền

Trang 4

CTMTQG : Chương trình mục tiêu Quốc gia NMN : Nhà máy nước

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TSCĐ : Tài sản cố định

TSLĐ : Tài sản lưu động

TW : Trung Ương

VAT : Thuế giá trị gia tăng

VSNT : Vệ sinh nông thôn

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 5

Bảng Nội dung Trang Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Dự kiến giá trị tài sản của Công ty từ khi thành lập

năm hoạt động

48

Trang 6

Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy của Công ty 34

Trang 7

Chương 1: Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh

nghiệp kinh doanh nước sạch nói riêng 5

1.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh 5

1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh 6

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của doanh nghiệp 10

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án do doanh nghiệp đầu tư 17

1.2 Sự cần thiết và ý nghĩa nâng cao hiệu quả kinh doanh 22

1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh 22

1.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh 23

1.3 Khái quát về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 24

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh nước sạch 26

1.4.1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp 26

1.4.2 Nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp 28

Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động và hiệu quả kinh doanh nước sạch của công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 32

2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty 32

2.1.2 Nguồn vốn kinh doanh và tài sản 35

2.1.3 Các nhà máy nước 37

2.1.4 Nguồn nhân lực 38

2.1.5 Dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng – vay vốn World Bank 39

2.2 Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty 40

2.2.1 Đặc điểm về nguồn nước 40

2.2.2 Công nghệ sản xuất nước 42

Trang 8

2.2.5 Giá nước 45

2.3 Hiệu quả kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định từ năm 2008 đến nay 46

2.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định từ năm 2008 đến nay 46

2.3.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 54

2.4 Kết luận chung về hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 74

2.4.1 Những thành tích đạt được 74

2.4.2 Những khó khăn, hạn chế 76

2.4.3 Lập ma trận SWOT 76

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 80

3.1 Mục tiêu và phương hướng của Công ty trong tương lai 80

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 82

Giải pháp 1 Giải pháp 2 Giải pháp 3 Giải pháp 4 3.3 Những điều kiện cần thiết để thực hiện giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định 93

3.3.1 Về phía Nhà nước và các Bộ ngành Trung Ương 93

3.3.2 Về phía UBND tỉnh Nam Định 94

Kết luận 95 Tài liệu tham khảo

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiến lược phát triển của nước ta là nhanh, nhưng phải bền vững, phát triển kinh tế phải đi liền với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Tất cả phục vụ cho đời sống nhân dân, chất lượng sống của nhân dân Đặc biệt, nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, trong những năm qua Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến việc giải quyết nước sạch cho nhân dân, nhất là vùng nông thôn Điều đó được thể hiện ở việc Nhà nước đã xây dựng và cho triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 200/TTg về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với mục tiêu đến năm 2010 đảm bảo 100% số dân nông thôn được cấp nước sạch

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề

cơ bản của nền kinh tế này: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?

Do đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hiện nay

Với chính sách mở cửa cạnh tranh và hội nhập, môi trường kinh doanh nước sạch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các công ty kinh doanh ngành nước và Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó Do đó, nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Công ty Cổ phần nước sạch

và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định trong thời kỳ kinh tế hiện nay

Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về ngành nước sạch và vệ sinh nông thôn nói chung và Công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

Trang 10

nói riêng và với những lý luận trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

- Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, hội nhập hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công

ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định, đề xuất những giải pháp chủ yếu mang tính hệ thống và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần

nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

*Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước

sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định thời kỳ mà Công ty đã ổn định về mặt tổ

chức và hoạt động trong nền kinh tế mở cửa, hội nhập hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn

- Phương pháp điều tra khảo sát;

- Phương pháp phân tích và tổng hợp;

- Phương pháp thống kê, so sánh

5 Nội dung nghiên cứu

Qua tìm hiểu tài liệu và thực tế về Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh Nam Định tác giả nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty và trên

cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong tương lai

Trang 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Làm rõ bản chất hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và

vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định, đưa ra ý kiến nhận xét cá nhân về các quan niệm hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định và xem xét toàn diện các đặc điểm sản xuất nước đến hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty

Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

- Tiếp cận quan điểm xác lập chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và quan điểm hệ thống chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng hiệu quả kinh doanh nước sạch trong giai đoạn từ khi hoạt động kinh doanh đến nay và rút ra những kết luận quan trọng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định trong giai đoạn tới

7 Cơ sở tài liệu

- Các giáo trình Đại học và sau Đại học của các trường ĐH kinh tế ở Việt Nam

- Các văn bản pháp quy về luật doanh nghiệp, luật tài nguyên nước, luật môi trường,…

- Các tài liệu, báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn Nam Định

- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn Nam Định trong những năm qua (2008-2010)

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, và 3 chương luận

văn được trình bày trong 90 trang gồm có 19 bảng, 3 hình vẽ như sau:

Trang 12

Chương 1: Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh nước sạch nói riêng

Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động và kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nước sạch của Công ty Cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn tỉnh Nam Định

Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu lý luận và tích luỹ kinh nghiệm từ thực tế của bản thân Những kiến thức mà các thầy

cô giáo truyền đạt đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của rất nhiều cá nhân cũng như tổ chức Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Đại học và Sau Đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường đại học Mỏ - Địa chất, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Đinh Đăng Quang - Trường Đại học Xây dựng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NÓI CHUNG VÀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH NƯỚC SẠCH NÓI RIÊNG 1.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm Chỉ tiêu hiệu quả là tỷ lệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của hoạt động đề ra so với chi phí đã bỏ vào để có kết quả về số lượng, chất lượng

và thời hạn

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn…) các yếu tố cần thiết của doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh theo mục đích nhất định

Nếu biểu hiện theo mục đích cuối cùng thì "hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó" [1] Nếu xem xét kết quả kinh doanh trên góc độ này thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận do đó rất khó khăn trong công tác đánh giá và tổ chức quản

lý doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp Quan niệm này phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh Nó đã gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí

Hiệu quả không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn

là vấn đề sống còn của bất cứ một doanh nghiệp nào Tuy nhiên, từ những góc độ nghiên cứu từ những lĩnh vực khác nhau, xuất hiện các khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh

Trang 14

Hiệu quả kinh doanh nước sạch là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh (phương tiện, thiết bị, lao động ) của doanh nghiệp kinh doanh nước sạch nhằm đảm bảo kết quả cao nhất (lợi nhuận, chất lượng nước sạch, giá cả… ) với chi phí thấp nhất

Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh nước sạch chính là việc thực hiện hàng loạt các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ, có tính liên tục tại doanh nghiệp kinh doanh nước sạch nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao,

có lợi nhuận và chất lượng dịch vụ cao Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu

Tóm lại, cần hiểu phạm trù hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai mặt định lượng giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại Về mặt định tính mức

độ hiệu quả kinh doanh thu được phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống doanh nghiệp, phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả kinh doanh có quan

hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời Hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp

và khó đánh giá chính xác

1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh

Phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong công tác quản lý Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh để từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 15

Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được

Hiệu quả kinh tế xã hội mà ngành Nước sạch đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu cho ngân sách

Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp Tuy vậy, có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo được hiệu quả (bị lỗ) nhưng nền kinh tế vẫn thu được hiệu quả Tuy nhiên, tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận được trong những thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách quan mang lại Các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội vì

đó chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, để đạt được điều đó, Nhà nước cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và cá nhân người lao động

* Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp

Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường và thị trường của nó Doanh nghiệp cần căn cứ vào thị trường để giải quyết những vấn đề then chốt: sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất và kinh doanh như thế nào, kinh doanh cho ai và với chi phí bao nhiêu?

Mỗi nhà cung cấp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường đối với sản phẩm dịch

vụ của mình với một chi phí cá biệt nhất định và doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cao nhất Tuy vậy, khi đưa hàng hóa dịch vụ của mình ra bán trên thị trường, họ chỉ có thể bán theo mức giá của thị trường, nếu sản phẩm của họ có mức giá tương đương

Trang 16

Sở dĩ như vậy, là vì thị trường chỉ chấp nhận mức trung bình xã hội cần thiết

về hao phí để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa, dịch vụ Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua một mức giá cả thị trường

Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội Nhưng tại mỗi doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả, thì chi phí lao động xã hội đó thể hiện dưới các dạng chi phí cụ thể như giá thành và chi phí ngoài sản xuất

Bản thân mỗi loại chi phí trên lại có thể được phân chia chi tiết, tỷ mỷ hơn Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên nhưng cũng cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí, giúp cho doanh nghiệp tìm được hướng giảm chi phí cá biệt nhằm tăng hiệu quả kinh doanh

Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung được tạo thành trên cơ sở hiệu quả các loại chi phí cấu thành Các đơn vị sản xuất kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh và phải xác định các biện pháp đồng bộ để thu được hiệu quả toàn diện trên các yếu tố của quá trình đó

* Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh

Trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản:

Một là, để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động kinh doanh

Hai là, phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn phương án có lợi nhất

Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra Chẳng hạn tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một đồng vốn bỏ ra

Trang 17

Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nào đó, để biết được những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối

Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án Mục đích chủ yếu của việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án, từ đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất

Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một giải pháp, một con đường) mà có thể đưa ra nhiều cách làm khác nhau Mỗi cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư vốn, lượng chi phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tư cũng khác nhau Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự trói mình vào một cách làm mà phải vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa

ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó nhằm chọn ra một phương án có lợi nhất

Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong ngành nước sạch có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, song chúng lại có tính độc lập tương đối Trước hết, xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh

Tuy nhiên, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối, chẳng hạn việc so sánh giữa mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là

Trang 18

sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các công ty sản xuất là rất phức tạp, do

đó không thể sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá mà cần phải đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu Để đo lường và đánh giá một cách chính xác, khoa học hệ thống các chỉ tiêu này phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

+ Phải có chỉ tiêu đánh giá tổng hợp phản ánh chung tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh ở từng mặt từng khâu lao động, vốn và chi phí các chỉ tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh mặt yếu trong quá trình sử dụng từng yếu tố trung gian vào quá trình sản xuất kinh doanh + Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phải đảm bảo tính hệ thống và toàn diện tức là các chỉ tiêu hiệu quả phải phản ánh hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh

+ Hệ thống các chỉ tiêu phải được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc chung của hiệu quả Nghĩa là phải phản ánh được trình độ lao động sống và lao động vật hóa thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí Trong đó các chỉ tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lường được thì mới có thể so sánh và tính toán được + Các chỉ tiêu hiệu quả phải có sự liên hệ và so sánh với nhau, có phương pháp tính toán cụ thể và có phạm vi áp dụng phục vụ cho lợi ích nhất định của công tác đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Hệ thống đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả phải đảm bảo phản ánh được tính đặc thù của ngành nghề

A Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp

Trang 19

Khái niệm kết quả kinh doanh được biểu hiện ở nhiều chỉ tiêu như doanh thu, sản lượng, giá trị gia tăng, thu nhập người lao động song để đánh giá hiệu quả đích thức người ta thống nhất dùng tổng lợi nhuận:

Có quan điểm đã nêu: Tổng lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của một doanh nghiệp Là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tổng lợi nhuận đươc hình thành từ các chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ, lợi nhuận

từ hoạt động tài chính, lợi nhuận thu được từ các khoản lợi nhuận bất thường Lợi nhuận là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác, nhằm đánh giá hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất vào hoạt động kinh doanh của doanh nghịêp

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là lợi nhuận thu được do tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, lao vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng mức lợi nhuận của doanh nghiệp Đây cũng là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp thực hiện tích luỹ cho tái sản xuất kinh doanh mở rộng đồng thời cũng là điều kiện tiền đề để lập ra các quĩ của doanh nghiệp, như quĩ dự phòng mất việc làm, quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi…là điều kiện tiền đề để không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động

Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành từ các bộ phận sau:

- Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp

- Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp

- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh tế khác, ngoài các hoạt động đã kể trên Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính: Chính là phần chênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

- Lợi nhuận thu được từ hoạt động mua bán chứng khoán, kinh doanh bất động sản

- Lợi nhuận thu được do tham gia góp vốn liên doanh

Trang 20

- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán, kể cả dài hạn và ngắn hạn

- Lợi nhuận thu được do hoạt động cho thuê tài sản, cho thuê cơ sở hạ tầng

- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư cổ phiếu, trái phiếu

- Lợi nhuận chênh lệch giữa lãi tiền gửi Ngân hàng và lãi tiền vay Ngân hàng,

do cho vay vốn, do bán ngoại tệ,…

Lợi nhuận thu được từ hoạt động khác: Là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài dự tính hoặc có dự tính, nhưng ít có khả năng thực hiện, hoặc là những khoản lợi nhuận thu được không mang tính chất thường xuyên Nhưng khoản lợi nhuận này thu được có thể do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan đem lai Lợi nhuận khác là khoản chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động khác của doanh nghiệp Các khoản thu được từ các hoạt động khác bao gồm:

- Lợi nhuận thu được từ khoản nhượng bán, thanh lý tài sản cố định

- Lợi nhuận thu được từ khoản được phạt vi phạm hợp đồng kinh tế

- Lợi nhuận thu được từ các khoản thuế được ngân sách Nhà nước hoàn lại

- Lợi nhuận thu được từ quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức,

cá nhân tặng cho doanh nghiệp

- Lợi nhuận thu được từ khoản nợ khó đòi đã xử lý, xoá sổ

- Lợi nhuận thu được từ các khoản nợ không xác định được chủ

- Lợi nhuận thu được từ các khoản thu từ hoạt động kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót, hoặc quên không ghi sổ kế toán, đến năm báo cáo mới phát hiện ra, …

Các khoản thu trên, sau khi đã trừ đi các khoản tổn thất (thuế phải nộp, chi phí khác…) có liên quan sẽ là lợi nhuận khác của doanh nghiệp

Tổng lợi nhuận là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí

Trang 21

Để đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp qua chỉ tiêu lợi nhuận ta cần phân tích được tình hình chung lợi nhuận của doanh nghiệp, phân tích tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp

- Trong đó lợi nhuận trước thuế: là khoản lợi nhuận thu sau khi đã trừ đi

toàn bộ chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức

Chỉ tiêu lãi kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng công thức

L = ∑q i(p iz if ig i) Trong đó:

L: Tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

qi: Khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ loại i tiêu thụ trong kỳ, tính bằng đơn vị hiện vật

pi: Giá bán đơn vị sản phẩm hàng hoá dịch vụ loại i

Zi: Chi phí kinh doanh (giá thành sản phẩm ) đơn vị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ loại i

fi: Chi phí bán hàng đơn vị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ loại i

gi: Chi phí quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ loại i

i = 1 – n: Số lượng mặt hàng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ trong kỳ

- Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: là khoản lợi nhuận sau khi đã trừ đi toàn bộ chi

phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn trừ đi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp 28% lợi nhuận trước thuế Khi đó lợi nhuận sau thế có thể được xác định theo công thức

L = ∑q i(p iz if ig iT i)

Ti: Thuế suất đơn vị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ loại i

B Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chi tiết

Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh kết quả đầu ra và chi phí đầu vào ta sẽ lập bảng chỉ tiêu và lựa chọn những chỉ tiêu cơ bản nhất sao cho số chỉ tiêu là ít nhất, thuận lợi nhất cho việc tính toán và phân tích

Trang 22

Hệ thống các chỉ tiêu chi tiết đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

a Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động

Lao động là một trong những yếu tố tạo nên sản phẩm dịch vụ, là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Do vậy trong công tác quản lý, sử dụng lao động, người lãnh đạo phải có những tiêu thức cách tuyển dụng đãi ngộ đối với người lao động vì đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

Nhóm chỉ tiêu này bao gồm: Sức sản xuất của lao động và sức sinh lợi của lao động

+ Sức sản xuất của lao động được tính theo công thức:

Hn = Tổng doanh thu trong kỳ/Tổng lao động trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh: một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị doanh thu vì thực chất đây chính là chỉ tiêu năng xuất lao động

+ Sức sinh lợi lao động (Rn)

Rn = L/N Trong đó :

L - Lợi nhuận trong kỳ

N - Tổng số lao động trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi người lao động trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một kỳ sản xuất kinh doanh

b Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài chính

* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định

+ Sức sản xuất của TSCĐ

Sức SX của TSCĐ= Tổng doanh thu thuần/Tổng giá trị TSCĐ bình quân

Trang 23

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu

+ Sức sinh lời của TSCĐ

Sức sinh lời của TSCĐ= Lợi nhuận trong kỳ/Tổng giá trị TSCĐ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản lưu động

+ Sức sản xuất của tài sản lưu động:

Sức sản xuất của TSLĐ= Doanh thu thuần/Tổng TSLĐ bình quân

Sức sản xuất của tài sản lưu động cho biết cứ một đồng vốn lưu động bình quân đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ

+ Sức sinh lời của tài sản lưu động:

Sức sinh lời của TSLĐ= Lợi nhuận thuần / Tổng TSLĐ bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng Tài sản lưu động đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ

* Thời gian một vòng luân chuyển tài sản lưu động

Vốn lưu động vận động không ngừng qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự trữ sản xuất) đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn là sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

+ Số vòng quay của tài sản lưu động:

Số vòng quay củaTSLĐ= Tổng doanh thu thuần/ TSLĐ bình quân

+ Thời gian của một vòng quay của tài sản lưu động:

Thời gian của một vòng quay củaTSLĐ= 365/ Số vòng quay TSLĐ

Trang 24

Ngoài hai chỉ tiêu trên khi phân tích còn có thể tính ra các chỉ tiêu : Hệ số đảm nhiệm của tài sản lưu động Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn, số vốn tiết kiệm đuợc càng nhiều

Qua chỉ tiêu này biết đựợc để có một đồng luân chuyển thì cần mấy đồng tài sản lưu động

Hệ số đảm nhiệm TSLĐ = TSLĐ bình quân / Tổng doanh thu thuần

Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao

Ngoài việc phân tích hiệu quả kinh doanh dưới góc độ sử dụng TSCĐ và TSLĐ khi phân tích ta cần phải xét cả hiệu quả sử dụng tài sản ở góc độ sinh lợi Đây là một nội dung phân tích được các nhà đầu tư quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền với lợi ích của họ

Để đánh giá chỉ tiêu sinh lời người ta còn sử dụng nhiều chỉ tiêu sau:

Sức sản xuất của VCSH = Doanh thu / Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra đem lại bao nhiêu đồng doanh thu

Sức sinh lợi của VCSH = Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra để kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận

Hệ số doanh lợi doanh thu thuần = Lợi nhuận / Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận

c Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của chi phí sản xuất

+ Sức sản xuất của chi phí được tính:

Sức sản xuất của chi phí = Doanh thu / Tổng chi phí sản xuất

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí sản xuất bỏ ra cho mấy đồng doanh thu

Trang 25

+ Sức sinh lợi chi phí được

Sức sinh lợi của chi phí = Lợi nhuận / Tổng chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí sản xuất bỏ ra tạo được mấy đồng lợi nhuận

Có thể nói đánh giá một cách chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp cần phải xem xét và đánh giá tất cả các chỉ tiêu, phải xác định rõ

sự ảnh hưởng của các chỉ tiêu đó như thế nào đối với kết quả sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực của các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trình

độ sử dụng các nguồn lực thể hiện bằng cách sử dụng tiết kiệm nguồn lực

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án do doanh nghiệp đầu tư

a Giá trị hiện tại thu nhập ròng: chỉ tiêu này được ký hiệu là NPV (Net Prisent

value) và được xác định bằng công thức:

t t n

) (

) 100 1

1

= +

t = 1: n: Là chỉ số năm theo đời dự án;

n: Số năm hoạt động đầu tư theo dự án (gọi tắt là đời dự án), năm;

i: lãi suất thị trường vốn ( còn gọi là tỷ suất chiết khấu), %năm;

at: Hệ số chiết khấu tại năm t;

Bt: Khoản thu nhà đầu tư ở năm t, đồng;

Ct: Khoản thu chi của nhà đầu tư ở năm t, đồng;

Nội dung khoản thu, khoản chi phụ thuộc vào tính chất dự án và các quy định của nhà nước Thực chất của hiện giá thu nhập ròng đối với đầu tư xây dựng công

Trang 26

trình với mục đích sản xuất kinh doanh chính là hiện giá của tổng lợi nhuận và khấu hao tài sản cố định trong đời dự án xét tại thời điểm đầu năm thứ nhất

Với ý nghĩa đó, một hoạt động đầu tư được đánh giá có hiệu quả theo chỉ tiêu NPV khi NPV >0, đó là khi mà doanh nghiệp thu đủ các khoản bù đắp chi phí và sinh lời Nếu phải chọn một phương án đầu tư tốt nhất trong tập hợp nhiều phương

án có thể so sánh xét theo NPV thì đó là phương án có NPV lớn nhất

NPVopt = max {NPVPACTSS>0}

Khi tính NPV đối với dự án đầu tư công trình phục vụ sản xuất kinh doanh thì khoản thu chi có thể xuất hiện ở những năm công trình đi vào khai thác cho mục đích kinh doanh, còn khoản chi lại có thể xuất hiện ngay từ năm đầu tiên Trong dự

án đầu tư thường không chính xác ngày, tháng xuất hiện các khoản chi cũng như các khoản thu nên công thức đã có sự quy ước thời điểm đó đều là ngày cuối năm, còn thời điểm hiện tại được hiểu là ngày đầu năm thứ nhất của đời dự án

b.Suất hiện giá thu nhập ròng: thường ký hiệu là PVR (Net prisent value rate)

được xác định bằng công thức:

PVR =

I NPV

Trong đó:

PVR: Suất hiện giá thu nhập ròng, đồng/đồng

NPV: Hiện giá thu nhập ròng, đồng;

I: Hiện giá của tổng mức đầu tư, đồng

Thực chất của PVR là chỉ tiêu tương đối cho biết hiện giá thu nhập ròng được tạo ra bởi 1 đồng vốn chi ra cũng tính theo hiện giá PVR được dùng để so sánh hiệu quả đầu tư cho những phương án so sánh khác nhau về NPV Một phương án đầu tư tốt nhất xét theo chỉ tiêu này là phương án có NPV > 0 đồng thời là phương

án có NPV lớn nhất

PVRopt = max {PVRPACTSS>0}

c Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR (internal rate of return)

Trang 27

Là tỷ suất lợi nhuận mà nếu được sử dụng để tính chuyển các khoản thu chi của toàn bộ quá trình đầu tư về mặt thời gian ở hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác hệ số hoàn vốn nội bộ chính là tỷ lệ hiện đại hoá để sao cho giá trị NPV=0

j n

j j j

n

j j

IRR

CI IRR

CO

)1

(

1)

1(

tư vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh IRR định mức có thể là lãi suất đi vay vốn

để đầu tư, có thể là tỷ suất lợi nhuận định mức do nhà nước quy định, nếu sử dụng vốn đầu tư do ngân sách cấp, hoặc là mức chi phí cơ hội nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư

Khác với các chỉ tiêu khác, chỉ tiêu IRR không có một công thức toán học nào cho phép tính trực tiếp, mà IRR được tính thông qua phương pháp nội suy, tức là phương pháp xác định giá trị gần đúng giữa hai giá trị đã chọn

Theo phương pháp này cần tìm 2 tỷ suất chiết khấu i1 và i2 sao cho ứng với tỷ suất nhỏ hơn giả sử là i1 ta có giá trị NPV tương ứng, còn tỷ suất kia sẽ làm cho giá trị NPV âm IRR cần tính ứng với NPV=0 sẽ nằm giữa 2 tỷ suất i1 và i2, việc nội suy giá trị thứ ba giữa hai tỷ suất trên được thực hiện theo công thức:

IRR=i1 + (i2+i1)

2 2 1

i i

i

NPV NPV

NPV

+

Trong đó:

i1 : Tỷ suất chiết khấu thấp hơn.NPVi1>0

i2: Tỷ suất chiết khấu cao hơn NPVi2>0

NPVi1: Giá trị hiện tại tương ứng với i1

NPVi2: Giá trị hiện tại tương ứng với i2

Nếu khoảng cách giữa giá trị IRR với i1 và i2 còn lớn thì tiếp tục nội suy với IRR và i1 với cặp IRR và i2 để xác định chính xác hơn IRR

Khi sử dụng phương pháp nội suy, không nên nội suy quá rộng, cụ thể là khoảng cách giữa hai tỷ suất chiết khấu được chọn (i1 và i2) không nên vượt quá

Trang 28

0,5%, ngoài ra cần thận trọng khi chọn tỷ suất ban đầu (i1 và i2), tỷ suất này càng gần IRR bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu

Nguyên tắc sử dụng phương pháp IRR trong phân tích hiệu quả: dự án đầu tư

có lợi khi lãi suất tính toán (itt) nhỏ hơn mức lãi suất nội tại IRR Có itt<IRR Tức là cái chuẩn để chấp nhận hay gạt bỏ một dự án khi phân tích hiệu quả theo IRR là giá trị itt Trong số những dự án đầu tư độc lập, dự án nào có IRR cao hơn sẽ có vị trí cao hơn về khả năng sinh lợi

Trong công thức tính toán tỷ suất hoàn vốn nội bộ cũng bộc lộ một số ưu nhược điểm như sau:

Ưu điểm: chỉ tiêu IRR chỉ rõ mức độ lãi suất mà dự án có thể đạt được Qua

đó có thể xác định được mức lãi suất tính toán (in) tối đa mà dự án có thể chịu đựng được Đây là ưu điểm đặc thù của phương pháp Việc sử dụng phương pháp này thích hợp với trường hợp mà lý do nào đó người phân tích muốn tránh hoặc khó xác định được chính xác tỷ suất chiết khấu (in) dùng trong phương pháp hiện giá

Vì những ưu điểm này mà dự án ở các nước chỉ tiêu IRR được dùng rất phổ biến, ở nước ta khi lập và đánh giá thì chỉ tiêu IRR cũng là một chỉ tiêu cơ bản Tuy nhiên so với các phương pháp khác, phương pháp IRR cũng còn hạn chế nhất định

Nhược điểm: Việc áp dụng nó có thể không chắc chắn nếu tồn tại các khoản

cân bằng thu chi thực âm đáng kể trong giai đoạn vận hành của dự án, tức là đầu tư thay thế lớn Trong trường hợp ấy có thể xảy ra giá trị hiện tại thực của dự án đổi dấu nhiều lần khi chiết khấu khác nhau Khi tồn tại nhiều IRR và khó xác định chính xác IRR nào làm chỉ tiêu đánh giá Thứ 2 việc tính toán tỷ suất IRR là một công việc phức tạp Ngoài ra việc áp dụng IRR có thể dẫn đến quyết định không chính xác khi lựa chọn các dự án loại trù khác nhau Những dự án có IRR cao nhưng quy mô nhỏ, có thể có NPV nhỏ hơn dự án khác tuy có IRR thấp nhưng NPV lại cao hơn Bởi vậy khi lựa chọn một dự án có IRR cao rất có thể đã bỏ qua cơ hội thu một giá trị hiện tại lớn hơn, trong trường hợp này cần sử dụng phương pháp

Trang 29

NPV Ngoài ra phương pháp này cũng không cho phép xác định những thông tin về mức độ sinh lợi của một đồng vốn bỏ ra ban đầu, thời gian hoàn vốn

d Thời gian hoàn vốn (T): Là thời gian để các khoản thu nhập từ khấu hao và lợi

nhuận sau thuế đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu Hay chính là thời gian cần thiết đề cho mức thu nhập vừa đủ đề hoàn vốn đầu tư ban đầu, được xác định bởi công thức:

T= LR+Đ KH

Trong đó:

T: Thời gian hoàn vốn;

LR: Lợi nhuận ròng hàng năm, đồng;

KH: Mức khấu hao tài sản cố định hàng năm, đồng;

Thời gian thu hồi vốn đầu tư càng ngắn thì dự án đầu tư càng hấp dẫn chủ doanh nghiệp và hấp dẫn với giới kinh doanh

Ngoài ra thời gian thu hồi vốn đầu tư còn được xác định bởi phương trình:

i

C B

1

)1001(

=0

Như vậy thực chất của chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư là thời hạn để thực hiện giá các khoản thu vừa để trang trải cho hiện giá các khoản chi trong đầu tư Một hoạt động đầu tư được coi là hiệu quả xét theo chỉ tiêu T nếu T ≤To, trong đó

To là thời hạn tối đa để hoàn vốn theo yêu cầu đặt ra bởi chính nhà đầu tư (xuất phát

từ hoàn cảnh, từ kinh nghiệm, …) Nếu phải chọn một phương án tốt nhất trong tập hợp nhiều phương án theo chỉ tiếu thời gian thu hồi vốn T≤To đồng thời là nhỏ nhất tức là:

Tch = min{TPACTSS≤T0}

Trong thực tiễn thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định từ công thức xác định NPV khi đó ta xác định được thời gian thu hồi vốn đầu tư như sau:

Trang 30

T = n1 +

2 1

1

n n

n

NPV NPV

+

n

t t t

n

t t t

a B

i C

i B

1 1 1

1

)1001(

)1001(

Tỷ lệ thu chi cho biết cứ một đồng thu chi theo hiện giá thì nhà đầu tư thu bao nhiêu đồng theo hiện giá Một hoạt động đầu tư được coi là hiệu quả theo chỉ tiêu tỷ lệ thu chi khi B/C > 1 đ/đ, tức là thu đủ bù đắp cho chi và có lãi Nếu phải chọn một phương án tốt nhất trong tập hợp nhiều phương án đầu tư theo chỉ tiêu B/C thì phải chọn phương án có B/C>1 đ/đ đồng thời phải là lớn nhất

(B/C)opt= max{(B/C)PACTSS>1}

1.2 Sự cần thiết và ý nghĩa nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh được coi như là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sử dụng đạt được ở trình độ nào đó mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có thể được hiểu là tạo ra kết quả cao hơn trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc làm tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào

Chúng ta đều biết rằng các nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm,

Trang 31

càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau cuả con người Các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng lên Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh phải biết tận dụng và sử dụng tiết kiệm tối đa các nguồn lực đầu vào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Để làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Bởi vì, thị trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng và chất lượng phù hợp Nếu doanh nghiệp làm tốt ba điều trên thì sản phẩm

sẽ tiêu thụ được trên thị trường, không lãng phí các nguồn lực sản xuất Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là cực kỳ quan trọng và không thể không đặt ra với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Nó thực sự là vấn đề sống còn đối với mọi doanh nghiệp

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh đó là: chất lượng và sự khác biệt hóa Để duy trì lợi thế về giá

cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có lợi để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận

1.2.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh trình độ

sử dụng lực lượng sản xuất dưới chế độ chủ nghĩa xã hội trong cơ chế thị trường Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao thì quan hệ sản xuất ngày càng

Trang 32

hoàn thiện, càng nâng cao hiệu quả sử dụng Càng nâng cao hiệu quả sử dụng thì càng hoàn thiện quan hệ sản xuất, yêu cầu của quy luật kinh tế ngày càng được thỏa mãn

Đối với bản thân doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu

cơ bản của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Nó giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn, hay nói cách khác nó là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, cải tạo, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh góp phần tái sản xuất mở rộng, để cải thiện đời sống nhân dân, tích luỹ cho ngân sách, tăng uy tín và thế lực của doanh nghiệp trên thương trường

Đối với cá nhân thì nó là động cơ thúc đẩy, kích thích người lao động hăng say lao động giúp cho năng suất lao động ngày một nâng cao Qua đó hiệu quả kinh doanh cũng sẽ được nâng cao

1.3 Khái quát về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Nước sạch và vệ sinh nông thôn là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được Đảng, Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm Trong những năm qua, vị trí, vai trò, ý nghĩa và các mục tiêu của công tác này đã liên tục được đề cập đến trong nhiều loại hình văn bản quy phạm Pháp luật của Đảng,Nhà nước, Chính phủ như: Nghị quyết TW VIII, Nghị quyết

TW IX, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, Chiến lược Quốc gia nước sạch và VSNT giai đoạn 2000 – 2020…

Để tăng nhanh tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch và số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện mục tiêu cải thiện điều kiện sống và sức khoẻ của người dân nông thôn, nhằm góp phần cải thiện công cuộc xoá đói giảm nghèo và từng bước hiện đại hoá nông thôn từ năm 1999, Việt Nam đã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 1999 – 2005 theo Quyết định số 237/QĐ-TTG ngày 03/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 33

Tính đến năm 2005, trên địa bàn cả nước đã có khoảng 62% số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt, khoảng 50% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, 70% tổng số trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, 50% tổng số trạm xá, 17% tổng số chợ ở khu vực nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn Mục tiêu đến năm 2010 có 85% dân số được sử dụng nước sạch với mức tối thiểu 60 lit/người/ngày; 70% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh; tất cả các nhà trẻ, trường tiểu học, trường mầm non, trạm xá, trụ sở xã ở nông thôn có đủ nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh; từng bước giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đặc biệt là làng nghề chế biến lương thực - thực phẩm quy mô thôn, xã

Tuy đã đạt được nhiều chỉ tiêu đáng khích lệ, nhưng việc cấp nước sinh hoạt

và vệ sinh môi trường nông thôn vẫn gặp phải một số khó khăn đó là:

Chất lượng nước và chất lượng xây dựng các công trình cấp nước nhìn chung còn thấp chưa đạt yêu cầu đặt ra Nhiều vùng đang diễn ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước do sự xâm nhập mặn, do chất thải chăn nuôi, chất thải làng nghề, hoá chất sử dụng trong nông nghiệp… ngày càng nghiêm trọng ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khoẻ của nhân dân Bên cạnh đó, nhiều khu vực đồng bằng đã phát hiện hàm lượng Asen trong nước ngầm khá cao so với tiêu chuẩn cho phép đang là một trong những thách thức lớn đối với công nghệ xử lý và nguồn lực đầu tư

Tính đồng đều trong việc cấp nước sạch ở các vùng miền còn nhiều hạn chế Nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn tra từ 5 đến 6 tháng trong năm như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên

Tính bền vững của các thành quả đã đạt được chưa cao Số lượng và chất lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ

Phương pháp, công nghệ xử lý rác thải, nước thải tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng làng nghề đang là vấn đề bức xúc, chưa có giải pháp hữu hiệu

Trang 34

Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội đặc biệt là khu vực tư nhân

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh nước sạch

Trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, việc nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết Với các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao sức khoẻ cộng đồng, giảm thiểu các bệnh do nước mang lại Sự hiểu biết các nhân tố này sẽ giúp họ có kinh nghiệm đưa ra các biện pháp phòng ngừa những nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực, kích thích những nhân tố

có tác động tích cực để nhằm mục đích đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh, tạo tiền đề cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp

Trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh, các đại lượng kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) đều chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu

tố khác nhau Có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nước sạch của doanh nghiệp thành các nhóm sau:

1.4.1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

a Nhân tố quản trị doanh nghiệp

+ Nhân tố quản trị đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp phải xác định cho mình một hướng đi đúng, mọi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được xác định một cách đúng đắn

+ Chiến lược là cơ sở đầu tiên quyết định sự thành bại của doanh nghiệp - ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các hoạt động quản trị của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ảnh hưởng của các nhân tố này tùy

Trang 35

thuộc rất lớn vào việc tạo ra cơ cấu sản xuất cũng như trình độ tổ chức sản xuất của

bộ máy quản trị doanh nghiệp

b Lực lượng lao động

Việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nhưng chỉ trang thiết bị máy móc hiện đại cho sản xuất thì chưa đủ mà một vấn đề không kém phần quan trọng là lao động

Ta biết máy móc dù có hiện đại đến đâu thì cũng do con người chế tạo ra nếu không có sự năng động sáng tạo của con người thì sẽ không có được máy móc thiết

bị

Máy móc dù có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật và đặc biệt là trình độ người lao động trực tiếp sử dụng thiết bị thì mới phát huy được hết vai trò tác dụng và như vậy mới có hiệu quả cao

Thực tế cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp trước đây do chạy đua với các tiến bộ khoa học nên đã nhập rất nhiều các dây chuyền công nghệ mới, hiện đại của nước ngoài về nhưng cũng không có tác dụng nâng cao hiệu quả mà còn ngược lại

do trình độ sử dụng của người lao động không có do đó không thể sử dụng được

Như vậy để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có đầy đủ lực lượng lao động máy móc thiết bị, nguyên vật liệu , các yêú tố này phải đựoc sử dụng cân đối hài hòa trong quá trình sản xuất thì mới đem lại hiệu quả sản xuất cao, chi phí sản xuất thấp và như vậy hiệu quả kinh tế mới cao

c Vật tư, nguyên vật liệu

+ Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào đều cần có đầy đủ

03 yếu tố là lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, trong đó vật tư, nguyên vật liệu là một yếu tố không thể thiếu đựợc trong sản xuất kinh doanh Do vậy số lượng, chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ trong việc cung ứng nguyên vật liệu, chất lượng nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và do đó có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 36

+ Chất lượng nguyên vật liệu cao sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút khách hàng, nâng cao uy tín cho doanh nghiệp tạo ra hiệu quả cao trong quá trình sản xuất kinh doanh

+ Ngoài ra chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập hệ thống cung ứng nguyên vật liệu trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người cung ứng và người sản xuất Đảm bảo khả năng cung ứng vật tư nguyên vật liệu kịp thời, chính xác đúng nơi cần thiết tránh tình trạng không có vật tư, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, hoặc ứ đọng quá nhiều gây tồn đọng vốn

d Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin

Thông tin là một yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là trong công tác quản lý Để kinh doanh có hiệu quả nhất là trong môi trường cạnh tranh doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin chính xác về thị trường, giá cả, các đối thủ cạnh tranh, về tình hình cung cầu Những thông tin chính xác, kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng và chiến lược kinh doanh

1.4.2 Nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh nước sạch không chỉ chịu tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp mà còn chịu tác động lớn từ các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài Các nhân tố này tạo ra cả cơ hội lẫn nguy cơ đối với mỗi doanh nghiệp, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường nội bộ tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh tồn tại một cách khách quan, gây ra những khó khăn cũng như tạo ra những điều kiện thuận lợi tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết các doanh nghiệp phải thiết lập mối quan hệ kinh tế với bạn hàng, phải thực hiện theo các quy trình của hệ thống pháp luật, giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan

Trang 37

Do vậy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có sự ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài đó là sự tổng hợp các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiêp

a Môi trường pháp lý

Bao gồm luật, các văn bản pháp luật, các quy trình quy phạm sản xuất, các quy định pháp luật về mặt hàng sản xuất kinh doanh Môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng không chỉ chú ý đến hiệu quả của riêng mình mà còn chú ý đảm bảo lợi ích kinh tế của mọi thành viên trong xã hội với tư cách doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh

Các chính sách kinh tế của nhà nước cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh như:

Chính sách thuế có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nếu thuế cao lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại

Thuế tài nguyên

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế xuất nhập khẩu phải nộp

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Chính sách lãi xuất cũng ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất kinh doanh và như vậy sẽ tác động trực tiếp đến hiệu qủa của quá trình sản xuất kinh doanh

b Môi trường văn hóa xã hội

Các yếu tố của môi trường văn hóa xá hội cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh: tình trạng thiếu việc làm, trình

độ văn hóa giáo dục, điều kiện xã hội, phong cách, lối sống sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận và đào taọ đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao, phong cách lối sống theo tác phong công nghiệp cũng có tác động tích cực trong việc thực hiện nghiêm túc kỷ luật lao động đó là động lực thức đẩy quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp và giảm chi phí sản xuất

Trang 38

c Môi trường chính trị

Tình hình chính trị trong nước và quốc tế ổn định với một môi trường pháp lý

ổn định luôn là tiền đề cho mọi hoạt động đầu tư với quy mô lớn như vậy sẽ có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

d Môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng

Vấn đề môi trường và các quy định về môi trường đều có ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một môi trường trong sạch trong sạch thoáng mát sẽ làm giảm chi phí để cải thiện môi trường và tạo điều kiện nâng cao năng xuất lao động làm tăng hiệu quả kinh tế và ngược lại

Cơ sở hạ tầng cũng đóng một vai trò rất quan trọng có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý và sử dụng lao động, tạo tâm lý ổn định cho người lao động, cơ sở để bảo đảm quản lý và sử dụng tốt các vấn đề về nguyên vật liệu và

do đó sẽ có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh

e Điều kiện tự nhiên và thời tiết

Điều kiện địa chất tự nhiên và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vấn đề thời tiết cũng có tác động không nhỏ đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thời tiết mưa nhiều cũng gặp nhiều khó khăn và như vậy sẽ tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

f Môi trường kinh tế

Các chính sách kinh tế của chính phủ, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự biến động của tiền tệ, luôn tác động mạnh mẽ đến các hoạt động của doanh nghiệp Nhìn chung các nhân tố của môi trường bên ngoài tạo ra cả những cơ hội và nguy

cơ làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

và như vậy sẽ có tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Các yếu tố đó tác động đến hiệu quả kinh doanh theo hai hướng: thúc đẩy và cản trở Điều quan trọng phải làm đó là làm sao để phát huy tối đa các nhân tố thúc

Trang 39

đẩy hiệu quả kinh doanh và hạn chế tới mức thấp nhất các nhân tố cản trở nó

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chính là mục tiêu cao nhất mà doanh nghiệp hướng tới Vì vậy, nó đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải nỗ lực, phấn đấu, phát huy hết khả năng để đạt được mục tiêu đó

Trang 40

và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty

a Quá trình phát triển Công ty

Công ty cổ phần Nước sạch & Vệ sinh nông thôn Nam Định được thành lập ngày 31/12/2007 trên cơ sở văn bản số 383/TB-UBND của Ủy Ban Nhân dân tỉnh Nam Định ngày 28/12/2007 theo số đăng ký kinh doanh số: 0703000956 do Sở Kế hoạch & Đầu tư Nam Định cấp, với số vốn điều lệ là: 10.159.130.000 đồng Trong

đó cổ đông Nhà nước chiếm 81,8%, còn lại là cổ đông cấp xã chiếm 18,2% vốn điều lệ

Ngày 01/3/2008, thực hiện Quyết định số 406/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân dân tỉnh ngày 19/2/2008 Công ty tiếp nhận Ban Quản lý dự án Nước sạch & Vệ sinh nônh thôn vay vốn WB – thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn để tiếp tục thực hiện Dự án theo Hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và WB Đồng thời tiếp nhận, quản lý khai thác 2 nhà máy nước ở xã Đại Thắng và Xuân Phú thuộc Dự

án đầu tư xây dựng

Ngày 19/2/2008, thực hiện Quyết định số 407/QĐ-UBND của Ủy Ban Nhân dân tỉnh, Công ty tiếp nhận nguyên trạng toàn bộ khối tự trang trải thuộc Trung tâm nước sinh hoạt & vệ sinh môi trường Nông thôn Nam Định (gồm Cửa hàng, đội thi công; 3 nhà máy nước: Xuân Trường, Mỹ Lộc và Nam Dương), với 40 cán bộ công nhân viên và toàn bộ tài sản trị giá 19,27 tỷ đồng (theo QĐ số 1118/QĐ-UBND ngày 03/6/08)

Hiện nay Công ty đang thực hiện cấp nước cho khoảng 15.000 hộ dân trên địa bàn 4 huyện (Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nam Trực, Xuân Trường), đến năm 2013 khi toàn

bộ các Nhà máy do Dự án cấp nước sạch & VSNT vay vốn Ngân hàng thế giới đi

Ngày đăng: 22/05/2021, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w