Chính vì những khókhăn trên nên hiệu quả giáo dục KNXH cho HS ở các trường TH trên địa bànquận Đống Đa, Hà Nội trong thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.Xuất phát từ bối cảnh thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THỊ TUYẾT
GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO
HỌC SINH LỚP 5 QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THỊ TUYẾT
GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO
HỌC SINH LỚP 5 QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Thành Hưng
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Tuyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn Bangiám hiệu, đội ngũ cán bộ quản lí đào tạo sau đại học, giảng viên của TrườngĐại học sư phạm Hà Nội 2 và toàn thể các giảng viên tại các đơn vị đã hếtlòng giảng dạy, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Thành Hưng, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo củaTrường tiểu học Phương Mai, Tiểu học Khương Thượng, Tiểu học QuangTrung, Tiểu học Phương Liên, Tiểu học Kim Liên quận Đống Đa, Tp Hà Nội,các bạn đồng nghiệp, những người thân đã động viên khuyến khích, tạo điềukiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Tuyết
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BI U vii
DANH MỤC BI U ĐỒ, H NH V viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH TI U HỌC QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu về về kĩ năng xã hội và giáo dục kĩ năng xã hội 6
1.1.2 Nghiên cứu về trò chơi dân gian và giáo dục kĩ năng xã hội qua trò chơi dân gian cho học sinh 11
1.2 Những khái niệm công cụ 15
1.2.1 Kĩ năng và kĩ năng xã hội 15
1.2.2 Trò chơi dân gian 19
1.2.3 Giáo dục kĩ năng xã hội 21
1.3 Những vấn đề chung về giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 23
1.3.1 Vai trò, tiêu chí và đặc trưng của trò chơi dân gian trong giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học 23
1.3.2 Đặc điểm và phân loại kỹ năng xã hội của học sinh tiểu học 26
1.3.3 Các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 thông qua trò chơi dân gian 30
1.3.4 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học 33
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học qua qua trò chơi dân gian 34
1.4.1 Yếu tố chủ quan 34
1.4.2 Yếu tố khách quan 35
Kết luận chương 1 37
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TI U
HỌC QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI 38
2.1 Khái quát về giáo dục tiểu học ở quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội 38
2.1.1 Thực trạng dạy học của giáo viên 38
2.1.2 Thực trạng học tập và sinh hoạt của học sinh 40
2.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học 41
2.2 Giới thiệu về khảo sát thực trạng 41
2.2.1 Mục đích, qui mô, địa bàn, đối tượng khảo sát 41
2.2.2 Nội dung khảo sát 41
2.2.3 Phương pháp khảo sát 42
2.2.4 Xây dựng mẫu phiếu và xử lí số liệu khảo sát 42
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 43
2.3.1 Thực trạng nhận thức về giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 43
2.3.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 48
2.3.3 Thực trạng thực hiện nội dung các kỹ năng xã hội cơ bản cần giáo dục cho học sinh lớp 5 thông qua trò chơi dân gian 49
2.3.4 Thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 51
2.3.5 Thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 52
2.3.6.Thực trạng kết quả hình thành các kĩ năng xã hội của học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 54
2.3.7 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 58
2.4 Đánh giá chung thực trạng và nguyên nhân thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian ở một số trường tiểu học quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 59
Trang 72.4.1 Ưu điểm 59
2.4.2 Hạn chế 60
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 61
Kết luận chương 2 62
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 63
3.1 Những nguyên tắc cơ bản của trò chơi dân gian 63
3.1.1 Tính mục đích 63
3.1.2 Tính vừa sức 63
3.1.3 Tính trải nghiệm 63
3.1.4 Tính hiệu quả 63
3.2 Biện pháp và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 63
3.2.1 Xác định các kĩ năng xã hội cần giáo dục thông qua trò chơi dân gian63 3.2.2 Xây dựng qui trình thiết kế và lựa chọn trò chơi dân gian 67
3.2.3 Qui trình tổ chức trò chơi dân gian và áp dụng các phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội trong quá trình tiến hành trò chơi 71
3.2.4 Tổ chức và hướng dẫn trò chơi dân gian trong quá trình dạy học ở trên lớp 75
3.2.5 Tổ chức và hướng dẫn trò chơi dân gian trong các hoạt động ngoại khóa 80 3.3 Tổ chức thực nghiệm khoa học 85
3.3.1 Khái quát về thực nghiệm 85
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 89
3.3.3 Nhận xét chung về thực nghiệm 97
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBQL, GV Cán bộ quản lí, giáo viên
Trang 9DANH MỤC BẢNG I U
Bảng 2.1 Quan niệm của GVTH về KNXH của học sinh 43
Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, GV về vai trò của KNXH đối với học sinh lớp 5 44
Bảng 2.3 Nhận thức của GVTH về ảnh hưởng của TCDG đến sự phát triển KNXH của học sinh lớp 5 45
Bảng 2.4 Đánh giá của GVTH về sự hình thành KNXH ở học sinh lớp 5 47
Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng xã hội 48
cho học sinh lớp 5 48
Bảng 2.6 Đánh giá của CBQL, GV về thực hiện nội dung các kĩ năng xã hội cơ bản cần giáo dục cho học sinh lớp 5 qua TCDG 49
Bảng 2.7 Đánh giá của GVTH về thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNXH 51
Bảng 2.8 Đánh giá của GVTH về các hình thức tổ chức giáo dục KNXH cho học sinh lớp 5 qua TCDG 52
Bảng 2.9 Kết quả hình thành các KNXH của học sinh lớp 5 qua TCDG 54
Bảng 2.10 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục KNXH cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian 58
Bảng 3.1 Lớp TN và lớp ĐC 85
Bảng 3.2 Tiêu chí đánh giá KNXH của HSTH qua TCDG 88
Bảng 3.3 Kết quả điểm kiểm tra về nhận thức của học sinh nhóm TN và nhóm ĐC trước TN 90
Bảng 3.4 Điểm kiểm tra nhận thức của nhóm TN và nhóm ĐC sau TN 91
Bảng 3.5 KNXH của học sinh nhóm TN và nhóm ĐC trước TN 93
Bảng 3.6 KNXH của học sinh nhóm TN và nhóm ĐC sau TN 96
Trang 10DANHMỤC I UĐỒ H NHV
Hình 3.1 Qui trình phương pháp nghiên cứu xây dựng hệ thống KNXH 65
Hình 3.2 Điểm kiểm tra nhận thức của 90
học sinh nhóm TN và nhóm ĐC trước TN 90
Hình 3.3 Điểm kiểm tra nhận thức của 92
học sinh nhóm TN và nhóm ĐC sauTN 92
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Yêu cầu hình thành và phát triển những kĩ năng cho học sinh (HS) nói
chung và HSTH nói riêng đã được Luật Giáo dục xác định tại Điều 27 “Hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [44] Trong các kĩ năng cơ bản, KNXH có vai trò quan trọng trong
giúp HS đạt kết quả tốt trong học tập, rèn luyện và phát triển cá nhân, đáp ứngtốt hoàn cảnh sống luôn thay đổi
Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị lần
thứ Tám BCH TW Đảng khóa XI “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáo ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” đã chỉ rõ cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo và vận dụng tri thức, kĩ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Chuyển từ học chủ yếu trênlớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoạikhóa, nghiên cứu khoa học [14] Như vậy, ngoài phát huy tính tích cực chủđộng của HS thì cần phải giáo dục và phát triển các kĩ năng cần thiết, trong đó
có KNXH Đây cũng là mục tiêu nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục tiểu học.Giáo dục KNXH cho HSTH có vai trò rất quan trọng, làm nền tảng cho sựphát triển của các em sau này Giáo dục KNXH sẽ giúp HSTH có kinhnghiệm thực tế xã hội, biết điều nên làm và không nên làm, giúp HS tự tin,chủ động và biết cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, khơi gợi khảnăng tư duy sáng tạo độc lập của các em, đặt nền tảng tương lai cho conngười có trách nhiệm và chung sống hài hòa trong cộng đồng Hơn nữa, lứatuổi HS lớp 5 là giai đoạn đang mở rộng các mối quan hệ với những người
Trang 12xung quanh, chính những mối quan hệ này làm thúc đẩy sự phát triển cácKNXH của các em thay đổi một cách rõ rệt theo hướng tích cực hay tiêu cực.
Vì vậy, việc giáo dục KNXH cho HS lớp 5 để phù hợp với chuẩn mực xã hội
là vô cùng quan trọng và thật sự cần thiết
Việc giáo dục KNXH cho HSTH có thể thực hiện bằng nhiều hình thứckhác nhau, tuy nhiên việc giáo dục này sẽ thuận lợi hơn khi thông qua trò chơidân gian (TCDG) Vì vui chơi là một phần bản năng tự nhiên của trẻ nhỏ.TCDG là dạng trò chơi bổ ích, chứa đựng nhiều cơ hội phát triển cho HS vềmọi mặt Nội dung và luật của TCDG hoàn toàn phản ánh đời sống xã hội, bắtnguồn từ đời sống xã hội, từ nhân dân Khi hoạt động trong môi trường được
tổ chức bằng TCDG, HS có nhiều cơ hội nhất để phát triển KNXH TCDGkhông chỉ giúp HS thỏa mãn nhu cầu chơi đùa, học hỏi, tiếp thu hiểu biết, tíchlũy kinh nghiệm đơn giản hằng ngày mà còn đặt nền tảng khá vững chắc đểrèn luyện và phát triển những KNXH cần thiết, phù hợp với các chuẩn mựcgóp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập sau này cũng như giúp HS
tự tin hơn trong các mối quan hệ xã hội
Thực tế, ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận Đống Đa, thành phố HàNội, hoạt động giáo dục KNXH cho HS đã được các nhà trường quan tâm thựchiện và đã đạt được kết quả tích cực trong thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diệnHSTH Tuy nhiên, nhiều cán bộ, GV, nhân viên chưa nhận thức đầy đủ vềKNXH, về tầm quan trọng của giáo dục KNXH Vì vậy, hoạt động giáo dụcKNXH cho HSTH nhất là cho HS lớp 5 ở các trường tiểu học (TH) nhìn chungchưa nhận được sự quan tâm ủng hộ, tự giác, tích cực tham gia của đội ngũ cán
bộ quản lí (CBQL), giáo viên (GV), nhân viên nhà trường Bên cạnh đó, nộidung, phương pháp hình thức giáo dục KNXH cho HS của nhiều trường TH cònhạn chế, nhất là việc giáo dục KNXH cho HS qua TCDG chưa được quan tâmđúng mức, một bộ phận GV chưa đánh giá đúng tầm quan
Trang 13trọng của TCDG trong giáo dục KNXH, phát triển HS nói chung, do đó chưaphát huy có hiệu quả hình thức giáo dục KNXH này Chính vì những khókhăn trên nên hiệu quả giáo dục KNXH cho HS ở các trường TH trên địa bànquận Đống Đa, Hà Nội trong thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn và lí luận trên, đề tài “Giáo dục kĩ năng
xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian” được lựa chọn để nghiên
cứu luận văn thạc sĩ Giáo dục học (tiểu học)
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về giáo dục KNXH cho HSTH, từ đó
đề xuất các biện pháp giáo dục KNXH cho HS lớp 5 qua TCDG góp phầnnâng cao kết quả giáo dục HSTH
3 Khách thể và đối tượng nghiên
cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu
Các hoạt động giáo dục cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa trò chơi dân gian với giáo dục kĩ năng xã hội cho họcsinh lớp 5 trường tiểu học ở quận Đống Đa - Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Trò chơi dân gian chứa đựng nhiều cơ hội để giáo dục KNXH cho HS
Nếu các biện pháp giáo dục KNXH chỉ rõ được nội dung giáo dục, kĩ thuật
thiết kế và lựa chọn TCDG phù hợp, có tác động hướng dẫn và điều chỉnhhoạt động của HS trong trò chơi dưới nhiều phương pháp hình thức đa dạng
thì chúng sẽ tác động tích cực đến sự phát triển KNXH của HS lớp 5, góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho HSTH
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinhtiểu học qua trò chơi dân gian
Trang 145.2 Đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội qua trò chơi dân giancho học sinh lớp 5 ở một số trường tiểu học quận Đống Đa - Hà Nội.
5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểuhọc thông qua trò chơi dân gian
5.4 Tổ chức thực nghiệm khoa học để đánh giá kết quả nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích lịch sử-logic để tổng quan, chọn lọc tư liệu cóliên quan đến trò chơi giáo dục, TCDG, giáo dục KNXH ở tiểu học
- Phương pháp so sánh lí luận để xem xét các nguồn lí thuyết giáo dục
kĩ năng, lí thuyết trò chơi giáo dục và kinh nghiệm từ các trường
- Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa lí luận để xây dựng hệ thống khái niệm và khung lí thuyết của nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, tọa đàm, quan sát vềthực trạng giáo dục KNXH qua trò chơi dân gian cho HS lớp 5
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm để xem xét và tiếp thu kinhnghiệm giáo dục kĩ năng xã hội, sử dụng trò chơi dân gian và các biện pháp
Trang 15giáo dục kĩ năng xã hội qua trò chơi dân gian ở lớp 5.
- Phương pháp hồi cứu và phân tích hồ sơ giáo dục, hồ sơ quản lí
- Phương pháp thực nghiệm để kiểm tra tác động của các biện pháp giáo dục kĩ năng xã hội qua trò chơi dân gian cho học sinh lớp 5
7.3 Các phương pháp khác
Sử dụng thống kê để xử lí số liệu, đánh giá và trình bày kết quả nghiên
cứu dựa vào chương trình SPSS (Statistical Package for the Social Sciences).
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi dân gian
Chương 2 Thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian ở một số trường tiểu học quận Đống Đa, Hà Nội
Chương 3 Các biện pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về về kĩ năng xã hội và giáo dục kĩ năng xã hội
Quan niệm về KNXH đã có từ rất lâu, đôi khi nó được nhắc đến vớinhiều tên gọi khác nhau, như “chỉ số cảm giác”, “kiến thức tiềm ẩn” và “hiểubiết về mối tương giao giữa người với người” [83] Từ năm 1916, mỗi ngườidân lao động tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức côngnhận là đã qua 13 kĩ năng bắt buộc là: 1 Học cách học - phương pháp học; 2.Lắng nghe và thấu hiểu; 3 Thuyết trình và thuyết phục; 4 Giải quyết vấn đề;
5 Tư duy sáng tạo và hiệu quả; 6 Tinh thần tự tôn; 7 Đặt mục tiêu và tạođộng lực; 8 Phát triển cá nhân và sự nghiệp; 9 Giao tiếp thành công; 10 Tinhthần đồng đội; 11 Đàm phán và thương lượng thành công; 12 Đảm bảo hiệuquả tổ chức; 13 Lãnh đạo bản thân và tổ chức [84]
Năm 1998, tổ chức UNESCO đã có những dự án dành cho nhóm hưởnglợi là phụ nữ biết đọc, biết viết hạn chế (từ năm 1990-1992), năm 2000-2001UNICEF đã hỗ trợ chương trình rủi ro, tai nạn cho trẻ em và phụ nữ đồng bằngsông Cửu Long [dẫn theo 71, tr.45] Những năm đầu của thập niên 90, một sốnước châu Á như: Ấn Độ, Indonexia, Thái Lan đã đề nghị các chương trìnhgiáo dục và trang bị kĩ năng như: Dạng các chuyên đề cần thiết cho người họcnhư: kĩ năng nghề, kĩ năng hướng nghiệp… và được chia làm 3 nhóm chính:Nhóm kĩ năng cơ bản (các kĩ năng đọc, viết, ghi chép.), nhóm kĩ năng chung(gồm các kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấnđề) và nhóm kĩ năng cụ thể (kĩ năng ứng xử bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe,nâng cao đời sống tinh thần) [dẫn theo 71, tr.46]
Trang 17Gần đây Bộ Lao động Mỹ đã đưa ra 10 KNXH mà cá nhân cần phải có[84]: 1) Kĩ năng giải quyết vấn đề; 2) Các kĩ năng về nghề nghiệp - kĩ thuật; 3)
Kĩ năng giao tiếp; 4) Sử dụng máy vi tính và lập trình; 5) Kĩ năng sư phạm;6) Kĩ năng về khoa học và toán học; 7) Quản lí tiền bạc; 8) Quản lí thông tin;9) Ngoại ngữ; 10) Quản trị kinh doanh
Tại Úc các kĩ xã hội được xác định gồm: 1) Kĩ năng giao tiếp(Communication skills); 2) Kĩ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills); 3) Kĩnăng giải quyết vấn đề (Problem solving skills); 4) Kĩ năng đề xướng và mạohiểm (Initiative and enterprise skills); 5) Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức côngviệc (Planning and organising skills); 6) Kĩ năng quản lí bản thân(Selfmanagement skills); 7) Kĩ năng học tập (Learning skills); 8) Kĩ năng côngnghệ (Technological skills) [85]
Canada nhấn mạnh 6 kĩ năng sau: 1) Kĩ năng giao tiếp(Communication); 2) Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving); 3) Kĩ năng
tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours); 4) Kĩ năngthích ứng (Adaptability); 5) Kĩ năng làm việc với con người (Working withothers); 6) Kĩ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science,technology and mathematics skills) [85]
Anh đề nghị 6 kĩ năng quan trọng: 1) Kĩ năng tính toán (Application ofnumber); 2) Kĩ năng giao tiếp (Communication); 3) Kĩ năng tự học và nângcao năng lực cá nhân (Improving own leaming and performance); 4) Kĩ năng
sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information andcommunication technology); 5) Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving);6) Kĩ năng làm việc với con người (Working with others) [85]
Ở Singapore, việc đề cao điểm số làm cho KNXH quan trọng bị xemnhẹ Để khắc phục hiện tượng trên, thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu đãđưa ra 10 KNXH để mở cửa thành công: 1) Nuôi dưỡng ước mơ; 2) Kỉ luật;
Trang 183) Siêng năng; 4) Sống chan hòa; 5) Kĩ năng lãnh đạo; 6 Đứng vững sau thấtbại; 7) Cư xử đúng mực; 8) Sống có trách nhiệm; 9) Biết tha thứ; 10) Kiênnhẫn biết chờ thời cơ [86].
Có thể thấy, các nghiên cứu về giáo dục KNXH cho HS ở Mỹ, Canada,
Úc, Anh hay ở Singapore đều hướng đến việc trang bị cho người học hệthống các KNXH, làm cho HS sớm có được những KNXH cần thiết, để HS
dễ dàng thích ứng vói môi trường xã hội Song có những khác biệt về nộidung các KNXH cụ thể tùy theo quốc gia, các biện pháp quản lí mới chỉ dừnglại ở việc thiết kế và giáo dục mang tính lồng ghép
Lawrence E Shapiro (2004) đã đưa ra hướng dẫn 101 cách để quản lí,giáo dục để trẻ có được các KNXH với các cách thể hiện trong giao tiếp bằngngôn ngữ, giao tiếp phi ngôn ngữ, giao tiếp bằng cảm xúc, sự trải nghiệmtrong mối tương tác giữa bản thân với người khác, kĩ năng giải quyết vấn đề,
kĩ năng lắng nghe và quản lí xung đột [80] Thomas Mclntyre, nhà giáo dụcngười Mỹ trong nghiên cứu công bố năm 2003 với tiêu đề “Dạy cho trẻnhững KNXH chưa ai dạy chúng”, tác giả cũng nêu lên sự cần thiết phải dạycho trẻ những KNXH [82]
Kay Burke Mỹ cho rằng: “Kĩ năng xã hội bao gồm các kĩ năng tạo điều kiện cho sự tương tác thành công giữa các cá nhân Chúng là những công cụ không thể thiếu cho quản lí học tập hiệu quả Thật không may, nhiều HS đến lớp mà không có kĩ năng giao tiếp, hoạt động nhóm, kĩ năng giải quyết xung đột trong mối quan hệ với người khác GV đôi khi cảm thấy rằng KNXH không phải là một phần của chương trình giảng dạy và sẽ không giúp HS đạt các tiêu chuẩn hoặc vượt qua các bài kiểm tra Tuy nhiên, GV biết cách giáo dục KNXH cho HS sẽ không mất nhiều thời gian để giảng dạy, theo dõi, đánh giá thúc đẩy môi trường thuận lợi cho việc học tập của HS” [83].
Những nghiên cứu trên cho thấy, giáo dục KNXH cho mọi người, giáo
Trang 19dục KNXH cho HS đang được đặt ra như một nội dung quan trọng nhằmtrang bị cho mọi người các kĩ năng cần thiết trong học tập, làm việc, giaotiếp, ứng xử và quản lí bản thân, nhằm thích ứng với môi trường một cáchnhanh chóng và hiệu quả.
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục KNXH được quan tâm nhiều từ nhữngnăm 1970 Năm 1972, UNESCO công bố “Bốn trụ cột của giáo dục” được coinhư cương lĩnh của nền giáo dục hiện đại, trong đó trụ cột thứ nhất là học đểbiết; trụ cột thứ hai là học để 1àm; trụ cột thứ ba là học để tự khẳng định; trụ cộtthứ tư là học để cùng chung sống Bốn trụ cột đều tập trung vào sứ mạng củagiáo dục đối với người học Trong các tài liệu của UNESCO giải thích về
4 trụ cột, có đoạn nói rõ không nên hiểu việc nêu cao yêu cầu phải đào tạonhững con người có tư duy phê phán, có óc độc lập và sáng tạo là những đòihỏi của chủ nghĩa cá nhân mà phải thấy rằng đó là những phẩm chất cần thiết
để làm cho xã hội phát triển, con người có các KNXH cần thiết [22]
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã quan tâm đến giáodục cho HS các KNXH, nhằm giúp thế hệ trẻ nhanh chóng thích ứng với nềnvăn hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới Năm 1996, nội dung
giáo dục KNXH được thông qua trong chương trình “Giáo dục kĩ năng sống
để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” của UNICEF Giai đoạn 1 của chương trình chỉ dành cho
một số đối tượng của ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ Họ được trang bịmột số kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiênđịnh, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng xác định giá trị Sang giai đoạn 2 củachương trình, đối tượng tập huấn được mở rộng và thuật ngữ kĩ năng thíchứng xã hội được hiểu một cách rộng rãi hơn trong nội dung giáo dục sốngkhỏe mạnh và an toàn [6; tr 26]
Ngày 22/8/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị số
Trang 2040/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-
2013 [5] và Kế hoạch số 307/KH-BGDĐT ngày 22/7/2008 về triển khaiphong trào này [7] Phong trào được hiển khai mạnh mẽ ở tất cả các cấp học
từ mầm non cho đến đại học với mục tiêu liên quan đến việc hình thành, rènluyện KNXH với các mục tiêu cụ thể: rèn luyện kĩ năng ứng xử hợp lí cáctình huống cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rènluyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kĩ năng phòng, chống tai nạn giaothông, đuối nước và các tai nạn thương tiếc khác; rèn luyện kĩ năng ứng xửvăn hóa, chung sống hòa bình phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội
Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kĩ năng thíchứng xã hội cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kĩnăng sống cho trẻ vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việtnam Tham gia dự án có học sinh THCS và trẻ em ngoài trường học ở một sốtỉnh thuộc nhiều khu vực như: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng,
Hà Nội, Gia lai, Kon Tum, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang.Các em được rèn luyện kĩ năng thích ứng xã hội thiết thực để ứng phó vớinhững vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn, mạnh khỏe của trẻ em: Giaotiếp với bạn bè và thầy cô, tự tin trước tập thể, hợp tác với nhóm Mục tiêucủa dự án là hình thức thái độ tích cực của HS đối với việc xây dựng cuộcsống khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; Nâng cao nhậnthức của cha mẹ học sinh về kĩ năng thích ứng xã hội để họ chủ động trongviệc dạy kĩ năng thích ứng xã hội cho con em mình [3, tr 37, 38, 43, 44].Năm 2009, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức diễnđàn “Những kĩ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên” và thông qua diễnđàn này tài liệu “Những kĩ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên” đãđược xuất bản [87]
Trang 21Gần đây những nghiên cứu của Đặng Thành Hưng và Trần Thị Tố Oanh [33], [34] (2014), Nguyễn Văn Hưng [36] (2015) và Nguyễn Thị Hương
[39] (2016) đã góp phần chỉ ra bản chất chung và đặc điểm của KNXH, cácnguyên tắc và biện pháp giáo dục KNXH ở tiểu học thông qua dự án Đặng
Thành Hưng và Trần Thị Tố Oanh cho rằng KNXH là khái niệm chỉ những loại kĩ năng hướng tới và được áp dụng trực tiếp (không gián tiếp qua cái gì) vào những quan hệ, hoàn cảnh, quá trình và đời sống xã hội công cộng để giúp cá nhân nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng xã hội thành công, hiệu quả ở những mức độ nhất định Họ mô tả 3 nhóm KNXH gồm: 1/ Các kĩ
năng nhận thức xã hội, 2/ Các kĩ năng ứng xử và giao tiếp xã hội, 3/ Các kĩnăng thích ứng xã hội [34] (2014)
1.1.2 Nghiên cứu về trò chơi dân gian và giáo dục kĩ năng xã hội qua trò chơi dân gian cho học sinh
Sử dụng trò chơi để giáo dục và giúp phát triển một số năng lực củangười học đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu như:Janet Moyles (2005) [77], D.P Elkonin (1984) [76], Kelvin L Seifert vàRobert J Hoffnung (1987) [79], Johnson, James E (1976) [78], Mullineaux,Paula Y và Lisabeth F Dilalla, 2009) [81], A.N Lêônchép (1980) [42], D.Bergen (2002) [75], (2001) [74] Các nghiên cứu đã phân tích việc sử dụngtrò chơi trong dạy học nhằm tích cực hoá học tập và làm cho việc học có hiệuquả Trẻ em không chỉ học qua bài lớp mà còn học trong trò chơi Chơi với trẻvừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức tự giáo dục nghiêm túc
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà giáo dục Nga như P A.Bexônôva, O P Seia, V I Đalia, E A Pokrôvxki đã đánh giá cao vai trògiáo dục đặc biệt là tính hấp dẫn của TCDG Nga đối với trẻ mẫu giáo E A.Pokrôvxki đã chỉ ra nguồn gốc và tính hấp dẫn đặc biệt của TCDG, đó lànhững trò chơi thuộc nhóm trò chơi có luật do nhân dân sáng tác, chúng đượctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trò chơi này đa dạng về thể loại và
Trang 22phong phú về nội dung TCDG có sức hấp dẫn lạ thường với trẻ em bởi lẽ,chúng làm thoả mãn nhu cầu chơi, nhu cầu nhận thức và nhu cầu xã hội củatrẻ em [dẫn theo 39; tr 6, 18].
Ở Châu Á với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mianma,Triều Tiên, Malaixia… người lớn cũng đã sưu tầm các TCDG, đặc biệt làTCDG mang tính trí tuệ như “trò chơi tang”, “trò chơi uẩn” chơi với vật liệuthiên nhiên, các TCDG như: “Oan, tu, Dum”, “ Gauy, Ba uy, Bo”, “ Chạy đếnnhà” nhằm mục đích giáo dục mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh
và giúp trẻ rèn luyện các kĩ năng
Nghiên cứu về trò chơi và sử dụng trò chơi trong quá trình giáo dụccũng được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu Đặng ThànhHưng [26], [27], khi nghiên cứu về trò chơi trong dạy học như là một trongcác kĩ thuật dạy học, đã phân tích mối quan hệ giữa sự chơi - hoạt động chơi
và trò chơi Trên cơ sở phân tích các mối quan hệ giữa công việc, chơi và hoạtđộng chơi trong đời sống con người, ông đã làm rõ các khái niệm trò chơi dạyhọc, trò chơi giáo dục, phân loại trò chơi dạy học, phân tích các chức năngdạy học của trò chơi, đồng thời chỉ ra những vấn đề cơ bản của trò chơi, sửdụng trò chơi trong giáo dục và dạy học trên cơ sở tiếp cận phân loại trò chơitheo hướng: tiếp cận về văn hoá, tiếp cận lịch sử, tiếp cận tâm lí và tiếp cậnchức năng
Thái Duy Tuyên (1998) cho rằng “Trò chơi nhận thức là một trong nhữngphương pháp kích thích hoạt động nhận thức và ngày càng sử dụng rộng rãi Nókhông những quan trọng đối với trẻ em mà còn cần thiết cho cả người lớn nữa”.Trên cơ sở phân tích đặc điểm của hoạt động vui chơi, ông cho rằng: chơi là mộtdạng hoạt động, mang đầy đủ tính chất như bất cứ hoạt động xã hội nào khác(tính mục đích, định hướng, ý thức, ), nó luôn thay đổi cùng với sự phát triểncủa xã hội và của chính các em Tính chất đặc biệt của
Trang 23chơi là tính tự do, tự lực, tự tổ chức, sáng tạo và giàu cảm xúc của ngườichơi Ông cũng đã đưa ra một số nguyên tắc, qui trình sáng tạo trò chơi, cách
sử dụng trò chơi trong quá trình giáo dục đạt kết quả tốt nhất [69]
Nhiều luận án bàn về trò chơi ở mẫu giáo, nghiên cứu theo hướng sửdụng trò chơi học tập để phát triển trí tuệ và nhận thức, rèn luyện vận độngthể chất, giáo dục hành vi giao tiếp, giáo dục khoa học, giáo dục toán học,giáo dục ngôn ngữ, phát triển trí tuệ, v.v Đó là những luận án của Trần ThịNgọc Trâm [68], Nguyễn Thị Hoà [23], Lê Bích Ngọc [49], Trương Thị XuânHuệ [25], Phan Thị Lan Anh [1], Trần Văn Tính [66] Ở tiểu học, nghiên cứu
sử dụng trò chơi theo hướng giáo dục đạo đức, giáo dục toàn diện các mặtnhân cách của trẻ, chẳng hạn những luận án của Hà Thị Kim Linh [43] về sửdụng trò chơi dân gian nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học miền núiĐông Bắc, của Đỗ Thị Minh Chính [9] nghiên cứu, ứng dụng trò chơi - đồngdao người Việt cho trẻ em mầm non và tiểu học, của Bùi Thị Lâm [41];nghiên cứu về giáo dục kĩ năng học hợp tác cho học sinh lớp 4 - 5 qua tròchơi khoa học, của Lương Phúc Đức [16]
Việc nghiên cứu trò chơi nói chung và TCDG Việt Nam nói riêng đãđược một số nhà văn hoá, nhà giáo dục Việt Nam sưu tầm, nghiên cứu như:Trò chơi xưa và nay của tác giả Mai Văn Muôn (1985) [46]; Trò chơi dângian của trẻ em Việt Nam (1992) do nhóm tác giả Huy Hà, Hoàng Lân, NgôBích Luận, Phan Ngọc Minh, Lê Bích Ngọc sưu tầm tuyển chọn và giới thiệu[19]; Trần Hoà Bình và Bùi Lương Việt có Trò chơi dân gian trẻ em (2007)[5], Trò chơi dân gian Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh (2009) [40]…Các tác giả đã giới thiệu về nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của TCDG vớiviệc giáo dục và phát triển toàn diện cho thế hệ tương lai
TCDG phong phú, đa dạng và có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dụctrẻ, đặc biệt là hình thành phát triển các kĩ năng, trong đó có KNXH cho trẻ
Trang 24em và HS Nghiên cứu theo hướng này là mối quan tâm đặc biệt của các nhàtâm lí, giáo dục như: Nghiên cứu về biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng cơbản cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua trò chơi vận động dân gian củaNguyễn Thị Mỹ Dung (2007) [11]; Nghiên cứu biện pháp tổ chức trò chơi dângian nhằm giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi học chương trình 26 tuầncủa Trần Thị Dung (2004) [10]; nghiên cứu về tổ chức trò chơi dân gian nhằmgiáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dân tộc H'Mông, củaNguyễn Thị Hương Giang (2010) [17]; nghiên cứu về biện pháp tổ chức tròchơi dân gian nhằm giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, của NguyễnThị Thu Giang (2010) [18]; nghiên cứu sử dụng trò chơi dân gian nhằm giáodục đạo đức cho học sinh tiểu học miền núi Đông Bắc, của Hà Thị Kim Linh(2012) [43]; về nâng cao hiệu quả tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo
ở trường mầm non, của Trương Thị Thanh Mỹ (2013) [47]; về tổ chức tròchơi dân gian nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, của NguyễnThị Thanh Nguyệt (2009) [51]; về một số biện pháp tổ chức trò chơi dân giancho trẻ mẫu giáo bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ, củaHuỳnh Kim Vui (2005) [72]; nghiên cứu tổ chức trò chơi dân gian nhằm nângcao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), của Trần ThịHải Yến (2001) [73] Mỗi một trò chơi không chỉ giúp trẻ được rèn luyện kĩnăng nào đó mà còn là sự kết hợp rèn luyện nhiều kĩ năng khác nhau, Đây lànhững tài liệu có ý nghĩa thiết thực cho giáo viên trong giáo dục học sinh
Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, từ trước đến nay trò chơi nóichung, TCDG nói riêng đã được chú ý trong các trường TH Việt Nam TCDG
đã khẳng định được ý nghĩa của mình trong việc giáo dục phát triển toàn diệnnhân cách trẻ như: thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, lao động, ngôn ngữ… cácnghiên cứu về thiết kế và sử dụng TCDG khá phong phú qua nhiều đề tài, luận
án và luận văn, song chủ yếu dành cho giáo dục mầm non, chưa có nhiều
Trang 25nghiên cứu ở các cấp phổ thông, lại càng ít bàn đến TCDG Hiện nay, nhiềukhía cạnh của hoạt động dạy học - giáo dục và TCDG ở TH, nhất là cho HSlớp 5 chưa được nghiên cứu chuyên biệt Hầu như sách báo bàn nhiều vềnhững vấn đề tâm lí học, sinh lí vận động, phát triển nhận thức hay trí tuệ,giáo dục đạo đức v.v,… mà ít quan tâm đến chức năng giáo dục KNXH, cũngnhư những vấn đề văn hóa, xã hội và phát triển con người của TCDG.
1.2 Những khái niệm công cụ
1.2.1 Kĩ năng và kĩ năng xã hội
1.2.1.1 Kĩ năng
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và đưa ranhiều khái niệm khác nhau, nói chung nổi lên hai khuynh hướng Theo
khuynh hướng thứ nhất, kĩ năng là mặt kĩ thuật của thao tác, của hành động
hay hoạt động Đại diện cho quan niệm này là những nghiên cứu sau:
Ph N Gonobolin (1973) cho rằng: “Kĩ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kĩ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động" [dẫn theo 48, tr.23].
Theo V A Krutretxki (1980), “Kĩ năng là các phương thức thực hiện hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được", Trong một số trường hợp thì kĩ
năng là phương thức áp dụng tri thức vào thực hành, con người cần phải ápdụng và sử dụng nó trong cuộc sống, trong thực tiễn [dẫn theo 42] Trong quátrình luyện tập, trong hoạt động thực hành kĩ năng trở nên hoàn thiện và trongmối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên hoàn hảo hơn trước[dẫn theo 48, tr.24]
A G Kovaliov khẳng định: “Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt động
phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [dẫn theo 48, tr.24] Trần
Trọng Thủy cho rằng: “Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm
được cách thức hành động tức là có kĩ thuật của hành động, có kĩ năng” [65].
Trang 26Theo khuynh hướng thứ hai, kĩ năng được hiểu là năng lực hoặc khả
năng của con người đáp ứng yêu cầu hoạt động nhất định N D Levitov cho
rằng: “Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [dẫn theo 48, tr.31] K K Platonov và G G Golubev nhận định: “Kĩ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới
và trong khoảng thời gian tương ứng” [dẫn theo 70] Theo A V Barabasicov (1963): “kĩ năng là khả năng sử dụng tri thức và kĩ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình hoạt động thực tiễn Khả năng này là khả năng tự tạo của con người” [dẫn theo 48] Từ điển tiếng Việt cũng định nghĩa “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [58] Vũ Dũng cho rằng: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kĩ năng, công việc được hình thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng Kĩ năng được hình thành qua luyện tập” [13] Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [59] Phan Tú Anh nhận định: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm một cách linh hoạt để thực hiện có kết quả một hành động nào đó trong những điều kiện phù hợp” [2].
Cả hai quan điểm trên đều có điểm hợp lí nhưng cũng có điểm chưathuyết phục do thiếu logic Đồng nhất kĩ năng và kĩ thuật là không chính xác
Kĩ năng có tính kĩ thuật, được thực hiện theo kĩ thuật nhất định chứ khôngđồng nhất với kĩ thuật Kĩ năng là bằng chứng có thật, mang lại kết quả thật,
Trang 27chứ không phải là khả năng (có thể có và có thể không có), phải làm đượcviệc đó thật sự mới gọi là có kĩ năng Luận văn này tán thành khái niệm kĩ
năng của Đặng Thành Hưng (2013) [28] Kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lý khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay qui định Đó là dạng hành động
được thực hiện có tính kĩ thuật, có cấu trúc kĩ thuật, tự giác, luôn được ý thứckiểm soát và dẫn tới kết quả đáp ứng những chuẩn nhất định
1.2.1.2 Kĩ năng xã hội
Khái niệm “Kĩ năng xã hội” (Social skills) đang ngày càng được quantâm ở cả trong và ngoài lĩnh vực giáo dục Do mọi kĩ năng đều có bản chất xãhội và xét đến cùng chúng đều phục vụ cuộc sống con người nên hầu hếtnhững ý kiến về KNXH nói chung không rõ ràng và thiếu triệt để Đa phần có
sự nhầm lẫn KNXH với các loại kĩ năng khác như kĩ năng sống, năng lực kĩthuật tổng hợp và thậm chí cả kĩ năng mềm
Theo Wikipedia, KNXH là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảmdùng để chỉ các kĩ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kĩ năngsống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kĩ năng quản lí thời gian, thưgiãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới Quan niệm này coi KNXH
là một dạng, một biểu hiện của kĩ năng sống
Theo Nguyễn Thanh Bình KNXH gồm kĩ năng giao tiếp, tính quyếtđoán, thưong thuyết, từ chối, sự cảm thông, chia sẻ, khả năng cảm nhận sựthiện cảm của người khác [3] Stephen N.Elliott and R.T.Busse (1991) đưa rakhái niệm KNXH là những mẫu ứng xử tập nhiễm hay học được, được chấpnhận về mặt xã hội, giúp một cá nhân có thể quyết định hành động và ứng xửmột cách có hiệu quả với người khác, giúp người đó nhanh chóng thích nghi
Trang 28với hoàn cảnh, tránh được những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội [80].
KNXH là một dạng kĩ năng sống nói lên khả năng vận dụng những hiểubiết về hoạt động vào hoạt động sống của cá nhân giúp cho cá nhân đạt mụcđích sống có kết quả Trong nghiên cứu của Coie và Dodge (1983) và Parker
và Asher (1987) đã khẳng định nếu trẻ không phát triển đầy đủ các KNXH: kĩnăng kết bạn, kĩ năng hợp tác nhóm, kĩ năng đồng cảm, kĩ năng chia sẻ, kĩnăng quyết đoán, kĩ năng tự khẳng định sẽ báo trước đứa trẻ có nguy cơ gặpkhó khăn học đường như kém thích nghi học đường, khó kết bạn, khó hòanhập với các bạn trong lớp hoặc mắc các rối nhiễu hành vi, rối nhiễu đạođức dẫn đến thất bại học đường [dẫn theo 61] Jannette Rey và RobertPutnam (Exceptional Parent Magazine, 2002) cho rằng KNXH tốt là nhữngcông cụ quan trọng cho cuộc sống hằng ngày, nó giúp trẻ em tương tác xã hộimột cách hiệu quả và thuận lợi” [88]
Theo UNESCO, KNXH là những kĩ năng cần thiết để chung sống vớingười khác, gồm có các kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, thương lượng, tựkhẳng định mình, kĩ năng hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm… Theo WHO,KNXH gồm những kĩ năng giao tiếp ứng xử, tạo thiện cảm, làm việc nhóm…
Lê Bích Ngọc xác định KNXH gồm có: kĩ năng hợp tác; kĩ năng nhận và hoànthành nhiệm vụ; kĩ năng thực hiện các qui tắc xã hội; kĩ năng giữ gìn đồ dùng
đồ chơi; kĩ năng quí trọng đồng tiền [50] Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng:
“KNXH là những cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống xã hộinhằm giúp con người thích nghi và phát triển tốt hơn” [8]
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về KNXH nhưng chưa thật
rõ ràng mặc dù một số KNXH cụ thể đã được chỉ ra đúng đắn Luận văn này sửdụng khái niệm KNXH của Đặng Thành Hưng và Trần Thị Tố Oanh, cho rằng
KNXH là những kĩ năng hướng tới và được áp dụng trực tiếp vào những quan
hệ, hoàn cảnh, quá trình và đời sống xã hội công cộng để giúp cá nhân
Trang 29nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng xã hội thành công, hiệu quả ở những mức độ nhất định [33] Do đó, KNXH là một dạng hành động tự giác nhằm thực hiện các mối quan hệ của cá nhân với mọi người xung quanh trên
cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm
xã hội phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Các KNXH là một tập hợp các KN giúp chúng ta giao tiếp, tương tác, thích nghi, hòa nhập với XH.
1.2.2 Trò chơi dân gian
1.2.2.1 Trò chơi
Các lí thuyết về trò chơi nói chung và trò chơi trẻ em nói riêng đã ra đờirất nhiều Tuy nhiên, khó có thể đưa ra một khái niệm chung cho mọi hiệntượng “chơi” trong toàn bộ phạm vi rộng lớn trong hoạt động của con người.Trò chơi vô cùng đa dạng cả về nội dung, hình thức và nguồn gốc của nó,
song “trò chơi có đặc điểm chung là động cơ của hành động khi chơi không nằm trong kết quả của hành động, mà lại nằm trong bản thân quá trình Điều này đúng với mọi trò chơi thực sự” [23; tr.42]
Trò chơi là một hiện tượng xã hội, giữ vai trò truyền đạt những kinhnghiệm xã hội từ thế hệ này cho thế hệ khác, điểm quan trọng là hoạt độngchơi có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của chính xã hội loài người vàvới sự thay đổi vị trí của chính đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội.Theo Từ điển Tiếng Việt (2000) [58]: Trò chơi là hoạt động bày ra để vuichơi, giải trí Theo nghiên cứu của Đặng Thành Hưng, thì Trò chơi là thuậtngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa: 1 Một kiểu loại phổ biến của Chơi
Nó chính là Chơi có luật (tập hợp qui tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầuhành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia;
2 Những công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi,bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thểdưới hình thức chơi đá bóng…, và thực chất đó là việc Trò chơi nói chung và
Trang 30Trò chơi giáo dục nói riêng (Educational Games) hoàn toàn có bản chất xãhội, mang nội dung và giá trị xã hội Nói đến trò chơi nào cũng vậy, đều là nóiđến luật lệ, qui tắc, nhiệm vụ, yêu cầu, tức là có tổ chức và thiết kế Nếukhông có các thành phần như trên, thì không có trò chơi, mà chỉ có sự chơiđơn giản Như vậy chơi có 2 kiểu loại cơ bản: chơi có luật (tức là Trò chơi)
và chơi không có luật (tức là Chơi tự do) Trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi,
có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay qui tắc chính là phương tiện tổ chứctập hợp đó Như vậy, trò chơi chính là sự chơi có luật Những hành vi chơituỳ tiện, bất giác không gọi là trò chơi Trong trò chơi không chỉ có hoạt độngchơi, mà còn có những hoạt động khác như giao tiếp, nhận thức, học tập, vănhóa, nghệ thuật, thể thao, xã hội chính trị, quân sự v.v… Thực ra chơi trênnguyên tắc là vô tư, không có bất kì động cơ nào, trò chơi lại khác hẳn, luôn
có mục đích và lợi ích đằng sau, nếu không thì đã không bày ra trò chơi, ví dụtrò chơi giáo dục là để giáo dục Còn hoạt động chơi là chỉ dạng hoạt động cóđộng cơ nằm trong quá trình chơi [27]
Hà Thị Kim Linh (2012) [43] quan niệm: “Trò chơi là một kiểu chơi, một dạng hoạt động giải trí, là một hình thức phản ánh các mặt lao động, sản xuất, sinh hoạt văn hoá, được thực hiện theo qui ước nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể chất và tinh thần của con người” Lê Thị Minh Hà (2002) [20] cho rằng: “Trò chơi là kiểu, loại phổ biến của hoạt động chơi Bất cứ trò chơi nào cũng được tiến hành như một hoạt động có phương hướng, mục đích và được nhận thức”.
Tiếp cận các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng trò chơi là tập hợp những hoạt động khác nhau (giao tiếp, nhận thức, học tập, chơi, văn nghệ, thể thao…) và các luật lệ phù hợp với chúng có chức năng kết hợp chúng lại nhằm thực hiện chơi có luật để đạt được mục đích và lợi ích nhất định.
1.2.2.2 Trò chơi dân gian
Trang 31TCDG xuất hiện gắn liền với các hoạt động văn hóa và tín ngưỡng củacon người thời tiền sử và sơ sử Xuất phát từ những hành động mang tính chấtthần bí, cầu ước, phù yểm ma thuật, hay những hành vi mô phỏng các hoạtđộng săn bắn và trồng trọt, những nghi thức đó được thể chế dần để trở thànhnghi thức tôn giáo trong hệ thống tín ngưỡng phồn thực Cùng với sự pháttriển của xã hội, nhiều nghi thức tôn giáo mất dần ý nghĩa linh thiêng, chỉ còngiữ lại mục đích vui chơi giải trí cho cộng đồng Vì vậy, các TCDG luôn gắnvới hội làng diễn ra vào mùa xuân, mùa thu của chu kì sản xuất nông nghiệp.
TCDG là một bộ phận của các hoạt động lao động sản xuất, tôn giáo vàhoạt động văn hóa xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu và giới thiệu TCDG sẽ làmsống lại không khí sinh hoạt cộng đồng của người xưa, quay lại những cộinguồn xuất phát của văn hóa nhân loại
Tóm lại, có thể định nghĩa trò chơi dân gian như sau:
TCDG trẻ em là một loại hoạt động văn hóa bắt nguồn từ đời sống dân gian dành cho trẻ em, được lưu truyền từ vùng này sang vùng khác, từ đời này sang đời khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí và giáo dục trẻ
em một cách tinh tế nhẹ nhàng TCDG được tổ chức nhằm tạo cho trẻ những cảm giác hứng thú, thoải mái, phát triển vận động kết hợp với lời nói.
1.2.3 Giáo dục kĩ năng xã hội
1.2.3.1 Giáo dục
Giáo dục là tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm
chất cần thiết Giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động (hay quá trình) chuyển
giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm của thế hệ này cho các thế hệ kế tiếp nhằmhình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của đờisống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Theo nghĩa hẹp giáo dục gắn với quátrình hình thành và phát triển hệ thống nhà trường (Giáo dục nhà trường) là cáchoạt động giáo dục có mục đích và nội dung chính xác cho từng
Trang 32bậc học và loại hình nhà trường và được thực hiện một cách có kế hoạch, có
hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, từ các góc độ khác nhau,
nhưng chung quy lại có thể khẳng định: Giáo dục là những tác động có hệ thống được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt, chiếm lĩnh và phát triển kinh nghiệm xã hội của loài người ở người được giáo dục Những tác động đó bắt đầu từ ngoài và kết hợp với
những tác động từ bên trong người học (tự giáo dục)
1.2.3.2 Giáo dục kĩ năng xã hội
Bản chất của quá trình giáo dục KNXH cho HSTH là tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu nhằm giúp các em có nhận thức đúng, thái độ và hành
vi phù hợp với chuẩn mực của xã hội, là quá trình chuyển hóa một cách tích cực, tự giác những chuẩn mực đạo đức thành nhận thức, thái độ, hành vi trong ứng xử,giao tiếp với những người xung quanh Từ những vấn đề lí luận trên, chúng tôi
quan niệm: Giáo dục KNXH là việc trang bị cho học sinh những hiểu biết xã hội,
khả năng nhạy cảm, tính tự chủ và biết cách thể hiện toàn bộ những đặc điểm cá nhân này vào trong các hoạt động sống và quan hệ xã hội một cách hiệu quả
Định nghĩa trên cho thấy giáo dục KNXH cho học sinh là quá trìnhnhận thức, thông qua việc nâng cao nhận thức cho HS năng lực hiểu biết xãhội, sự nhạy cảm, sự tinh tế trong giao tiếp và trong các mối quan hệ xã hội,
tự chủ, có khả năng kiểm soát thái độ và hành động trong các hành vi xã hội
Do vậy, giáo dục KNXH không chỉ cung cấp các kiến thức về KNXH, mà cònphải giúp HS biết cách vận dụng các KNXH vào việc giải quyết các tìnhhuống cụ thể trong cuộc sống, nhằm đạt đuợc mục đích đã đề ra
Quá trình giáo dục KNXH cho HSTH diễn ra dưới các tác động giáo dục phức hợp nhiều phía, đó là những tác động giáo dục từ gia đình, tác động giáo dục
Trang 33từ nhà trường và xã hội bao gồm cả những tác động giáo dục mang tính tựgiác, tác động giáo dục mang tính tự phát, cả tác động tích cực và những tácđộng mang tính tiêu cực Các tác động trên lại bao gồm nhiều yếu tố khácnhau, chúng đan xen vào nhau chi phối đến nhận thức, thái độ, tình cảm vàhành vi của mỗi cá nhân, khi thì hỗ trợ lẫn nhau cùng tạo ra những ảnh hưởngtích cực tới người học, nhưng cũng có khi lại làm vô hiệu hóa kết quả củanhau, làm ảnh hưởng đến quá trình giáo dục HS.
1.3 Những vấn đề chung về giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 qua trò chơi dân gian
1.3.1 Vai trò, tiêu chí và đặc trưng của trò chơi dân gian trong giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học
1.3.1.1 Vai trò của trò chơi dân gian trong phát triển học sinh tiểu học
Trò chơi có vai trò quan trọng trong phát triển cá nhân, nhất là trẻ em,trong đó có HSTH Nó được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau đây:
* Giáo dục thể chất và vận động
Gồm các trò chơi cho trẻ em vận động chân tay, chạy nhảy, lộn vòng,gây không khí vui nhộn và sinh động như “Tập tầm vông”; “Dung dăng dungdẻ”; “Lộn cầu vồng”; “Lò cò”; “Bịt mắt bắt dê”;… Những trò chơi nàythường được chơi ở ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên, với cảnh vật xungquanh, nhằm tăng cường sức khoẻ và các tố chất về thể lực cho trẻ em
* Giáo dục trí tuệ và nhận thức
Đó là trò chơi nhằm phát huy trí tuệ của trẻ em, dạy cho các em biếtquan sát, tính toán Có khi chỉ là một bài đồng dao, trẻ em ngồi quây quần vớinhau cùng hát, cùng đối thoại để giới thiệu các sự vật xung quanh mình, tiếpthu tri thức về cuộc sống Có khi là trò chơi bày cách tính toán hẳn hoi, nhưtrò chơi: “Ô ăn quan”, tập cho trẻ em biết cách làm phép trừ, phép cộng, hoặcnhư trò chơi “Chuyền thẻ”, rõ ràng đây là một bài học đếm từ 1 đến 10, giúpphát triển trí tuệ cho trẻ
Trang 34* Giáo dục đạo đức và thẩm mĩ
Trò chơi nhằm giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho học sinh, nội dungcủa trò chơi dân gian chủ yếu nhằm giúp HS thể hiện được các phẩm chất đạođức như tinh thần đoàn kết, thật thà, kiên trì,… đồng thời giúp HS phân biệtđược thiện ác, cái xấu cái đẹp,…
* Giáo dục hành vi và kĩ năng xã hội
TCDG giúp hình thành, rèn luyện và củng cố các hành vi và KNXH.
Trong kho tàng TCDG có rất nhiều trò chơi có nội dung chính là rèn luyệnKNXH cho HS Các kĩ năng quan sát, tư duy, đánh giá, lắng nghe, trình bày,khéo léo trong giao tiếp,… là các kĩ năng không chỉ có trong các trò chơi cónội dung chính là rèn luyện KNXH có hầu hết trong rất nhiều các TCDG khácnhau Khi tham gia các TCDG, KNXH có trong các TCDG sẽ giúp trẻ rènluyện và củng cố các KNXH một cách tự nhiên dưới hình thức chơi vui vẻ,nhờ đó sẽ hình thành ở trẻ các biểu tượng vững chắc về KNXH, làm nền tảngphát triển KNXH của trẻ sau này và giúp trẻ có những kĩ năng sống cần thiết
1.3.1.2 Tiêu chí và đặc trưng của trò chơi dân gian trong giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học
* Tiêu chí lựa chọn trò chơi dân gian
- Trò chơi phải đảm bảo các chức năng giáo dục
Mỗi trò chơi sẽ giáo dục được một số KNXH cụ thể, chứ không thểgiáo dục được tất cả các KNXH Do đó, tuỳ theo từng trò chơi những KNXH
sẽ được xác định cụ thể
- Nội dung trò chơi đòi hỏi trẻ sử dụng kĩ năng xã hội
Nội dung trò chơi phải thể hiện các nội dung của KNXH, trong quátrình chơi HS thực hiện các nội dung của trò chơi cũng chính là thực hiện cácthao tác của KNXH
- Luật chơi đòi hỏi quan hệ hợp tác của học sinh
Trang 35Luật chơi là yêu cầu bắt buộc khi tham gia chơi, vì vậy các hành độngthực hiện KNXH đưa vào luật chơi là phù hợp nhất Khi HS thực hiện đúngluật chơi cũng có nghĩa là HS thực hiện KNXH trong khi chơi.
- Hành động chơi tác động vào kĩ năng xã hội
Có sự hài hoà giữa phát triển về trí tuệ và các KNXH Qua các hoạtđộng trong trò chơi HS chiếm lĩnh được tri thức khoa học và rèn luyện cácKNXH KNXH được thể hiện bằng những thao tác, hành động cụ thể, vì vậycác hoạt động trong trò chơi được xây dựng để HS có thể tìm tòi, phát hiện,trao đổi chia sẻ lẫn nhau để rút ra kết luận bằng những hành động cụ thể
- Trò chơi phải tạo ra môi trường tham gia cho mọi học sinh
Thân thiện, phù hợp với HS Các hành động chơi không quá khó, HSnào cũng tham gia được, trò chơi kích thích được sự sáng tạo và mang lạiniềm vui cho HS
* Đặc trưng của trò chơi dân gian trong giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học
TCDG bao gồm các trò chơi như “Tập tầm vông”; “Dung dăng dungdẻ”; “Lộn cầu vồng”; “Lò cò”; “Bịt mắt bắt dê”;… Những trò chơi nàythường được chơi ở ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên, với cảnh vật xungquanh Đây là trò chơi với mục đích thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí và giáodục trẻ em một cách tinh tế nhẹ nhàng, tạo cho trẻ những cảm giác hứng thú,thoải mái TCDG khác với các trò chơi khác như Trò chơi khoa học, trò chơitrí tuệ trong giáo dục KNXH ở chỗ:
Về không gian TCDG thường được tổ chức ngoài trời dễ làm dễ thựchiện Nó khác với trò chơi trí tuệ hay trò chơi khoa học thường được tổ chức
ở trong lớp học với những quy định chặt chẽ
Về thời gian: TCDG thường tổ chức trong giờ nghỉ giải lao, hoạt động ngoại khóa nên học sinh rất thích tham gia
Trang 36Về nội dung và luật chơi của TCDG có tác động trực tiếp đến nội dunggiáo dục KNXH, hay nói cách khác mỗi TCDG ẩn chứa trong đó những cơhội hoạt động, giao tiếp của HS, khả năng giáo dục những KNXH nhất định.
Do đó, giáo viên cần căn cứ vào mục đích, nội dung giáo dục các KNXH vàđặc điểm nhận thức của HSTH để lựa chọn những TCDG phù hợp, đồng thờigiáo dục KNXH phải thông qua các thao tác hành động cụ thể trong trò chơi
TCDG chủ yếu thông qua trực quan hành động, học sinh dễ bắt chướclàm theo từ đó hình thành các KNXH (khác với trò chơi khoa học, trò chơi trítuệ phải tư duy trừu tượng, với mức độ tăng dần về độ khó)
Các TCDG thân thiện, phù hợp với HS TCDG giúp trẻ có thể vừa chơivừa học, tinh tế nhẹ nhàng, thân thiện phù hợp với học sinh các hành độngchơi không quá khó, HS nào cũng tham gia được, trò chơi kích thích được sựsáng tạo và mang lại niềm vui cho HS Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởngđến kết quả giáo dục KNXH mà trò chơi trí tuệ hay trò chơi khoa học không
có được
1.3.2 Đặc điểm và phân loại kỹ năng xã hội của học sinh tiểu học
1.3.2.1 Đặc điểm học sinh tiểu học
HSTH thuộc giai đoạn độ tuổi 6 - 11 tuổi Đây là giai đoạn các em vừabước qua lứa tuổi mẫu giáo nên các em có sự thay đổi cơ bản về hoạt độngchủ đạo, nhận thức và các biểu hiện tâm lí khác Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổinày là hoạt động học tập, tuy nhiên hoạt động vui chơi vẫn giữ một vai trò đặcbiệt quan trọng đối với sự phát triển nhật thức, tâm lí các các em, nhất là đốivới với những năm đầu tiểu học
Về hoạt động nhận thức, hoạt động nhận thức cảm tính của các em chủ yếu là nhận thức cảm tính trong đó tư duy trực quan chiếm ưu thế Khả năng tập trung chú
ý trong một thời gian dài còn hạn chế, ghi nhớ máy móc phát triển mạnh hơn ghi nhớ logic Tất cả các biểu hiện tâm lí ở các em trong giai đoạn này chưa ổn
Trang 37định, chưa bền vững, dễ bị dao động của môi trường sống xung quanh Vìvậy, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục cần phải tạo được môi trườnggiáo dục lành mạnh, tích cực nhằm phát triển trẻ đúng hướng.
HSTH đang dần thiết lập, tạo dựng các mối quan hệ mới giữa các em vớinhau trong quá trình học tập, trong hoạt động cùng nhau, các em thừa nhận uy tíncủa giáo viên một cách mặc nhiên Đối với HSTH thì giáo viên như một hìnhmẫu về chuẩn mực trong các mối quan hệ Các em lĩnh hội các qui tắc và chuẩnmực đạo đức về hành vi, kĩ năng ứng xử, giao tiếp, trong học tập và giao lưu…Nói khác đi, các em đang học làm người từ những bài học trên lớp, trong học tập
và lao động, trong các mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú mà các em làthành viên… Giai đoạn lứa tuổi này vốn kinh nghiệm của các em có sự phát triển
do hoạt động học tập mang lại, vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn tăng lên đồngnghĩa với việc tiếp thu, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức, giao tiếp, đánh giá bảnthân dựa trên sự phân tích, trải nghiệm của bản thân
1.3.2.2 Đặc điểm kĩ năng xã hội của học sinh tiểu học
KNXH của HSTH là một dạng hành động của học sinh nhằm thực hiệncác mối quan hệ với mọi người xung quanh trên cơ sở nắm vững phương thứcthực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm xã hội phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh giúp học sinh giao tiếp, tương tác, thích nghi với trường lớp, cộngđồng gần gũi KNXH của HS không đồng nhất với kĩ năng sống và kĩ năng mềm.KNXH hướng đời sống cá nhân tiến tới sự hài hòa, thích hợp với xã hội KNXH
là hợp phần quan trọng của kĩ năng sống và tất nhiên có những kĩ năng sốngkhông phải là KNXH Chẳng hạn, kĩ năng để sống sót khi lạc trong rừng, kĩ năngứng phó với thiên tai Xét về mặt giá trị thì KNXH có vai trò vô cùng lớn lao
Nó hướng con người sống hòa nhập hơn với xã hội, sẽ thuộc xã hội (belongingsocial) để rồi thành công trong xã hội ấy chứ không đơn thuần là chỉ giúp riêng
cá nhân đó sống và phát triển bằng cách làm hại đến
Trang 38người khác hoặc đi ngược lại sự phát triển chung của cộng đồng.
Mỗi KNXH hay mỗi nhóm KNXH luôn luôn dựa vào các yếu tố cơ bảnnhư lí trí cá nhân (mà hạt nhân là ý thức tự giác về sự vật và hành động củamình), hành động có kĩ thuật và trật tự (có tổ chức và logic nhất định), sức mạnhcủa vận động thể chất (ít ra là vận động của hệ thần kinh), và số lượng hữu hạn
và tối ưu các thao tác thành phần (cơ sở để diễn ra hành động thực tế)
KNXH luôn có đối tượng tác động hoặc tương tác là xã hội hiện thực,trực tiếp Đối tượng tác động của KNXH là cái xã hội hiện thực, trực tiếp chứkhông phải qua sách vở, hay kinh nghiệm xã hội được truyền thụ lại Tấtnhiên việc nhận thức xã hội hay tích lũy kinh nghiệm xã hội ở mỗi cá nhân cóthể thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó lĩnh hội qua tài liệusách vở là tương đối phổ biến và thậm chí con đường nhận thức này có vaitrò to lớn trong việc bồi đắp KNXH ở mỗi người Tuy nhiên, kĩ năng mà conngười sử dụng khi ấy không phải là KNXH mà chúng chỉ đơn thuần là kĩnăng đọc sách, kĩ năng học tập, kĩ năng nghiên cứu Còn KNXH là loại kĩnăng được con người sử dụng để tương tác, ứng xử trực tiếp với cái xã hộihiện thời Nó đem lại hiệu quả tương tác xã hội cho chủ thể có kĩ năng trongcác tình huống giao tiếp xã hội cụ thể
KNXH giúp HSTH giải quyết hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong đờisống xã hội KNXH giúp cho học sinh tiểu học thực hiện giao tiếp và ứng xử
xã hội hiệu quả, tức là thực hiện được những hành vi trong các tình huốnggiao tiếp xã hội phù hợp với nhận thức của bản thân, phù hợp với chuẩn mực
xã hội và đạt được mục đích đề ra KNXH giúp HS thích ứng xã hội thànhcông, hòa nhập được với những điều kiện thay đổi của môi trường xã hội
1.3.2.3 Phân loại kĩ năng xã hội của học sinh tiểu học
Căn cứ vào đặc điểm học sinh tiểu học, về bản chất và cấu trúc KNXH,chúng tôi tán thành quan điểm phân loại KNXH của Đặng Thành Hưng vàTrần Thị Tố Oanh [33], [34], chia KNXH thành 3 nhóm
Trang 39* Nhóm kĩ năng nhận thức xã hội
Nhóm kĩ năng này giúp con người nắm bắt các vấn đề thuộc về xã hộinhư các sự kiện, quan hệ, hiện tượng, quá trình, hoàn cảnh, qui luật xã hộimột cách nhanh chóng và chính xác để đưa ra các phán quyết hay hành xửđúng đắn Những kĩ năng nhận thức xã hội bao gồm: 1- KN quan sát các hiệntượng XH gần gũi; 2 - KN tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quáthóa) về các vấn đề XH gần gũi; 3- KN sử dụng các biểu tượng từ quan sátvào giải quyết các vấn đề xã hội; 4- kĩ năng đánh giá về các hiện tượng xã hộigần gũi; 5- Kĩ năng giải quyết vấn đề trong nhận thức xã hội
* Những kĩ năng ứng xử và giao tiếp xã hội
Đối tượng của loại kĩ năng này là con người và hoàn cảnh xã hội haytình huống xã hội mà cá nhân có liên quan, phải đương đầu hoặc tham gia.Những kĩ năng thuộc lĩnh vực ứng xử và giao tiếp xã hội căn bản phải thíchứng với mọi khác biệt đó trên nguyên tắc chung là an toàn (không xâm hạinhau), thành công (được việc) và hiệu quả (để lại kết quả tốt và ấn tượng đẹpcho các bên) Bao gồm: 1- KN lắng nghe tích cực; 2- KN bày tỏ ý kiến, thái
độ cá nhân bằng lời nói và cử chỉ biểu cảm phù hợp; 3- KN thực hiện hành vigiao tiếp có văn hóa; 4-KN nhận diện và xử lí các vấn đề đơn giản trong môitrường xã hội gần gũi; 5-Kĩ năng định hướng hành vi giao tiếp trong hoàncảnh xã hội cụ thể khác nhau; 6- Kĩ năng xử lí các quan hệ xã hội trong cácmôi trường; 7- Kĩ năng giải quyết vấn đề trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội
* Những kĩ năng thích ứng xã hội
Đây là loại KNXH được xem là quan trọng nhất đối với mỗi con ngườinói chung và với HSTH nói riêng hiện đại, bởi xã hội hiện đại luôn vận động
và phát triển không ngừng Mỗi con người cần biết, cần có kĩ năng hòa nhập
và thích ứng tốt với sự thay đổi ấy để tồn tại và phát triển Những kĩ năng nàybao gồm: 1- KN thích ứng của bản thân khi chuyển sang môi trường XH mới
Trang 40hay hoạt động mới (học sinh tự tin, kiên trì, tham gia vào hoạt động); 2- KN
tổ chức và thực hiện hoạt động XH mới; 3 - KN thay đổi (hay cải tạo) 1 sốđiều kiện; 4 - Kĩ năng giải quyết vấn đề trong quá trình thích ứng xã hội
1.3.3 Các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh lớp 5 thông qua trò chơi dân gian
1.3.3.1 Mục đích của giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi dân gian
Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ, KNXH cơ bản phùhợp với yêu cầu của xã hội; thông qua đó phát triển ở HS những hành vi, thóiquen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực; giúp HS
có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sốnghàng ngày; đồng thời giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, tăng hiệu quảthực hành, có hành vi xã hội phù hợp với chuẩn mực xã hội
1.3.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học qua trò chơi dân gian
Thông qua TCDG cần tập trung giáo dục cho HSTH những KNXH cơbản như: Kĩ năng làm việc hợp tác, phối hợp trong tham gia trò chơi; kĩ năngbắt chước, làm theo các hành vi phù hợp; kĩ năng thiết lập và duy trì quan hệgiao tiếp với thầy cô giáo và các bạn; kĩ năng lắng nghe, thể hiện thái độ,hành vi ứng xử phù hợp; kĩ năng tự đánh giá, tự chủ trong hành vi giao tiếp,ứng xử xã hội Chúng được chọn lọc từ 3 nhóm KNXH trên: Nhóm kĩ năngnhận thức xã hội, nhóm kĩ năng ứng xử và giao tiếp xã hội và nhóm kĩ năngthích ứng xã hội
1.3.3.3 Phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho học sinh tiểu học
Có nhiều biện pháp khác nhau để giáo dục KNXH, tuy nhiên giáo dụcKNXH qua TCDG cần chú ý các phương pháp sau đây:
- Phương pháp thuyết phục, giảng giải