1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới việt nam (vnen)

114 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số bảng Nội dung Trang2.1 Hứng thú trong giờ học môn toán của học sinh 2.2 Biểu hiện tính tích cực của học sinh trong giờ học toán 2.3 Mức độ hiểu bài của học sinh trong tiết học Toán 2.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ SON

DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG

Ở LỚP 2, 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

VIỆT NAM (VNEN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Để hoàn thành bản luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm,động viên, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình và lớn lao của các thầy (cô) giáo, bạn bè,đồng nghiệp, người thân và gia đình.

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến thầy giáoPGS.TS Đỗ Tiến Đạt, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ bảo,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Bạn Giám hiệu, Hội đồng khoa học, PhòngSau Đại học, tập thể các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên Trường Đạihọc Sư Phạm Hà Nội 2, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn sự hợp tác của thầy cô giáo và các em học sinh cáctrường Tiểu học Phú Lâm 2, xã Phú lâm, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh;Trường Tiểu học Phú Lâm 1, xã Phú lâm, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh, đãtạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra thực trạng và thựcnghiệm sư phạm

Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắcchắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sựchỉ bảo của các thầy (cô) giáo cũng như ý kiến đóng góp của các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Son

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưađược công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác trước đây

Hà Nôi, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Son

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, chữ cái viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Giới thiệu mô hình trường học mới Việt Nam VNEN 5

1.1.2 Giới thiệu về tài liệu hướng dẫn học theo mô hình trường học mới VNEN 6

1.1.3 Phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN 8

1.1.4 Phương tiện dạy học theo mô hình trường học mới VNEN 11

1.1.5 Đánh giá trong dạy học theo mô hình trường học mới VNEN 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

Trang 5

1.2.1 Nội dung dạy học đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hình

VNEN 13

1.2.2 Quy trình và kỹ thuật tiến hành dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 theo mô hình VNEN 14

1.3 Thực trạng dạy học môn toán theo mô hình trường học mới VNEN 18

1.3.1 Tổ chức đánh giá thực trạng 18

1.3.2 Kết quả đánh giá thực trạng 19

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG MÔN TOÁN LỚP 2, 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM VNEN 27

2.1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nhận biết các đại lượng và đơn vị đo đại lượng 27

2.1.1 Mục đích của biện pháp 27

2.1.2 Cách thực hiện 27

2.1.3 Ví dụ minh họa 36

2.2 Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động sử dụng các công cụ đo đại lượng 39

2.2.1 Mục đích của biện pháp 42

2.2.2 Cách thực hiện 42

2.2.3 Ví dụ minh họa 48

2.3 Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động giải quyết tình huống thực tiễn liên quan đến đại lượng và đo đại lượng 50

2.3.1 Mục đích của biện pháp 50

2.3.2 Cách thực hiện 50

2.3.3 Ví du minh họa 52

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mô tả thực nghiệm 56

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 56

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 56

Trang 6

3.1.4 Phương pháp thực nghiệm 57

3.2 Kết quả thực nghiệm 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 65

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

Số bảng Nội dung Trang

2.1 Hứng thú trong giờ học môn toán của học sinh

2.2 Biểu hiện tính tích cực của học sinh trong giờ học toán

2.3 Mức độ hiểu bài của học sinh trong tiết học Toán

2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập

của học sinh

2.5 Kết quả thu được

2.6 Mức độ chuẩn bị cho việc tổ chức tiết học đại lượng và đo

đại lượng theo mô hình VNEN

2.7 Những khó khăn khi dạy học đại lượng và đo đại lượng

lớp 2, 3 theo phương pháp V NEN

3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng

3.2 Kết quả kiểm tra HS trước thực nghiệm

3.3 Kết quả kiểm tra HS sau thực nghiệm

Trang 9

là con người thì càng phải đổi mới để tạo ra những con người lao động cótrình độ cao, học vấn cao, có năng lực, có bản lĩnh đáp ứng được mọi nhu cầucủa cuộc sống hiện đại Đổi mới trong giáo dục được hiểu là đổi mới toàndiện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và hình thức tổ chứcdạy học.

Vấn đề đổi mới giáo dục được đưa vào nghị quyết của các Đại hộiĐảng IX, X, XI Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 8, khóa XI đãthông qua Nghị quyết 29 “ Về đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đàotạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

Một trong những đổi mới trong giai đoạn hiện nay là triển khai mô hìnhtrường học mới (VNEN) vào các trường Tiểu học trên toàn quốc Đây là một

mô hình dạy học hiện đại được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng từlâu và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục

Mô hình này hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới hình thứcdạy học Vì thế người giáo viên phải thực sự là người tổ chức hướng dẫn hoạtđộng của học sinh theo năng lực cá nhân, phù hợp vừa sức với từng đối tượnggiúp học sinh hứng thú, tự tin say sưa học toán ở Tiểu học, hiện nay cần tậptrung vào dạy cách học tức là giúp học sinh biết cách học theo khả năng cánhân hoặc hợp tác với thầy cô, với bạn bè để tăng năng lực theo tốc độ học tập

để đạt hiệu quả cao

Trang 10

Toán lớp 2, 3 có vị trí đặc biệt quan trong trong chương trình môn ToánTiểu học Đại lượng và đo đại lượng là một trong năm mạch kiến thức quantrọng trong chương trình Toán lớp 2, 3 là mạch kiến thức có thể liên kết cácmạch kiến thức còn lại của môn Toán Đây là mạch kiến thức có dung lượngkhá phức tạp và khó dạy hơn nữa lại được trình bày không liên tục, liền mạch.Điều này tạo cho giáo viên và học sinh nhiều khó khăn trong cả quá trình dạy

và học Đặt ra một yêu cầu đó là phải tìm ra được phương pháp học tập phùhợp để đạt được kết quả cao hơn trong học tập

Từ những lý do thực tế trên qua nghiên cứu về dạy học môn Toán lớp 2,

3 theo mô hình VNEN ở bậc Tiểu học, kết hợp với những hiểu biết đã có vànhững điều mới mẻ lĩnh hội được từ các bài giảng về “ Phương pháp dạy họcToán ở Tiểu học” của các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2trong khuôn khổ cho phép của một đề tài luận văn thạc sĩ, tôi chọn nghiên cứu

đề tài: “Dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới Việt Nam ( VNEN)”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượngmôn Toán lớp 2, 3 theo mô hình VNEN Xây dựng một số biện pháp dạy họcđại lượng và đo đại lượng trong môn Toán lớp 2, 3 theo mô hình trường họcmới Việt Nam VNEN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng mônToán lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

Phạm vi nghiên cứu: Quá trình dạy học chủ đề đại lượng và đo đạilượng môn Toán lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

4 Giả thuyết khoa học

Nếu dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng Toán ở các lớp 2, 3 theo

mô hình VNEN được tiến hành theo quy trình và kỹ thuật một các hợp lý thì

Trang 11

có thể sẽ giúp học sinh có hứng thú học tập, nắm vững kiến thức, nhờ đó mànâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học chủ đề đại lượng và đođại lượng môn Toán lớp 2, 3

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Thu thập các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: Nhằm tìm hiểu thực trạng về dạy học đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

- Phương pháp điểu tra: Thực hiện tại 2 trường Tiểu học thuộc địa bàntỉnh Bắc Ninh Để thu thập các thông tin cần thiết về thực trạng dạy và học đạilượng và đo đại lượng theo mô hình VNEN của giáo viên và học sinh hiệnnay Trong thực trạng đó đặc biệt quan tâm đến việc phân tích dạy học chủ đềđại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những chuyên gia cókinh nghiệm về dạy học Toán nói chung và dạy học chủ đề đại lượng và đođại lượng theo mô hình VNEN nói riêng để nhận định và đánh giá thực trạng

và nghiên cứu đổi mới dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 theo

mô hình VNEN hiện nay

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm thu thập thông tin trao đổithảo luận về dạy học trong tổ chuyên môn, nghiên cứu những sản phẩm củagiáo viên và học sinh

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả và khả thi củaquy trình và kỹ thuật tiến hành dạy học chủ đề đại lượng và đo đại môn Toánlớp 2, 3 theo mô hình VNEN mà đề tài đề xuất

Trang 12

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận.

Tìm hiểu mô hình trường học mới và xác định về phương pháp dạy học,phương pháp dạy học theo mô hình VNEN Nghiên cứu về phương tiện dạyhọc và đánh giá dạy học theo mô hình VNEN

6.2 Xác định cơ sở thực tiễn.

Xác định nội dung dạy học đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo

mô hình VNEN Tìm hiểu quy trình và kỹ thuật dạy học đại lượng và đo đạilượng Đánh giá thực trạng sử dụng dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượngmôn toán lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

6.3 Xây dựng một số biện pháp dạy học đại lượng và đo đại lượng trong mônToán lớp 2, 3 theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN).

- Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nhận biết các đại lượng và đơn vị

đo đại lượng

- Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động sử dụng các công cụ đo đại

- Phân tích kết quả thực nghiệm

- Đánh giá kết quả thực nghiệm

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Gi ới thiệu mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN)

Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận từ Quỹ hỗ trợ toàn cầu về giáo dục củaLiên hợp quốc tài trợ không hoàn lại cho Việt Nam 84,6 triệu đôla đầu tư chogiáo dục Tiểu học, xây dựng dự án mô hình trường học mới Việt Nam(VNEN) Đây là mô hình thành công được UNICEF và UNESCO, ngân hàngthế giới ủng hộ và đánh giá cao, tập trung chuyển đổi hình thức giảng dạytruyền thụ từ phía GV sang việc để cho HS tự học là chính

Dự án được bắt đầu triển khai từ tháng 7 năm 2012 Theo đó, 63 tỉnh,thành phố sẽ triển khai thí điểm tại 1447 trường Tiểu học, ưu tiên vùng khókhăn, trong đó 20 tỉnh khó khăn nhất sẽ được tư vấn, tập huấn cho GV, hướngdẫn cho HS cách tiếp cận với chương trình đạo tạo mới và được hỗ trợ vềSGK, tài liệu học tập 19 tỉnh ít khó khăn hơn sẽ được hỗ trợ bồi dưỡng GV ởcấp huyện và được hưởng lợi về nội dung sư phạm, các tỉnh đồng bằng, thànhphố sẽ được bồi dưỡng GV cốt cán cấp tỉnh và được hưởng lợi một phần vềnội dung sư phạm

VNEN là dự án thuộc lĩnh vực chuyên môn, chủ yếu tác động vào thayđổi cách tổ chức lớp học, thay đổi quá trình sư phạm của GV theo phươngpháp đổi mới con đường dạy học truyền thống (dạy học thông báo - chủ yếutruyền thụ kiến thức một chiều) sang dạy học hiện đại (dạy tương tác tích cực

- chủ yếu thiết kế, tư vấn, thúc đẩy) nhằm phát huy tính tự giác, lòng tự trọng

và óc sáng tạo của mỗi HS với tư cách là chủ thể của quá trình học tập

Phòng học VNEN được tổ chức lại: Bố trí lại bàn ghế để HS có thể ngồihọc theo nhóm (4 HS là tốt nhất) Trang trí lại lớp học thân thiện hơn: Bố trícác góc học tập, góc thư viện, góc cộng đồng nhằm phục vụ cho các hoạt

Trang 14

động dạy học, giáo dục của cả thầy và trò - Tổ chức lớp học VNEN nhằmgiúp học sinh có cơ hội tham gia vào các công việc chung của lớp - Đây làtiền đề để xây dựng xã hội dân chủ theo mục tiêu Đại hội lần thứ XI đã đề ra.

Mô hình đã góp phần đem lại diện mạo mới cho hệ thống giáo dục Tiểu học từmỗi lớp học đến mỗi nhà trường khi tham gia dự án

1.1.2 Gi ới thiệu về tài liệu hướng dẫn học theo mô hình trường học mới VNEN

Từ khi mô hình trường học mới ở Việt Nam ra đời có nhiều bài báo viết

về tài liệu hướng dẫn học theo mô hình trường học mới VNEN điển hình như:

“Mô hình trường học mới Escuela Nueva ở Colombia và khả năng vận dụng trong giáo dục tiểu học tại Việt Nam của tác giả Đỗ Tiến Đạt - Viện khoa học

Giáo dục Việt Nam Đăng trên Tạp chí Giáo dục , số 250, kì 2, tháng 11/2010

a) Tài liệu hướng dẫn học tập

Tài liệu hướng dẫn học tập được thiết kế để thực hiện cả 3 chức năng (tài liệu

3 trong 1) của SGK, Vở bài tập và Sách hướng dẫn GV

- Đối với HS : Đây là tài liệu có tính tương tác cao, thuận tiện cho việchọc tập cá nhân cũng như học theo nhóm Tài liệu bao gồm một chuỗi cáchoạt động được thiết kế nhằm giúp HS tự học, phù hợp với đặc điểm, trình độcủa từng đối tượng

- Đối với GV : Tài liệu thuận tiện cho GV khi tổ chức dạy học theo nhóm,đặc biệt là ở các lớp ghép có nhiều trình độ Tài liệu tạo thuận lợi cho GVtrong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp, không mất nhiều thời giansoạn giáo án Dựa vào tài liệu, GV có thể soạn bài bổ sung cho phù hợp vớiđối tượng HS lớp mình, có quyền điều chỉnh nội dung dạy học sát với đặcđiểm cụ thể ở địa phương

- Với phụ huynh HS : Tài liệu có chú trọng đến các hoạt động học tậpđược thực hiện ở nhà của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho cha mẹ HS và cộngđồng tham gia vào quá trình học tập của các em thông qua việc giúp đỡ,

Trang 15

hướng dẫn HS học tập, bổ sung các kiến thức, kĩ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu học tập của trẻ

b) Cấu trúc của tài liệu hướng dẫn học tập

Một bài trong tài liệu hướng dẫn học tập thường có các phần sau :

(1) Mở đầu của một bài học là tên bài, thông thường là một câu hỏi liên

quan đến chủ đề sẽ học

(2) Các hoạt động cơ bản, bao gồm :

- Một hoạt động nhằm kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS vềchủ đề sắp học Hoạt động này rất đa dạng, có thể là một ví dụ, một bức tranhminh họa, một câu hỏi, một câu chuyện, một tình huống,… thường bắt đầuvới những kiến thức HS đã biết hoặc bắt đầu từ kinh nghiệm của bản thân HS

- Hoạt động khám phá và trao đổi kiến thức, thông tin ở trong nhóm HS chia sẻ kiến thức hoặc kinh nghiệm liên quan đến chủ đề trong câu hỏi đặt ra

- Phần xây dựng kiến thức: đây là bước trung tâm, bao gồm một loạt hoạtđộng được thiết kế có xem xét đến tình hình thực tế, môi trường gần gũi, quenthuộc với HS; các hoạt động này đơn giản, cụ thể và là một phần trong đờisống hằng ngày Đây là các hoạt động giúp HS xây dựng kiến thức mới vàchiếm lĩnh kiến thức thông qua quan sát, phân tích, thảo luận, tiếp xúc với cácvăn bản, qua trao đổi với các HS khác và với GV

- Phần tăng cường, củng cố có thể được thực hiện thông qua câu chuyệnhoặc trò chơi Một loạt hoạt động mở rộng cũng có thể được sử dụng trongphần này nhằm phục vụ việc học ở các lớp lớn hơn và kích thích sự phát triển

của trẻ.

(3) Các hoạt động thực hành : được thiết kế nhằm củng cố kết quả học tập

thông qua hoạt động thực hành của HS Các bài tập hỗ trợ có yêu cầu kết hợp giữa lí thuyết và thực hành giúp GV kiểm chứng xem HS có tiếp thu được

Trang 16

kiến thức, kĩ năng mới hay không Sau phần thực hành, HS trình bày để GV đánh giá, nhận xét.

(4) Các hoạt động áp dụng : nhằm xem xét HS có thể áp dụng kiến

thức, kĩ năng đã học vào các tình huống cụ thể hàng ngày được hay không,bao gồm các tình huống trong gia đình và trong cộng đồng Điều này đem lại

ý nghĩa cho giáo dục, lợi ích cho gia đình và cộng đồng Các hoạt động ápdụng và mở rộng đã khuyến khích HS tích luỹ kiến thức thông qua các nguồnkhác nhau (thư viện, hàng xóm, gia đình,…) nhằm giải quyết các vấn đề, cáctình huống khó khăn của chính bản thân các em Ví dụ: xây dựng các bài tậpdưới dạng các dự án đơn giản nhằm khám phá môi trường, những nghiên cứuquy mô nhỏ, phỏng vấn, đối thoại

1.1.3 Ph ương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN

Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là cách dạy hướng tới việchọc tập chủ động Mô hình VNEN đòi hỏi phát huy tính tích cực của cả ngườidạy và người học Thực chất phương pháp này đòi hỏi người dạy phải pháthuy tính tich cực chủ động của người học

a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh

Trong mô hình VNEN, học sinh - chủ thể của hoạt động học tập do giáoviên tổ chức và chỉ đạo thông qua tự lực khám phá những điều mình chưa biếtchứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp xếp sẵn

Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ cá nhân, từ đó nắm được kiến thức kiến thức mới, kĩ năng vừa được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

Dạy học theo mô hình VNEN xem việc rèn luyện phương pháp học tậpcho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làmột mục tiêu dạy học Trong xã hội đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ

Trang 17

thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy phươngpháp học phải được quan tâm ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc cao hơncàng được coi trọng

Đây là bước hữu hiệu để chuẩn bị cho lớp người kế tục thích ứng vớihọc tập, trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục, suốt đời

b Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

Trong học tập hợp tác và có giao tiếp thầy - trò nhưng nổi lên mối quan

hệ trò - trò Thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thảo luận, bác bỏ, qua

đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốnhiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp

Trong học tập, không phải mỗi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng những hoạt động thuần túy cá nhân Lớp học là môi trường giaotiếp thầy - trò, trò - trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên conđường đi tới những tri thức mới

Việc học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp nhưng được sửdụng phổ biến nhất trong dạy học là hợp tác nhóm nhỏ 4 đến 6 người

Hoạt động tập thể nhóm, tập thể lớp sẽ làm cho từng thành viên quendần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, hiệu quả học tập sẽ tănglên nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phốihợp giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ xác định

Trong hoạt động hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhómnhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể, trong nhóm nhỏmỗi cá nhân đều phải nỗ lực không thể ỷ lại cho người khác, toàn nhóm phảiphối hợp với nhau để cuối cùng đạt mục tiêu chung

Kết quả làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽtạo một không khí thi đua giữa các nhóm, đóng góp tích cực vào kết quảchung của bài học

Trang 18

c Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

Trong mô hình VNEN, việc rèn luyện phương pháp học để chuẩn bịcho HS khả năng học tập liên tục, suốt đời được xem như một mục tiêu giáodục thì GV phải hướng dẫn HS phát triển khả năng tự đánh giá để tự điềuchỉnh cách học

Liên quan tới điều này, giáo viên phải tạo điều kiện để HS tham giađánh giá lẫn nhau Việc HS tham gia tự đánh giá lẫn nhau sẽ có tác dụng tíchcực để HS tự học và điều chỉnh bản thân

Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo những conngười năng động, sớm thích ứng được với đời sống xã hội, hòa nhập và gópphần phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra phải khuyến khích trí thông minh,sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trướcnhững vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng; rèn luyện cho các

em khả năng phát hiện và vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cáctình huống thực tế Việc đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ có tác dụng thúc đẩy sựđổi mới PPDH

Tóm lại, trong PPDH theo mô hình VNEN, người được giáo dục trởthành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về sự giáodục bản thân mình Trong dạy học thì cốt lõi là phương pháp tự học Phươngpháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyệncho học sinh có được những phương pháp , kĩ năng, thói quen tự học, biết vậndụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực pháthiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo chocác em lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của các em Vì những lẽ đó,

mô hình VNEN nhấn mạnh dạy phương pháp học trong quá trình dạy học, cốgắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động

Trang 19

1.1.4 Phương tiện dạy học theo mô hình trường học mới VNEN

Nhận rõ vai trò quan trọng của phương tiện, thiết bị dạy học trong tổchức hoạt động tự học của HS, kế thừa kinh nghiệm triển khai chương trình vàSGK tiểu học hiện hành, khi bắt đầu triển khai nghiên cứu thử nghiệm môhình"Trường tiểu học mới", Bộ Giáo dục và Đào tạo chú ý hướng dẫn GV dạythử nghiệm khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, trước hết làcác phương tiện, thiết bị dạy học chủ chốt đã được cung cấp trong “Bộ đồdùng học tập của HS” và “Bộ đồ dùng biểu diễn của GV” (đã nêu trong

“Danh mục tối thiểu thiết bị dạy học môn toán” của Bộ) Đồng thời khuyếnkhích GV, HS và cha mẹ HS tự làm các đồ dùng dạy học bằng các vật liệu rẻtiền, dễ kiếm tại địa phương

Đối với lớp 2 "Trường tiểu học mới" bộ đồ dùng dạy học toán có thểbao gồm:

- Bộ đồ dùng dạy học toán lớp 2 (theo Chương trình tiểu học hiện hành)nêu trong thông tư số 15/2009/TT-BGDĐT về danh mục thiết bị dạy học tốithiểu cấp tiểu học

- Giấy A4, giấy bìa, bút màu, kéo cắt, hồ dán, các phiếu học tập, cácthẻ phục vụ việc tổ chức các trò chơi học tập, các hoạt động cá nhân, theocặp, theo nhóm, hoạt động cả lớp hoặc hoạt động ứng dụng trong những tìnhhuống thực tiễn gắn với đời sống thực tế của HS

Có thể liệt kê một số thiết bị dạy học đại lượng và đo đại lượng dùngcho HS lớp 2:

- Đại lượng và đo đại lượng gồm có: Bộ thước thẳng dạy học về mm,

cm, dm, m; Bộ chai 1 lít, ca lít và phễu; Cân đĩa và quả cân 1 kg; Mô hìnhđồng hồ quay được kim giờ và kim phút, mặt đồng hồ có hai vòng số

Ở mô hình "Trường tiểu học mới", để hỗ trợ tích cực các hoạt động tựhọc hiệu quả của HS, trong mỗi lớp học thường bố trí góc thư viện và góc học

Trang 20

tập Góc thư viện với nhiều tài liệu tham khảo cũng chính là nguồn bổ sungphương tiện và đồ dùng dạy học Tuy nhiên góc thư viện thường lưu giữ cácphương tiện, đồ dùng dạy học "tĩnh", có thể được sử dụng trong nhiều bài học,nhiều tiết học với các môn học khác nhau.

Góc học tập cho các môn học như môn Toán, Tiếng Việt , Tự nhiên và

Xã hội thường có phương tiện, mô hình học tập và những đồ dùng , vật liệugiúp HS thao tác, sử dụng phục vụ cho việc học của từng bài học, từng tiếthọc (như các mô hình hình học với kích thước thích hợp dùng cho hoạt độngnhóm, các sợi dây để đo độ dài, mô hình cân đĩa để học bài ki-lô-gam ).Phương tiện, đồ dùng trong góc học tập không chỉ đơn thuần là những phươngtiện, thiết bị được cấp phát theo danh mục của Bộ, mà phần lớn là những đồdùng tự làm của HS, của GV hoặc của cha mẹ HS Do là những đồ dùng tựlàm nên số lượng đủ dùng cho tất cả mọi HS trong lớp, phong phú, đa dạng vềchất liệu, thể loại, gần gũi với đời sống thực tế của HS và là sản phẩm củachính mình nên được các em HS giữ gìn, bảo quản

1.1.5 Đánh giá trong dạy học theo mô hình trường học mới VNEN

• Theo dõi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của HS/nhóm HS theo tiến trình dạy học

• Nếu có nhận xét đặc biệt, GV ghi vào phiếu, vở, sản phẩm học tập

• Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS

• Khuyến khích và hướng dẫn HS tự đánh giá và tham gia nhận xét lẫn nhau

• HS tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ hoàn thành môn học

• Cha mẹ học sinh được khuyến khích phối hợp với GV, nhà trường độngviên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện

Trang 21

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung dạy học đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

1.2.1.1 Yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng khi dạy học chủ đề đại lượng và

đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

- Biết 1kg = 1000g và biết đo khối lượng với đơn vị kg và g

- Đo thời gian và các đơn vị đo thường gặp là giờ, phút, ngày, tháng, năm, biết sử dụng lịch và đồng hồ khi đo thời gian

- Nhận biết tiền Việt Nam 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1000 đồng,

2000 đồng, 5000 đồng, 10 000 đồng và mối quan hệ giữa chúng Biết sử dụngtiền Việt Nam từ ( 100 đồng đến 100 000 đồng) trong sinh hoạt hằng ngày

Trang 22

- Có hiểu biết ban đầu về diện tích của một hình; biết cm2 là đơn vị đo diện tích.

1.2.1.2 Đặc điểm nội dung về chủ đề đại lượng và đo đại lượng trong chương trình môn Toán ở lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

Các kiến thức về đại lượng và phép đo đại lượng ở bậc Tiểu học trongchương trình Toán được trình bày dưới dạng hình thành khái niệm phép đotrước sau đó hình thành khái niệm đại lượng Cách trình bày như thế tuykhông tuân theo sự phát triển lôgic của khái niệm nhưng thuận lợi về mặt sưphạm nó phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

Cũng như trong chương trình công nghệ giáo dục, các kiến thức về đạilượng và đo đại lượng được bố trí theo sự mở rộng dần các vòng số Ví dụ: Hệthống đơn vị đo độ dài được mở rộng dần dựa trên cơ sở mở rộng các vòng số( xăng-ti-mét gắn với các số trong phạm vi 10; mét gắn với các số trong phạm

vi 100; ki-lô-mét và mi-li-mét gắn với các số trong phạm vi 1000)

Mặt khác, cấu trúc mạch kiến thức về đại lượng cũng được sắp xếp gắn

bó chặt chẽ với các mạch kiến thức khác (như số học và hình học) để tạo nên

sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau Ví dụ: Khi dạy học quan hệ giữa các đơn vị đo độdài (1m = 10dm, 1m = 100cm, 1km = 1000m) sẽ củng cố kiến thức về hệ ghi

số thập phân và ngược lại việc củng cố này có tác dụng giúp nhận thức rõ hơnmối quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài Các phép tính số học làm cơ sở choviệc dạy học các phép tính trên số đo đại lượng, và ngược lại việc dạy học cácphép tính trên số đo đại lượng sẽ cho phép củng cố, mở rộng kĩ thuật tính trêncác số Việc so sánh và tính toán trên các số đo đại lượng cũng góp phần củng

cố nhận thức về khái niệm đại lượng

1.2.2 Quy trình và kỹ thuật tiến hành dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 theo mô hình VNEN

Trang 23

Quy trình dạy học nội dung về chủ đề đại lượng và đo đại lượng lớp 2,

3 theo mô hình VNEN diễn ra theo 5 bước như sau:

( 1 ) Gọi động cơ, tạo hứng thú => ( 2 ) Trải nghiệm => ( 3 ) Phân tích, khám phá, rút ra bài học =>( 4 ) Thực hành => ( 5 ) Vận dụng

Bước 1 Gợi động cơ, tạo hứng thú cho HS

- Kết quả cần đạt: Kích thích sựtò mò, khơi gợi hứng thú của học sinh

vềchủ đề sẽ học; học sinh cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình.Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi thích thú

- Cách làm: Đặt câu hỏi; đốvui; kể chuyện; đặt một tình huống; tổ chức

trò chơi, Thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc từng cá nhân học sinh

Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm

- Kết quả cần đạt: Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của

họcsinh để chuẩn bị học bài mới Học sinh trải qua tình huống có vấn đề trong

đó chứa đựng những nội dung kiến thức, thao tác kỹ năng làm nảy sinh kiếnthức mới

- Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với học sinh.

Nếulà tình huống diễn tả bằng lời văn thì câu văn phải đơn giản, gần gũi vớihọc sinh có thể thực hiện vói toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân học sinh

Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức

mới - Kết quả cần đạt:

+ HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay qui tắc lý thuyết, thực hành mới.

+ HS nhận biết được dấu hiệu, đặc điểm của dạng toán mới; nêu được các bước giải dạng toán này

- Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích,đánh giá để

giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học Có thể sử dụng cáchình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạokhác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện

Trang 24

của HS Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tíchthuận lợi và hiệu quả Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhómnhỏ hoặc cá nhân từng HS.

+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù họp với khả năngcủa HS GV tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của HS, giúp các

em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cáchlàm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên

+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theonhóm, theo cặp đồi, theo bàn, theo tổ HS

Bước 5: Vận dụng

- Kết quả cần đạt:

+ HS được củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.+ HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế trong đời sống hàng ngày

+ Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới

- Cách làm:

Trang 25

+ Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em.

+ Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt, bước đầu có lí lẽ, có lậpluận

Học sinh học tập theo VNEN thực hiện 10 bước học tập như sau:

Bước 1 Chúng em làm việc nhóm Nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ

dùng học tập cho cả nhóm

Bước 2 Em đọc Tên bài học rồi viết tên bài học vào Vở ô li ( lưu ý

không viết vào sách)

Bước 3 Em đọc mục tiêu của bài học.

Bước 4 Em bắt đầu hoạt động cơ bản (nhớ xem phải làm việc cá nhân

hay theo nhóm)

Bước 5 Kết thúc hoạt động cơ bản em gọi thầy, cô giáo để báo cáo

những gì em đã làm được để thầy, cô ghi vào bảng đo tiến độ

Bước 6 Em thực hiện hoạt động thực hành:

+ Đầu tiên em làm việc cá nhân;

+ Em chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bài làmcòn sai sót);

+ Em trao đổi với cả nhóm Chúng em sửa cho nhau, luân phiên nhau đọc (lưu ý không làm ảnh hưởng đến nhóm khác)

Bước 7 Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo.

Bước 8 Em thực hiện hoạt động ứng dụng (với sự giúp đỡ của gia

đình, của người lớn)

Trang 26

Bước 9 Kết thúc bài, em viết vào bảng đánh giá (nhớ suy nghĩ kĩ khi

viết và lưu ý về đánh giá của thầy/ cô giáo)

Bước 10 Em đã học xong bài mới hoặc em phải học lại phần nào 1.3 Thực trạng dạy học môn toán theo mô hình trường học mới VNEN

Thực trạng dạy học môn toán nói chung và thực trang dạy học đại lượng và đo đại lượng nói riêng

1.3.1 Tổ chức đánh giá thực trạng

1.3.1.1 Mục đích và quy mô đánh giá

- Mục đích: Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá xác địnhquy trình và kỹ thuật dạy học theo mô hìnhVNEN trong việc dạy môn Toánlớp 2, 3 nói chung và dạy học đại lượng, đo đại lượng lớp 2, 3 nói riêng

- Quy mô đánh giá: 10 giáo viên dạy lớp 2, 3 cùng 11 giáo viên kháccủa các lớp dạy theo mô hình VNEN và 225 học sinh lớp 2, 3 trong trường tiểu học Phú Lâm mà đề tài nghiên cứu

1.3.1.2 Nội dung đánh giá

- Thực trạng về tính tích cực học tập của HS trong học tập môn Toán theo chương trình VNEN

- Thực trạng sử dụng dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3theo mô hình VNEN của giáo viên trường tiểu học Phú Lâm – Tiên Du – Bắc

1.3.1.3 Phương pháp và kỹ thuật đánh giá

- Quan sát hoạt động dạy và học hên lớp của GV và HS

- Điều tra bằng phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu của GV và HS

- Phỏng vấn, trao đổi với các GV về việc tiến hành 5 bước dạy, 10 bướchọc tập của học sinh và tính tích cực học tập của HS

Trang 27

1.3.2 Kết quả đánh giá thực trạng

1.3.2.1 Thực trạng tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học môn Toán theo VNEN.

Để đánh giá tính tích cực học tập của học sinh trong giờ Toán trước hết

đề tài tiến hành tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học toántheo phương pháp VNEN Kết quả thu được như bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1: Hứng thú trong giờ học môn toán của học sinh

Mức độ Rất thích Bình thường Chán Tổng sốNội dung

toán em cảm 100 44,5 113 50,2 12 5,3 225 100thấy

Nhận xét chung: Đa số học sinh hứng thú học mồn toán ở mức bìnhthường nghĩa là không tỏ ra thích hoặc là chán (50,2%)

Qua tìm hiểu thấy đa số học sinh có hứng thú cao trong giờ học toán lànhững học sinh khá giỏi Tuy nhiên, một số học sinh trung bình, yếu, lười họcchưa hứng thú cao vì hổng kiến thức, không có kỹ năng làm việc cá nhân, làmviệc cặp đôi, nhút nhát trong thảo luận nhóm

Tìm hiểu mức độ tích cực của học sinh lớp 3, đề tài tiếp tục tìm hiểumức độ tập trung chú ý trong giờ học Toán theo VNEN Kết quảthu được nhưbảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Biểu hiện tính tích cực của học sinh trong giờ học toán

1 Tích cực thảo luận nhóm, làm việc cặp đôi 89,7% 1

2 Nhận xét, bổ sung ý kiến cho bạn 44,4% 3

3 Chăm chú nghiên cứu sách khi làm việc cá nhân 66,7% 2

Trang 28

4 Đặt câu hỏi về vấn đề liên quan đến bài học 30,7% 4

5 Trao đổi với thầy cô về vấn đề chưa hiểu 23,6% 5

Nhận xét chung: Trong giờ học Toán đa số các em tích cực thảo luậnnhóm (89,7% ), chăm chú nghiên cứu sách khi làm cá nhân (66,7%) Tuynhiên rất ít học sinh đặt câu hỏi liên quan đến bài học khi gặp khó khăn(30,7%), ít học sinh trao đổi với thầy cô về những điều chưa hiểu (23,6 %)

Đề tài tiếp tục tìm hiểu về mức độ hiểu bài của học sinh thu được kếtquả như bảng 2.3 dưới đây:

Bảng 2.3: Mức độ hiểu bài của học sinh trong tiết học Toán

1 Hiểu bài và giải được các bài tập ứng dụng 68,9% 2

2 Hiểu bài và nhớ một số ý chính 70,2% 1

3 Hiểu không bài nhưng không nhớ 62,2% 3

Nhận xét chung: Đa số học sinh sau mỗi tiết có khả năng hiểu bài vànhớ một ý chính (70,2%), các em hiểu bài và giải được các bài tập ứng dụng(68,9%) Vẫn còn một số học sinh không hiểu bài (23,1%)

Kết hợp với quan sát và phỏng vấn chúng tôi thấy đa số học sinh hiểubài và giải được các bài tập ứng dụng là những học sinh khá giỏi và năngđộng Còn một số học sinh hiểu bài nhưng không nhớ thì thụ động, ít tích cựctrao đổi, trải nghiệm, những em này cũng học trung bình khá nhưng do thụđộng không tích cực trao đổi nên kiến thức nắm được còn lơ mơ do đó ít nhớbài Những học sinh trung bình, yếu, kém thì hầu như không hiểu bài, một số

em ngồi chơi khi cô yêu cầu làm việc nhóm, cặp đồi hay cá nhân Một số emngồi nói chuyện riêng khi không có giáo viên quản lý

Trang 29

Nhận xét chung: Đa số học sinh cho rằng các em chưa tích cực học tập

là do chưa có kỹ năng tự học, thảo luận nhóm, báo cáo kết quả học tập, (70,6%), do giáo viên ít quan tâm (48,9%) Một số ít học sinh cho rằng các

em chưa tích cực học tập là do các em học yếu từ lớp dưới (31,1 % ), dochương trình theo VNEN khó đối với em (20 %)

Khi học theo chương trình VNEN các em HS lớp 2, 3 học tập theo 10bước học tập Các em được trải nghiệm với các hình thức học tập: cá nhân,cặp đôi, nhóm, lớp Một số kĩ năng như thảo luận, tự học, phân tích, tóm tắt,báo cáo kết quả học tập của các em chưa tốt Điều này thể hiện việc các emchưa tích cực học tập do chưa có phương pháp học tập Chính vì thế, đa số các

em cho rằng giáo viên cần giúp đỡ thường xuyên để hình thành và rèn cho các

em một số kỹ năng học tập theo phương pháp mới Nội dung học tập theo

Trang 30

VNEN đã được giảm tải nhiều so với chương trình thường nên rất ít học sinhcho rằng nội dung Toán lớp 2, 3 khó đối với mình Qua quan sát và phỏng vấntác giả thấy sở dĩ một số em vẫn cho rằng nội dung Toán lớp 2, 3 khó vớimình nên ít tích cực học tập vì việc nhận thức nội dung đó thông qua trảinghiệm các em còn gặp nhiều khó khăn Nếu giáo viên giúp đỡ kịp thời trongquá trình trải nghiệm thì các em sẽ tích cực hơn.Vẫn còn nhiều lý do kháckhiến các em ít tích cực trong học tập như do thiếu sách học tập, kỹ năng tựhọc còn kém do khả năng đọc và viết Tiếng Việt còn chậm.

1.3.2.2 Thực trạng sử dụng dạy học VNEN trong dạy học chủ đề đại lượng và

đo đại lượng lớp 2, 3

Để đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo VNEN đềtài tiến hành khảo sát về mức độ nhận thức của giáo viên tại trường tiểu học

mà đề tài nghiên cứu Kết quả thu được như bảng 2.5 dưới đây:

Bảng 2.5: Kết quả thu được

1 Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học 14 87,5tập cho HS

3 Hình thành và phát triển tốt kỹ năng giao tiếp cho HS 14 87,5

4 Tạo được sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm 13 81,3

5 Tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa GV và HS 14 87,5

7 HS nhớ bài lâu hơn

Trang 31

15 93,8

Trang 32

Nhận xét chung: Đa số các giáo viên đều cho rằng dạy học chủ đề đạilượng và đo đại lượng theo phương pháp VNEN có tác dụng phát huy tích cựchoạt động, chủ động, sáng tạo của học sinh, hình thành và phát triển kĩ nănggiao tiếp (87,5 %) Học sinh nhớ bài lâu hơn (93,8%), HS tiếp thu bài tốt hơn(81,3%), tạo sự đoàn kết trong các thành viên trong nhóm (81,3%).

Đa số giáo viên được khảo sát đều khẳng định học bằng phương phápVNEN giúp HS có kỹ năng giáo tiếp, kỹ năng tự học, tạo mối quan hệ thânthiết Tuy nhiên để phát triển những kỹ năng này thì giáo viên cần có kế hoạchrèn kỹ năng này thông qua việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Sách giáo khoa toán lớp 2, 3 theo chương trình VNEN được thiết kếbao gồm cả sách giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh Sách cũng thiết kế theohướng giúp giáo viên tổ chức hoạt động học tập cho HS Tuy nhiên việc chuẩn

bị đồ dùng dạy học và dự kiến kế hoạch tổ chức, giám sát vẫn cần thiết chotiết học hiệu quả Tìm hiểu về việc chuẩn bị cho việc tổ chức hoạt động cho

HS khi dạy học một tiết học đại lượng và đo đại lượng theo mô hình VNEN

đề tài thu được kết quả như bảng 2.6 dưới đây:

Bảng 2.6: Mức độ chuẩn bị cho việc tổ chức tiết học đại lượng

và đo đại lượng theo mô hình VNEN

2 Dự kiến điều chỉnh nội sung, các hoạt động cho phù 8 50hợp với lớp, trường, địa phương

3 Dự kiến tổ chức các hoạt động cá nhân, cặp đôi, thảo 3 18,8luận nhóm

4 Dự kiến giám sát và giúp đỡ các hoạt động cá nhân, 4 25cặp đôi, nhóm

Trang 33

5 Dự kiến cách thức chính xác hóa các kiến thức cơ bản 6 37,5của bài cho học sinh

6 Thực hiện đầy đủ 5 bước dạy học theo mô hình VNEN 7 43,8

Nhận xét chung: Đa số giáo viên đều chuẩn bị trước đồ dùng dạy học(87,5% ) Số giáo viên điều chỉnh nội dung chương trình cho phù hợp với lớp,trường có 50% Số giáo viên thực hiện đầy đủ năm bước dạy học chỉ có43,8% Việc dự kiến tổ chức cho học sinh trải nghiệm, học sinh hoạt động cánhân, cặp đôi, nhóm, dự kiến việc chính xác hóa kiến thức đều có rất ít giáoviên thực hiện (dưới 25 %)

Qua quan sát chúng tôi thấy giáo viên lên lớp hầu như chưa quản lý tốtcác hoạt động cá nhân, nhóm, cặp đôi Một số giáo viên giao nhiệm vụ xongkhông giúp đỡ kịp thời từng cá nhân hay cặp đôi, nhóm nên không biết làm gìdẫn đến một số em chăm chỉ học tập còn một số em không biết phải làm gì,ngồi chơi, nói chuyện riêng Do đó, chỉ có một số học sinh giỏi và năng độngthì tích cực học tập, thảo luận Còn một số học sinh học trung bình yếu, thụđộng thì ỷ lại một số bạn trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ Số học sinh này íthiểu bài, nhớ bài, chưa tích cực học tập

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn khi giáo viên dạy học đại lượng và

đo đại lượng lớp 2, 3theo chương trình VNEN chúng tôi đã tiến hành khảo sát

ý kiến của giáo viên Kết quả thu được như bảng 2.7 dưới đây:

Bảng 2.7: Nhũng khó khăn khi dạy học đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3

theo phương pháp VNEN

1 Tốn thời gian và dễ cháy giáo án 9 56,3 7

2 Thực hiện đồng thời 5 bước dạy và 10 bước 15 93,8 1

Trang 34

10 Thiếu sách giáo khoa cho học sinh thảo luận 11 68,8 5

Nhận xét chung: Đa số giáo viên đồng ý với những khó khăn mà đề tàiđưa ra Khó khăn đứng ở vị trí số 1 là chưa có quy trình và kỹ thuật chi tiết đểthực hiện việc dạy học đại lượng và đo đại lượng lớp 2, 3 (93,8 % ) Khó khănđứng thứ 2 là việc điều chỉnh nội dung và phưcmg pháp tổ chức hoạt độnggiáo viên còn lúng túng (87,5% ) Khó khăn về việc xác định trọng tâm ítđược giáo viên đồng ý nhất (37,5 % ), học sinh lười nghiên cứu tài liệu, nóichuyện cũng ít giáo viên đồng ý, xếp vị trí thứ 9 (43,8% )

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động hỗ trợ giữathầy và trò, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy trong quá trình dạyhọc, nhằm đạt được mục đích dạy học

Phương pháp dạy học theo mô hình mới chỉ ra quy trình và kỹ thuật dạyhọc môn toán Tiểu học nói chung và dạy học đại lượng và đo đại lượng nóiriêng nhằm kiến tạo kiến thức toán cho học sinh Mỗi HS VNEN đến trườngluôn ý thức được mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thếnào, không cần chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên

Qua việc tìm hiểu thực trạng dạy học tính tích cực của học tập đạilượng và đo đại lượng lớp 2, 3 của HS và việc sử dụng phương pháp dạy họctheo VNEN của GV trường Tiểu học Phú Lâm Đề tài rút ra một số kết luậnnhư sau:

- Học sinh lớp 2, 3 trong các trường trên địa bàn nghiên cứu rất thíchhọc theo chương trình VNEN nhưng chưa tích cực trong giờ toán Nguyênnhân chủ yếu do HS chưa có kỹ năng tự học, thảo luận, kỹ năng báo cáo, đánhgiá nhận xét sau khi trải nghiệm, thảo luận, giáo viên chưa có kỹ năng tổchức và giúp đỡ khi học sinh hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm,

- Đa số giáo viên cho rằng dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượngtheo mô hình VNEN phát huy tính tích cực học tập của học sinh, học sinhhứng thú học tập, trải nghiệm tự rút ra kết luận nên nhớ bài lâu hơn Hầu hếtgiáo viên tiến hành dạy học theo mô hình VNEN thực hiện các hoạt độnglôgô, thực hiện 10 bước học tập của học sinh Tuy nhiên, giáo viên ít chútrọng đến 5 bước dạy Việc chuẩn bị các dự kiến tổ chức hoạt động cho họcsinh, giám sát giúp đỡ học sinh, chính xác hóa kiến thức còn chưa thườngxuyên Nguyên nhân do chưa có một quy trình chi tiết và thống nhất các bướcdạy và học

Trang 36

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐẠI LƯỢNG

VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG MÔN TOÁN LỚP 2, 3 THEO MÔ HÌNH

TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM

Xuất phát từ thực trạng đã nêu ở chương 1, trong khuôn khổ luận vănnày, chương 2 chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp cụ thể để hướng dẫn GV

tổ chức dạy học chủ đề đại lượng và đo đại lượng ở lớp 2, 3 theo mô hìnhtrường học mới (VNEN) một cách hiệu quả nhất Qua đó GV sẽ phát triểnđược kỹ năng dạy học của mình nhằm cải thiện tình hình dạy học hiện nay,đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy

Luận văn đề xuất 3 biện pháp Nội dung của các biện pháp được lí giải,

cụ thể hóa cách thức tiến hành, thực hiện biện pháp và các yêu cầu cần đạt vềdạy học đại lượng và đo đại lượng theo mô hình trường học mới (VNEN)

2.1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nhận biết các đại lượng và đơn

vị đo đại lượng

2.1.1 Mục đích của biện pháp

- Giúp học sinh nắm chắc được tên gọi, cách viết tên, các kí hiệu vềtừng đơn vị đo thông dụng được học Nắm được quan hệ giữa các đơn vị đocùng một đại lượng

2.1.2 Cách thực hiện

1 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm cảm nhận trực tiếp về đại lượng

và đo đại lượng

Hoạt động của giáo viên

- Đặt câu hỏi, đố vui, kể chuyện, đưa ra tình huống, tổ chức trò chơi tùythuộc vào điều kiện thực tiễn và nội dung kiến thức Giáo viên có thể sử dụnghoạt động trong tài liệu hướng dẫn học hoặc tự xây dựng Có thể thực hiện vớitoàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân học sinh

Trang 37

- Giáo viên hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho học sinh học tập theonhóm, cặp đôi hay cá nhân để nhận biết đơn vị đo mới, biết tên gọi, kí hiệu,mối quan hệ giữa các đơn vị đo của các đại lượng Đồng thời theo dõi họcsinh hoạt động, giúp đỡ học sinh gặp khó khăn

- Trong quá trình tổ chức cho học sinh trải nghiệm cảm nhận trực tiếp

về đại lượng và đo đại lượng thì giáo viên có thể sử dụng một số kỹ thuật dạyhọc sau:

+ Thuật thông báo và đề ra yêu cầu

Giáo viên sử dụng kĩ thuật thông báo và đề ra yêu cầu nhằm nói rõnhiệm vụ học tập, kết quả kiểm tra đánh giá, danh mục tài liệu, bài tập, côngviệc,… mà HS cần làm Giáo viên cần phải thông báo ngắn gọn, rõ ràng, dễhiểu, tránh học sinh hiểu nhầm dẫn đến lạc đề, ảnh hưởng đến kết quả củaviệc thảo luận Sau khi thông báo, giáo viên nên có những biện pháp kiểm traxem học sinh nắm vững mục tiêu học tập chưa? Chẳng hạn: Bằng cách yêucầu một học sinh nhắc lại mục tiêu học tập Thông báo còn dùng để giaonhiệm vụ cho các nhóm, vấn đề này yêu cầu giáo viên phải giúp cho HS hiểuđúng bản chất của nhiệm vụ học tập được giao

+ Sử dụng trò chơi:

Trong tiến trình thảo luận, chúng ta có thể sử dụng trò chơi để giúp họcsinh thực hiện mục tiêu học tập Những trò chơi sử dụng trong quá trình dạyhọc cần phải tuân theo mục đích, nội dung, phương pháp, nguyên tắc dạy học,

có chức năng ôn tập, tạo hứng thú học tập cho học sinh Các nhiệm vụ, quytắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi dạy học phải được tổ chức tươngđối chặt chẽ trong các nhiệm vụ dạy học, được định hướng theo mục tiêu vànội dung học tập Trò chơi có thể được thiết kế và tổ chức theo hình thức cảlớp, giữa các nhóm trong lớp, cặp đôi trong nhóm, cả nhóm

Trang 38

Việc lựa chọn trò chơi, hình thức tổ chức trò chơi tùy thuộc vào yêu cầucủa hoạt động và điều kiện thực tiễn của lớp học.

+ Kĩ thuật chia nhóm:

Trong quá trình dạy học theo mô hình VNEN giáo viên phân chia họcsinh đồng đều vào các nhóm sao cho mỗi nhóm có cả học sinh giỏi, khá, trungbình, yếu Thường là hai bàn một nhóm (5 - 6 học sinh) Khi đó, kết quả thảoluận sẽ kĩ lưỡng hơn, tần số việc đưa ra và tiếp nhận sự trả lời thường xuyênhơn, vấn đề cần thảo luận được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, từ đólàm cho các thành viên trong nhóm hiểu vấn đề thảo luận sâu sắc hơn, chấtlượng của sự hợp tác cao hơn, học sinh nhớ bài lâu hơn Việc sắp xếp học sinhnào vào nhóm nào do giáo viên quyết định, không nên để học sinh tự chọn.Như vậy, có thể không đảm bảo sự đa dạng trong nhóm Theo đề tài nhómthảo luận cần duy trì khoảng vài lần thảo luận, sau đó có sự thay đổi,vì trongquá trình giảng dạy, tác giả thấy nên duy trì trong khoảng thời gian nhất định

sẽ tạo ra sự nhất định và thành công cho nhóm Sự thay đổi nhóm thảo luận sẽtạo ra sự tiếp xúc nhiều hơn giữa các học sinh trong lớp

+ Kĩ thuật quản lý các hoạt động nhóm:

Việc sắp xếp lại bàn, ghế, chỗ ngồi của học sinh phải thực hiện trướcgiờ học theo yêu cầu của giáo viên Các nhóm chỉ bắt đầu thảo luận khi được

sự cho phép của giáo viên, chẳng hạn bằng câu nói: “Nào, các em bắt đầu làm

đi, các em có 5 phút Trong quá trình học sinh thảo luận, giáo viên luôn ở bêncạnh các em để kiểm tra xem các em có thực sự thảo luận không, học sinh cóhiểu đúng nhiệm vụ không, có bỏ sót điểm gì quan trọng không, các em cóthắc mắc gì không Không nên nói với cả lớp khi các nhóm đang làm việc, trừkhi việc đó không thể đừng, bởi vì, học sinh sẽ rất khó chịu khi đang thảo luận

mà phải dừng lại Nếu cần nói thì yêu cầu cả lớp dừng thảo luận lại Khi kiểmtra hoạt động của từng nhóm cần phân phối thời gian đều cho tất cả các

Trang 39

nhóm, tránh mất nhiều thời gian với một nhóm Khi tới các nhóm thì cúixuống cho gần với tầm mặt của học sinh và tỏ vẻ thái độ muốn hợp tác chứkhông phải là kiểm tra

+ Kĩ thuật đặt câu hỏi

Quá trình thảo luận của học sinh có hiệu quả hay không phụ thuộcnhiều vào các câu hỏi do giáo viên đưa ra khi giao nhiêm vụ, gợi ý, đánh giáhọc sinh Giáo viên cần đưa ra những câu hỏi sao cho tích cực hóa quá trìnhhọc tập của học sinh, tạo điều kiện để học sinh độc lập tư duy, khơi gợi, duytrì và nâng cao tư duy cho học sinh Để đạt được điều này, theo tác giả, giáoviên cần đưa ra câu hỏi sao cho học sinh thâm nhập được vào cuộc thảo luậnquanh câu hỏi

Hoạt động của học sinh

- Các nhóm chơi trò chơi, trả lời câu đố, nghe tình huống, nghe kểchuyện, dưới sự tổ chức của giáo viên, có thể hoạt động độc lập hoặc tươngtác trong nhóm

- Học sinh tự đánh giá phần quan sát của mình và chia sẻ với bạn trongnhóm của mình để nhận biết

- Báo cáo kết quả với giáo viên bằng cách trả lời các câu hỏi của giáoviên

Ví dụ 1: Bài 16 Ki – lô – gam [14, tr.57-58]

Hoạt động của giáo viên

- Giáo viên tổ chức trò chơi “ Nặng hơn - Nhẹ hơn”

Giáo viên nêu câu hỏi: Mỗi nhóm chọn ra hai vật có trong cặp sách ( ví

dụ quyển sách và cái bút ) cùng nâng hai vật đó ở hai tay Nêu cảm nhận vậtnào nặng hơn, vật nào nhẹ hơn

Trang 40

- Giáo viên có thể đưa ra tình huống nếu hai vật nặng bằng nhau và haivật nặng gần bằng nhau như (túi ngô, túi gạo) mà hình thức bề ngoài khó pháthiện ra Muốn biết được một vật nặng hay nhẹ như thế nào ta phải cân vật đó.

Với cân đĩa, ta có thể cân để xem vật nào nặng ( nhẹ) hơn vật nào nhưsau: Để túi ngô lên một đĩa cân và túi gạo lên một đĩa khác khi đó có các khảnăng sau xảy ra:

+ Cân thăng bằng

+ Cân nghiêng về 1 phía

Từ đó học sinh biết được túi ngô hay túi gạo nặng (nhẹ) hơn

Hoạt động của học sinh

- Nghe giáo viên hướng dẫn cách chơi, luật chơi

- Chơi trò chơi : Học sinh chọn ra hai vật có trong cặp sách ( quyểnsách và cái bút) và cùng nâng hai vật đó ở hai tay Học sinh sẽ cảm nhận được quyển sách nặng hơn cái bút

- Muốn biết túi ngô nhẹ hơn túi gạo hoặc túi gạo nặng hơn túi ngô talàm như thế nào ? Các bạn trong nhóm hoạt động cá nhân sau đó chia sẻ vớinhóm, đặt câu hỏi để tìm ra nội dung

+ Nếu cân thăng bằng ta nói: Túi ngô nặng bằng túi gạo ( nhìn vào cân thấy kim chỉ điểm chính giữa)

Ngày đăng: 22/05/2021, 14:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w