Từ những phân tích trên có thể khái niệm ĐNGV như sau: ĐNGV là tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục trong các nhà trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, có cùng
Trang 1TRẦN LỆ XUÂN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ
VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được
sử dụng để bảo vệ một công trình nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2014
Tác giả
Trần Lệ Xuân
Trang 4Bản Luận văn này hoàn thành là kết quả của sự cố gắng nỗ lực của bản thân cùng sự giúp đỡ của Quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Bùi Ngọc Toàn, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã giảng dạy, hướng dẫn các chuyên đề trong khóa học và nhiệt tình quan tâm góp ý với tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, đồng nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ - nơi tôi đang công tác đã động viên, tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 5Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ 4
1.1 Tổng quan lý luận về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề 4
1.1.1 Giáo viên và phát triển ĐNGV 4
1.1.2 Vị trí, vai trò của giáo viên trong các trường dạy nghề 6
1.1.3 Tiêu chuẩn, trình độ của giáo viên dạy nghề 8
1.1.4 Nhiệm vụ, quyền của giáo viên dạy nghề 9
1.1.5 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên 10
1.2 Tổng quan thực tiễn về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề 18
1.2.1 Phát triển ĐNGV trong hệ thống giáo dục quốc dân 18
1.2.2 Phát triển ĐNGV dạy nghề tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 21
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề 24
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2009-2013 27
2.1 Khái quát về trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ 27
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 27
2.1.2 Nhiệm vụ của nhà trường 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của nhà trường 30
2.1.4 Ngành nghề đào tạo 31
Trang 62.2.1 ĐNGV và công tác đào tạo 33
2.2.2 Thực trạng trình độ chuyên môn và sư phạm 39
2.2.3 Thực trạng trình độ tin học, ngoại ngữ 43
2.2.4 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học 46
2.3 Phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ 47
2.3.1 Quy hoạch phát triển ĐNGV 47
2.3.2 Công tác tuyển dụng ĐNGV 50
2.3.3 Công tác sử dụng, đánh giá ĐNGV 53
2.3.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 55
2.3.5 Xây dựng môi trường văn hóa, điều kiện làm việc 58
2.4 Đánh giá chung về công tác phát triển ĐNGV 62
2.4.1 Mặt mạnh 62
2.4.2 Mặt hạn chế 63
2.4.3 Nhận xét chung, nguyên nhân 64
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 67 3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển trường đến năm 2020 67
3.1.1 Mục tiêu 67
3.1.2 Định hướng các giai đoạn phát triển 67
3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ 68
3.2.1 Mục tiêu phát triển ĐNGV 68
3.2.2 Định hướng phát triển ĐNGV 68
3.3 Các giải pháp phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ 69 3.3.1 Nâng cao nhận thức và năng lực của lãnh đạo và cán bộ quản lý về công tác phát triển ĐNGV 69
3.3.2 Xây dựng quy hoạch ĐNGV đến năm 2020 71
3.3.3 Bố trí, sử dụng hợp lý ĐNGV hiện có, coi trọng tuyển dụng giáo viên mới để đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu 75
Trang 73.3.6 Hoàn thiện cơ chế và chính sách động viên, khuyến khích ĐNGV 86
3.3.7 Xây dựng môi trường sư phạm, văn hóa nhà trường 89
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp 91
3.5 Đề xuất, kiến nghị 93
3.5.1 Đối với Nhà nước 93
3.5.2 Đối với Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ LĐ-TB&XH 93
3.5.3 Đối với Ban Giám hiệu trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ 94
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 9TT Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Thống kê số lượng giáo viên theo khoa, bộ môn giai đoạn 2009-2013 33
Bảng 2.2 Cơ cấu giáo viên so với HSSV năm 2013 34
Bảng 2.3 Cơ cấu giáo viên so với cán bộ phục vụ từ 2009-2013 35
Bảng 2.4 Thống kê tuổi đời giáo viên theo khoa, bộ môn năm 2013 36
Bảng 2.5 Thống kê cơ cấu giới tính ĐNGV theo khoa, bộ môn năm 2013 37
Bảng 2.6 Thống kê thâm niên giảng dạy ĐNGV năm 2013 38
Bảng 2.7 Thống kê trình độ chuyên môn của giáo viên từ 2009-2013 39
Bảng 2.8 Thống kê trình độ chuyên môn giáo viên theo khoa, bộ môn năm 2013 40 Bảng 2.9 Thống kê trình độ sư phạm của giáo viên từ 2009-2013 41
Bảng 2.10 Thống kê trình độ sư phạm giáo viên theo khoa, bộ môn năm 2013 43
Bảng 2.11 Thống kê trình độ tin học của giáo viên từ 2009-2013 44
Bảng 2.12 Thống kê trình độ ngoại ngữ của ĐNGV từ 2009-2013 45
Bảng 2.13 Quy hoạch phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ giai đoạn 2009-2015 48
Bảng 2.14 Kết quả đánh giá công tác quy hoạch ĐNGV 49
Bảng 2.15 Bảng tổng hợp kết quả tuyển dụng ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ giai đoạn 2009-2013 52
Bảng 2.16 Kết quả đánh giá công tác tuyển dụng ĐNGV 52
Bảng 2.17 Kết quả đánh giá công tác sử dụng và đánh giá ĐNGV 54
Bảng 2.18 Kết quả đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 57
Bảng 2.19 Kết quả đánh giá công tác xây dựng môi trường văn hoá, chính sách đãi ngộ ĐNGV 61
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 91
Trang 10TT Tên hình Trang
Hình 2.1 Biểu đồ kết quả đánh giá chung về công tác quy hoạch ĐNGV 49
Hình 2.2 Biểu đồ kết quả đánh giá chung công tác tuyển dụng ĐNGV 52
Hình 2.3 Biểu đồ đánh giá chung công tác sử dụng và đánh giá ĐNGV 55
Hình 2.4 Biểu đồ kết quả đánh giá chung công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV 57
Hình 2.5 Biểu đồ kết quả đánh giá chung công tác xây dựng môi trường văn hoá, chính sách đãi ngộ ĐNGV 61
Hình 3.1 Biểu đồ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp phát triển ĐNGV 92
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, KHCN phát triển với những bước tiến nhảy vọt đã đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Xu thế tất yếu là hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực của xã hội, vừa tạo ra quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh gay gắt nhằm bào vệ lợi ích quốc gia, bảo tồn bản sắc văn hóa và truyền thống của mỗi dân tộc
Sự biến đổi đó được thể hiện trước hết ở quan niệm mới về tiêu chuẩn nhân cách người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu và yêu cầu năng lực xã hội Giáo dục và đào tạo là yếu tố cơ bản để phát triển con người, tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế
xã hội, dẫn đến sự tất yếu phát triển giáo dục đào tạo
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: phát triển nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển KHCN và kinh tế tri thức Phát triển chất lượng giáo dục và đào tạo gắn liền với sự phát triển ĐNGV, bởi chất lượng của ĐNGV phản ánh chất lượng của giáo dục Đối với đào tạo nghề, ĐNGV có vị trí, vai trò quyết định đối với chất lượng đào tạo của nhà trường Họ là những người trực tiếp truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho người học để tạo ra cho xã hội những người thợ có phẩm chất đạo đức, có trình
độ chuyên môn sâu và có tay nghề thành thạo Phát triển ĐNGV đủ về số lượng, phù hợp cơ cấu và đảm bảo chuẩn về chất lượng là một nhiệm vụ cần thiết nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay Trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ là đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, địa chỉ xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Quyết định số 228/QĐ-BLĐTBXH ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, trên cơ sở Trường Công nhân Kỹ thuật Lâm nghiệp TW4 thành lập tháng 10/1974 Trong những năm qua, nhà trường đã không ngừng nâng cao chất lượng ĐNGV về nhiều mặt nhằm đáp ứng nhiệm vụ đào tạo của nhà trường
Tuy nhiên, trước sự phát triển của nền giáo dục và đào tạo hiện nay thì ĐNGV của trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ vẫn còn nhiều bất cập:
Trang 12- Công tác xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV chưa được quan tâm đúng mức, chưa có tầm chiến lược lâu dài
- Số lượng giáo viên thực hành còn thiếu và mất cân đối giữa các ngành nghề đào tạo Tỷ lệ ĐNGV có trình độ cao chưa đạt mức chuẩn theo quy định Công tác NCKH của giáo viên còn quá ít
- Chưa thường xuyên làm tốt việc kiểm tra, đánh giá chất lượng ĐNGV, phân loại giáo viên hàng năm
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát
triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ đến năm 2020”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là xây dựng căn cứ khoa học cho những giải pháp phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ phù hợp với chiến lược phát triển trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu và phát triển bền vững nhà trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ
và Nông lâm Phú Thọ Đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV của nhà trường
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: nghiên cứu tại trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ + Về thời gian: khảo sát số liệu từ năm 2009 đến năm 2013, ứng dụng kết quả nghiên cứu đến năm 2020
+ Về vấn đề nghiên cứu: phát triển ĐNGV của nhà trường trên các khía cạnh: tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo và chế độ đãi ngộ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ
- Đánh giá thực trạng công tác phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ
Trang 13- Đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: đây là phương pháp dùng các giác quan để ghi lại có kiểm soát thực tiễn việc phát triển ĐNGV tại trường Mục đích của phương pháp này
là tìm hiểu một cách sát thực nhất hoạt động phát triển ĐNGV diễn ra tại trường
- Phương pháp thống kê: thống kê số liệu, tập hợp trên các bảng biểu, báo cáo, từ đó rút ra các kết luận, các xu hướng để đánh giá tình hình phát triển ĐNGV qua các năm tại trường
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: các dữ liệu thứ cấp thu thập được tổng trên các bảng biểu, so sánh qua các năm, phân tích và đưa ra nhận xét
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến các đồng nghiệp có kinh nghiệm về chuyên môn, ngành nghề để tìm hướng giải quyết
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đứng trước sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo nói chung, của trường CĐN Công nghệ và Nông lâm nói riêng, ĐNGV của nhà trường còn nhiều bất cập Đề tài phân tích các nguyên nhân của những bất cập đó, đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV phù hợp với đặc điểm của nhà trường
- Các giải pháp được thực hiện đồng bộ sẽ giúp ĐNGV của nhà trường được phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương được kết cấu trong 97 trang, 20 bảng và 6 hình
- Chương 1: Tổng quan về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề
- Chương 2: Thực trạng phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ giai đoạn 2009-2013
- Chương 3: Giải pháp phát triển ĐNGV trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ đến năm 2020
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRONG CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ 1.1 Tổng quan lý luận về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề
1.1.1 Giáo viên và phát triển ĐNGV
* Giáo viên: theo Điều 70, Luật Giáo dục năm 2005: nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên [15]
* Giáo viên dạy nghề:
Là bộ phận hữu cơ trong đội ngũ nhà giáo được quy định trong Luật Giáo dục 2005, nhà giáo trong giáo dục nghề nghiệp còn có những tính chất riêng biệt đặc thù khác so với ĐNGV ở các trường loại hình đào tạo khác như Trung học phổ thông, Cao đẳng, Đại học
Theo Điều 58, Luật Dạy nghề năm 2006: giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề [16]
* Đội ngũ giáo viên:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ, khái niệm đội ngũ thường được dùng trong: đội ngũ trí thức, đội ngũ văn nghệ sỹ, đội ngũ những người tình nguyện… đều xuất phát từ cách hiểu đội ngũ theo thuật ngữ quân sự: đó là gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, đội ngũ chỉnh tề
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định” [20] Như vậy, đội ngũ được cấu thành bởi các yếu tố sau:
- Là một tập hợp người;
- Có cùng mục đích, một lý tưởng;
- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần
Trang 15Từ những phân tích trên có thể khái niệm ĐNGV như sau: ĐNGV là tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục trong các nhà trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, có cùng mục đích, lý tưởng, được tổ chức thành một lực lượng có tổ chức, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu giáo dục đã
đề ra cho một đơn vị, họ gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật
Theo David C.Kovten – nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Mỹ trong tác
phẩm “Bước vào thế kỷ XXI hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn
cầu”: phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên của xã hội được tăng những
khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng của họ [27]
Từ đó cho thấy:
- Phát triển là sự vận động biến đổi theo hướng đi lên của mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Phát triển tuân theo quy luật vận động nội tại, khách quan
- Phát triển là sự tăng tiến, tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng
- Trong xã hội, phát triển bao giờ cũng nhằm mục đích cụ thể
Trang 16thành lạc hậu so với yêu cầu của xã hội Điều ấy chỉ ra rằng trong nhà trường, phát triển ĐNGV phải có tính đón đầu, có kế hoạch, có chiến lược phát triển chứ không phải phản ứng có tính chất tình thế, nhất thời nhằm mục đích phát triển toàn diện người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp của họ Những thiết sót trong khâu đào tạo nghiệp vụ, các nhu cầu cập nhật, các kỹ năng cần thiết, không phải nguyên
do căn bản đến phát triển ĐNGV cũng như việc bồi dưỡng mang tính chữa cháy, lại càng không thể đóng vị trí chủ chốt trong công tác phát triển ĐNGV
Theo Nguyễn Quang Truyền trong “Quản lý nhân sự và việc xây dựng
ĐNGV trong các nhà trường”: phát triển ĐNGV là xây dựng một ĐNGV đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo [21]
Từ những quan niệm trên ta thấy: phát triển ĐNGV là đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, đồng thời làm cho giáo viên có thái độ nghề nghiệp tốt, phấn khởi, hài lòng, nhiệt tình, trách nhiệm, đoàn kết, gắn bó với nhà trường, hoạt động sáng tạo Phát triển ĐNGV phải gắn công tác đào tạo với bồi dưỡng và sử dụng Như vậy, phát triển ĐNGV bao gồm cả tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, cả về tăng tiến số lượng, chất lượng và sử dụng có hiệu quả ĐNGV
Phát triển ĐNGV dạy nghề là tạo ra một ĐNGV đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có trình độ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong các hoạt động dạy học và giáo dục
1.1.2 Vị trí, vai trò của giáo viên trong các trường dạy nghề
Giáo dục và đào tạo và một nhân tố to lớn thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong sự nghiệp giáo dục đào tạo, vai trò người thầy luôn luôn được khẳng định ĐNGV là thành phần chủ yếu quyết định trực tiếp tới chất lượng, hiệu quả của giáo dục đào tạo trong nhà trường và được xã hội tôn vinh Nhân dân ta có câu “Không thầy đố mày làm nên” nói về vai trò của nhà giáo và truyền thống tôn sự trọng đạo Đảng ta khẳng định: “Cùng với KHCN, giáo dục đào tạo phải được xem là quốc
Trang 17sách hàng đầu” Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng Nhà giáo không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách đảm bảo những điều kiện cần thiết
về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình, giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học
ĐNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục Sản phẩm của họ khác với các loại sản phẩm lao động khác ở chỗ: sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách - Sức lao động”
Thành quả lao động của họ vừa tác động vào hình thái ý thức xã hội (giá trị văn hóa tinh thần, tình đoàn kết đồng thuận của đất nước), vừa hình thành sức lao động kỹ thuật, vừa thúc đẩy sự năng động của đời sống thị trường sức lao động
Sứ mệnh của ĐNGV có ý nghĩa cao cả đặc biệt Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững
Một ngày thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại được và giáo dục không
có người thầy không thể vận hành được
Điều 15, Luật giáo dục năm 2005 quy định vai trò và trách nhiệm của nhà giáo như sau:
- Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục
- Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyên nêu gương tốt cho người học
- Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học [15]
Điều 58, Luật dạy nghề năm 2006: Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề Như vậy, giáo viên dạy nghề giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng dạy nghề [16]
Trang 181.1.3 Tiêu chuẩn, trình độ của giáo viên dạy nghề
Căn cứ Luật giáo dục, Luật dạy nghề, Điều 20 Điều lệ trường CĐN quy định tiêu chuẩn và trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề như sau:
1 Giáo viên dạy nghề phải có các tiêu chuẩn sau đây:
a, Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b, Đạt trình độ chuẩn quy định tại khoản 2 Điều này;
c, Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d, Lý lịch bản thân rõ ràng
2 Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề
a, Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp TCN trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp TCN trở lên hoặc
là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
b, Giáo viên dạy lý thuyết trình độ TCN phải có bằng tốt nghiệp đại học SPKT hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
c, Giáo viên dạy lý thuyết trình độ CĐN phải có bằng tốt nghiệp đại học SPKT hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
d, Trường hợp giáo viên dạy nghề quy định tại các điểm a, b và c của khoản này không có bằng tốt nghiệp cao đẳng SPKT hoặc đại học SPKT thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề;
đ, Các chuẩn nghề nghiệp khác của giáo viên dạy nghề được thực hiện theo qui định của Bộ LĐ-TB&XH
Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29/9/2010 của Bộ trưởng Bộ TB&XH quy định chuẩn của giáo viên, giảng viên dạy nghề gồm 4 tiêu chí và 16 tiêu chuẩn:
LĐ-Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống
Trang 19Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị
Tiêu chuẩn 2: Đạo đức nghề nghiệp
Tiêu chuẩn 3: Lối sống, tác phong
Tiêu chí 2: Năng lực chuyên môn
Tiêu chuẩn 1: Kiến thức chuyên môn
Tiêu chuẩn 2: Kỹ năng nghề
Tiêu chí 3: Năng lực sư phạm dạy nghề
Tiêu chuẩn 1: Trình độ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, thời gian giảng dạy Tiêu chuẩn 2: Chuẩn bị hoạt động giảng dạy
Tiêu chuẩn 3: Thực hiện hoạt động giảng dạy
Tiêu chuẩn 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
Tiêu chuẩn 5: Quản lý hồ sơ dạy học
Tiêu chuẩn 6: Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy Tiêu chuẩn 7: Xây dựng kế hoạch, thực hiện các hoạt động giáo dục
Tiêu chuẩn 8: Quản lý người học, xây dựng môi trường giáo dục, học tập Tiêu chuẩn 9: Hoạt động xã hội
Tiêu chí 4: Năng lực phát triển nghề nghiệp, NCKH
Tiêu chuẩn 1: Trao đổi kinh nghiệm, học tập, bồi dưỡng, rèn luyện
Tiêu chuẩn 2: Nghiên cứu khoa học [7]
1.1.4 Nhiệm vụ, quyền của giáo viên dạy nghề
1.1.4.1 Nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề
Căn cứ Luật giáo dục, Luật dạy nghề, Điều 21 Điều lệ trường CĐN quy định nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề như sau:
1- Giảng dạy theo đúng nội dung chương trình quy định và kế hoạch được giao; 2- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật, chấp hành quy chế, nội quy của nhà trường, tham gia các hoạt động chung trong nhà trường và với địa phương nơi trường đóng trụ sở;
3- Thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giữ gìn uy tín danh dự của nhà giáo;
4- Tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với người học nghề, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học nghề;
Trang 205- Chịu sự giám sát của nhà trường về nội dung, chất lượng, phương pháp giảng dạy và NCKH;
6- Hoàn thành các công việc khác được nhà trường, khoa, bộ môn phân công; 7- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và sự phân công của nhà trường
1.1.4.2 Quyền của giáo viên dạy nghề
Điều 22 Điều lệ trường CĐN quy định quyền của giáo viên như sau:
1- Được bố trí giảng dạy theo chuyên ngành được đào tạo và kế hoạch được giao; 2- Được lựa chọn phương pháp, phương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo;
3- Được sử dụng giáo trình, tài liệu, học liệu dạy nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật của trường để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy;
4- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;
5- Được tôn trọng danh dự, nhân phẩm Được tham gia bàn bạc, thảo luận, góp ý về chương trình, nội dung, phương pháp dạy nghề Được thảo luận, góp ý về các chủ trương, kế hoạch phát triển dạy nghề, tổ chức quản lý của trường và các vấn đề liên quan đến quyền lợi của nhà giáo;
6- Được nghỉ hè, nghỉ học kỳ, nghỉ tết âm lịch, nghỉ lễ, nghỉ hàng tuần và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật;
7- Được hợp đồng thỉnh giảng và thực nghiệm khoa học tại các cơ sở dạy nghề, cơ sở giáo dục khác, nhưng phải đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ quy định tại điều 21 của Điều lệ này;
8- Được hưởng các chính sách quy định tại điều 80,81,82 của Luật giáo dục; 9- Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật và nhà trường
1.1.5 Nội dung phát triển ĐNGV
1.1.5.1 Xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV
Quy hoạch phát triển ĐNGV là bản kế hoạch tổng thể phát triển ĐNGV trong một lĩnh vực thời gian quy hoạch Từ kết quả khảo sát, đánh giá ĐNGV, điểm
Trang 21mạnh, điểm yếu; những cơ hội và nguy cơ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, việc bố trí sử dụng, chế độ, chính sách đãi ngộ, sự chuyển tiếp giữa các thế hệ, các tiêu chí, tiêu chuẩn định mức lao động, từ đó đưa ra các quan điểm, mục tiêu, phương hướng, những biện pháp phát triển và quy mô cần đạt tới trong tương lai
Về số lượng giáo viên cho từng nghề, từng bậc học, thậm chí từng môn học trên cơ sở xác định tỷ lệ học sinh/giáo viên hoặc số giờ chuẩn (giờ định mức) của một giáo viên/năm
Về chất lượng, cơ cấu ĐNGV, phải đảm bảo trình độ chuẩn của một giáo viên nói chung và trình độ cần có để có thể đáp ứng việc mở rộng, phát triển quy
mô, cũng như cơ cấu trình độ đào tạo của nhà trường hiện tại và trong tương lai; tỷ
lệ hợp lý cần có giữa các trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân, nghệ nhân, thợ bậc cao Quy hoạch cần quan tâm đến việc tạo nguồn, chuẩn bị tuyển dụng, đào tạo, đề bạt các lớp giáo viên kế cận trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường
Việc khảo sát đánh giá thực trạng có thể thực hiện bởi một số việc làm cụ thể
rà soát thẩm định văn bằng chứng chỉ của ĐNGV, nhằm khẳng định các chuẩn mực
đã đạt được và làm căn cứ cho việc xây dựng cơ cấu trình độ, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu ngành nghề… tối ưu cho từng giai đoạn phát triển của nhà trường
1.1.5.2 Tạo nguồn và tuyển chọn giáo viên
Căn cứ yêu cầu tiêu chuẩn và trình độ của giáo viên dạy nghề, nguồn để bổ sung vào ĐNGV của các trường nghề thường là sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học SPKT, các trường đại học kỹ thuật, các trường cao đẳng và cán bộ, nghệ nhân, công nhân có tay nghề cao từ các doanh nghiệp Để tạo nguồn bổ sung ĐNGV, nhà trường cần thiết lập được mối quan hệ tốt với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở sản xuất kinh doanh, thực hiện thông báo nhu cầu tuyển dụng rộng rãi qua nhiều kênh thông tin khác nhau để có nhiều ứng viên tham gia dự tuyển
Sau khi có kế hoạch tuyển mộ, tiến hành lựa chọn giáo viên phù hợp với nhu cầu của tổ chức, đơn vị, phù hợp với cá nhân, môi trường bên trong và bên ngoài Tuyển chọn là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những người được tuyển ai là người có đủ tiêu chuẩn làm việc trong tổ chức Thực chất của quá trình tuyển chọn là lựa chọn người cụ thể theo tiêu chuẩn
Trang 22cụ thể rõ ràng do tổ chức đặt ra, để đạt được mục đích: đủ số lượng, đủ chất lượng Nhà trường cần đề ra những tiêu chuẩn cụ thể và đặc biệt quá trình này phải được tiến hành công khai
1.1.5.3 Sử dụng và đánh giá giáo viên
Sử dụng là việc sắp xếp, bố trí giáo viên thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đào tạo theo chuyên môn được đào tạo, cùng với quá trình sử dụng là quá trình đánh giá, sàng lọc, đào tạo lại, bồi dưỡng, luân chuyển để đạt hiệu quả cao nhất Giáo viên phải được sử dụng đúng chuyên môn đào tạo và đãi ngộ xứng đáng với sự cống hiến của họ Trong sử dụng phải biết trọng dụng người tài, đồng thời cũng phải thường xuyên sàng lọc, chuyển những người không đủ năng lực sang làm việc khác Khuyến khích ĐNGV say mê học tập và tu dưỡng để phát triển nghề nghiệp bản thân cũng như sự nghiệp đào tạo của nhà trường, của đất nước
Đánh giá giáo viên được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau: giáo viên
tự đánh giá, đánh giá phân loại qua các hội giảng cấp khoa, cấp trường, đánh giá của cấp quản lý trực tiếp, đánh giá thông qua người học Mục đích của việc đánh giá nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của ĐNGV
Sử dụng và đánh giá ĐNGV phải tuân thủ theo hệ thống các văn bản quy định của Nhà nước, quy định sử dụng giáo viên ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 23/3/2007 của Bộ LĐ-TB&XH; cụ thể [3]
Tại Điều 4 của Quyết định này về Sử dụng giáo viên dạy nghề như sau:
1 Trung tâm dạy nghề, trường TCN, trường CĐN phải sử dụng giáo viên dạy nghề đủ tiêu chuẩn, đạt trình độ chuẩn theo quy định, phù hợp với ngành nghề được đào tạo hoặc đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động
2 Cơ sở dạy nghề không được bố trí giảng dạy vượt quá 1/2 số giờ tiêu chuẩn đối với giáo viên chuyên nghiệp, 1/3 số giờ tiêu chuẩn đối với giáo viên kiêm chức
Tại Điều 5 của Quyết định này về Sử dụng giáo viên dạy nghề chưa đạt
chuẩn như sau:
Giáo viên dạy nghề đang giảng dạy mà chưa đạt trình độ chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại Điều 3 quy định này, còn trong độ tuổi đào tạo theo
Trang 23quy định của Nhà nước phải được đào tạo, bồi dưỡng để đạt trình độ chuẩn; thời hạn để hoàn thành trình độ chuẩn tối đa là 5 năm
1.1.5.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Đào tạo bồi dưỡng ĐNGV là một nội dung rất quan trọng của phát triển ĐNGV KHCN phát triển liên tục, không ngừng, để cập nhật được những tiến bộ KHCN mới và đưa vào nội dung giảng dạy giáo viên luôn phải tự đổi mới để không
bị lạc hâu Đào tạo bồi dưỡng ĐNGV cũng phải được thực hiện theo quy trình quản
lý từ phân tích đánh giá nhu cầu, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả đào tạo bồi dưỡng và nhất là đánh giá sau đào tạo bồi dưỡng
Đào tạo được coi như là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,
thái độ phẩm chất đạo đức Đào tạo là đưa từ một trình độ hiện có lên một trình độ mới, có chất lượng mới, cấp bậc mới theo những tiêu chuẩn nhất định bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống (được cấp bằng)
Bồi dưỡng là nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và
tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp
Quy định sử dụng giáo viên ban hành kèm theo Quyết định số BLĐTBXH ngày 23/3/2007 của Bộ LĐ-TB&XH;quy định loại hình, nội dung, phương thức bồi dưỡng như sau [3]:
07/2007/QĐ-Tại Điều 6 của Quyết định này về Các loại hình bồi dưỡng như sau:
1 Bồi dưỡng chuẩn hoá cho giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn
2 Bồi dưỡng thường xuyên cho tất cả giáo viên
3 Bồi dưỡng nâng cao cho giáo viên đã đạt chuẩn, tuỳ theo yêu cầu của nghề nghiệp, nhiệm vụ được phân công hoặc chuẩn chức danh cao hơn
Tại Điều 7 của Quyết định này về Nội dung bồi dưỡng như sau:
1 Nội dung bồi dưỡng chuẩn hoá
a, Kiến thức, kỹ năng chuyên môn;
b, Nghiệp vụ sư phạm;
c, Ngoại ngữ;
d, Tin học;
Trang 24đ, Những nội dung khác mà tiêu chuẩn chức danh quy định
2 Nội dung bồi dưỡng thường xuyên
a, Quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các quy định về dạy nghề;
b, Kiến thức chuyên môn, tiến bộ KHCN mới thuộc chuyên môn giảng dạy;
c, Kỹ năng nghề (bao gồm cả việc sử dụng những thiết bị sản xuất hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến của nghề);
d, Phương pháp giảng dạy, phương pháp xây dựng chương trình và sử dụng phương tiện dạy học mới;
đ, Ngoại ngữ;
e, Tin học
3 Nội dung bồi dưỡng nâng cao
a, Những vấn đề do yêu cầu công việc và nghề nghiệp;
b, Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực thực hành;
c, Các tiêu chuẩn quy định của chức danh cao hơn
Tại Điều 8 của Quyết định này về Phương thức tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng như sau:
1 Bồi dưỡng thường xuyên được tiến hành theo kế hoạch bồi dưỡng định kỳ hàng năm của Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở dạy nghề với các phương thức tổ chức sau:
a, Tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm;
b, Bồi dưỡng chuyên đề;
c, Tham quan, nghiên cứu, khảo sát thực tế;
d, Hội thảo khoa học
2 Bồi dưỡng chuẩn hoá và nâng cao trình độ được tiến hành với các phương thức tổ chức sau:
a, Tập trung hoặc tại chức;
b, Thực tập nâng cao tay nghề
Tại Điều 9 của Quyết định này về Cơ sở tổ chức bồi dưỡng như sau:
Trang 251 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề do các trường đại học SPKT, cao đẳng SPKT, các khoa sư phạm nghề thực hiện
2 Bồi dưỡng chuyên môn, kỹ thuật, công nghệ mới do các trường đại học, cao đẳng; các viện nghiên cứu về kỹ thuật, công nghệ; doanh nghiệp có giáo viên,
cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng
3 Bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giáo viên dạy nghề do các trường đại học SPKT, cao đẳng SPKT; trường CĐN, TCN; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
có đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng
4 Bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học cho giáo viên dạy nghề tổ chức tại các cơ sở
có tư cách pháp nhân, có điều kiện đảm bảo chất lượng và thuận lợi cho tổ chức thực hiện
Tại Điều 10 của Quyết định này về Chính sách đối với giáo viên dạy nghề
trong bồi dưỡng như sau:
1 Giáo viên dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề công lập được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng lương và các chế độ khác (nếu có) theo quy định của pháp luật; giáo viên hợp đồng được cử đi bồi dưỡng được hưởng quyền lợi mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng
2 Giáo viên dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề khác khi tham gia các lớp bồi dưỡng được hưởng các quyền lợi (nếu có) theo quy định của pháp luật
1.1.5.5 Môi trường văn hóa nhà trường và điều kiện làm việc của giáo viên
* Môi trường văn hóa nhà trường
Để ĐNGV yên tâm làm việc và sẵn sàng cống hiến hết mình cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo thì nhà trường và xã hội cần phải tạo cho họ môi trường và điều kiện làm việc tốt
Trước hết nói đến môi trường văn hóa nhà trường là nói đến “văn hóa sư phạm”, mối quan hệ thầy - trò và “văn hóa tổ chức”, mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường
“Văn hóa hóa sư phạm” được nhận diện từ hai phạm trù “ văn hóa” và “sư phạm” Văn hóa là cái đẹp chứa đựng sự hướng thiện đạt lợi ích Sư phạm là quy
Trang 26phạm dạy học, quy phạm của nghề thầy Văn hóa sư phạm là nét đẹp của công việc dạy học của nghề thầy đem lại lợi ích cho người học, cộng đồng
Với xã hội nông nghiệp chúng ta có văn hóa sư phạm thầy đồ mà đặc trưng người thầy là trung tâm của quá trình dạy học cùng với nó là phương thức dạy học quyền uy Khi chuyển sang xã hội công nghiệp thì văn hóa sư phạm quyền uy được thay thể bằng văn hóa sư phạm cộng tác dân chủ Người thầy vẫn có vị trí quan trọng trong hoạt động dạy học, được xã hội tôn vinh, song người học có vị trí trung tâm của tiến trình đào tạo Đặc trưng văn hóa sư phạm này là thầy dẫn dắt và trò lĩnh hội Với vai trò người hướng dẫn, người chỉ đạo, người cố vấn thầy dẫn dắt trò
đi từ những kiến thức cơ bản đến chuyên sâu trong quá trình đào tạo Người học được chủ động tự điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức, mở mang kiến thức Thầy nêu vấn đề, trò tập giải quyết vấn đề, tiến tới độc lập giải quyết vấn đề Quan hệ thầy trò trên nền tảng “ thầy quý trò - trò kính thầy” có sự đối thoại cởi mở dân chủ thầy - trò, trò - thầy Quá trình này giúp người học có ý trí tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Nhà trường là môi trường để thầy và trò thống nhất với nhau thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo do mục tiêu phát triển xã hội, thành quả của khoa học kỹ thuật và trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật quy định Quản lý nhà trường phải tạo ra được môi trường dạy học cộng tác, thân thiện
Lối sư phạm quyền uy tạo nên văn hóa nhà trường với vẻ đẹp thánh đường tôn
nghiêm, song “Học thì coi nhẹ Hành, Giáo dục thoát ly lao động, Lý luận lảng xa đời
sống thực tiễn” Lối sư phạm của dạy học cộng tác tạo ra văn hóa nhà trường là một
“tổ chức biết học hỏi” Văn hóa quản lý nhà trường của phương thức này lấy đặc
trưng: nhà trường là điểm sáng của cộng đồng, có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng Khái niệm “văn hóa tổ chức” được tích hợp từ hai khái niệm “văn hóa” và
“tổ chức” Khi kết hợp thành khái niệm “văn hóa tổ chức”, dù hàm nghĩa đã được khu trú lại nhưng vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau
Văn hóa tổ chức được hiểu theo quan niệm chung nhất: “Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hóa được chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng có của một tổ chức”
Trang 27Chọn lọc là sự gạn lọc những mặt bất hợp lý, tiếp biến mặt hợp lý để tạo
“nguyên liệu đầu vào” cho quá trình sáng tạo văn hoá Tạo ra là quá trình chuyển hoá cái đã chọn lọc để sản sinh nên những giá trị, biểu tượng và chuẩn mực văn hoá mới gắn với sắc thái riêng biệt của từng chủ thể sáng tạo văn hoá Sử dụng là ứng dụng các giá trị, biểu tượng, chuẩn mực văn hoá được chọn lọc và tạo ra để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, trước hết là tạo bản sắc và thương hiệu
Với những đặc trưng trên, văn hóa tổ chức có vai trò gắn kết các thành viên thành một khối, tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện Các yếu tố văn hóa được chọn lọc và tạo ra có vai trò như là một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức, giữa thành viên với lãnh đạo Như vậy, văn hóa tổ chức có chức năng định hình ý thức tổ chức, kỷ luật, sáng tạo, quảng bá hình ảnh, định hình các triết lý, giá trị, biểu tượng và chuẩn mực văn hoá công sở Văn hoá tổ chức được hình thành dựa trên cơ sở phát huy cao nhất các giá trị tự do, dân chủ, công bằng trong một tổ chức được chế định thành quy tắc thành văn và bất thành văn, nghi thức và phi nghi thức, cái hữu hình và cái
vô hình Nó được phản ánh ở tín hiệu thông tin cơ bản là ý thức tự giác, tự nguyện,
tự tôn của mọi thành viên bên trong tổ chức cũng như sự cảm nhận, thừa nhận, tôn trọng của các thành viên bên ngoài tổ chức như một sắc thái văn hoá
* Điều kiện làm việc của giáo viên:
Điều kiện làm việc có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hiệu quả làm việc của ĐNGV Có được môi trường làm việc tốt là rất quan trọng, trong môi trường làm việc của giáo viên có yếu tố môi trường văn hóa, ngoài ra còn rất nhiều yếu tố là những điều kiện cần thiết để ĐNGV thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học: đó là
cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường, bao gồm từ phòng làm việc, lớp học, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, thư viện, thiết bị dạy học, các hoạt động vui chơi giải trí, các cơ chế chính sách, các chế độ, các quy định bảo đảm điều kiện sống, sinh hoạt
và làm việc cho ĐNGV, cơ hội phát triển nghề nghiệp Chăm lo điều kiện làm việc cho ĐNGV, công nhân viên là một nội dung rất quan trọng của quản lý nhà trường
Trang 281.2 Tổng quan thực tiễn về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề
1.2.1 Phát triển ĐNGV trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, là quá trình giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở mang trí tuệ, hình thành văn hóa, đạo đức, giúp xã hội bảo tồn và phát triển văn hóa của mình Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học và đào tạo
Ở Việt Nam, giáo dục đã trải qua ba thời kỳ, giáo dục trong thời kỳ phong kiến, giáo dục trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ và giáo dục của nước Việt Nam mới, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Thời kỳ phong kiến, sau khi đất nước được độc lập (năm 938), dưới các triều đại phong kiến Ngô, Đinh, Tiền Lê (939-1009) việc học tập chủ yếu được tổ chức trong các trường tư và các trường chùa Đến đời nhà Lý (thế kỷ XI) triều đình phong kiến lúc đó mới thực sự quan tâm đến giáo dục Nhà Lý lập ra Quốc tử Giám năm 1076, đây được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam để dạy con em hoàng tộc Đến nhà Trần năm 1397, vua Trần Thuận Tông ban chiếu mở trường ở châu huyện, việc học giai đoạn này đã có sự phát triển thêm Nhà Hồ tồn tại tuy ngắn ngủi (1400-1407), Hồ Quí Lý cũng rất quan tâm đến giáo dục để nâng cao dân trí và tuyển chọn người tài Đời nhà Lê (thế kỷ XV), nhất là dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), quy mô của các trường đã được mở rộng hơn cho con
em dân thường Nhìn chung giai đoạn này giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phong kiến phương Bắc, nổi bật là tư tưởng giáo dục nho giáo
Thời kỳ Pháp thuộc, từ giữa thế kỷ XIX đến hai thập kỷ đầu thế kỷ XX thực dân Pháp vẫn giữ nguyên nền giáo dục phong kiến của triều Nguyễn Bên cạnh nền giáo dục phong kiến, thực dân pháp mở một số trường nhằm phục vụ công việc cho Pháp như: mở một số trường Pháp - Việt tại Sài Gòn (năm 1862), chủ yếu đào tạo phiên dịch; mở trường sư phạm thuộc địa Sài gòn (năm 1871), trường sư phạm tiểu học (năm 1886) Năm 1889, bắt đầu tuyển sinh sang Pháp học Năm 1900, lập Viện Viễn đông bác cổ, đặt ở Sài gòn, sau dời ra Hà Nội năm 1901 Năm 1905, lập Nha
Trang 29học chính Đông Dương Năm 1906, lập Hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ Năm
1917, ban hành bộ luật đầu tiên về giáo dục cho Đông Dương Theo luật này, từ năm 1918 không còn trường dạy chữ Hán và bãi bỏ các khoa thi hương, thi hội, thi đình Từ đó, hệ thống giáo dục của Việt Nam theo mô hình hệ thống giáo dục của Pháp Năm 1945, Việt Nam có hơn 95% số dân mù chữ, trong đó, tỷ lệ phụ nữ và người dân tộc thiểu số còn mù chữ chiếm đa số Số dân Việt Nam năm 1945 có khoảng 22 triệu người, nhưng chỉ có khoảng 3% số dân được đi học, số này được đào tạo chủ yếu phục vụ bộ máy cai trị Việc mở trường của thực dân Pháp nhằm thực hiện chính sách giáo dục nô dịch và đồng hóa, thực chất là chính sách ngu dân Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới thành lập, Chính phủ, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã nêu ra một trong những mục tiêu hàng đầu là diệt giặc dốt Sau hơn nửa thế kỷ phấn đấu liên tục vượt qua nhiều khó khăn, đến nay hệ thống giáo dục quốc dân đã phát triển toàn diện và rộng khắp đào tạo đủ các bậc học từ mầm non cho đến tiến sĩ, đến tháng 12/2000 Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bước vào giai đoạn mới là phổ cập trung học cơ sở trên cả nước
Hiếu học và tôn sư trọng đạo là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Từ xưa đến nay trong dân gian đã truyền tụng câu ca dao: “Muốn khôn thì phải có thầy, Không thầy dạy dỗ, đố mày làm nên”; “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ, thì yêu lấy thầy”… Trong suốt cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc
ta luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy Chúng ta có ĐNGV là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục; người thầy giáo là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, dạy cho các em có tri thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, tạo nên những lớp người có ích cho đất nước
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý vào bậc nhất trong các nghề cao quý… Nghề dạy học là một nghề sáng tạo bậc nhất trong các nghề sáng tạo… vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”
Trang 30Bước sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cùng với KHCN, giáo dục đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, và “Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo thì giải pháp có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo” Ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trong đó nhấn mạnh: “ phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước” [1]
Chiến lược phát triển giáo dục của Chính phủ đã xác định hệ thống mục tiêu nhằm phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình
độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực Ưu tiên nâng cao chất lượng nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực KHCN trình độ cao, cán bộ quản
lý, kinh doanh giỏi và CNKT lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy mạnh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở
Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo; phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu dạy - học; đổi mới quản lý giáo dục tạo
cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục
Để thực hiện các mục tiêu này, thì giải pháp phát triển ĐNGV được coi là một trong những giải pháp trọng tâm
Trang 31Ngày 27/8/2001 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg về một
số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân Thủ tướng đã yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề phải xây dựng và triển khai kế hoạch dài hạn và phát triển ĐNGV [11] Ngày 29/12/2011 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giáo dục giai đoạn 2011-
2020, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 của đất nước [2]
1.2.2 Phát triển ĐNGV dạy nghề tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trong suốt quá trình phát triển giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng, người thầy luôn được khẳng định có vai trò then chốt đối với chất lượng đào tạo Do vậy, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm và đưa ra nhiều chủ trương về phát triển đội ngũ nhà giáo trong đó có đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Khẩn trương đào tạo,
bổ sung và nâng cao trình độ ĐNGV, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục trong các trường dạy nghề Mở rộng hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo ” [1] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá X) của Đảng nhấn mạnh: “Chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng ĐNGV dạy nghề… Củng cố và mở rộng các trường đào tạo giáo viên dạy nghề theo khu vực trên phạm
vi cả nước” Năm 2011, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt vấn đề: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục” [14], theo tinh thần đó cần có những giải pháp đồng bộ với một tầm nhìn tổng thể Góp phần triển khai chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam”
Trong những năm qua, cùng sự nghiệp phát triển dạy nghề, ĐNGV dạy nghề tăng nhanh về số lượng (năm 2010 có khoảng 33.000 giáo viên dạy nghề, tăng gần 4 lần so với 2001), chất lượng từng bước được nâng lên về chuẩn trình độ đào tạo, kỹ năng nghề và năng lực sư phạm Về cơ bản, giáo viên trong các cơ sở dạy nghề đã
Trang 32đạt chuẩn trình độ đào tạo; 85% giảng viên dạy trình độ CĐN, 75% giáo viên dạy trình độ TCN và 49% giáo viên dạy trong các trung tâm dạy nghề đạt chuẩn trình độ
sư phạm Hiện có khoảng 46,3% số giáo viên dạy tích hợp được cả lý thuyết và thực hành nghề
Công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề đã có nhiều đổi mới và mở rộng mạng lưới các cơ sở đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề Đến nay, ngoài 4 trường đại học SPKT và một số khoa SPKT thuộc các trường đại học, đã thành lập gần 30 khoa sư phạm dạy nghề tại một số trường CĐN uy tín để bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm dạy nghề; nâng cao kỹ năng nghề cho giáo viên dạy nghề
Chính sách đối với giáo viên dạy nghề từng bước được quan tâm Hiện nay, giáo viên dạy nghề được hưởng các chính sách chung đối với nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngoài ra còn có một số chế độ, chính sách riêng đối với giáo viên dạy nghề như: chế độ làm việc, sử dụng, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ; phụ cấp cho giáo viên khi dạy thực hành các nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, phụ cấp đặc thù cho giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật Bên cạnh những kết quả, tiến bộ đã đạt được, công tác phát triển và đổi mới
cơ chế chính sách đối với ĐNGV dạy nghề còn nhiều bất cập chậm được khắc phục Mặc dù số lượng giáo viên dạy nghề những năm qua tăng đáng kể nhưng so với yêu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề, số lượng giáo viên dạy nghề vẫn còn thiếu trầm trọng Hiện nay, tỷ lệ học sinh quy đổi trên giáo viên mới đạt 26 HSSV/giáo viên, trong khi đó, mục tiêu đặt ra là 20 HSSV/giáo viên vào năm 2010 Với mục tiêu này, số giáo viên dạy nghề cần đến năm 2015 có khoảng 51.000 người
và năm 2020 là 77.000 người
Cơ cấu ngành nghề đào tạo giáo viên dạy nghề chưa hợp lý, một số nghề chưa có giáo viên được đào tạo cơ bản, kỹ năng nghề còn hạn chế, tỷ lệ giáo viên dạy tích hợp còn thấp so với yêu cầu chương trình đào tạo Trình độ ngoại ngữ, tin học của giáo viên dạy nghề còn yếu, hạn chế khả năng cập nhật công nghệ mới, ứng dụng tin học và các phương pháp sư phạm hiện đại Khả năng phát triển chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu dạy nghề của giáo viên dạy nghề còn hạn chế
Trang 33Các trường đại học SPKT mới chỉ đào tạo SPKT, bồi dưỡng kỹ năng nghề được khoảng 30 trong tổng số hơn 400 nghề, chiếm 7,5% tổng số danh mục nghề đào tạo, điều này tạo sự dư thừa nguồn giáo viên dạy nghề đối với các nghề này trong khi các nghề khác còn thiếu hụt rất lớn
Chính sách đối với giáo viên dạy nghề vẫn còn nhiều bất cập, chưa khuyến khích, thu hút những người có năng lực vào làm giáo viên dạy nghề, chưa tạo ra sự gắn bó, tâm huyết với nghề nghiệp
Về chế độ tiền lương, hoạt động của giáo viên dạy nghề mang tính đặc thù, một mặt họ phải là một nhà sư phạm, mặt khác là một “kỹ thuật viên”, chính sách tiền lương chưa thể hiện sự ưu đãi mang tính đặc thù đó Giáo viên dạy nghề chưa
có ngạch lương riêng, mà vẫn hưởng theo ngạch lương của giáo viên trung học (theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, ngày 14/12/2004) [12] Giáo viên dạy trình độ CĐN chưa được hưởng chế độ tiền lương như giảng viên của các trường cao đẳng khác Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không thu hút được những người có trình độ, có tay nghề giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất chuyển về làm giáo viên dạy nghề Ngược lại, nhiều giáo viên dạy nghề có trình độ tay nghề giỏi lại muốn chuyển ra sản xuất tại các doanh nghiệp để có thu nhập cao hơn Ngoài ra, chưa có những chính sách khuyến khích động viên đối với giáo viên tự phấn đấu nâng cao trình độ; chưa có cơ chế, chính sách để doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề tạo điều kiện cho giáo viên dạy nghề được đi thực tế tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hàng năm
Tuy nhiên, trong phát triển giáo viên dạy nghề, chúng ta cũng đang đối mặt với những thách thức Hội nhập quốc tế sâu, rộng tạo điều kiện thuận lợi cho dạy nghề tiếp cận với những kiến thức mới, công nghệ mới, mô hình dạy nghề hiện đại,
mở rộng trao đổi kinh nghiệm, có cơ hội tiếp cận, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển dạy nghề, song cũng đòi hỏi giáo viên dạy nghề phải thích ứng được kịp thời Xu hướng đa dạng hoá các loại hình và phương thức giáo dục - đào tạo, phát triển đào tạo từ xa, qua mạng; sự thay đổi chức năng và mô hình của các cơ sở dạy nghề cũng là thách thức đối với giáo viên dạy nghề trong bối cảnh mới
Trang 341.3 Tổng quan các nghiên cứu về phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề
* Luận văn “Biện pháp phát triển ĐNGV các trường TCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo hướng chuẩn hóa” của tác giả Lê Thị Lương, chuyên ngành Quản
lý giáo dục trường Đại học Đà Nẵng năm 2012, đã thực hiện được các nội dung nghiên cứu sau [24]:
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực, trong đó trình bày rõ đặc điểm, yêu cầu, vai trò phát triển ĐNGV trong các trường dạy nghề
- Phân tích thực trạng công tác phát triển ĐNGV dạy nghề tại trường CĐN
Đà Nẵng, từ đó đưa ra những đánh giá chung về mặt mạnh cũng như tồn tại và nguyên nhân trong công tác phát triển ĐNGV dạy nghề tại trường CĐN Đà Nẵng
- Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát ĐNGV dạy nghề tại trường CĐN Đà Nẵng, bao gồm:
+ Hoàn thiện công tác hoạch định ĐNGV dạy nghề
+ Nâng cao kiến thức cho ĐNGV
+ Nâng cao kỹ năng, hành vi thái độ cho ĐNGV
+ Phát triển môi trường học tập
+ Nâng cao động cơ thúc đẩy cho ĐNGV
* Luận văn “Phát triển ĐNGV trường CĐN Cơ khí Nông nghiệp” của tác giả Phan Huy Hoàng, chuyên ngành Quản lý giáo dục trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, đã thực hiện được các nội dung nghiên cứu sau [22]:
- Hệ thống được cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV, như: trình bày các khái niệm có liên quan đến phát triển ĐNGV, những yêu cầu cơ bản về ĐNGV của một trường CĐN, vai trò của việc phát triển ĐNGV và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển ĐNGV
- Phân tích thực trạng công tác phát triển ĐNGV của nhà trường: về công tác giáo dục tuyên truyền; về công tác quy hoạch phát triển ĐNGV; về công tác tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV Trên cơ sở đó phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong công tác phát triển ĐNGV của nhà trường
- Tác giả đã đề xuất 7 biện pháp để phát triển ĐNGV trường CĐN Cơ khí nông nghiệp, đó là:
Trang 35+ Thống nhất nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính cấp thiết tất yếu của công tác phát triển ĐNGV trong lãnh đạo nhà trường
+ Xây dựng quy hoạch tổng thể về phát triển ĐNGV phù hợp với thực tiễn
và tầm nhìn phát triển của nhà trường
+ Chú trọng công tác tuyển dụng, bổ sung giáo viên Thực hiện chính sách
ưu đãi nhằm thu hút tuyển dụng nhân tài
+ Phát triển ĐNGV có cơ cấu hợp lý về chuyên môn, nghiệp vụ, lứa tuổi và giới tính Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và thu hút giáo viên có trình độ cao để làm đầu đàn trong tổ chức NCKH và giảng dạy
+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và tạo cơ chế khuyến khích tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV
+ Xây dựng các tiêu chí đánh giá giáo viên trên cơ sở đồng thuận và tự giác; tăng cường kiểm tra, đánh giá theo các tiêu chí đã đề ra
+ Chăm lo cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho giáo viên
* Luận văn “Biện pháp phát triển ĐNGV trường TCN Quảng Ngãi theo hướng chuẩn hóa” của tác giả Cao Văn Khoa, chuyên ngành Giáo dục học trường Đại học Đà Nẵng năm 2012, đã thực hiện được các nội dung nghiên cứu sau [23]:
- Tổng quan lý luận về phát triển ĐNGV, trong đó nhấn mạnh các nội dung:
vị trí, vai trò của giáo viên trường TCN trong giai đoạn hiện nay; các quan điểm,
mô hình phát triển ĐNGV; nội dung phát triển ĐNGV
- Phân tích thực trạng công tác phát triển ĐNGV trường TCN Quảng Ngãi, trong đó phân tích sâu về số lượng, cơ cấu, chất lượng của ĐNGV
- Tác giả đã đề xuất 6 biện pháp phát triển ĐNGV trường TCN Quảng Ngãi: + Nâng cao nhận thức về công tác phát triển ĐNGV
+ Cụ thể hóa các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá giáo viên
+ Quy hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV
+ Tuyển chọn, bố trí sắp xếp ĐNGV theo hướng chuẩn hóa và sở trường + Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa phẩm chất và trình độ chuyên môn cho giáo viên
+ Cải tiến và hoàn thiện chính sách chế độ đãi ngộ giáo viên
Trang 36Kết luận chương 1
ĐNGV có vai trò quyết định đảm bảo chất lượng đào tạo tại các nhà trường Phát triển ĐNGV là một trong những hoạt động trung tâm của quản lý nhà trường, được diễn ra thường xuyên Phát triển ĐNGV góp phần không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HSSV trong nhà trường
Phát triển ĐNGV tại các trường dạy nghề được xác định là một trong những nội dung quản lý trường học (quản lý nhân sự giảng dạy), bao gồm nhiều nhiệm vụ quản lý trong quá trình lập kế hoạch, tiến hành tuyển chọn, vận dụng các chính sách, quy định, chuẩn giáo viên, sử dụng, đào tạo nâng cao, bồi dưỡng và tạo điều kiện học tập thường xuyên của giáo viên, tổ chức và huy động các nguồn lực quản
lý, giám sát và đánh giá kết quả tiến hành
Nội dung cơ bản của phát triển ĐNGV luôn bao gồm cả mặt số lượng, cơ cấu
và chất lượng giáo viên Điều đó đòi hỏi công tác quản lý nhân sự phải tuân thủ các chuẩn giáo viên một cách nghiêm túc
Nghiên cứu hệ thống lý luận về ĐNGV và phát triển ĐNGV là rất cần thiết
để nâng cao năng lực giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Kiến thức lý luận phát triển ĐNGV là cơ sở để nghiên cứu thực trạng ĐNGV cũng như công tác phát triển ĐNGV, từ đó đề ra được các giải pháp phát triển ĐNGV của Trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2009-2013 2.1 Khái quát về trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ
- Tên tiếng Anh: Phu Tho Vocational College of Technology and Agroforestry
- Điện thoại: (0210)3.760.256; Fax: (0210)3.760.200
- Website: www.cnnlpt.edu.vn
- E-mail: vanbantruong@gmail.com
- Bộ chủ quản: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Quá trình 40 năm hình thành và phát triển nhà trường đã trải qua một số giai đoạn phát triển sau:
- Giai đoạn 1974-1995: tên gọi là Trường Công nhân kỹ thuật khu giấy sợi
Trường được giao nhiệm vụ đào tạo đội ngũ CNKT làm nghề rừng phục vụ công trình nhà máy Giấy Bãi Bằng Đào tạo các nghề: Kỹ thuật lâm sinh, khai thác gỗ và vận tải thuỷ, sửa chữa ô tô và bồi dưỡng nghề trong sản xuất Cơ bản đảm bảo nguồn nhân lực cho vùng nguyên liệu giấy, cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy, được Bộ Lâm nghiệp (cũ) và công trình Nhà máy giấy Bãi Bằng đánh giá cao
- Giai đoạn1996 đến 2007: trường có tên gọi là Trường Công nhân kỹ thuật
Lâm nghiệp TW4 với nhiệm vụ: đào tạo lao động nghề cho các thành phần kinh tế 8
tỉnh miền núi phía Bắc: Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu Quy mô, ngành nghề đào tạo liên tục được tăng lên Phạm
vi đào tạo rộng hơn không chỉ đào tạo nhân lực làm nghề rừng nguyên liệu giấy mà
cả phủ xanh đất trống đồi trọc và công nghiệp nông thôn
Trang 38- Giai đoạn từ 2007 đến nay: sau khi Luật dạy nghề có hiệu lực, ngày 12/4/2007 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ra Quyết định số
1033/QĐ/BNN-TCCB về việc thành lập trường TCN Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ
trên cơ sở trường Công nhân kỹ thuật Lâm nghiệp TW4 Trường được Bộ Nông nghiệp và PTNT giao nhiệm vụ đào tạo nghề theo 2 cấp trình độ trung cấp và sơ cấp, cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật các lĩnh vực điện, cơ khí, nông, lâm nghiệp cho các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ; bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh và của người lao động; tham gia phổ cập nghề cho người lao động, tham gia nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KHCN và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; liên kết hợp tác với các tổ chức, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh trong nước và ngoài nước Tính đến hết năm 2009, Nhà trường đã đào tạo được 34.831 học viên Trong đó: 592 TCN, 16.107 CNKT dài hạn, 18.132 lượt học viên ngắn hạn và bồi dưỡng thường xuyên Liên kết đào tạo 3.827 trung cấp kỹ thuật và đại học Số học sinh được đào tạo đã trở thành những công nhân, cán bộ kỹ thuật, một số là những nhà quản lý, chủ trang trại của nhiều cơ sở sản xuất tại các địa phương, góp phần cung cấp có hiệu quả nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ
Để thực hiện nhiệm vụ được giao, năm 2008 nhà trường đã xây dựng “Chiến lược phát triển trường TCN Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ giai đoạn 2009-2015, tầm nhìn đến 2020” và đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt theo Quyết định số 495/QĐ-BNN-TCCB ngày 26/2/2009
Chiến lược phát triển trường là bản kế hoạch tổng thể để phát triển trường một cách toàn diện trong giai đoạn mới, trên cơ sở khảo sát nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của vùng, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức, chiến lược tập trung xây dựng các kế hoạch phát triển trường về các lĩnh vực: đào tạo, tổ chức nhân lực, cơ sở vật chất, nghiên cứu dịch vụ xã hội, người học, tài chính tiền lương, công nghệ thông tin, kiểm định chất lượng và hợp tác quốc tế Một trong những mục tiêu quan trọng là nâng cấp trường thành trường CĐN để thực hiện sứ mệnh:
“Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện ứng dụng, chuyển giao tiến bộ
Trang 39KHCN, hội nhập khu vực và quốc tế đáp ứng yêu cầu của ngành Nông nghiệp và PTNT và các ngành kinh tế khác, trong đó lấy đào tạo nhân lực các lĩnh vực cơ khí, điện, nông, lâm nghiệp làm trọng điểm” [25] Thực hiện mục tiêu trên, năm 2009
được sự đồng ý của các bộ ngành, nhà trường đã xây dựng Đề án thành lập trường
CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ, trên cơ sở nâng cấp trường TCN Cơ điện và
Nông lâm Phú Thọ trình các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, và chính thức được nâng cấp thành trường CĐN theo Quyết định số 228/QĐ-LĐTBXH ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH
2.1.2 Nhiệm vụ của nhà trường
Trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ thành lập theo Quyết định số 228/QĐ-LĐTBXH ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường được quy định tại Quyết định số 792/QĐ-BNN-TCCB ngày 31/3/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Trường có nhiệm vụ:
- Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất dịch vụ ở các trình độ CĐN, TCN và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
- Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện chương trình đào tạo, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với các ngành nghề trường được phép đào tạo
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
- Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH
- Tuyển dụng, quản lý ĐNGV, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp với ngành nghề, quy mô, trình độ đào tạo theo quy định
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KHCN, chuyển giao các tiến bộ
kỹ thuật công nghệ liên quan đến nội dung đào tạo của trường; thực hiện sản xuất, dịch vụ KHCN theo quy định của pháp luật
- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề
- Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp
Trang 40- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội
- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, các hoạt động tài chính và nghiên cứu, ứng dụng KHCN vào dạy nghề
- Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ LĐ-TB&XH
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Cơ cấu tổ chức của nhà trường được thực hiện theo Quyết định số BNN-TCCB ngày 31/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT gồm có: