Đối với Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh chính là phát hành các loại hình xổ số kiến thiết, nhằm huy động nguồn vốn nhà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
ĐỖ ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT PHÚ THỌ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số : 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đề tài của mình hoàn thành là do sự cố gắng của bản thân dựa vào kiến thức đã học trên lớp và kiến thức thực tế Quản lý nhà nước về doanh nghiệp tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Phú Thọ, cùng sự hướng dẫn, giúp
đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Công trình nghiên cứu của tác giả không trùng với các công trình nghiên cứu khác Số liệu thực tế là dựa vào các báo cáo, đánh giá của Công ty và các cơ quan trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Công trình nghiên cứu là do bản thân thực hiện phù hợp với chuyên ngành đào tạo Nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2014
Tác giả
Đỗ Anh Tuấn
Trang 3Trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến rất tận tình từ Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo, gia đình, cơ quan công tác và bạn bè, đồng nghiệp để tôi hoàn thành luận văn này
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, cùng các thầy giáo, cô giáo trong trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn với cương vị là người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin trân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan công tác là Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Phú Thọ, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh 4
1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh 6
1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh 7
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 9
1.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh 18
1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ và doanh nghiệp xổ số nói riêng 19
1.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ 19
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xổ số 25
1.3 Kinh nghiệm và bài học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xổ số các nước trên thế giới 35
Kết luận chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 40 2.1 Khái quát về Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ 40
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 40
2.1.2 Các đặc điểm chủ yếu của Công ty trong hoạt động kinh doanh 41
Trang 52.2.1 Đánh giá chung hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008 - 2012 45
2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội 52
2.2.3 Đánh giá hiệu quả tài chính 55
2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 68
2.2.5 Điểm mạnh, điểm yếu và đặc diểm hiệu quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2008 – 2012 70
Kết luận chương 2 74
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ KIẾN THIẾT PHÚ THỌ 76
3.1 Định hướng phát triển của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ 76
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ 78
3.2.1 Nhóm giải pháp về Marketing để thúc đẩy hoạt động bán hàng 78
3.2.2 Nhóm giải pháp về tài chính 81
3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 84
3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kinh doanh 88
3.2.5 Một số giải pháp khác 89
3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ 90
3.2.1 Kiến nghị với Chính phủ 90
3.2.2 Kiến nghị với Tỉnh Phú thọ 91
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
GCN – KDXS Giấy chứng nhận kinh doanh xổ số HĐKD Hoạt động kinh doanh
TT – BTC Thông tư – Bộ tài chính
UBND Ủy ban nhân dân
XSKT Xổ số kiến thiết
Trang 7Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2008 - 2009 47
Bảng 2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 48
Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 50
Bảng 2.4: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 51
Bảng 2.5: Tỷ suất thuế trên tổng tài sản của công ty năm 2008 -2012 53
Bảng 2.6: Thu nhập bình quân người lao động 54
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty 56
Bảng 2.8: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh 58
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 61
Bảng 2.10: Hiệu quả sử dụng tài sản 63
Bảng 2.11 : Đánh giá thực hiện chỉ tiêu tổng lợi nhuận 66
Bảng 2.12 : Đánh giá thực hiện chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 67
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 69
Trang 8
Số hiệu Tên biểu đồ, sơ đồ Trang
Biểu đồ 2.1: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh 59
Biều đồ 2.2: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 61
Biểu đồ 2.3: Đánh giá thực hiện chỉ tiêu tổng lợi nhuận 67
Biểu đồ 2.4: Minh họa hệ số doanh lợi vốn kinh doanh 68
Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Phú Thọ 42
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù có ý nghĩa hết sức quan trọng trong mọi nền kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính
là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của hoạt động kinh doanh: Kinh doanh cái gì? Kinh doanh như thế nào? Đó là vấn đề mà các doanh nghiệp phải nghiên cứu và tìm
ra câu trả lời để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mình
Hiệu quả kinh doanh luôn là mục tiêu mà các doanh nghiệp hướng tới bởi nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đối với Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh chính là phát hành các loại hình xổ số kiến thiết, nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân góp phần đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, các chương trình mục tiêu xã hội , nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu trong giai đoạn hiện nay, là tiền đề để đảm bảo tăng thu nhập cho người lao động, duy trì sự ổn định và phát triển nguồn nhân lực, đóng góp cho ngân sách nhà nước góp phần vào sự phát triển của đất nước nói chung và tỉnh Phú thọ nói riêng
Căn cứ nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ hướng dẫn Về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Công ty chính thức đi vào hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên kể từ ngày 23/2/2011 Thực trạng về hiệu quả hoạt động của Công
ty sau khi chuyển đổi mô hình như thế nào, Công ty cần áp dụng các giải pháp gì để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh hơn nữa không chỉ là vấn đề quan tâm của Nhà nước mà còn là niềm trăn trở của Ban lãnh đạo và tập thể người lao động trong Công ty
Xuất phát từ vai trò quan trọng cũng như công tác thực tế tại Công ty tác giả
lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công
ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú Thọ” làm luận văn thạc sỹ của
Trang 10mình Qua việc phân tích thực trạng đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh Tác giả mong muốn góp phần thiết thực vào quá trình đổi mới nâng cao năng lực kinh doanh, hiệu quả quản lý của Công ty trong điều kiện hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất các giải pháp phù hợp có căn cứ khoa học và tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu luận văn: Hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ giai đoạn 2008 – 2012
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và Công ty hoạt động về xổ số kiến thiết nói riêng
- Phân tích thực trạng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ giai đoạn 2008 – 2012
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, phân tích tổng hợp
- Phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng các lý luận cơ bản về
lý thuyết quản trị kinh doanh, về kinh tế thị thị trường tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xổ số của Công ty xổ số kiến thiết
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có giá trị tham khảo cho Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ và các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xổ số kiến thiết
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương, kết cấu nội dung luận văn gồm 94 trang, 13 bảng biểu, 04 biểu đồ, 01 sơ đồ
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ giai đoạn 2008 – 2012
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Phú thọ
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Nói đến doanh nghiệp là người ta nhắc ngay tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đó là quá trình bao gồm nhiều khâu trong lĩnh vực sản xuất lưu thông Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh theo khái niệm rộng là: “Một phạm trù kinh tế phản
ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh giữa lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với hao phí lao động
xã hội”
Một số nhà quản trị học cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ
số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó” Manfred Kuhn cho rằng: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn
vị giá chia cho chi phí kinh doanh”
Quan điểm khác lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện
và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội xã hội chủ nghĩa Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục đích nhất định
Trong những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và những yếu tố hợp thành phạm trù hiệu quả vận động theo những khuynh hướng khác nhau
Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và
do vậy quyền lợi về kinh tế, chính trị đều dành cho nhà tư bản Chính vì thế việc
Trang 13phấn đấu tăng hiệu quả kinh doanh thực chất là đem lại lợi nhuận nhiều hơn nữa cho nhà tư bản nhằm nâng cao thu nhập cho họ, trong khi thu nhập của người lao động có thể thấp hơn nữa Do vậy, việc tăng chất lượng sản phẩm không phải là để phục vụ trực tiếp người tiêu dùng mà để thu hút khách hàng nhằm bán được ngày càng nhiều hơn và qua đó thu được lợi nhuận lớn hơn
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vốn tồn tại vì sản phẩm xã hội sản xuất ra vẫn là hàng hoá Do các tài sản đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, toàn dân và tập thể, hơn nữa mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng khác mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội nên bản chất của phạm trù hiệu quả cũng khác với tư bản chủ nghĩa
Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả kinh doanh
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn ) để đạt được mục tiêu xác định Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào
Bất kỳ hành động nào của con người nói chung và trong kinh doanh nói riêng đều mong muốn đạt được những kết quả hữu ích cụ thể nào đó, kết quả đạt được trong kinh doanh mà cụ thể là trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông mới chỉ đáp ứng được phần nào tiêu dùng của cá nhân và xã hội Tuy nhiên, kết quả đó được tạo ra ở mức độ nào, với giá nào là vấn đề cần xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả Mặt khác nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ
Trang 14cũng có xu hướng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm được nhiều nhất Vì vậy nên khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh tạo ra kết quả mà nó có được
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng và chất trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố
1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Bất kỳ một hoạt động nào của mọi tổ chức đều mong muốn đạt hiệu quả cao nhất trên mọi phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường yêu cầu hiệu quả càng đòi hỏi cấp bách, vì đây là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chủ yếu xét trên phương diện kinh tế có quan hệ với hiệu quả
xã hội và môi trường
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xem xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh, là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai Song độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu hiệu quả phân tích phụ thuộc vào nguồn số liệu thời gian và không gian phân tích
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh thường thể hiện một kỳ phân tích,
do vậy số liệu dùng để phân tích các chỉ tiêu này cũng là kết quả của một kỳ phân
Trang 15tích Tùy theo mục đích phân tích và nguồn số liệu sẵn có, khi phân tích có thể tổng hợp các số liệu từ thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị khi đó các chỉ tiêu phân tích mới đảm bảo chính xác và ý nghĩa
1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh
1.1.3.1 Căn cứ theo phạm vi tính toán
Theo cách phân loại này thì hiệu quả kinh doanh bao gồm:
- Hiệu quả kinh tế: Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu đề ra
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định như giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn
xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ lành nghề, cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân
- Hiệu quả an ninh quốc phòng: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội trong và ngoài nước
- Hiệu quả đầu tư: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra
- Hiệu quả môi trường: Phản ánh việc khai thác và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng phải xem xét mức tương quan giữa kết quả đạt được về kinh tế với việc đảm bảo về vệ sinh, môi trường, điều kiện làm việc của người lao động và khu vực dân cư
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải phấn đấu đạt đồng thời các hiệu quả trên, song trong thực tế khó có thể đạt đồng thời các mục tiêu hiệu quả tổng hợp đó
1.1.3.2 Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh
tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt
Trang 16động thương mại của từng doanh nghiệp kinh doanh
Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được
Hiệu quả kinh tế - xã hội mà hoạt động kinh doanh đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên
cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiêp Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế Ngược lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả cao Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ chính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và một nền kinh tế vận hành tốt là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động và ngày một phát triển
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đảm bảo lợi ích riêng hài hoà với lợi ích chung Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, với vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế cần có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể của mình 1.1.3.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Việc xác định hiệu quả nhằm hai mục đích cơ bản:
Một là, thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí khác nhau trong hoạt động kinh doanh
Hai là, để phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó
Trang 17Từ hai mục đích trên mà người ta phân chia hiệu quả kinh doanh ra làm hai loại: Hiệu quả tuyệt đối và Hiệu quả tương đối
- Hiệu quả tuyệt đối: Là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh doanh cụ thể bằng cánh xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra
- Hiệu quả tương đối: Được xác định bằng cánh so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau, hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án
Việc xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả tương đối (so sánh) Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phương án khác nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp nhất thực chất chỉ là
sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án
1.1.3.4 Căn cứ theo thời gian
Theo tiêu chí này ta chia hiệu quả kinh doanh thành hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh dài hạn
+ Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoản thời gian ngắn Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn hạn như tuần, tháng, quý, năm
+ Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài, gắn với chiến lược, kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài gắn với thời gian tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Cần chú ý rằng giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn với nhau
Về nguyên tắc chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ
sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4.1.Các nhân tố bên trong
Trang 18+ Bộ máy quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp,
bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau
- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp là xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên
Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao
sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao
Trang 19+ Lao động tiền lương
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá tŕnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm do
đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra công tác tổ chức phải sắp xếp lao động hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng đúng người đúng việc sao cho phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người lao động là một yêu cầu không thể thiếu trong công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm đưa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao Như vậy nếu ta coi chất lượng lao động (con người phù hợp trong kinh doanh) là điều kiện cần để tiến hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Công tác tổ chức bố trí sử dụng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, phương án kinh doanh…đã đề ra Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chung và sử dụng đúng người đúng việc, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiện nhanh nhất, tốt nhất các nhiệm vụ được giao, đồng thời phải phát huy được tính độc lập, sáng tạo của người lao động có như vậy sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Bên cạnh lao động thì tiền lương và thu nhập của người lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một bộ phận cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời
nó còn tác động tới tâm lý người lao động trong doanh nghiệp Nếu tiền lương cao thì chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tăng do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhưng lại tác động tới tính thần và trách nhiệm người lao động cao hơn do
Trang 20đó làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nên làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn nếu mà mức lương thấp thì ngược lại Cho nên doanh nghiệp cần chú ý tới các chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập, các biện pháp khuyến khích sao cho hợp lý, hài hoà giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của doanh nghiệp.
+ Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
+ Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâu khác của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có tiêu thụ được hay không mới là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ nó quyết định tốc độ sản xuất và nhịp độ cung ứng nguyên vật liệu Cho nên nếu doanh nghiệp tổ chức được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị trường và các chính sách tiêu thụ hợp lý khuyến khích người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng và chiếm lĩnh được thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh
Trang 21thu, tăng lợi nhuận, tăng vòng quay của vốn, góp phần giữ vững và đảy nhanh nhịp
độ sản xuất cũng như cung ứng các yếu tố đầu vào nên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ sở vật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản
Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tàu sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi…Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bất nhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến băi được bố trí hợp
lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao
Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu
+ Môi trường làm việc trong doanh nghiệp
- Môi trường văn hoá trong doanh nghiệp:
Trang 22Môi trường văn hoá do doanh nghiệp xác lập và tạo thành sắc thái riêng của từng doanh nghiệp Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu, mối quan hệ, ý thức trách nhiệm và tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiện công việc Môi trường văn hoá có ý nghĩa đặc biệt và có tác động quyết định đến việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác của doanh nghiệp Trong kinh doanh hiện đại, rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh rất quan tâm chú ý và
đề cao môi trường văn hoá của doanh nghiệp, vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá các dân tộc và các nước khác nhau Những doanh nghiệp thành công trong kinh doanh thường là những doanh nghiệp chú trọng xây dựng, tạo ra môi trường văn hoá riêng biệt khác với các doanh nghiệp khác Văn hoá doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho các doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành các mục tiêu chiến lược và các chính sách trong kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược kinh doanh đã lựa chọn của doanh nghiệp Cho nên hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào môi trường văn hoá trong doanh nghiệp
- Môi trường thông tin: Hệ thống trao đổi các thông tin bên trong doanh nghiệp ngày càng lớn hơn bao gồm tất cả các thông tin có liên quan đến từng bộ phận, từng phòng ban, từng người lao động trong doanh nghiệp và các thông tin khác Để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh thì giữa các bộ phận, các phòng ban cũng như những ngưòi lao động trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ ràng buộc đòi hỏi phải giao tiếp, phải liên lạc và trao đổi với nhau các thông tin cần thiết Do đó mà hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hệ thống trao đổi thông tin của doanh nghiệp Việc hình thành quá trình chuyển thông tin từ người này sang người khác, từ bộ phận này sang bộ phận khác tạo sự phối hợp trong công việc, sự hiểu biết lẫn nhau, bổ sung những kinh nghiệm, những kiến thức và sự am hiểu về mọi mặt cho nhau một cách thuận lợi nhanh chóng và chính xác là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Trang 23+ Phương pháp tính toán của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi kết quả đầu ra và chi phí sử dụng các yếu
tố đầu vào, hai đại lượng này trên thực tế đều rất khó xác định được một cách chính xác, nó phụ thuộc vào hệ thống tính toán và phương pháp tính toán trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều có một phương pháp, một cách tính toán khác nhau
do đó mà tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp tính toán trong doanh nghiệp đó
1.1.4.2 Các nhân tố bên ngoài
+ Môi trường chính trị, luật pháp
Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Các hoạt động đầu tư nó lại tác động trở lại rất lớn tới các hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai, ở đâu, nguồn đầu vào lấy ở đâu đều phải dựa vào các quy định của pháp luật Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người lao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp ) Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
+ Môi trường văn hoá xã hội
Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều cơ hội
Trang 24lựa chọn việc làm thì chắc chắn chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ cao
do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại nếu tình trạng thất nghiệp là cao thì chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng tình trạng thất nghiệp cao sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm và có thể dẫn đến tình trạng an ninh chính trị mất ổn định, do vậy lại làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ văn hoá ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao động, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội nó ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm của các doanh nghiệp Nên nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
+ Môi trường kinh tế
Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư
mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại
+ Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng
Các điều kiện tự nhiên như: Các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thơi tiết khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng
Tình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc
xã hội về môi trường, đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất
và chất lượng sản phẩm Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trực tiếp làm
Trang 25giảm chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết định sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động
và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ
Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng dụng của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Nhân tố môi trường ngành
- Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành: Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của mỗi doanh nghiệp
- Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề sản xuất kinh doanh có mức doanh lợi cao thì đều bị rất nhiều các doanh nghiệp khác nhóm ngó và sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực đó nếu như không có sự cản trở từ phía chính phủ Vì vậy buộc các doanh nghiệp trong các ngành có mức doanh lợi cao đều phải tạo ra các hàng rào cản trở sự ra nhập mới bằng cách khai thác triệt để các lợi thế riêng có của doanh nghiệp, bằng cách định giá phù hợp (mức ngăn chặn sự gia nhập, mức giá này có thể làm giảm mức doanh lợi) và tăng cường mở rộng chiếm lĩnh thị trường
Do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 26- Sản phẩm thay thế: Hầu hết các sản phẩm của doanh nghiệp đều có sản phẩm thay thế, số lượng chất lượng, giá cả, mẫu mã bao bì của sản phẩm thay thế, các chính sách tiêu thụ của các sản phẩm thay thế ảnh hưởng rất lớn tới lượng cung cầu, chất lượng, giá cả và tốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do đó ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Người cung ứng: Các nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp được cung cấp chủ yếu bởi các doanh nghiệp khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân Việc đảm bảo chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào tính chất của người cung ứng và các hành vi của họ Nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là không có sự thay thế và do các nhà độc quyền cung cấp thì việc đảm bảo yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào sẽ cao hơn bình thường nên sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là sẵn có và có thể chuyển đổi thì việc đảm bảo về số lượng, chất lượng cũng như hạ chi phí về các yếu
tố đầu vào là dễ dàng và không bị phụ thuộc vào người cung ứng thì sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Người mua: Khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý Nếu như sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra mà không có người hoặc là không được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi thì doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất được Mật độ dân cư, mức độ thu nhập, tâm lý và sở thích tiêu dùng… của khách hàng ảnh hưởng lớn tới sản lượng
và giá cả sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của doanh nghiệp vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp
1.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.1.5.1 Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản lý kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện kết hợp giữa lao
Trang 27động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể tạo ra lợi nhuận cao nhất Như vậy mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này, nhà quản trị phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.5.2 Kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với mọi doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh luôn trở nên gay gắt thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển Đối với các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ thì mối quan hệ cung cầu, tính cạnh tranh và hợp tác càng trở nên quan trọng Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi thì dẫn đến phá sản Do đó mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh Vì vậy các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận ngày càng cao Chính vì thế, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế thị trường
1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch
vụ và doanh nghiệp xổ số nói riêng
1.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ
1.2.1.1 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được những kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Để thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ bản chất và các quan điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh Từ việc đánh giá đúng hiệu quả, cho phép doanh
Trang 28nghiệp phát hiện khả năng và tìm đúng biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên cần phân biệt kết quả và hiệu quả:
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bằng cách so sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được
- Kết quả sản xuất kinh doanh là những sản phẩm được con người tạo ra trong quá trình sản xuất và mang lại lợi ích tiêu dùng xã hội
Tuy nhiên với doanh nghiệp dịch vụ thì quá trình sản xuất kinh doanh hay còn được gọi là quá trình kinh doanh bao gồm quá trình mua và bán hàng hóa mà không có quá trình sản xuất hàng hóa Vì vậy kết quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả kinh doanh chính là những sản phẩm mà doanh nghiệp bán được
Dựa trên nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu bằng cách so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế, chúng ta có thể lập được một bảng hệ thống chỉ tiêu
để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Có thể phân các chỉ tiêu thành hai nhóm chỉ tiêu đó là: Nhóm các chỉ tiêu tổng hợp và nhóm các chỉ tiêu bộ phận
* Chỉ tiêu doanh lợi
Xét trên phương diện lý thuyết và thực tiễn của các hoạt động kinh doanh, các nhà kinh tế cũng như các nhà quản trị kinh doanh thực tế ở các doanh nghiệp, khi xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì họ đều quan tâm đến việc tính toán và đánh giá các chỉ tiêu chung phản ánh doanh lợi của toàn doanh nghiệp
+ Hệ số doanh lợi vốn kinh doanh:
Hệ số doanh lợi Vốn kinh doanh = Lợi nhuận (1.1)
Vốn kinh doanh
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Hệ số doanh lợi của doanh thu:
Hệ số doanh lợi của doanh thu = Lợi nhuận (1.2)
Trang 29Hiệu quả sử dụng chi phí = Doanh thu (1.3)
Chi phí thường xuyên
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra sẽ mang về bao nhiêu đồng doanh thu
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh bộ phận
+ Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh:
Số vòng quay của toàn bộ vốn = Doanh thu (1.4)
+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động = Lợi nhuận (1.7)
Vốn lưu động
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào kinh doanh trong một năm thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Số vòng luân chuyển vốn lưu động:
Số vòng luân chuyển của vốn lưu động = Doanh thu (1.8)
Vốn lưu động
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động sẽ quay được bao nhiêu vòng trong một năm
Trang 30- Hiệu quả sử dụng lao động:
Mức sinh lời của một lao động = Tổng số lao động Lợi nhuận (1.9)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một lao động sử dụng trong doanh nghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trong kỳ phân tích
- Chỉ tiêu doanh thu bình quân một lao động:
Doanh thu bình quân một lao động = Tổng số lao động Doanh thu (1.10)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong một thời kỳ phân tích
1.2.1.2 Các phương pháp sử dụng trong quá trình phân tích
Về nguyên tắc, phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh cũng chính là phương pháp phân tích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình đổi mới các ngành khoa học nói chung, các phương pháp nghiên cứu cũng ngày càng hoàn thiện, người phân tích phải có quan điểm mới khi đánh giá các hiện tượng kinh tế và có cách nhìn nhận bao quát hơn, toàn diện hơn
Có khá nhiều phương pháp phân tích khác nhau mà trong đó kể cả những phương pháp truyền thống cũng đã được thay đổi về quan điểm đánh giá, đồng thời đã xuất hiện thêm một số phương pháp mới rất phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà phân tích thường sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp hồi quy…
+ Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng thời gian ngắn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau
Phương pháp này được sử dụng trong phân tích để xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung, có thể
Trang 31được xem xét qua nhiều kỳ (từ 3 đến 5 năm hoặc lâu hơn) để cho thấy rõ các xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu
Để sử dụng phương pháp này cần xác định các vấn đề cơ bản sau:
- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động của tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu,
số gốc để so sánh là chỉ tiêu thời kì trước
- Khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng thời gian một năm thường so sánh với cùng kì năm trước
- Khi đánh giá mức độ biến động so với các chỉ tiêu đã dự kiến, trị số thực tế
sẽ so sánh với mục tiêu
Phương pháp so sánh đơn giản và dễ thực hiện, song khi sử dụng phương pháp này trong quá trình phân tích thì các nhà quản lý chỉ mới dừng lại ở trạng thái biến đổi tăng lên hay giảm xuống của các chỉ tiêu Khi đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của quá trình tăng giảm đó thì phương pháp này vẫn chưa làm rõ được, hay nói cách khác nhiệm vụ chỉ ra nguyên nhân và là cơ sở đề ra giải pháp của quá trình phân tích thông qua phương pháp này vẫn chưa được hoàn thành
sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu
Để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân
tố khác Muốn vậy có thể dựa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân tố hoặc dựa vào phép thay thế lần lượt từng nhân tố Cách thứ nhất là “số chênh lệch” cách thứ hai là “thay thế liên hoàn”
+ Phương pháp thay thế liên hoàn: Dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân
tố qua thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố để xác định chỉ số của các chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Đặc điểm và điều kiện của phương pháp thay thế liên hoàn:
Trang 32- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu phân tích phải theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng
- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần Giá trị của nhân tố đã thay thế giữ nguyên giá trị thời kì phân tích cho đến lần thay thế cuối cùng
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so sánh với biến động tuyệt đối của chỉ tiêu (kì nghiên cứu so với kì gốc)
Chúng ta có thể khái quát mô hình chung của phép thay thế liên hoàn như sau: Nếu có: f(x,y,z ) = xyz thì f(x0,y0,z0 ) = x0 y0 z0
Và: f(x) = f(x1,y0,z0) - f(x0,y0,z0) = x1y0z0 - x0y0z0
f(y) = f(x1,y1,z0) - f(x1,y0,z0) = x1y1z0 - x1y0z0
f(z) = f(x1,y1,z1) - f(x1,y1,z0) = x1y0z0 - x1y1z0
Như vậy điều kiện để áp dụng phương pháp này là:
- Các nhân tố quan hệ với nhau dưới dạng tích
- Việc xắp xếp và xác định ảnh hưởng của các nhân tố cần tuân theo quy luật lượng biến
+ Phương pháp kết hợp
Phương pháp này cũng là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh nói chung và phân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng Sở dĩ phương pháp kết hợp có tên gọi như vậy là do trong quá trình nghiên cứu đối tượng của mình, các nhà phân tích phải sử dụng kết hợp một số phương pháp phân tích với nhau Chẳng hạn, kết hợp phương pháp so sánh với phương pháp đồ thị, kết hợp phương pháp loại trừ với phương pháp so sánh, kết hợp phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích với mô hình toán
Ngoài các phương pháp trình bày trên đây, để phân tích hiệu quả kinh doanh vẫn có thể sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp đại số, phương pháp đồ thị, phương pháp toán kinh tế để phân tích về đối tượng nghiên cứu của mình
Trang 331.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xổ số
1.2.2.1 Khái niệm xổ số
Theo Nghị định 30/2007/NĐ-CP ngày 1 tháng 3 năm 2007 thì: “Kinh doanh
xổ số là hoạt động kinh doanh dựa trên các sự kiện có kết quả ngẫu nhiên, được tổ chức theo nguyên tắc doanh nghiệp thu tiền tham gia dự thưởng của khách hàng và thực hiện trả thưởng cho khách hàng khi trúng thưởng”
Kết quả ngẫu nhiên sử dụng để kinh doanh xổ số, bao gồm:
- Kết quả ngẫu nhiên của việc xuất hiện tập hợp các chữ số, chữ cái;
- Kết quả ngẫu nhiên của việc xuất hiện tập hợp các biểu tượng, các dấu hiệu;
- Các kết quả ngẫu nhiên khác
Xổ số truyền thống là loại hình xổ số có in sẵn trước giá vé; các chữ số, chữ cái để khách hàng lựa chọn tham gia dự thưởng Số lượng các chữ số, chữ cái được giới hạn trong phạm vi vé số phát hành và việc xác định kết quả trúng thưởng được thực hiện sau thời điểm phát hành vé số
Mặc dù vậy, xổ số có thể xem là hình thức giải trí có thưởng bằng cách lựa chọn kết quả ngẫu nhiên và đồng thời cung cấp tài chính thực hiện mục tiêu đã xác định Đây cũng là đặc điểm thể hiện bản chất của hoạt động kinh doanh xổ số 1.2.2.2 Bản chất của xổ số
Bản chất của xổ số được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau:
Nước Pháp quan niệm rằng xổ số là trò chơi ngẫu nhiên, đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của dân chúng, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách
Nước Úc lại quan niệm rằng xổ số là hoạt động vui chơi ăn tiền, là một thực trạng xã hội Nhà nước nhận trách nhiệm đứng ra tổ chức cho người dân vui chơi theo đúng luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người chơi, đồng thời qua đó để thu tiền để sử dụng cho những công việc phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội
Trong báo cáo đánh giá hoạt động xổ số kiến thiết 2004 – 2005, các nhà tài chính Việt Nam cho rằng: Xổ số “là công cụ tài chính của Nhà nước để điều tiết, phân phối lại thu nhập quốc dân, khai thác thêm nguồn thu cho ngân sách”
Trang 341.2.2.3 Sự tồn tại khách quan của xổ số
Lịch sử hình thành và phát triển của xổ số trong thời gian qua đã chứng minh
sự tồn tại khách quan của nó Xổ số tồn tại và phát triển dựa trên các điều kiện nền tảng nhất định
+ Sự phát triển về kinh tế, xã hội: Chỉ khi nền kinh tế phát triển đến mức độ
có tích lũy, những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, khi đó vấn đề giải trí được đặt ra
và xổ số xuất hiện Hoạt động xổ số đòi hỏi phải có sự tham gia của số đông người chơi Chính vì vậy, thành quả phát triển kinh tế phải được chia sẻ cho nhiều người
Sự phát triển của kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến xổ số và khi ấy hoạt động xổ số tác động đến công bằng xã hội thông qua việc tài trợ cho các công trình công cộng
+ Sự thay đổi trong nhận thức xã hội: Bên cạnh điều kiện về nhu cầu giải trí của nhiều người, xổ số cần những nhận thức tích cực về nó
- Thay đổi quan niệm về xổ số: Xổ số muốn phát triển đòi hỏi xã hội phải có quan niệm thông thoáng và nhận thức đầy đủ về bản chất của nó Xổ số xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc nhưng không thể phát triển bởi quan niệm của xã hội cho rằng đây là hoạt động lừa bịp, đánh bạc Đến năm 1980 vấn đề phúc lợi xã hội cho người nghèo trở nên cấp thiết do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường Chính
vì thế, xổ số phúc lợi xã hội của Trung Quốc (nơi đánh bạc là bất hợp pháp) ra đời
và phát triển nhanh Doanh thu của loại hình này năm 2007 đạt 63,16 tỷ nhân dân tệ (khoảng 8,72 tỷ đô la Mỹ), chiếm 62,1% thị trường xổ số Ngoài ra, loại hình xổ số thể thao cũng đang phát triển tại đây
- Hình thức giải trí mới: Quan niệm xổ số là hình thức giải trí xuất hiện trong thời gian gần đây Với đặc điểm lựa chọn ngẫu nhiên những số trúng thưởng, quá trình quay số minh bạch nên xổ số có thể xem là một hình thức các cược giữa người chơi và đơn vị tổ chức về những con số trúng thưởng Người chơi đoán những con
số sẽ trúng thưởng và đặt cược những con số đó bằng tiền Nếu đoán trúng, họ sẽ được trả một khoản tiền thưởng lớn gấp nhiều lần so với số tiền đặt cược Người tham gia xổ số phải suy đoán rất nhiều khi lựa chọn những con số kỳ vọng
Trang 35- Hình thức đầu tư mới: Xổ số còn được xem là hình thức đầu tư với lợi nhuận rất cao nhưng cũng đầy mạo hiểm Mega Millions là một trong những giải xổ
số lớn nhất nước Mỹ với hàng triệu người tham gia Với 1 đô la, người chơi có thể thắng đến 500 triệu đô la Mức khởi điểm cho giải Đặc biệt là 12 triệu đô la và số tiền này sẽ tăng nhanh qua mỗi vòng giải nếu không có người trúng thưởng Để đạt mức trúng thưởng cao nhất, nhà đầu tư vào xổ số phải vượt qua 175 triệu người khác để giành lấy may mắn Tại Việt Nam, với 1 đồng đầu tư vào xổ số người chơi
có thể trúng thưởng tối đa nhiều gấp 150 000 lần với xác suất 1/1 triệu đối với loại hình 6 chữ số và 25 000 lần với xác suất 1/100.000 ðối với loại hình 5 chữ số
1.2.2.4 Vai trò của xổ số
Tùy theo quy mô và cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia mà xổ số có tầm quan trọng nhất định, góp phần củng cố sự tồn tại của chính nó
+ Xổ số góp phần đầu tư cho phúc lợi xã hội: Vai trò quan trọng của xổ số đó
là một phần đáng kể nguồn thu từ hoạt động này được sử dụng để đầu tư phục vụ phúc lợi xã hội như: văn hóa, y tế, giáo dục
Vai trò đóng góp phúc lợi xã hội của xổ số Việt Nam được luật hóa bởi Thông tư 107/2006/TT-BTC Theo đó, từ năm 2007, nguồn thu từ xổ số không đưa vào cân đối thu, chi mà được quản lý qua ngân sách Nhà nước và sử dụng để đầu tư các công trình phúc lợi xã hội quan trọng của địa phương trong đó tập trung vào lĩnh vực giáo dục, y tế
+ Xổ số là công cụ điều tiết, phân phối lại thu nhập quốc dân: Xổ số có chức năng phân phối lại thu nhập dưới hình thức tự nguyện Tham gia với hy vọng may mắn đổi đời, người chơi đã cùng đóng góp vào nguồn thu của xổ số để trợ giúp người nghèo dưới hình thức: Xây nhà cho người nghèo, học bổng giáo dục, trợ giúp chữa bệnh hoặc đóng góp cùng Nhà nước xây dựng công trình phúc lợi công cộng như bệnh viện, trường học Xổ số là cầu nối chuyển tải sự trợ giúp của cộng đồng, cùng thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
+ Xổ số là công cụ điều tiết lưu thông tiền tệ: Tại Việt Nam, giao dịch mua bán lẻ vé xổ số được thực hiện bằng tiền mặt Chính vì vậy, xổ số là công cụ hữu hiệu
Trang 36giúp Nhà nước điều tiết lưu thông tiền tệ Công ty Xổ số kiến thiết có hai dòng tiền vào chủ yếu: Thế chấp đảm bảo thanh toán và thanh toán tiền vé Do đó tiền được rút nhanh khỏi lưu thông với số lượng lớn, góp phần thực hiện chính sách kiềm chế tỷ lệ lạm phát trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong năm 2008
+ Góp phần giải quyết việc làm: Tùy mức độ của hoạt động phát triển xổ số mỗi quốc gia mà nhu cầu về số lượng lao động khác nhau Tại Mỹ và các quốc gia tiên tiến khác, với trình độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cao nên mỗi đơn vị tổ chức xổ số quản lý hàng chục nghìn đại lý bán vé trực tiếp cho người chơi
Việt Nam là nước hội nhập kinh tế thế giới từ xuất phát điểm của quốc gia nông nghiệp lạc hậu và thoát khỏi chiến tranh không lâu Một lượng lớn lao động thất nghiệp do chưa được đào tạo nghề hoặc không đủ sức lao động Trong tất cả các công việc giản đơn trong xã hội, xổ số là lĩnh vực duy nhất có thể tiếp nhận lao động này Nhu cầu sử dụng nhiều lao động trong khâu phân phối với nhiều cấp đại
lý trung gian và người bán lẻ
Mặt khác, xổ số c̣n có tác động thúc đẩy sự phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, tăng nhu cầu lao động đối với các ngành nghề có liên quan như: in ấn, vận chuyển, sản xuất giấy, sản xuất máy móc thiết bị
1.2.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh đối với các công ty xổ số kiến thiết
Công ty xổ số kiến thiết là công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đặc thù, nên để đánh giá hiệu quả kinh doanh đối với công ty xổ số kiến thiết ta thường
sử dụng các chỉ tiêu:
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội là chỉ tiêu đánh giá đồng thời cả về mặt kinh tế và mặt xã hội Nó không chỉ phản ánh hiệu quả việc đóng góp của doanh nghiệp vào bản thân sự phát triển của doanh nghiệp mà còn thể hiện hiệu quả
sự đóng góp của doanh nghiệp vào nền kinh tế quốc dân, vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống người lao động Bao gồm :
+ Tỷ suất thuế trên vốn:
Trang 37Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đóng góp được bao nhiêu đồng thuế cho ngân sách nhà nước Chỉ tiêu tỷ suất thuế trên vốn phản ánh một cách rõ nét hiệu quả đóng góp của doanh nghiệp vào nền kinh tế quốc dân Tỷ suất thuế trên vốn cao và tăng lên chứng
tỏ hiệu quả kinh tế xã hội mà doanh nghiệp tạo ra lớn và phát triển theo chiều hướng tốt Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau :
Tỷ suất thuế trên
Tổng số thuế phải nộp
(1.11)Tổng tài sản bình quân
+ Thu nhập bình quân của người lao động
Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập bình quân trên một lao động, nó thể hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp vào việc cải thiện đời sống của người lao động
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thu nhập bình quân của người lao động = Tổng thu nhập (1.12)
Tổng số lao động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
+ Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Các nhà đầu tư coi trọng đến chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận so với vốn mà họ bỏ ra để đầu tư, với mục đích tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn phát triển Khi phân tích hiệu quả
sử dụng vốn chủ sở hữu, ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này cho biết, cứ một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao, càng biểu hiện xu hướng tích cực, thường giúp cho các nhà quản trị có thể huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho tăng trưởng của doanh nghiệp
Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ và vốn chủ sở hữu dưới mức vốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút vốn Tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi vì
có thể do ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu nhỏ, mà vốn chủ sở hữu càng nhỏ thì mức
Trang 38độ mạo hiểm càng lớn Do vậy khi phân tích chỉ tiêu này cần kết hợp với cơ cấu vốn chủ sở hữu trong từng doanh nghiệp cụ thể
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức sinh lời của vốn chủ
Lợi nhuận sau thuế
(1.13)Vốn chủ sở hữu bình quân
- Số vòng quay của vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, vốn chủ sở hữu quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ sự vận động của vốn chủ sở hữu nhanh, góp phần nâng cao lợi nhuận và hiệu quả của hoạt động kinh doanh Chỉ tiêu này được tính như sau:
Số vòng quay của vốn chủ
Doanh thu thuần
(1.14)Vốn chủ sở hữu bình quân
- Suất hao phí vốn chủ sở hữu so với doanh thu thuần: Chỉ tiêu này cho biết
để có được một đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng cao, đó là nhân tố mà các nhà kinh doanh huy động vốn vào hoạt động kinh doanh nhằm tăng lợi nhuận Chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức hao phí của VCSH so với
doanh thu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
(1.15)Doanh thu thuần
+ Hiệu quả sử dụng tài sản:
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động giá cả của các yếu tố sản xuất Do vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tài sản sử dụng trong các doanh nghiệp, sau đó phải biết vận dụng được phương pháp đánh giá thích hợp Việc đánh giá phải được tiến hành trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu sau
đó tổng hợp lại, từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai thác hết công suất các tài sản đã đầu tư Các chỉ tiêu thường sử dụng đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản như sau:
Trang 39- Sức sinh lời của tài sản: Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh, trong một kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư một đồng tài sản, thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức sinh lời của
tài sản =
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
(1.16)Tài sản bình quân
- Số vòng quay của tài sản: Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ các tài sản vận động chậm làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính như sau:
Số vòng quay của tài sản = Tổng doanh thu thuần (1.17)
Tài sản bình quân
- Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần: Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính như sau:
Suất hao phí của tài sản so với
doanh thu thuần =
Tài sản bình quân
(1.18)Doanh thu thuần bán hàng
+ Sức sinh lời của doanh thu thuần (Doanh lợi bán hàng):
Chỉ tiêu này mang ý nghĩa cứ một đồng doanh số bán hàng sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây là chỉ tiêu tỷ lệ thuận với hiệu quả kinh doanh Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 40Sức sinh lời của doanh thu thuần = Lợi nhuận từ HĐKD (1.19)
Doanh thu thuần
+ Hiệu quả sử dụng chi phí (Doanh lợi chi phí)
Chi phí trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thường bao gồm: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí quản lý khác Đó là các khoản mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thu được lợi nhuận trong kỳ
Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí thường xác định qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán: Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng giá vốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện các mặt hàng kinh doanh lời nhất, do vậy doanh nghiệp càng đẩy mạnh các mặt hàng tiêu thụ Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
(1.20)Giá vốn bán hàng
- Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí bán hàng: Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng chi phí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ mức lợi trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí bán hàng Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
(1.21)Chi phí bán hàng
- Tỷ suất lợi nhuận so với cho phí quản lý doanh nghiệp: Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng chi phí quản lý doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí quản lý Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
(1.22)Chi phí QLDN
- Tỷ suất lợi nhuận kế toán trước thuế so với tổng chi phí: Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước