Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Tìm hiểu về bản đồ địa chính và các yêu cầu để biên tập bản đồ địa chính - Sử dụng các kỹ năng của phần mềm Microstation và Autocad để biên tập bản đồ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
- -
LÊ THỊ HÀ
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MỘT
SỐ PHẦN MỀM ĐỒ HỌA PHỔ BIẾN TRONG BIÊN TẬP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Trần Thùy Dương
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sĩ “Phân tích, đánh giá khả năng
ứng dụng một số phần mềm đồ họa phổ biến trong biên tập bản đồ địa chính” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong luận văn Thạc sĩ được sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất
kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Trang 4STT Tên hình vẽ Nội dung Trang
Trang 523 Hình 2.23 Công cụ Display Text Attributes 33
gLISDesktop
33
7
Trang 646 Hình 2.46 Thanh công cụ Change Attribute 59
Trang 769 Hình 3.17 Tạo Topology trong Cesmap 84
Trang 8TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH ………4
1.1 Khái quát về bản đồ địa chính ……… 4
1.1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính ……… 4
1.2.1 Yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính ……… 5
1.2 Nội dung của bản đồ địa chính ……….6
1.3 Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính ……… 7
1.4 Hệ tọa độ và phương pháp chia mảnh bản đồ địa chính ……… 9
1.5 Bản đồ số địa chính ……….11
1.5.1 Khái niệm bản đồ số địa chính ……….11
1.5.2 Chuẩn hoá cơ sở dữ liệu bản đồ số địa chính ……… 13
1.5.3 Chuẩn hóa công tác biên tập bản đồ số địa chính ………15
CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM ĐỒ HỌA PHỔ BIẾN TRONG BIÊN TẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH ………17
2.1 Giới thiệu một số phần mềm đồ họa chuyên dụng để biên tập bản đồ địa chính ……… 17
2.1.1 Autocad ……….17
2.1.2 Microstation ……… 21
2.2 Các chức năng cơ bản biên tập bản đồ địa chính của một số phần mềm đồ họa ……… 26
2.2.1 Vẽ các yếu tố cơ bản ……… 26
2.2.2.Cửa sổ quan sát View: ……… 51
Trang 9CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ PHẦN MỀM TRONG
BIÊN TẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH ……… 68
3.1 Triển số liệu đo, nối điểm theo số liệu thu thập được ……….68
3.1.1 Phần mềm CesMap ……… 68
3.1.2 Phần mềm Famis ……… 73
3.2 Tạo topology sau đó sửa lỗi……….83
3.2.1.Phần mềm CesMap ………83
3.2.2.Phần mềm Famis ……… 85
3.3 Đánh số thửa ……….88
3.3.1 CesMap ……… 88
3.3.2 Famis ………88
3.4 Chia mảnh bản đồ địa chính ………89
3.4.1 CesMap ……….89
3.4.2 Famis ………93
3.5 Gán thông tin địa chính ban đầu (Famis) ……… 94
3.6.Vẽ nhãn thửa(Famis) ………96
3.7 Vẽ khung bản đồ địa chính (Famis) ………98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………103
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, Luật đất đai đã nêu: “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được” Trong những năm gần đây khi nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì đất đai càng thể hiện vai trò không thể thiếu và giá trị của nó có ý nghĩa trong bất cứ ngành nào Dó đó công tác quản lý thông tin đất đai là một trong những lĩnh vực có tầm quan trọng của một quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trước đây ngành địa chính do điều kiện tin hoc, máy móc, trang thiết
bị, còn thiếu nên công tác quản lý thông tin đất đai phát triển theo công nghệ
cổ truyền, thủ công, tức là quản lý bằng sổ sách, quản lý bản đồ trên giấy, vì thế rất khó khăn trong việc lưu trữ Quản lý hệ thống thông tin đất đai và chất lượng thông tin cũng không được tốt, dẫn đến việc sử dụng và quản lý tài nguyên đất đai chưa được hiệu quả Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhu cầu về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tin học vào công tác thu nhập, lưu trữ xử lý và cấp phát thông tin cũng trở nên ngày càng cao Trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi chúng ta đang rất cần tạo ra bước nhảy vọt về chất lượng trong công tác quản lý nhà nước cũng như trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng thì tin học càng trở thành công cụ không thể thiếu Đặc biệt trong ngành địa chính, lượng thông tin cần quản lý rất nhiều, đa dạng Việc nước ta dần dần tiếp xúc với hệ thống thông tin đất đai hiện nay cho chúng ta một cách nhìn mới về đất đai, không chỉ từ quan điểm quản lý nhà nước mà còn quan điểm thị trường và từ
đó cho phép tận dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, kết nối giữa cơ sở dữ liệu và
đồ họa, nhằm vây dựng một hệ thống thông tin có khả năng đáp ứng tối đa nhu cầu quản lý cũng như nhu cầu sử dụng nguồn tài nguyên đất đai
Trang 11Từ yêu cầu cấp thiết của thực tế và nhận thấy tầm quan trọng của vấn
đề nêu trên, tác giả đã nghiên cứu thực hiện đề tài “Phân tích, đánh giá khả
năng ứng dụng một số phần mềm đồ họa phổ biến trong biên tập bản đồ địa chính”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phân tích, đánh giá khả năng ứng dụng của một số phần mềm đồ họa, từ đó đưa ra các ưu nhược điểm của một số phần mềm khi biên tập, nhằm phục vụ cho việc biên tập bản đồ địa chính
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu về bản đồ địa chính và các yêu cầu để biên tập bản đồ địa chính
- Sử dụng các kỹ năng của phần mềm Microstation và Autocad để biên tập bản đồ địa chính
- So sánh khả năng ứng dụng của Famis trên nền đồ họa của Microstation và phần mềm Cesmap trên nền đồ họa của AcadMap trong công tác biên tập biên tập bản đồ địa chính
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phân tích đánh giá một số phần mềm đồ họa hiện nay trong công tác biên tập bản đồ địa chính
- Nghiên cứu nội dung về các thông tư do Bộ tài nguyên và Môi trường ban hành, nhằm phục vụ cho việc biên tập bản đồ địa chính
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và nội dung đề tài của luận văn, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này bao gồm tổng hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu:
+ Nghiên cứu một số phần mềm đồ họa phục vụ cho việc biên tập bản đồ địa chính
Trang 12+ Nghiên cứu về các thông tư do bộ tài nguyên và môi trường ban hành + Thu thập các thông tin tư liệu liên quan đến việc phân tích, đánh giá biên tập bản đồ địa chính
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của giáo viên hướng dẫn, các nhà khoa học, các đồng nghiệp về các vấn đề trong nội dung luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với mục tiêu và nội dung của đề tài là “Phân tích, đánh giá khả năng
ứng dụng một số phần mềm đồ họa phổ biến trong biên tập bản đồ địa chính”, đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn đó là thông qua kết quả
nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra được các ưu, nhược điểm của một số phần mềm trong biên tập bản đồ địa chính
7 Bố cục của luận văn
Toàn bộ đề tài được cấu trúc gồm phần Mở đầu, 3 chương, phần kết luận và kiến nghị được trình bày trong 103 trang đánh máy với 80 hình
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
1.1 Khái quát về bản đồ địa chính
1.1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên đề về đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác vị trí, ranh giới, diện tích, số hiệu thửa và loại đất của từng thửa đất, từng chủ
sử dụng đất đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước Bản đồ địa chính được thành lập trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảo cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý đất đai [1]
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất [1]
Bản đồ địa chính được thể hiện ở hai dạng đó là bản đồ vẽ trên giấy và bản đồ số lưu trong máy tính Khi phân loại bản đồ địa chính theo chức năng,
người ta chia ra ba loại bản đồ địa chính, đó là bản đồ địa chính gốc, bản đồ địa chính và bản đồ địa chính trích đo [1]
Bản đồ địa chính gốc: Đó là bản đồ thể hiện các thửa đất và các đối tượng
chiếm đất, các yếu tố quy hoạch đã được phê duyệt, các yếu tố địa lý liên quan, được đo vẽ bằng các phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa hoặc bằng phương pháp có sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ bổ sung ở thực địa [1]
Bản đồ địa chính: Đó là bản đồ thể hiện trọn vẹn các thửa đất và các đối
tượng chiếm đất, các yếu tố quy hoạch đã được phê duyệt, các yếu tố địa lý liên quan, được biên vẽ, biên tập từ bản đồ địa chính gốc theo từng đơn vị hành chính cấp xã, được đo vẽ bổ sung để vẽ trọn vẹn các thửa đất, xác định loại đất theo chỉ tiêu thống kê của từng chủ sử dụng đất trong mỗi mảnh bản đồ và được hoàn chỉnh phù hợp với số liệu trong hồ sơ địa chính [1]
Trang 14Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã, được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh phê duyệt Bản đồ địa chính là tài liệu quan trọng trong bộ hồ sơ địa chính; trên bản đồ thể hiện vị trí, hình thể, diện tích, số thửa và loại đất của từng chủ sử dụng đất; đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai của nhà nước ở tất cả các cấp xã, huyện, tỉnh và trung ương[1]
Bản đồ địa chính trích đo: là bản đồ thể hiện trọn vẹn một thửa đất hoặc
một số thửa đất liền kề nhau và các đối tượng liên quan thuộc một xã hoặc nhiều
xã liền kề Bản đồ trích đo có tỷ lệ lớn hơn hay nhỏ hơn tỷ lệ bản đồ địa chính
đã có ở địa phương Tiêu chuẩn kỹ thuật đo vẽ bản đồ trích đo áp dụng theo tiêu chuẩn bản đồ địa chính cùng tỷ lệ [1]
1.2.1 Yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính
Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng mốc đặc
biệt Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các điểm đặc trưng trên đường biên thửa đất, các điểm đặc trưng của địa vật, địa hình Trong địa chính cần quản lý dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và toạ độ của chúng
Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong nối qua
các điểm thực địa Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai điểm đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạn thẳng Đối với đường gấp khúc cần quản lý toạ độ các điểm đặc trưng của nó Các đường cong có dạng hình học cơ bản có thể quản lý các yếu tố đặc trưng Tuy nhiên trên thực tế đo đạc nói chung và đo đạc địa chính nói riêng thường xác định đường cong bằng cách chia nhỏ đường cong tới mức các đoạn nhỏ của nó có thể coi là đoạn thẳng và nó được quản lý như một đường khấp khúc
Thửa đất: Là yếu tố đơn vị cơ bản của đất đai Thửa đất là một mảnh
tồn tại ở thực địa có diện tích xác định, được giới hạn bởi một đường bao khép kín, thuộc một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định Trong mỗi thửa đất có thể có một hoặc một số loại đất Đường ranh giới thửa đất ở thực địa có
Trang 15thể là con đường, bờ ruộng, tường xây, hàng rào hoặc đánh dấu bằng các dấu mốc theo quy ước của các chủ sử dụng đất Các yếu tố đặc trưng của thửa đất là các điểm góc thửa, chiều dài các cạnh thửa và diện tích của nó
Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có
đường ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thường xuyên thay đổi chủ sử dụng đất Loại thửa này gọi là thửa đất phụ hay đơn vị tính thuế
Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều loại đất Thông thường
lô đất được giới hạn bởi các con đường kênh mương, sông ngòi Đất đai được chia lô theo điều kiện địa lý khác nhau như có cùng độ cao, độ dốc, theo điều kiện giao thông, thuỷ lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng
Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất
Khu đất và xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu
Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng
người cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất Các cụm dân cư thường có sự cố kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo nghề nghiệp
Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc đường phố Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thực hiện chức năng quản lý nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình
1.2 Nội dung của bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính vì vậy trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai
- Khung bản đồ
- Điểm khống chế tọa độ, độ cao Quốc gia các hạng, điểm địa chính, điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định
Trang 16- Mốc địa giới hành chính, đường địa giới hành chính các cấp
- Mốc giới quy hoạch, hành lang an toàn giao thông, thủy lợi, điện và các công trình khác có hành lang an toàn
- Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất
- Nhà ở và công trình xây dựng khác tại khu vực đô thị, các khu đô thị thuộc khu vực nông thôn và các khu đất của tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
Chỉ thể hiện trên bản đồ các công trình xây dựng chính (nhà ở, nhà làm việc, nhà xưởng, nhà kho, bể chứa ), không thể hiện các công trình tạm thời Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên bản đồ địa chính phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán
- Các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất
- Địa vật, công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội và ý nghĩa định hướng cao;
- Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao (khi có yêu cầu thể hiện phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình)
- Các ghi chú thuyết minh
Khi biểu thị các yếu tố nội dung bản đồ địa chính phải tuân theo các quy định về ký hiệu bản đồ địa chính quy định tại Phụ lục số 1 kèm theo
Thông tư Số: “55/2013/TT-BTNMT” [5]
1.3 Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính được thành lập theo tỷ lệ từ 1: 200 đến 1:10.000
- Tỷ lệ đo vẽ thành lập bản đồ địa chính được xác định trên cơ sở loại đất và mật độ thửa đất trung bình trên 01 hecta (ha) Mật độ thửa đất trung bình trên 01 ha gọi tắt là Mt, được xác định bằng số lượng thửa đất chia cho tổng diện tích (ha) của các thửa đất
Trang 17+ Tỷ lệ 1:200: Được áp dụng đối với đất thuộc nội thị của đô thị loại đặc biệt có Mt ≥ 60
thị, đất khu đô thị, đất khu dân cư nông thôn có dạng đô thị; Mt ≥ 30 thuộc đất khu dân cư nói chung
+ Tỷ lệ 1:1000: Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
Khu vực có Mt ≥ 10 thuộc đất khu dân cư;
Khu vực có Mt ≥ 20 thuộc đất nông nghiệp có dạng thửa hẹp, kéo dài; đất nông nghiệp trong phường, thị trấn, xã thuộc các huyện tiếp giáp quận
và các xã thuộc thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;
Khu vực đất nông nghiệp tập trung có Mt ≥ 60
+ Tỷ lệ 1:2000: Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
Khu vực có Mt ≥ 5 thuộc khu vực đất nông nghiệp;
Khu vực có Mt ≤ 4 thuộc khu dân cư
+ Tỷ lệ 1:5000: Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác;
Khu vực có Mt ≥ 0,2 thuộc khu vực đất lâm nghiệp
+ Tỷ lệ 1:10.000: Được áp dụng đối với các trường hợp sau:
Đất lâm nghiệp có Mt < 0,2;
Đất chưa sử dụng, đất mặt nước có diện tích lớn trong trường hợp cần thiết đo vẽ để khép kín phạm vi địa giới hành chính
Lựa chọn phương pháp đo vẽ thành lập bản đồ địa chính
+ Bản đồ địa chính được thành lập bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa bằng máy toàn đạc điện tử, phương pháp sử dụng công nghệ GNSS hoặc phương pháp sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa
Trang 18+ Phương pháp thành lập bản đồ địa chính bằng công nghệ GNSS không phải là đo tĩnh và phương pháp sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo
vẽ trực tiếp ở thực địa chỉ được áp dụng để thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 ở khu vực đất nông nghiệp và bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, 1:5000, 1:10.000, nhưng phải quy định rõ trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình
+ Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500 chỉ được sử dụng phương pháp
đo vẽ trực tiếp ở thực địa bằng máy toàn đạc điện tử để thành lập
1.4 Hệ tọa độ và phương pháp chia mảnh bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính được thành lập trong hệ toạ độ Quốc gia VN2000 và
độ cao Nhà nước hiện hành Kinh tuyến gốc (00) được quy ước là kinh tuyến đi qua GRINUYT Điểm gốc của hệ toạ độ mặt phẳng (điểm cắt giữa kinh tuyến trục của từng tỉnh và xích đạo) có tọa độ X = 0 km, Y = 500 km
Điểm gốc của hệ độ cao là điểm độ cao gốc ở Hòn Dấu - Hải Phòng
Sử dụng phép chiếu hình và hệ toạ độ vuông góc phẳng UTM, múi chiếu 30, hệ số biến dạng dài trên kinh tuyến trục là m0=0,9999, kinh tuyến trục địa phương được chọn phù hợp cho tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương
Từ trước tới nay các quy phạm bản đồ địa chính đã đưa ra nhiều phương pháp chia mảnh và đánh số bản đồ địa chính Các phương pháp được sử dụng ở các thời kỳ, ở địa phương rất khác nhau, dẫn đến kết quả bản đồ và hồ sơ địa chính không hoàn toàn thống nhất trên phạm vi rộng Sau đây sẽ giới thiệu một phương pháp chia mảnh và đánh số bản đồ địa chính:
Trước hết xác định 4 góc của hình chữ nhật có toạ độ chẵn kilômét bao kín toàn bộ ranh giới hành chính của tỉnh hoặc thành phố làm giới hạn khu vực chia mảnh bản đồ địa chính gốc tỷ lệ 1:10.000 Các tờ bản đồ địa chính gốc tỷ
lệ lớn hơn sẽ được chia nhỏ từ tờ bản đồ 1:10.000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 thành 9 ô vuông Mỗi ô vuông
có kích thước thực tế 1 x 1 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ
Trang 191:2000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 100 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông
- Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000:
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 4 ô vuông Mỗi ô vuông
có kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 25 ha ngoài thực địa Các ô vuông được đánh thứ tự bằng chữ cái a, b, c, d theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông
- Bản đồ tỷ lệ 1:500
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 16 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,25 x 0,25 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 6,25 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông trong ngoặc đơn
Trang 20- Bản đồ tỷ lệ 1:200
Chia mảnh bản đồ địa chính 1:2000 thành 100 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,10 x 0,10 km, tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 định dạng trên giấy là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 1,00 ha ngoài thực địa
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 100 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1: 2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông
1.5 Bản đồ số địa chính
1.5.1 Khái niệm bản đồ số địa chính
Theo truyền thống, bản đồ được vẽ trên giấy, các đối tượng bản đồ được thể hiện nhờ hệ thống ký hiệu, các đường nét, màu sắc và các ghi chú
Ngày nay cùng với sự phát triển của ngành điện tử - tin học, các thiết bị
đo, ghi tự động, các loại máy in, máy vẽ kỹ thuật số có chất lượng cao không ngừng được hoàn thiện Trên cơ sở đó người ta xây dựng hệ thống thông tin địa
lý, hệ thống thông tin đất đai hiện đại mà phần quan trọng của nó là cơ sở dữ liệu bản đồ gồm bản đồ địa hình và bản đồ địa chính dạng số
Trên cơ sở công nghệ mới, bản đồ dạng số đã ra đời và phát triển mạnh
mẽ Trong bản đồ số các đối tượng địa lý được thể hiện trên bản đồ dựa trên cơ
sở mô hình hoá toán học trong không gian 2 chiều hoặc 3 chiều Thế giới thực được thu nhỏ, các đối tượng được chia thành các lớp, các nhóm, tổng hợp các nhóm lại ta được nội dung bản đồ
Ta có định nghĩa: Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ
Trang 21Bản đồ số địa chính là sản phẩm bản đồ địa chính được số hoá, thiết kế biên tập, lưu trữ và hiển thị trong hệ thống máy tính và các thiết bị điện tử Nó
có nội dung thông tin tương tự như bản đồ địa chính vẽ trên giấy song các thông tin này được lưu trữ dưới dạng số [1]
Bản đồ số được tổ chức và lưu trữ gọn nhẹ, khác với bản đồ truyền thống ở chỗ: bản đồ số chỉ là các tệp dữ liệu ghi trong bộ nhớ máy tính và có thể thể hiện ở dạng hình ảnh trên màn hình máy tính giống như bản đồ truyền thống Nếu sử dụng các máy vẽ thì ta có thể in được bản đồ trên giấy giống như bản đồ thông thường.Bản đồ số địa chính là cơ sở dữ liệu không gian cho hệ thống thông tin đất đai Bản đồ số địa chính có một số đặc điểm cơ bản sau:
Các đối tượng bản đồ được thể hiện trong một hệ quy chiếu tọa độ xác định; Mức độ đầy đủ các thông tin về nội dung và độ chính xác các yếu tố Trong bản đồ số hoàn toàn đáp ứng yêu cầu các tiêu chuẩn bản đồ theo thiết kế ban đầu;
- Bản đồ số không cần định hình bằng đồ hoạ, không có tỷ lệ;
- Hệ thống ký hiệu trong bản đồ số thực chất là các ký hiệu của bản đồ thông thường đã được số hoá, có thể thể hiện bản đồ dưới dạng hình ảnh trên màn hình hoặc in ra giấy;
- Bản đồ số có tính linh hoạt hơn hẳn bản đồ truyền thống, có thể dễ dàng thực hiện các công việc như : Cập nhật hiện chỉnh thông tin, chồng xếp hoặc tách lớp thông tin theo ý muốn, dễ dàng biên tập tạo ra bản đồ số khác và in ra bản đồ mới, có khả năng liên kết sử dụng trong mạng máy tính
- Các yếu tố bản đồ giữ nguyên được độ chính xác của dữ liệu đo đạc ban đầu, không chịu ảnh hưởng của sai số đồ hoạ
Việc sử dụng bản đồ số thuận lợi và có hiệu quả kinh tế cao, vì thế hiện nay trong ngành Địa chính chỉ thành lập và sử dụng bản đồ số trong công tác quản lý đất đai
Trang 22Trong thực tế bản đồ số địa chính được tạo ra theo hai phương pháp cơ bản, đó là biên tập từ số liệu đo đạc trên thực địa và số liệu đo ảnh hàng không
1.5.2 Chuẩn hoá cơ sở dữ liệu bản đồ số địa chính
Để thành lập bản đồ số địa chính cần nghiên cứu các chuẩn về dữ liệu bản
đồ số và tổ chức dữ liệu Đó chính là những quy định nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, tính thống nhất trong mô tả, lưu trữ và hiển thị nội dung thông tin
1.5.2.1 Chuẩn hệ quy chiếu
Khi thành lập bản đồ địa chính dạng số, mọi đối tượng bản đồ đều được thể hiện trong cùng một hệ quy chiếu không gian Ngoài ra còn sử dụng thêm một số yếu tố tham chiếu khác để đảm bảo tính duy nhất khi nhận dạng, tìm kiếm các yếu tố trong phạm vi tờ bản đồ hoặc trong khu vực đo vẽ
Cơ sở toán học của bản đồ địa chính được chuẩn hoá cho từng tỉnh theo qui phạm qui định thống nhất:
Hệ toạ độ, độ cao Nhà nước VN-2.000,
Múi chiếu UTM 3 độ, hệ số chiếu trên kinh tuyến trục mo = 0,9999, Kinh tuyến trục địa phương riêng cho từng tỉnh
Cơ sở toán học bản đồ địa chính được phần mềm thành lập bản đồ địa chính FAMIS chuẩn hoá qua định nghĩa file khởi tạo ban đầu (Seed file) Khi tạo một file bản đồ mới, người sử dụng nên dùng Seed file đã được định nghĩa trước bằng FAMIS
Các phần mềm thành lập bản đồ chuyên dụng đều đảm bảo có thể tính
toán chuyển đổi giữa các hệ tọa độ trắc địa thông dụng
1.5.2.2 Chuẩn khuôn dạng dữ liệu đồ họa
Khuôn dạng (format) dữ liệu bản đồ số địa chính cần tuân theo dạng chuẩn quy định Việc lựa chọn khuôn dạng dữ liệu cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Khuôn dạng dữ liệu có thể biểu diễn thuận lợi các đối tượng đa dạng của
Trang 23bản đồ địa chính
mềm bản đồ thông dụng khác nhau và làm cơ sở cho các hệ thống thông tin địa
lý và hệ thống thông tin đất đai
Trong thực tế công tác trắc địa bản đồ Việt nam hiện nay có hai khuôn dạng dữ liệu đã và đang được sử dụng để thành lập bản đồ địa chính dạng số, đó là: File.DWG hoặc DXF và File DGN
sử dụng trong phần mềm Autocad, là một trong các khuôn dạng dữ liệu phổ biến nhất hiện nay, có khả năng trao đổi thông tin giữa các hệ thống
File.DGN là file nhị phân (Binary), là khuôn dạng dữ liệu của hãng Bentley sử dụng trong phần mềm đồ họa Microstation
Yêu cầu của format dữ liệu lưu trong cơ sở dữ liệu là phải thể hiện các đối tượng bản đồ theo mô hình topology Dựa trên yêu cầu này, chuẩn khuôn dạng
dữ liệu lưu trữ trong cơ sở dữ liệu là: File đồ hoạ DGN và file topology POL của
phần mềm FAMIS; Coverage của phần mềm Arc/Info (ESRI)
Chuẩn trao đổi dữ liệu: DGN, DXF, SHP (ArcView), SIF (Integraph)
1.5.2.3 Chuẩn phân lớp nội dung bản đồ số địa chính
thuận lợi, các đối tượng được tổ chức thành nhiều lớp thông tin, mỗi lớp thể hiện một loại đối tượng bản đồ Mỗi lớp thông tin sử dụng một kiểu điểm, một kiểu đường, một kiểu chữ và một màu nhất định để hiển thị
Các lớp thông tin được định vị trong cùng một hệ quy chiếu nên khi chồng xếp các lớp thông tin chúng ta được cơ sở dữ liệu không gian có hình ảnh giống như một tờ bản đồ hoàn chỉnh
Việc phân lớp thông tin trên bản đồ địa chính cần phải đảm bảo các nguyên tắc:
Trang 24- Phân lớp thông tin dựa trên cơ sở phân loại đối tượng bản đồ
như điểm, đường hoặc vùng
- Yếu tố cơ bản của thông tin bản đồ là loại đối tượng Các đối tượng có cùng một số đặc tính được gộp lại thành lớp đối tượng Các lớp đối tượng được gộp lại thành nhóm đối tượng
nhất Đảm bảo đánh số theo thứ tự liên tục đối với các loại trong lớp, các lớp trong nhóm
- Các loại đối tượng, các lớp đối tượng, các nhóm đối tượng được đặt tên theo kiểu viết tắt sao cho dễ dàng nhận biết loại thông tin
1.5.3 Chuẩn hóa công tác biên tập bản đồ số địa chính
Nội dung bản đồ số địa chính hoàn toàn tương tự như bản đồ giấy nên các
ký hiệu bản đồ được số hoá tương ứng với các tỷ lệ để thể hiện hình ảnh bản đồ trên màn hình và in ra giấy khi cần thiết
- Các đối tượng độc lập cần thể hiện bằng các đối tượng dạng Cell được thiết kế trước và lưu trữ trong thư viện ký hiệu
cuối của một đối tượng phải là đường liên tục, không đứt đoạn Phải tạo điểm nút tại những chỗ giao cắt của các đối tượng cùng loại
-Đối tượng dạng vùng phải là các vùng đóng kín, kiểu đối tượng dạng Shape hoặc Complex Shape để có thể vẽ nét trải hoặc tô màu (Pattern, Fill color) Các thửa đất được thể hiện thành đối tượng kiểu vùng đóng kín, có gán nhãn thửa để liên kết với thông tin thuộc tính
bảo nối tiếp dữ liệu cho toàn khu vực, đảm bảo trình bày trong và ngoài khung đúng như yêu cầu chung để có thể in bản đồ ra giấy
Trang 25- Khung trong và lưới tọa độ vuông góc của bản đồ số địa chính phải được xây dựng bằng chương trình chuyên dụng cho việc lập lưới chiếu bản đồ, không dùng các công cụ vẽ của phần mềm đồ họa để trực tiếp vẽ khung, lưới ô vuông trên màn hình
- Sông, kênh, mương 1 nét cần thể hiện dạng đường liên tục, mỗi đoạn rẽ nhánh cần phải nối thành nút, các đường biểu diễn sông 1 nét phải nối với sông
2 nét tại các điểm nút
Bản đồ địa chính dạng số là loại bản đồ được thành lập có sự trợ giúp của máy tính Việc thành lập bản đồ số địa chính phải trải qua các công đoạn chủ yếu: thu thập và số hoá dữ liệu, xử lý dữ liệu, biểu thị dữ liệu và lưu trữ Có thể tóm tắt các phương pháp thành lập bản đồ số địa chính như sau:
a Phương pháp đo vẽ trực tiếp: Lập lưới tọa độ địa chính các cấp, dùng
máy toàn đạc điện tử đo chi tiết nội dung bản đồ, nhập số liệu đo vào máy tính tạo tệp dữ liệu tọa độ các điểm chi tiết, tạo tệp dữ liệu sơ họa, xử lý dữ liệu tạo bản đồ nền, chia mảnh bản đồ và biên tập bản đồ số địa chính theo mẫu
b Phương pháp đo ảnh số: Chụp ảnh hàng không, quét ảnh tạo ra tệp dữ
liệu ảnh raster, tăng dày khống chế ảnh, lập mô hình số độ cao, nắn ảnh tạo ra bản đồ ảnh trực giao, vector hoá nội dung bản đồ địa chính tạo ra tệp dữ liệu bản
đồ dạng vector, điều tra và đo vẽ bổ sung nội dung bản đồ ở thực địa, biên tập bản đồ địa chính dạng số theo mẫu
c Phương pháp số hoá bản đồ địa chính cũ vẽ trên giấy: Dùng máy quét
để quét bản đồ giấy tạo ra tệp dữ liệu ảnh raster, Vector hoá nội dung bản đồ tạo
ra tệp dữ liệu dạng vector, biên tập bản đồ theo mẫu bản đồ số địa chính Phương pháp này cho độ chính xác thấp nên hiện nay ít sử dụng
Tất cả ba phương pháp trên đều phải sử dụng các thiết bị kỹ thuật cao, các phần mềm máy tính chuyên dụng, người thực hiện phải có trình độ chuyên môn cao
Trang 26CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM ĐỒ HỌA
PHỔ BIẾN TRONG BIÊN TẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
2.1 Giới thiệu một số phần mềm đồ họa chuyên dụng để biên tập bản
đồ địa chính.
2.1.1 Autocad
CAD là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Computer Aided Desingn
Hiện nay thuật ngữ CAD ngày càng trở nên phổ biến trong ngành kỹ thuật Nó
đã tạo ra một phương pháp thiết kế mới cho các kỹ sư Trong tiếng Việt nó có
nghĩa là thiết kế trên máy tính hay cũng có thể gọi là thiết kế với sự hỗ trợ cuả
máy tính
Việc thiết kế trên máy vi tính giúp cho bạn có thể làm được nhiều phương
án trong một thời gian ngắn và sửa đổi bản vẽ một cách nhanh chóng và dễ dàng
hơn rất nhiều so với cách làm thủ công Ngoài ra bạn có thể tra hỏi các diện tích,
khoảng cách trực tiếp trên máy
AutoCAD là một phần mềm thiết kế trên máy vi tính cá nhân được sử
dụng tương đối rộng rãi trong các ngành :
• Thiết kế kiến trúc - xây dựng và trang trí nội thất
• Thiết kế hệ thống điện, nước
• Thiết kế cơ khí, chế tạo máy
• Thiết kế hệ thống chiếu sáng cho các công trình văn hóa như trong
các rạp chiếu phim, nhà hát…
• Thiết lập, biên tập, hệ thống bản đồ
Tại Việt Nam AUTOCAD đã từng được biết đến từ rất nhiều năm trở lại
đây Tính tiện ích của nó đang ngày càng chinh phục được đông đảo đội ngũ các
kỹ sư, kiến trúc sư thuộc nhiều đơn vị, ngành nghề khác nhau trong cả nước
Cho đến nay các ứng dụng đồ hoạ phục vụ và thiết kế kỹ thuật đã xuất hiện thêm
nhiều chương trình mới, có giao diện hoặc một số tính năng kỹ thuật rất nổi trội
Trang 27Ngày nay AUTOCAD đã thật sự trở thành một bộ phận không thể thiếu được đối với rất nhiều đơn vị thiết kế Việc vẽ và xuất bản vẽ từ AUTOCAD đã trở thành điều đương nhiên nếu không nói là bắt buộc đối với hầu hết các hồ sơ thiết
kế công trình
-Khởi động Autocad : Ta có thể thực hiện theo các cách sau:
* Double click vào biểu tượng
* Click vào nút Start, chọn AutoCAD \AutoCAD
-Thoát khỏi AutoCAD: Ta có thể thực hiện theo các cách sau:
* Trên thanh Menu của AutoCAD : chọn File\Exit
* Click vào nút điều khiển
* Từ dòng Command: gõ vào chữ Quit hay Exit
- Bắt đầu mở bản vẽ mới để vẽ
* Trên thanh Standard Toolbar : click vào biểu tượng
- Mở bản vẽ có sẵn
* Trên thanh Standard Toolbar : click vào biểu tượng
Hình 2.1 Hộp thoại Select File
Trang 28Hộp thoại Select File xuất hiện, ta chọn file cần mở, rồi chọn Open hay nhắp đúp vào tên file muốn mở
Thanh tiêu đề(Title bar): thể hiện tên bản vẽ
* Nút điều khiển màn hình: nằm bên trái hay bên phải thanh tiêu đề
Hình 2.2 Nút điều khiển màn hình Autocad Thanh thực đơn Menu bar
Hình 2.3 Thanh thực đơn Menu bar
Trên Menu bar có nhiều trình đơn, nếu ta chọn một trình đơn nào đó, thì một thực đơn thả (Full Down Menu) sẽ hiện ra để ta chọn lệnh kế tiếp
Thanh công cụ chuẩn (Standard Toolbar)
Hình 2.4 Thanh công cụ (Standard Toolbar)
Hiển thị thanh Standard bằng cách:
* Từ Menu: chọn View\ Toolbars Hộp thoại Toolbars mở ra: click vào ô Standar Toolbar
Tương tự ta mở được Thanh thuộc tính (Object Properties)
Trang 29Hình 2.5 Thanh thuộc tính (Object Properties)
Dòng lệnh (Command line)
Hình 2.6 Dòng lệnh (Command line)
* Ta thực hiện lệnh bằng cách gõ từ bàn phím vào dòng command này
* Có thể hiển thị số dòng Command bằng cách:
+ Co dãn trực tiếp trên vùng Command
+ Từ thanh Menu: chọn Tools\Preferences Hộp thoại Preferences mở ra, chọn Display Trên dòng Numbers of lines of text to show in docked command line window: gõ số dòng mà vùng command cần hiển thị, ví dụ: 3 (như hình dưới)
Hình 2.7 Hộp thoại Preferences: Display
Thanh trạng thái (Status bar): Cho ta biết tọa độ điểm và trên thanh
này cũng có các chế độ SNAP, GRID, ORTHO, OSNAP,
Vùng Menu màn hình (Screen Menu):
Trang 30Vùng Screen Menu cũng có chức năng như thanh Menu chính và nếu được hiển thị nó sẽ nằm bên phải màn hình AutoCAD Hiển thị vùng Screen Menu bằng cách:
* Từ thanh Menu: chọn Tools\Preferences Hộp thoại Preferences mở ra,
chọn Display Sau đó click ô Display AutoCAD Screen menu in Drawing
window
Các thanh cuốn (Scroll bars): Hiển thị các thanh cuốn bằng cách:
* Từ thanh Menu: chọn Tools\Preferences Hộp thoại Preferences mở ra,
chọn Display Sau đó click dòng Display AutoCAD Scroll bars in Drawing
Trang 31bao gồm nhiều cửa sổ, menu, bảng công cụ và nhiều chức năng khác rất tiện lợi cho người sử dụng
Mapping Office là một hệ phần mềm mới nhất của tập đoàn Intergraph bao gồm các phần mềm công cụ phục vụ cho việc xây dựng và duy trì toàn bộ các đối tượng địa lý dưới dạng đồ hoạ bao gồm: IrasC, IrasB, MSFC, Geovec… Các file dữ liệu dạng này được sử dụng làm đầu vào cho các hệ thống tin địa lý hoặc các hệ quản trị dữ liệu bản đồ Các phầm mềm ứng dụng của Mapping Ofice được tích hợp trong môi trường đồ hoạ thống nhất Microstation để tạo nên một bộ các thanh cụng cụ mạnh và linh hoạt phục vụ cho việc thu thập và xử lý các đối tượng đồ hoạ Đặc biệt trong lĩnh vực biên tập và trình bày bản đồ, dựa vào rất nhiều các tính năng mở của Microstation cho phép người sử dụng tự thiết kế các ký hiệu dạng điểm, dạng đường, dạng pattern mà rất nhiều các phương pháp trình bày bản đồ được coi là rất khó sử dụng đối với một số phầm mềm khác (Mapinfo, Autocad, Coreldraw, Freehand ) lại được giải quyết một cách dễ dàng trong Microstation Ngoài ra các file dữ liệu của các bản đồ cùng loại được tạo dựa trên nền một file chuẩn (seed file) được định nghĩa đầy đủ các thông số toán học bản đồ, hệ đơn vị đo được tính theo giá trị thật ngoài thực địa làm tăng giá trị chính xác và thống nhất giữa các file bản đồ
Microstation là một phần mềm trợ giúp thiết kế và là môi trường đồ hoạ rất mạnh cho phép xây dựng, quản lý các đối tượng đồ hoạ thể hiện các yếu tố bản đồ Microstation còn được sử dụng để làm nền cho các ứng dụng khác như Geovec, IrasC, MSFC, Mrfclean, Mrfflag chạy trên đó
Công cụ của Microstation được sử dụng để số hoá các đối tượng trên nền ảnh (raster), sửa chữa, biên tập dữ liệu và trình bày bản đồ
Microstation còn cung cấp công cụ nhập, xuất (import, export) dữ liệu
đồ hoạ từ các phần mềm khác qua các file (.dxf) hoặc (.dwg)
Trang 32* Khởi động MicroStation: Kích hoạt biểu tượng của MicroStation t r ê n
m à n hình Program Manager Cửa sổ MicroStation Manager xuất hiện, chọn trên file cần mở (hoặc tên file mới), sau đó chọn Ok
* Thoát khỏi MicroStation: Chọn menu file, sau đó chọn exit Hoặc cũng có thể gõ vào từ exit trên cửa sổ lệnh của Microsation
* Giao diện trong MicroStation:
MicroStation cho phép giao diện với người dùng thông qua cửa sổ Commanh Window, các menu, các hộp thoại và các bảng công cụ…
Hình 2.9 Màn hình MicroStation
Trên cùng là thanh tiêu đề chứa tên tạm thời của File
Thanh công cụ chuẩn (Standar)
Main: Là tập hợp các chức năng được sủ dụng trong quá trình thành lập bản vẽ
Dưới cùng là thanh điều khiển chế độ quan sát View Control: Chứa các công cụ sử dụng để phóng to, thu nhỏ hoặc dịch chuyển màn hình
Trang 33Cửa sổ lệnh Command Window: hiển thị cho ta tên file mà ta đang
mở, ngoài ra trên cửa sổ lệnh còn có sáu trường với nội dung sau:
- Status: Hiển thị các thông báo về yếu tố chọn
- Message: Hiển thị các thuộc tính hiện thời của yếu tố
- Command: Hiển thị tên của lệnh đang được thực hiện
- Frompt: Hiển thị thao tác tiếp theo cần thực hiện
- Input: Thường dùng để gỡ lệnh hoặc vào tham số cho lệnh từ bàn phím
- Error: Hiển thị các thông báo lỗi
nhiều phương pháp: Từ biểu tượng của của công cụ, từ menu, từ cửa sổ lệnh…tùy thuộc sự lựa chọn của người sử dụng Nhưng dù sử dụng phương pháp nào thì thông tin về lệnh vừa thực hiện cũng được thể hiện trên cửa sổ lệnh Command Window Các lệnh trong MicroStation nói chung thường gồm hai bước: Bước thứ nhất nhằm xác định yếu tố cần thao tác, bước thứ hai để khẳng định (hoặc hủy bỏ) lệnh cần thực hiện Nếu bước thứ hai ta hủy bỏ lệnh thì lệnh đó sẽ không gây ra tác vụ gì Việc quan sát cửa sổ lệnh thường xuyên trong quá trình thực hiện các lệnh sẽ giúp ta thao tác nhanh chóng và không mắc phải sai sót
* Menu chính của MicroStation được đặt trên cửa sổ lệnh Từ menu chính có thể mở ra nhiều menu dọc trong đó chứa rất nhiều chức năng của MicroStation Ngoài ra còn có nhiều menu được đặt ở các cửa sổ hội thoại xuất hiện khi ta thực hiện một chức năng nào đó của MicroStation
* Cửa sổ quan sát View: Là nơi để ta quan sát và thực hiện các thao tác
đồ họa cần thiết Có thể mở cùng một lúc tối đa 8 cửa sổ View Có thể di chuyển vị trí hoặc thay đổi kích thước của các cửa sổ View như đối với các cửa
sổ Window thông thường Trên các cửa sổ View ta còn có thể điều khiển hiển thị các yếu tố trên file bản công cụ View Control
Trang 34Mỗi công việc nào đó trên Microstation thường có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp tùy thuộc vào sự lựa chọn của người sử dụng:
Từ biểu tuợng của công cụ,
Từ menu,
Từ cửa sổ lệnh
* Bàn chuột chuẩn sử dụng trong MicroStation là bàn chuột 3 phím với các chức năng:
- Phím bên trái là phím Data dùng để xác nhận một lệnh hay một yếu tố nào đó
- Phím bên phải là phím Reset dùng để hủy sự xác nhận một lệnh hay một yếu tố nào đó
- Phím giữa là phím Tentative dùng để đặt chuột vào đúng vị trí nào đó Nếu bàn chuột đang sử dụng là bàn chuộ t hai phím thì phím Data và phím Reset giữ nguyên vị trí như trên còn phím Tentative được sử dụng bằng cách ấn đồng thời hai phím Data và Reset
người sử dụng, MicroStation có ứng dụng rất lớn trong trắc địa bản đồ Song nếu chỉ có MicroStation đứng độc lập thì khả năng ứng dụng của nó bị hạn chế rất nhiều Chính vì thế MicroStation luôn được sử dụng để làm nền cho các phần mềm khác như IrasC (sử dụng để nắn ảnh, làm sạch ảnh và một số ứng dụng khác), Geovec (chuyên để vector hóa bán tự động), MSFC (sử dụng để quản lý các lớp thông tin trên bản đồ bằng cách thiết lập các Feature)…Tạo nên một bộ công cụ linh hoạt phục vụ tốt cho việc số hóa và biên tập bản đồ
Tổ chức dữ liệu trong MicroStation
Các bản vẽ trong MicroStation được ghi nhận dưới dạng file *.dgn Mỗi file bản vẽ đều được định vị trong một hệ toạ độ nhất định với các tham
số về lưới toạ độ, phạm vi làm việc, số chiều của không gian làm việc
Trang 35Nếu như không gian làm việc là hai chiều thì có file 2D, nếu không gian làm việc là ba chiều thì có file 3D Các tham số này thường được xác định sẵn trong một file chuẩn và khi tạo file mới người sử dụng chỉ việc chọn file seed phù hợp để sao chép các tham số này từ file seed sang file bản vẽ cần tạo
Trong mỗi file dữ liệu được phân biệt theo các thuộc tính
+ Tọa độ: x,y với file 2D
+ Tọa độ: x,y,z với file 3D
+ Tên lớp ( level ) trong MicroStation có tất cả 63 lớp được đánh số từ 1 đến 63 + Màu sắc ( color ) trong MicroStation Trong bảng có 256 màu và đánh số từ 0 đến 255
+ Kiểu nét ( linestyne ): Có 8 loại nét cơ bản, đánh số từ o đến 7
+ Lực nét ( weight ): Có 16 loại lực nét cơ bản, được đánh số từ 0 đến 15
2.2 Các chức năng cơ bản biên tập bản đồ địa chính của một số phần mềm
và được rút gọn ở dạng các biểu tượng Thanh công cụ chính là tập hợp các chức năng ta thường sử dụng trong quá trình thành lập bản đồ, bản vẽ và thường được tự động mở khi ta khởi động trong Microstation
Place Fence: Là công cụ chứa các yếu tố trong cùng một vùng
Element Selection: Lựa chọn đối tượng trong quá trình vẽ và sưả chữa Place Smart Line: Vẽ các đối tượng dạng đường, dạng tuyến
Trang 36Place Active Point: Vẽ các đối tượng dạng điểm
Place Block: Vẽ các đối tượng dạng vùng
Hatch Area: Trải ký hiệu cho các đối tượng dạng vùng
Place Cicrles: Vẽ đường tròn và Elipses
Place Arcs: Vẽ các đối tượng hình cung
Place Text: Vẽ và sửa các đối tượng dạng chữ
Place Active Cells: Vẽ các ký hiệu dạng cell
Drop Element: Liên kết các đối tượng hoặc phá bỏ liên kết Dimension Element: Đo kích thước đối tượng
Measure Distance: Đo khoảng cách
Copy: Copy, dịch chuyển, tăng tỷ lệ hoặc quay đối tượng Change Element Attributes: Thay đổi thuộc tính các đối tượng Modify: Sửa chữa các đối tượng
Delete Element: Xóa đối tượng
Hình 2.10 Biểu tượng Main Tool Box Chức năng của các công cụ chính dùng trong Microstation
Trang 371 Line: Vẽ đường
Để vẽ đường dạng tuyến trong MicroStation ta sử dụng thanh công cụ
Linear Elements Để xuất hiện thanh này ta chỉ việc kéo nó ra khỏi bảng công
cụ hoặc vào Tools →Main → Linear Elements
Hình 2.11 Công cụ Linear Elements
2 Cirdes (vẽ đường tròn)
Để vẽ đường tròn trong MicroStation ta sử dụng thanh công cụ
Ellipses Để vẽ đường tròn ta sử dụng công cụ Place Circle Đi kèm với
công cụ Place Circle là hộp thoại Place Circle cho phép ta thiết lập các thông số
sau:
- Method : Chọn phương pháp vẽ
+ Center : Vẽ từ tâm + Edge : Vẽ đường tròn qua 3 điểm
Trang 38+ None : Không phủ màu
+ Opaque, Outlined : Phủ màu
- Fill Color : Chọn màu phủ
- Ngoài ra ta còn có thể xác định kích thước bằng bán kính (Radius) hay đường kính (Diameter) Nếu ta đánh dấu vào mục này thì sẽ cố định kích thước và có thể điền chính xác kích thước vào ô bên cạnh
Hình 2.12 Hộp thoại Place Circle
3 Polygons (Vẽ vùng khép kín)
Để vẽ những vùng bao kín trong MicroStation ta sử dụng thanh công cụ Polygons
Hình 2.13 Công cụ Polygons
- Công cụ Place Block
Công cụ Place Block dùng để vẽ vùng khép kín hình chữ nhật Đi kèm với công cụ Place Block là hộp thoại Place Block
Hình 2.14 Hộp thoại Place Block
Trang 39- Công cụ Place Shape
Công cụ Place Shape dùng để vẽ vùng khép kín hình dáng bất kỳ Đi kèm với công cụ Place Shape là hộp thoại Place Shape
Hình 2.15 Hộp thoại Place Shape
- Công cụ Place Orthogonal Shape
Công cụ Place Orthogonal Shape dùng để vẽ những vùng mà các cạnh vuông góc với nhau
Hình 2.16 Hộp thoại Place Orthogonal Shape
- Công cụ Place Regular Polygon
Công cụ Place Regular Polygon cho phép ta vẽ những đa giác đều với số lượng cạnh bất kỳ Đi kèm với công cụ Place Regular Polygon là hộp thoại Place Regular Polygon
Hình 2.17 Hộp thoại Place Regular Polygon
Trang 404 Text (Chữ)
Trước khi viết chữ, ta cần phải xác định thuộc tính của chữ (như kiểu Font, kích thước ) Để đặt thuộc tính của chữ, ta vào Element → Text
Hình 2.18 Hộp thoại Text
Chú ý rằng giữa chiều cao và chiều rộng có một khóa Nếu khóa này
mở thì hai kích thước này độc lập, còn nếu khóa này đóng thì hai kích thước này luôn luôn bằng nhau
Ngoài ra ta còn phải xác định các thuộc tính khác trước khi viết chữ như đặt phương viết chữ, đặt lớp, đặt mầu, đặt kiểu nét, đặt lực nét
a Viết chữ
Để viết chữ trong MicroStation ta sử dụng công cụ Place Text trên thanh công cụ Text Ta làm như sau:
Hình 2.19 Thanh công cụ Text
Đặt thông số của chữ viết trong hộp Place Text Đi kèm với công cụ PlaceText là hộp thoại Place Text