Xuất phát từ vai trò quan trọng của hệ thống báo cáo thống kê trong công tác quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh than nói riêng cũng như của toàn Tập đoàn nói chung, trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LÊ VĂN CÔNG
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ TRONG KHAI THÁC THAN,
ÁP DỤNG CHO CHI NHÁNH TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP
THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM - CÔNG TY
THAN QUANG HANH - TKV”
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn của tôi với đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê trong khai thác than, áp dụng cho chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam - Công ty than Quang Hanh – TKV”
Là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, các số liệu tài liệu có nguồn gốc
rõ ràng, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2014
Tác giả
Lê Văn Công
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỐNG KÊ VÀ CÁC BÁO CÁO THỐNG KÊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THAN 6
1.1 Tổng quan lý thuyết về hệ thống báo cáo thống kê trong hoạt động sản xuất kinh doanh 6
1.1.1 Vai trò quan trọng của hệ thống các báo cáo thống kê trong công tác quản lý doanh nghiệp 6
1.1.2 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống báo cáo thống kê 10
1.2 Phương pháp xây dựng hệ thống báo cáo thống kê doanh nghiệp 12
1.2.1 Yêu cầu của hệ thống báo cáo thống kê khi xây dựng: 12
1.2.2 Căn cứ để xây dựng 13
1.2.3 Tổ chức thực hiện 13
1.3 Kinh nghiệm về XD hệ thống báo cáo thống kê ở một số ngành 13
1.3.1 Một số hệ thống báo cáo thống kê đã được ban hành và áp dụng tại một số ngành kinh tế nước ta 13
1.3.2 Đánh giá thực trạng việc áp dụng các hệ thống báo cáo thống kê ở nước ta hiện nay 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ Ở TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ TẠI CHI NHÁNH TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIÊP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM – CÔNG TY THAN QUANG HANH - TKV 32
2.1 Tổng quan về công tác thống kê phục vụ quán lý sản xuất kinh doanh trong Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam 32
2.1.1 Vài nét về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Công ty than Quang Hanh - TKV 32
2.1.2 Công tác thống kê trong các doanh nghiệp TKV 41
Trang 42.1.3 Lịch sử phát triển của hệ thống báo cáo thống kê áp dụng trong sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc TKV 45
2.1.4 Mô tả hệ thống báo cáo thống kê hiện hành trong TKV 50
2.2 Phân tích thực trang việc tổng hợp và áp dụng hệ thống báo cáo thống kê tại Tập đoàn TKV theo những yêu cầu cần có 51
2.2.1 Tính đúng đắn về nội dung thống kê 51
2.2.2 Tính đầy đủ của hệ thống 53
2.2.3 Tính đúng đắn của phương pháp lập báo cáo 54
2.2.4 Tính liên kết logic giữa các báo cáo trong hệ thống 57
2.2.5 Tính thuận tiện trong việc sử dụng, áp dụng công nghệ thông tin, hiện đại hoá hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý doanh nghiệp 57
2.2.6 Tính phù hợp với điều kiện cụ thể tại nơi áp dụng 58
2.3 Đánh giá thực trạng việc áp dụng các hệ thống báo cáo thống kê trong các doanh nghiệp ngành than hiện nay 59
2.3.1 Đánh giá những kết quả đạt được, thuận lợi khó khăn còn tồn tại trong quá trình thực hiện chế độ báo cáo thống kê năm qua: 59
2.3.2 Nguyên nhân và những vấn đề cần tiếp tục để hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê 62
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ KHAI THÁC THAN ÁP DỤNG CHO CHI NHÁNH TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM –CÔNG TY THAN QUANG HANH - TKV 66
3.1 Quan điểm định hướng của hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê (phù hợp với thực tiễn khách quan) 66
3.1.1 Quan điểm định hướng chung của hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê 66
3.1.2 Phương hướng xây dựng đổi mới hệ thống báo cáo thống kê trong các doanh nghiệp ngành than hiện nay 68
3.2 Các giải pháp hoàn thiện 75
3.2.1 Hệ thống báo cáo Thống kê chuyên ngành TKV 75
3.2.2 Chế độ báo cáo Thống kê khai thác chế biến kinh doanh than -Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam 77
3.2.4 Một số giải pháp tổ chức thực hiện 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ban ĐHSX than Ban điều hành SX than
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thống kê nói chung là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng,
có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy
đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân
Thống kê doanh nghiệp là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định Qua đó giúp cho các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đề ra các biện pháp tích cực, khoa học và đưa ra các quyết định kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là tập đoàn kinh tế đa ngành, trong đó ngành than là ngành kinh tế mũi nhọn chiếm tỷ trọng lớn và làm nền tảng vững mạnh để xây dựng các ngành kinh tế khác phát triển đồng đều trong Tập đoàn Xuất phát từ vai trò quan trọng của hệ thống báo cáo thống kê trong công tác quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh than nói riêng cũng như của toàn Tập đoàn nói chung, trong những năm qua Tập đoàn đã luôn coi trọng việc xây dựng hệ thống báo cáo thống kê Tuy nhiên, thực tế sản xuất kinh doanh cho thấy còn nhiều bất cập trong hệ thống như chưa đảm bảo các yêu cầu về tính đầy
đủ, tính hệ thống, tính đơn giản, tính thuận tiện trong sử dụng, tính thích ứng với sự phát triển của công nghệ thông tin v.v…
Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và những năm tiếp theo, đồng thời với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê càng trở nên cấp thiết, giúp cho công tác quản lý, điều hành hoạt động SXKD của ngành than theo
Trang 7hướng đáp ứng đầy đủ, kịp thời, chính xác các yêu cầu về cung cấp thông tin, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế- xã hội, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với Tập đoàn TKV cũng như của Tập đoàn TKV với các Công ty con, đơn vị trực thuộc Tập đoàn
Mặt khác, hệ thống báo cáo thống kê còn phục vụ cho công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hướng đồng
bộ phù hợp với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác trong Tập đoàn
Trong thực tế hoạt động quản lý hiện nay trong Tập đoàn, công tác quản lý chi phí nói chung và khoán chi phí đang được đẩy mạnh Thực hiện mục tiêu khoán quản trị chi phí Tập đoàn đến các công ty con, xuống tới từng công trường phân xưởng trong công ty con, hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê chính là điều kiện cần thiết để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
Cần phải xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các hệ thống báo cáo thống kê phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay, tiếp cận dần với hệ thống thống kê hiện đại, đảm bảo các chỉ tiêu phản ánh đúng thực trạng tình hình kinh tế-xã hội, đáp ứng yêu cầu phân tích đánh giá và hoạch định các chính sách phát triển phục vụ công tác chỉ đạo và điều hành của Tập đoàn trong những năm tới
Thực hiện chương trình hành động của Thủ Tướng Chính phủ tại Quyết đinh số 312/QĐ-TTg ngày 2/3/2010 và Bộ Công Thương tại Quyết đinh số 3151/QĐ-BCT ngày 15/6/2010 về đề án đổi mới hệ thống các chỉ tiêu thống kê cấp Bộ , Ngành
Chế độ báo cáo thông kê đến nay đã thay đổi rất nhiều từ hệ thống chỉ tiêu thống kê đến kết cấu, nội dung các báo cáo, hệ thống các chỉ tiêu cũng được mã hóa thao từng ngành nghề, theo đó, các chỉ tiêu hiện vật và giá trị cũng được thay đổi theo Tuy nhiên việc triển khai áp dụng trong một số các đơn vị trong Tập đoàn còn rất lúng túng và chưa đồng bộ, rất khó cho việc áp dụng tin học hóa đặc biệt là ở các doanh nghiệp khai thác than hiện nay
Với những lý do nêu trên, tác giả cho rằng việc lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê trong khai thác than, áp dụng cho chi nhánh
Trang 8Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV” là rất cần thiết hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê khai thác than để làm căn cứ xây dựng hệ thống báo cáo thống kê áp dụng cho Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV Từ đó làm cơ sở thống nhất trong công tác thống kê, hạch toán, phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội, báo cáo, thông tin phục vụ chỉ huy điều hành quản lý từ Công ty con, đơn vị trực thuộc trong Tập đoàn và báo cáo Nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Là hệ thống báo cáo thống kê trong khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, trong đó đi sâu nghiên cứu cho trường hợp chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống báo cáo thống kê trong hoạt động khai thác than tại chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV theo các nội dung như tên gọi, nội dung và phương pháp tính, trình tự thống kê, hệ thống mẫu biểu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu v.v…
Thời gian nghiên cứu là các số liệu thống kê từ năm 2010 -:- 2012 Cụ thể, thông qua số liệu thống kê kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Qua đó giúp cho các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đề ra các biện pháp tích cực, khoa học và đưa ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả nhất
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về hệ thống báo cáo thống kê
- Phân tích đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo thống kê ngành than – khoáng sản và các quy định quản lý trong khai thác mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
Trang 9- Đề xuất hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê ở mỏ than áp dụng cho chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV
5 Phương pháp nghiên cứu
- Kết hợp nghiên cứu lý thuyết, chế độ báo cáo thống kê của Nhà nước và khảo sát thực tiễn công tác thống kê trong khai thác mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
- Cơ sở dữ liệu để thiết lập hệ thống báo cáo thống kê là các số liệu thống kê, khảo sát, nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn, các quy định của Nhà Nước ta về thống
kê kế toán, về quản lý vật tư tài sản, các quy định về hệ thống chỉ tiêu Thống kê Quốc gia, các quyết định công bố tiêu chuẩn sản phẩm than, danh mục sản phẩm sản xuất tiêu thụ tồn kho, các quy định về nghiệm thu thanh toán, các quy định về quản lý lao động, quy trình, quy phạm trong quản lý khai thác than…
- Sử dụng hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày
số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê, hệ thống mẫu biểu báo cáo phục vụ trong khai thác than
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 – Ý nghĩa khoa học:
Luận văn hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận về hệ thống báo cáo thống kê trong doanh nghiệp, chuẩn hoá khái niệm, nội dung, phương pháp tính từng chỉ tiêu thống kê trong hệ thống
Luận văn đề xuất và thực hiện việc phân tích hệ thống chỉ tiêu báo cáo thống
kê dưới một góc độ mới đó là phân tích theo các yêu cầu cần có của hệ thống
Trang 10toán kinh tế trong Tập đoàn, nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý của các doanh nghiệp trong Tập đoàn Cũng như của các doanh nghiệp khai thác mỏ khác trong nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 – Tổng quan về hệ thống thống kê và các báo cáo thống kê trong các doanh nghiệp ngành than
Chương 2 – Phân tích thực trạng hệ thống báo cáo thống kê ở Tập đoàn Công nghiệp than – Khoáng sản Việt Nam, chế độ báo cáo thống kê tại chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV
Chương 3 – Hoàn thiện hệ thống báo cáo thông kê khai thác than áp dụng cho chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – Công ty than Quang Hanh – TKV
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỐNG KÊ VÀ CÁC BÁO CÁO THỐNG KÊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THAN
1.1 Tổng quan lý thuyết về hệ thống báo cáo thống kê trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Vai trò quan trọng của hệ thống các báo cáo thống kê trong công tác quản lý doanh nghiệp
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về hệ thống báo cáo thống kê doanh nghiệp
Ngày nay, thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng,
có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời phục vụ các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn, đáp ứng nhu cầu thông tin thống
kê của các tổ chức, cá nhân khác Con số thống kê cũng là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, chiến lược và các chính sách đó
Ở nước ta hiện nay, rất coi trọng công tác thống kê, đặc biệt là công tác xây dựng, hoàn thiện và đổi mới hệ thống báo cáo thống kê kinh tế-xã hội, theo đó hệ thống báo cáo thống kê doanh nghiệp cũng từng bước được hoàn thiện và cũng cố
Hệ thống báo cáo thống kê phản ánh đầy đủ nguồn lực của nền kinh tế, hoạt động của thị trường, của liên doanh liên kết, quá trình sản xuất trong các doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu nhập và mức sống của người lao động, của dân cư
và thu nhập của Nhà nước…
Bên cạnh đó, thông qua hệ thống báo cáo thống kê giúp cho các doanh nghiệp có cái nhìn cụ thể hơn về tình hình hoạt động của đơn vị, từ đó đánh giá được chính xác tình hình hoạt động của đơn vị mình, xác định và phát huy những mặt mạnh của đơn vị đồng thời xem xét và khắc phục những mặt còn yếu kém
Trang 12Ở tầm quốc gia, tổ chức thống kê nhà nước có chức năng và nhiệm vụ phản ánh toán bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội thông qua hệ thống báo cáo việc theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá các nhân tố cấu thành tổng thể đó một cách liên tục, khoa học và khách quan Tuy vậy, thống kê không chỉ đơn thuần mô
tả hoặc chụp ảnh một cách đơn giản, cũng không thể đi sâu tính toán tất cả những gì nằm trong góc độ quan sát của nó mà không có sự lựa chọn nào, trái lại, thống kê lựa chọn những thực tế đặc trưng, điển hình và quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất xã hội Hay nói cụ thể hơn là thống kê lựa chọn ra một hệ thống các chỉ tiêu thống kê ở tầm quốc gia và đi kèm theo đó là những quy định về tên gọi, phạm vi, phương pháp tính, kể cả quy định thống nhất biểu mẫu báo cáo, phân công đơn vị tự chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp báo cáo các chỉ tiêu thống kê
1 Khái niệm Báo cáo thống kê
Báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp
a Chế độ báo cáo thống kê cơ sở
Chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm các quy định về đối tượng thực hiện, phạm vi, nội dung báo cáo, kỳ hạn, thời hạn thực hiện, nơi nhận báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thu thập thông tin thống kê từ các chứng từ,
sổ ghi chép số liệu ban đầu [15] Điều 17 - Luật số 04/2003/QH11 của Quốc hội: LUẬT THỐNG KÊ
b Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp
Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp bao gồm các quy định về đối tượng thực hiện, phạm vi, nội dung báo cáo, kỳ hạn, thời hạn thực hiện, nơi nhận báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để tổng hợp thông tin thống kê
từ các báo cáo thống kê cơ sở, báo cáo tài chính, kết quả các cuộc điều tra thống
kê và các nguồn thông tin khác [15] Điều 20 uật số 04/2003/QH11 của Quốc hội: LUẬT THỐNG KÊ
Trang 13Trong hệ thống báo cáo thống kê kinh tế - xã hội có nhiều loại hệ thống báo cáo thống kê: hệ thống báo cáo thống kê của từng ngành, từng lĩnh vực và
hệ thống báo cáo thống kê của từng cơ sở, hệ thống báo cáo tổng hợp toàn quốc
gia hoặc chung cho nhiều lĩnh vực vv Như vậy, ta có thể thấy rằng hệ thống báo cáo thống kê bao gồm: Hệ thống báo cáo thống kê tổng hợp và hệ thống báo cáo
thống kê cơ sở, Tùy từng hình thức phân loại mà ta có thể phân loại hệ thống báo cáo thống kê như sau:
2 Phân loại hệ thống báo cáo thống kê
+ Phân loại theo địa phương vùng lãnh thổ có thể chia thành; Hệ thống báo
cáo thống kê cấp quốc gia, hệ thống báo cáo thống kê cấp Tỉnh Thành phố, hệ thống báo cáo thống kê cấp Quận - Huyện, Hệ thống báo cáo thống kê cấp Phường Xã
+ Phân loại theo cấp quản lý thì có thể chia thành; hệ thống báo cáo thống kê
của Tổng cục Thống kê - Bộ KH& Đầu tư, Hệ thống báo báo thống kê cấp Bộ, Hệ thống báo cáo thống kê các doanh nghiệp thuộc Bộ vv
+ Phân loại theo lĩnh vực hoạt động thì có thể chia thành; Thống kê của
ngành Công nghiệp, Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp, Thương mại, Dịch vụ vv
+ Phân loại theo nội dung phản ánh, có chỉ tiêu khối lượng và chỉ tiêu chất lượng:
- Báo cáo thực hiện kế hoạch sản lượng phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu
- Báo cáo thực hiện kế hoạch chất lượng phản ánh các đặc điểm về mặt chất của hiện tượng nghiên cứu
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hai loại báo cáo trên đây chỉ có ý nghĩa tương đối
+ Phân loại theo hình thức biểu hiện, có báo cáo về chỉ tiêu hiện vật và báo cáo
về giá trị:
- Báo cáo thực hiện chỉ tiêu hiện vật biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên Ví dụ:
số lượng máy móc tính bằng cái, sản lượng lương thực tính bằng tấn, hoặc đơn vị
đo lường quy ước như: vải tính bằng mét, nước mắm tính bằng lít,v.v
- Báo cáo thực hiện chỉ tiêu giá trị biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ Đồng Việt Nam, ngoài ra còn được tính bằng ngoại tệ như Đô la Mỹ, Euro, Ví dụ: giá trị sản
Trang 14xuất công nghiệp, báo cáo doanh thu tiêu thụ sản phẩm được tính bằng Đồng Việt Nam (nghìn đồng, triệu đồng, ); kim ngạch xuất, nhập khẩu được tính bằng đôla
Mỹ (USD)
+ Phân loại theo đặc điểm về thời gian, có báo cáo thời điểm và báo cáo thời kỳ:
- Báo cáo thời điểm phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm Vì vậy, quy mô của hiện tượng nghiên cứu không phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu
- Báo cáo thời kỳ phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu trong một thời
kỳ nhất định Vì vậy, quy mô của hiện tượng nghiên cứu phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu
Tóm lại, tùy từng lĩnh vực hoặc cấp quản lý người ta có thể chia thành nhiều
hệ thống báo cáo thống kê Mỗi nhóm báo cáo thống kê bao gồm các báo biểu báo cáo thống kê cụ thể Các báo cáo thống kê được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thông tin cho hoạt động quản lý Nhà nước của các cấp, của doanh nghiệp, các tổ chức
Mỗi loại báo cáo thống kê đều nhằm mục đính là cung cấp thông tin cho từng cấp ngành sử dụng nhất định gắn với không gian thời gian với một hoặc nhiều đơn vị đo lường và nhiều phương pháp tính cụ thể Ví dụ: Báo cáo hoạt động xuất nhập khẩu của của một đơn vị kinh tế năm 2012 trong đó có rất nhiều chỉ tiêu như: Máy móc thiết bị, nguyên liệu vật liệu, hàng hóa tiêu dùng cụ thể như máy gặt đập liên hợp chuyên dùng nhập khẩu đạt số lượng 50 cái giá trị nhập khẩu đạt 2,2 triệu USD tăng về số lượng 20,% về giá trị 30,0% so với cùng kỳ năm 2011; báo cáo sản lượng than nguyên khai khai thác năm 2012 của Tập đoàn TKV là 44,332 triệu tấn tăng 115% so với năm 2011, Đất đá bóc năm 2012 thực hiện 230,0 triệu m3 so với cùng kỳ đạt 96,2%
Hệ thống báo cáo thống kê đóng một vai trò hết sức quan trọng
1.1.1.2 Vai trò quan trọng của hệ thống các báo cáo thống kê
Hệ thống báo cáo thống kê được xây dựng và ban hành thực hiện có vai trò hết sức to lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hội nhập nền kinh tế quốc tế
Trang 15Một số báo cáo thống kê trong hệ thống như: báo cáo số liệu về dân số, mật
độ dân số, nguồn lao động, tỷ lệ thất nghiệp phục vụ cơ quan của Quốc hội và trả lời chất vấn của một số đại biểu Quốc Hội Báo cáo số liệu về dân tộc phục vụ Đại hội các dân tộc ít người, danh sách các cụ thọ 100 tuổi trở lên phục vụ Chủ tịch nước tặng quà và nhiều số liệu khác trong hệ thống báo cáo thống kê phục vụ các chuyến công tác nước ngoài và quốc tế của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ngoài ra một số báo cáo thống kê kết quả sản xuất của doanh nghiệp phục vụ cho quản lý doanh nghiệp như: báo cáo số liệu về khối lượng sản phẩm hiện vật hay quy chuẩn, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu, lợi nhuận kinh doanh, giá trị sản xuất theo thực tế hay giá cố định từng thời kỳ, giá trị tăng thêm
Khi nền kinh tế phát triển nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ, cả chiều rộng lẫn chiều sâu thì vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải năng động và sáng tạo hơn, sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả nhất, tạo khả năng chiếm lĩnh thị trường để đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển bền vững Do đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến diễn biến của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả đạt được Vì vậy, nắm bắt đầy đủ, chính xác kịp thời mọi diễn biến của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng, là vấn đề không thể thiếu được trong mỗi doanh nghiệp
1.1.2 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống báo cáo thống kê
Trong nền kinh tế như hiện nay, khi tiến hành phân tích thống kê hiệu quả sản xuất kinh doanh của một đơn vị cơ sở thì hệ thống chỉ tiêu báo cáo thống kê đã
có nhiều sự thay đổi nhưng hệ thống báo cáo được xây dựng mới vẫn phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
1.1.2.1 Đảm bảo tính hướng đích
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng hệ thống báo cáo cần phù hợp với mục đích nghiên cứu và đảm bảo nghiên cứu được mục đích một cách hiệu quả nhất Mỗi phương pháp thống kê có thể đáp ứng nhiều mục đích phân tích, nhiều đối tượng tuy nhiên không có phương pháp thống kê đáp ứng cho mọi mục đích phân tích và mọi đối tượng Mặt khác ví mục đích nghiên cứu quyết định nhu cầu thông tin về những mặt nào đó của hiện tượng nghiên cứu, do vậy tuỳ theo đối tượng và
Trang 16mục đích nghiên cứu mà sử dụng phương pháp phân tích thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả phân tích
1.1.2.2 Đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc này đòi hỏi các báo cáo trong hệ thống phải có mối liên hệ và bổ sung cho nhau, được phân tổ và sắp xếp khoa học Hệ thống báo cáo phải có khái niệm nêu được mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt, giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan tới mục đích nghiên cứu Trong hệ thống báo cáo phải có các báo cáo mang tính chất chung, các báo cáo mang tính chất bộ phận và các báo cáo nhân tố nhằm phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc hiện tượng nghiên cứu Tất cả các báo cáo đều phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung và phương pháp tính, phạm vi nghiên cứu
Trong hệ thống các báo cáo đánh giá kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải được quy định một cách thống nhất, có hướng dẫn cho các doanh nghiệp
và phương pháp tính toán phải đảm bảo những yêu cầu sau: Nội dung tính toán phải thống nhất từ chi tiết đến tổng hợp, phạm vi tính toán phải được quy định rõ ràng,
có phạm vi thời gian và không gian, đơn vị tính toán phải thống nhất, phương pháp tính toán cũng phải thống nhất
Các báo cáo trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, được phân tách và sắp xếp một cách khoa học Điều này liên quan đến việc chuẩn hoá thông tin Hệ thống báo cáo phải bao gồm các báo cáo chủ yếu và thứ yếu, các báo cáo tổng hợp và các báo cáo bộ phận phản ánh từng mặt của bộ phận sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các báo cáo kết quả, các báo cáo chi phí, các báo cáo hiệu quả
Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng khi muốn xây dựng hệ thống báo cáo nói chung
1.1.2.3 Đảm bảo tính khả thi
Hệ thống báo cáo báo cáo thống kê phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện và khả năng của cán bộ phân tích, phù hợp với nguồn số liệu Hệ thống báo cáo nghiên cứu được hình thành phải là hệ thống cho phép giải quyết tốt các mâu thuẫn giữa nguồn cung cấp thông tin và khả năng về mọi mặt để thu thập và
Trang 17tính toán một cách chính xác các báo cáo đã nêu ra Hệ thống báo cáo phải đảm bảo tính đơn giản, không nên quá phức tạp Nghĩa là hệ thống đó phải phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta, phù hợp với hoạt động của từng ngành kinh tế cụ thể Bên cạnh đó hệ thống phải phù hợp với lý luận thống kê, phương pháp thống kê, phương pháp tính v.v
1.1.2.4 Đảm bảo tính hiệu quả
Hệ thống báo cáo được xây dựng phải phù hợp với mục đích nghiên cứu, phải cung cấp những thông tin có gía trị với chi phí ít nhất đồng thời hệ thống báo cáo xây dựng phải có tính ổn định cao và linh hoạt Phải cân nhắc thật kỹ để xác định những báo cáo cơ bản quan trọng nhất Số báo cáo vừa đủ, không nên đưa vào
hệ thống các báo cáo thừa và chưa thật cần thiết Khi ta tuân theo các nguyên tắc trên thì chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống báo cáo đầy đủ, chính xác và có hiệu quả
1.1.2.5 Đảm bảo tính thích nghi
Hệ thống báo cáo thống kê phải phù hợp với thời gian và không gian của vấn
đề nghiên cứu, cần loại bỏ những báo cáo không phù hợp và thêm vào những báo
cáo thực sự cần thiết đối với vấn đề nghiên cứu
1.2 Phương pháp xây dựng hệ thống báo cáo thống kê doanh nghiệp
Để xây dựng hệ thống báo cáo báo cáo thống kê ở doanh nghiệp SXKD than đáp ứng đầy đủ thông tin và mang tính toàn diện cần phải tuần thủ các nguyên tắc xây dựng như đã trình bày ở trên Các báo cáo báo cáo nêu ra cho từng hoạt động SXKD cần phải phản ánh toàn diện các mặt của hoạt động đó
1.2.1 Yêu cầu của hệ thống báo cáo thống kê khi xây dựng:
- Đầy đủ: Phải bao quát được mọi lĩnh vực quan trọng nhất của hiện tượng kinh tế xã hội Xét đến mối quan hệ xã hội với các hiện tượng kinh tế và ngược lại
- Hệ thống báo cáo phải có khả năng nêu được mối liên hệ giữa các bộ phân, các mặt giữa hiện tượng nghiên cứu với hiện tượng có liên quan
- Hệ thống báo cáo phải có các báo cáo mang tính chất chung, các báo cáo mang tính chất chi tiết bộ phận và các báo cáo nhân tố nhằm phản ánh tổng thể vấn
đề ta nghiên cứu
Trang 18- Đảm bảo thống nhất về nội dung phương pháp và phạm vi tính toán của các báo cáo cùng loại
1.2.2 Căn cứ để xây dựng
Sử dụng phương pháp luận trong thống kê để làm căn cứ xây dựng hệ thống báo cáo đầy đủ nhất, căn cứ vào các mức độ của hiện tượng kinh tế-xã hội sử dụng các phương pháp thống kê: phương pháp phân tổ, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích tương quan, phương pháp chỉ số, phương pháp phân tích dãy
số thời gian, phương pháp cân đối
Căn cứ vào yêu cầu, khả năng thống kê tuỳ thuộc vào trình độ quản lý, góc
độ thống kê để đưa ra các báo cáo trong hệ thống
1.2.3 Tổ chức thực hiện
Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các nhóm các chỉ tiêu báo cáo áp dụng cho từng lĩnh vực hoạt động
Trình các cấp có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn thực hiện
1.3 Kinh nghiệm về XD hệ thống báo cáo thống kê ở một số ngành
1.3.1 Một số hệ thống báo cáo thống kê đã được ban hành và áp dụng tại một số ngành kinh tế nước ta
1.3.1.1 Công tác thống kê công nghiệp và hệ thống báo cáo thống kê trong doanh nghiệp công nghiệp
1 Công tác thống kê công nghiệp
Doanh nghiệp công nghiệp là đơn vị cơ sở thực hiện một hay một số chức năng: Khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến sản phẩm, khai thác (nông, lâm, hải sản) và hoạt động phục vụ có tính chất công nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm công nghiệp để cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùngcủa xã hội Doanh nghiệp công nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân thuộc ngành sản xuất vật chất đa dạng và năng động, góp phần làm tăng tổng cung đáp ứng tổng cầu của toàn xã hội
Công tác thống kê doanh nghiệp nghiên cứu toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin phục vụ cho quản lý doanh nghiệp
Trang 19Thống kê công nghiệp nghiên cứu các mặt hoạt động công nghiệp trong trạng thái động; xem xét trong mối quan hệ biện chứng, quan hệ nhân quả; đánh giá đúng, khách quan bản chất của hiện tượng, do vậy phải sử dụng các đơn vị đo lường phù hợp, xây dựng các phương pháp koa học, các công thức tónh toán mang tính hệ thống, lôgíc
Thông tin thống kê có vai trò lớn trong công tác quản lý doanh nghiệp công nghiệp: Xác định phương hướng sản xuất, kinh doanh; phản ánh tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;đảm bảo lợi thế cạnh tranh trong xu hướng toàn cầu hoá
Thống kê công nghiệp trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ sau:
+ Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ ghi chép ban đầu phục vụ cho việc tổng hợp thông tin nội bộ Đồng thời tổ chức điều tra thống kê thu thập các thông tin bên ngoài liên quan đến đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp
+ Tổng hợp đầy đủ các thông tin, tính toán số liệu chung theo hệ thống chỉ tiêu đã xây dựng cho doanh nghiệp công nghiệp về tất cả các mặt hoạt động, sản xuất, kinh doanh, phản ánh tình hình cung cấp, kết hợp sử dụng các yếu tố đầu vào
và tình hình giải quyết các kết quả đầu ra Tổ chức điều tra và lập báo cáo thống kê tổng hợp định kỳ của doanh nghiệp
+ Lưu trữ thông tin, nộp báo cáo thống kê định kỳ cho các cơ quan quản lý Nhà nước và cung cấp số liệu cho các đối tượng khác khi cần thiết
+ Sử dụng các loại thông tin thống kê, kế toán và kế hoạch để phân tích từng mặt hoặc toàn bộ các mặt hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thành tựu và những yếu kém, tìm ra nguyên nhân tác động tích cực và tiêu cực, phát hiện khả năng tiềm tàng, tạo cơ sở cho việc lựa chọn giải pháp củng cố và phát triển sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao
+ Tham gia dự báo những tình huống quan trọng liên quan đến đầu vào và đầu ra sẽ diễn biến trước mắt Cung cấp những thông tin cần thiết cho việc lập kế hoạch sản xuất và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 20+ Phối hợp vận dụng tốt các phương pháp khoa học, sử dụng có hiệu quả phương tiện kỹ thuật tính toán và thông tin hiện đại, tích cực tham gia vào công tác nối mạng nội bộ và quốc tế
Hoạt động của thống kê của doanh nghiệp công nghiệp có 8 nội dung:
1) Thống kê kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh
2) Thống kê hiệu quả sản xuất, kinh doanh
3) Thống kê giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
4) Thống kê lao động
5) Thống kê tài sản cố định và đầu tư dài hạn
6) Thống kê tiến bộ kỹ thuật trong doanh ngiệp CN
7) Thống kê tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn của DNCN
8) Thống kê kết quả hoạt động tài chính của DNCN
2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê trong doanh nghiệp công nghiệp
+ Hệ thống báo cáo thống kê ban hành kèm theo Thông tư số
04/2011/TT-BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm 2011 quy định hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê
cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài;
Trang 21Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
1 Báo cáo hoạt động
trú, du lịch
4 Báo cáo hoạt động vận
tải, kho bãi
6 Báo cáo hoạt động
xuất khẩu hàng hóa
hàng hóa
Trang 22Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
chuyển phát, viễn thông
9 Báo cáo vốn đầu tư
thực hiện
tư
10 Báo cáo hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài
nước ngoài Báo cáo quý
1 Báo cáo vốn đầu tư
thực hiện
quý sau quý báo cáo
tư
2 Báo cáo hoạt động xây
dựng
quý sau quý báo cáo
Trang 23Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
- Ngày 12/6
- Ngày 12/11
nước, doanh nghiệp, dự án
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Báo cáo năm
1 Báo cáo hoạt động sản
xuất kinh doanh
nước, doanh nghiệp, dự án
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2 Báo cáo hoạt động sản
xuất công nghiệp
công nghiệp
3 Báo cáo hoạt động xây
dựng
4 Báo cáo hoạt động
thương mại
sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và
Trang 24Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
6 Báo cáo hoạt động
vận tải, kho bãi
10 Báo cáo hoạt động
dịch vụ công nghệ thông
tin
dịch vụ công nghệ thông tin
11 Báo cáo thực hiện
góp vốn điều lệ
tư trực tiếp nước ngoài
Trang 25Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
Có hoạt động lâm nghiệp
15 Báo cáo nuôi trồng
x
Có hoạt động nuôi trồng thủy sản
16 Báo cáo khai thác
Trang 26Tên biểu Ký hiệu biểu Kỳ
báo cáo
Ngày nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo
Phạm vi áp dụng Cục TK
Sở KH &ĐT Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCN cao
động thu gom và xử lý
rác thải
xử lý rác thải
18 Báo cáo hoạt động
xuất khẩu hàng hóa
về dịch vụ cho nước
ngoài
Có hoạt động chi về dịch
vụ cho nước ngoài
22 Báo cáo công trình,
hạng mục công trình thực
hiện trong năm
Có hoạt động xây dựng
Trang 27+ Hệ thống báo cáo thống kê ban hành kèm theo Thông tư số BCT ngày 14/10/2011 quy định “Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ Công Thương”;
38/2011/TT-Danh mục Biểu mẫu báo cáo
1 Danh mục biểu mẫu báo cáo:
a Báo cáo tháng: 1 biểu mẫu
b Báo cáo 6 tháng: 4 biểu mẫu
c Báo cáo năm: 6 biểu mẫu
d Báo cáo chính thức năm: 1 biểu mẫu
2 Biểu mẫu báo cáo:
a Biểu số 01/BCT: Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng
b Biểu số 02a/BCT: Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh 6 tháng
c Biểu số 02b/BCT: Báo cáo thực hiện các dự án đầu tư 6 tháng, năm
d Biểu số 02c/BCT: Báo cáo thực hiện giải ngân các DA đầu tư 6 tháng, năm
đ Biểu số 02d/BCT: Báo cáo lao động và thu nhập 6 tháng, năm
e Biểu số 03a/BCT: Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh năm
g Biểu số 03b/BCT: Báo cáo năng lực mới tăng của sản phẩm CN năm
h Biểu số 03c/BCT: Báo cáo cân đối một số sản phẩm công nghiệp năm
i Biểu số 04/BCT: Báo cáo chính thức thực hiện kế hoạch SX kinh doanh năm
Hệ thống báo cáo này được xây dựng Căn cứ Thông tư số BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm 2011, Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02 tháng
04/2011/TT-6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; và Căn cứ Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10 tháng 01 năm 2011 quy định nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã;
1.3.1.2 Thực trạng việc tổng hợp và sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê công nghiệp thời gian qua
Cùng với lịch sử 60 năm xây dựng và phát triển ngành Thống kê Việt Nam, Thống kê Công nghiệp một trong những chuyên ngành lớn được quan tâm và chú ý
Trang 28cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đạt được những bước tiến vững chắc Có thể nói ngay từ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đến thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp và ngày nay là nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, Thống kê Công nghiệp luôn có những đổi mới thích ứng kịp thời với đòi hỏi của mỗi thời kỳ
Những năm 1946-1954 mặc dù hoạt động thống kê cô cùng khó khăn, nhưng Thống kê Công nghiệp đã cung câp được những thông tin cề sản xuất hàng tháng của xi nghiệp công nghiệp Nhà nước trong vùng căn cứ địa cách mạng và sản xuất tiểu thủ công nghiệp của toàn dân
Thời kỳ 1955-1985: Đây là thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, đòi hỏi lượng thông tin vô cùng lớn, vừa phục vụ cho quản lý vi mô lẫn cả vĩ mô, Thống kê công nghiệp là một trong những chuyên ngành có chế độ báo cáo và điều tra khá hoàn chỉnh, mà đỉnh cao của sự hoàn chỉnh đó là chế độ báo cáo định kỳ cho các doanh nghiệp Nhà nước được ban hành theo Quyết định số 233-CP ngày 01/12/1970 của Hội đồng Chính phủ gồm 62 chỉ tiêu kinh tế cơ sở, được thu thập từ
39 biểu báo cáo hàng tháng, quý, năm khác nhau Với khối lượng thông tin khá lớn
và nặng nề, nhưng lại là phù hợp của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp của Nhà nước ta thời kỳ đó và đã được thực hiện một cách thuận lợi, đáp ứng đầy
đủ, kịp thời cho mục tiêu quản lý Nhà nước
Thời kỳ 1986 đến nay: Là thời kỳ đổi mới kinh tế toàn diện Khi cơ chế quản
lý kinh tế của Đảng và Nhà nước bắt đầu có thay đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung báo cấp sang nền kinh tế thị trường chủ động hội nhập quốc tế, thì Thống
kê công nghiệp đã từng được đổi mới về hệ thống chỉ tiêu, biểu mấu báo cáo và phương pháp luận tổng hợp Có thể nói tổng quát đổi mới của Thống kê công nghiệp diễn ra qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có mục tiêu và trọng tâm riêng
Giai đoạn từ 1986 đến 1994: Với mục tiêu đổi mới hệ thống báo cáo, hệ thống chỉ tiêu thống kê cơ sở nhằm đáp ứng thông tin tổng hợp phục vụ cho quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước Trọng tâm của đổi mới hệ thống chỉ tiêu là từng bước loại bỏ toàn bộ các chỉ tiêu phục vụ quản lý vi mô của cơ sở, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phục vụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời hoàn thiện hệ thống báo
Trang 29cáo thống kê từ cấp cơ sở Kết quả là từng bước giảm hệ thống báo cáo thống kê Công nghiệp cơ sở từ 62 chỉ tiêu với 39 biểu mẫu báo cáo theo Quyết định 233-CP năm 1970, đến năm 1986 còn 38 chỉ tiêu với 21 biểu mẫu báo cáo (Quyết định số 13-TCKT/PPCĐ ngày 13/1/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê) và năm
1994 còn 28 chỉ tiêu với 4 mẫu biểu báo cao (Quyết định số 147-TCKT/PPCĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê), đó là hệ thống chỉ tiêu báo cáo tương đối phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường của Nhà nước
Giai đoạn từ 1995-2000: Với mục tiêu đổi mới hệ thống báo cáo, phương pháp tính toán và tổ chức thu thập thông tin, trọng tâm là đổi mới hệ thống báo cáo, chú trọng phương pháp tính các chỉ tiêu theo phương pháp luận của hệ thống tài khoản quốc gia và cải tiến cách thu thập thông tin từ cơ sở sao cho phù hợp với tổ chức sản xuất kinh doanh của cơ chế thị trường
Giai đoạn từ sau năm 2000 đến nay: Mục tiêu là tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo và phương pháp tính các chỉ tiêu, nhưng trọng tâm là tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ của Thống kê Công nghiệp quốc tế
Những chuẩn mực và thông lệ Thống kê Công nghiệp quốc tế là:
+ Hệ thống báo cáo các chỉ tiêu thống kê thu thập từ cơ sở chỉ nhằm mục đích tính toán các chỉ tiêu thống kê phục vụ cho quản lý vĩ mô của Nhà nước và các nhà đầu tư, nghiên cứu Số liệu thường được tiếp cận trực tiếp từ kế toán các cơ sở sản xuất gắn với sở hữu của cơ sở Nguyên tắc tính toán là toàn bộ đầu vào của kết quả đó là chi phí sản xuất
+ Vì sản phẩm đầu ra của công nghiệp rất đa dạng phong phú về mặt hàng và lại thay đổi rất nhanh về chất lượng, kiểu dáng nên xây dựng hệ thống báo cáo thống kê khối lượng sản phẩm, mặt hàng là rất quan trọng và dùng đó để đánh giá nhanh các chỉ số sản xuất, tiêu thụ, tồn kho của ngành Công nghiệp
+ Ngoài các báo cáo về khối lượng sản phẩm đánh giá quy mô và tăng trưởng của sản xuất, thì báo cáo về chỉ tiêu giá trị tăng thêm mới là tiêu chí đánh giá quy mô, hiệu quả, tăng trưởng tổng hợp nhất của ngành Công nghiệp
Trong những năm gần đây và đến năm 2012, Thống kê Công nghiệp nước ta
đã và đang đổi mới toàn diện theo những chuẩn mực và thông lệ đó Tất nhiên mục
Trang 30tiêu và công việc của giai đoạn 3 là khó khăn nhất, vì nó đòi hỏi phải thay đổi cả về
tư duy và tập quán sử dụng thông tin không chỉ của người dùng tin và cả người sản xuất ra thông tin thống kê Mặt khác vì phải tiếp cận với những phương pháp luận mới, trong khi đông đảo đội ngũ cán bộ lại qua quen vơi tư duy cũ, phương pháp cũ nên khi vào đổi mới không tránh khỏi bất cập về trình độ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là đội ngũ cán bộ địa phương và cơ sở Một vấn đề phải nói là rất riêng có của Việt Nam đó là mô hình quản lý kinh tế khá toàn diện của các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố, quận huyện), đòi hỏi thông tin thống kê không chỉ phục vu cho yêu cầu của Trung ương mà phải phục vụ toàn diện cho từng cấp chính quyền địa phương; yêu cầu đó chi phối trực tiếp đến phương pháp luận theo chuẩn mực quốc tế khi áp dụng vào thực tiễn nước ta
Trong những năm tới, Thống kê Công nghiệp vẫn phải tiếp tục mục tiêu tiếp cận với các chuẩn mực Thống kê Công nghiệp quốc tế, mà trọng tâm là những việc sau đây:
- Khẩn trương thay thế phương pháp Thống kê Công nghiệp hàng tháng không phù hợp hiện nay, bằng một phương pháp mới có tính khoa học và phù hợp với các chuẩn mực Thống kê CN quốc tế
- Phương pháp thống kê CN hàng tháng hiện nay được hình thành trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và đã tồn tại gần 50 năm, phương pháp này hoàn toàn thích ứng với cơ chế quản lý cũ, nhưng khi nền kinh tế đã chuyền từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang “nền kinh tế thị trường” và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta, thì phương pháp Thống kê Công nghiệp hàng tháng chủ yếu là báo cáo về giá trị sản xuất (GTSX) tính theo giá cố định ngày càng bộc lộ những nhược điểm hạn chế khiến không thể tiếp tục duy trì trong lĩnh vực thống kê hiện nay, đó là:
* Chỉ tiêu thông tin hàng tháng theo phương pháp cũ, chỉ cung cấp được tốc
độ phát triển, một số sản phẩm chủ yếu ở dạng tổng hợp chung; trong khi yêu cầu thông tin của nền kinh tế thị trường đòi hỏi ngoài tăng trưởng phải đánh giá được tình hình tiêu thụ, tồn kho của sản xuất, không chỉ ở dạng tổng hợp chung mà phải
Trang 31chi tiết đến từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm Thông tin không chỉ phục vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước mà phải đáp ứng yêu cầu của các nhà nghiên cứu, các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế mà còn chính bản thân các doanh nghiệp sử dụng phân tích đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mình để điều hành quản lý hoạt động của doanh nghiệp
* Phương pháp tính các chỉ tiêu phát triển Công nghịêp hàng tháng không còn thích hợp với nền kinh tế thị trường Tính chỉ số phát triển Công nghiệp hàng tháng hiện nay bằng chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp (GTSX CN) tính theo giá
cố định 1994, đến năm 2010 bãi bỏ giá cố định năm 1994 và chỉ tiêu GTSX CN được tính theo giá thực tế, đến năm 2013 lại tính GTSX CN theo giá cố định năm
2010 Nhưng trong thực tế các điều kiện đảm báo cho tính giá trị sản xuất theo giá
cố định đều hết sức khó khăn không chính sác, thiếu tính hệ thống và khả thi vì:
Thứ nhất, mặt hàng sản xuất công nghiệp rất đa dạng, phong phú, lại luôn
thay đổi về chất lượng, kiểu dáng, nên không thể thống kê được đầy đủ tất cả các mặt hàng để nhân với đơn giá cố định ra giá trị sản xuất tính theo giá cố định
Thứ hai, giá cố định là mặt hàng sản phẩm tại 1 năm cố định, nhưng sản
phẩm công nghiệp lại luôn biến động, không có khái niệm cố định, nền bảng giá cố định không bao giờ đáp ứng đầy đủ giá cho tất cả các mặt hàng
Thứ ba, phương pháp tính giá trị sản xuất theo gia cố định phải được tính từ
cơ sở sản xuất, cấp trên cơ sở chỉ có thể tổng hợp từ các cơ sở cộng lên Trong thực
tế đa phần các cơ sở không tính được, nhất là các cơ sở ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Vì những lý do trên buộc phải tìm các giái pháp tính gián tiếp từ giá trị sản xuất theo giá thực tế, hoặc doanh thu quy đổi về giá cố định Với cách tính này khiến cho các cấp tổng hợp không còn khả nắng kiểm soát được số liệu có tính đúng mặt bằng bảng giá cố định không
* Phương pháp Thống kê Công nghiệp hàng tháng hiện nay không đảm bảo tính so sánh quốc tế Phương pháp tính chỉ số sản xuất công nghiệp (SXCN) của nước ta bằng chỉ tiêu giá trị sản xuất tính theo giá cố định, trong khi tất cả các nước
Trang 32đều không tính như vậy mà họ tính theo chỉ số khối lượng sản phẩm hoặc bằng giá trị tăng thêm theo giá so sánh, bởi vậy chỉ số SXCN hàng tháng không có ý nghĩa so sánh quốc tế
Chính vì những nhược điểm hạn chế của phương pháp Thống kê Công nghiệp hàng tháng như trên, đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải loại bỏ bảng giá cố định, thay thế bằng phương pháp mới phù hợp với nền kinh tế thị trường và theo chuẩn mực Thống kê Công nghiệp quốc tế, đó cũng là yêu cầu mang tính tất yếu khách quan cần được nghiên cứu hoàn thiện thêm
Phương pháp mới dự định thay thế phương pháp cũ hiện nay là hàng tháng
áp dụng chỉ số khối lượng sản phẩm phản ánh tốc độ tăng trưởng, chỉ số tiêu thụ phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, chỉ số tồn kho phản ánh tồn kho sản phẩm của sản xuất Hàng năm dùng chỉ tiêu giá trị tăng thêm so sánh để đánh giá tăng trưởng của sản xuất theo số chính thức năm Để tính được theo phương pháp mới (phương pháp MSMIP) là điều tra hàng tháng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu và năm phải tính được giá trị tăng thêm theo giá so sánh Tổng Cục Thống kê đã thử nghiệm phương pháp MSMIP và tính chỉ số SXCN tại 25 tỉnh thành trực thuộc TW
và ra quyết định số 1288/QĐ-TCTK ngày 21/11/2006 thông qua việc điều tra và phổ biến thông tin thống kê công nghiệp hàng tháng theo phương pháp mới từ tháng 1/2007 Kể từ báo cáo tháng 7/2007, Tổng Cục Thống kê chính thức công bố thông tin thống kê công nghiệp hàng tháng theo phương pháp điều tra mới, công bố theo tháng các chỉ số SXCN, chỉ số sản xuất các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, khối lượng sản phẩm công nghiệp chủ yếu Chỉ số tiêu thụ và chỉ số tồn kho sản phẩm công nghiệp công bố theo quý từ năm 2008 Theo lộ trình, từ năm 2011 trở đi, Tổng cục Thống kê sẽ công bố đầy đủ hệ thống chỉ tiêu số và khối lượng sản phẩm công nghiệp, chấm dứt hoàn toàn việc công bố chỉ tiêu chỉ số phát triển giá trị sản xuất theo giá cố định
* Các nhóm hệ thống báo cáo thống kê do Bộ Công thương ban hành như: Nhóm hệ thống báo cáo thống kê tình hình thực hiện các hoạt động khuyến công; nhóm báo cáo chỉ tiêu thống kê hoạt động các khu, cụm điểm công nghiệp;
Trang 33nhóm báo cáo chỉ tiêu thống kê tình hình hoạt động các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa nông thôn; nhóm báo cáo chỉ tiêu thống kê thực hiện khai thác, chế biến
và xuất khẩu khoáng sản; nhóm báo cáo chỉ tiêu thống kê về kỹ thuật an toàn công nghiệp; nhóm báo cáo chỉ tiêu thống kê môi trường công nghiệp,
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu quản lý, các Tập đoàn, Tổng công ty, công ty thuộc Bộ tự xây dựng các hệ thống báo cáo thống kê phù hợp với ngành nghề và lĩnh vực của mình để phục vụ công tác quản lý báo cáo cơ quan cấp trên, ví dụ như: Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam: Hệ thống báo cáo thống kê các chỉ tiêu nghiệm thu khối lượng mỏ; quản lý kỹ thuật mỏ, sàng tuyển chế biến tài nguyên, môi trường, quản lý cơ khí, cơ điện, sáng kiến, an toàn lao động và sự cố trong sản xuất, quản lý vật tư cho sản xuất, tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, xã hội, thống kê một số các hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài than như khoáng sản, cơ khí, điện, hoá chất, du lịch dịch vụ Tập đoàn Điện lực: Hệ thống báo cáo thống kê các chỉ tiêu điện tiêu thụ (điện thương phẩm) theo ngành; giá bán điện bình quân; tổn thất điện năng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam: Hệ thống báo cáo thống kê các chỉ tiêu sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô; gia tăng trữ lượng dầu khí; trữ lượng dầu khí tại chỗ; trữ lượng dầu khí có thể thu hồi; số lượng giếng khoan thăm dò/ thẩm lượng; số lượng mỏ/giếng phát hiện dầu khí mới; thu nổ địa chấn 2D,3D
1.3.1.3 Hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê công nghiệp
Hệ thống báo cáo thống kê hiện nay tuy đã được đổi mới phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhưng còn thiếu một số lĩnh vực rất quan trọng về các lĩnh vực khoa học công nghệ, xử lý chất thải bảo vệ môi trường, năng lực cạnh tranh, môi trường đầu tư
Tiếp tục đổi mới hệ thống báo cáo thống kê doanh nghiệp theo thông lệ quốc
tế, tập trung vào những doanh nghiệp lớn Cải tiến phương pháp điều tra, nội dung
và hệ thống chỉ tiêu đề ra, hoàn thiện cơ sở dữ liệu gốc nhằm cung cấp rộng rãi cho các đối tượng dùng tin khai thác, tính toán các chỉ tiêu theo yêu cầu riêng của mỗi đối tượng
Trang 34Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các khâu công tác thống kê công nghiệp như: kiểm tra số liệu báo cáo, triết suất, truyền qua mạng, tổng hợp, lưu giữ, phổ biến thông tin tổng hợp và thông tin gốc qua cơ sở dữ liệu được xây dựng và cập nhật thường xuyên
Tất cả những định hướng nêu trên đều nhằm mục tiêu hiện đại hoá ngành thống kê chung và thống kê công nghiệp nói riêng đến năm 2015 tầm nhìn 2020 Đồng thời đảm bảo cho ngành thống kê công nghiệp nước ta cơ bản tiếp cận được phương pháp luận thống kê công nghiệp quốc tế
1.3.2 Đánh giá thực trạng việc áp dụng các hệ thống báo cáo thống kê ở nước ta hiện nay
1.3.2.1 Hệ thống báo cáo các chỉ tiêu quốc gia- những yếu tố cần được điều chỉnh ban hành mới
Luật Thống kê đã được Quốc hội Việt Nam thông qua tại kỳ hợp thứ 3 ngày 17/6/2003 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố có hiệu lực từ ngày 1/1/2004
Bên cạnh đó, Chính phủ đã có nghị định 40/2004/NĐ-CP ngày 13/2/2004 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê Đây là những văn bản pháp lý cao nhất về lĩnh vực thống kê, điều chỉnh toàn bộ hoạt động thống
kê Nhà nước, có liên quan đến mọi tổ chức, các nhân cung cấp và sử dụng thông tin thống kê, tổ chức thống kê và người làm công tác thống kê Tuy nhiên, từ những cơ
sở pháp lý kể trên, làm thế nào để công tác thống kê có thể phản ánh được sát thực
và sinh động tình hình kinh tế- xã hội, đáp ứng được yêu cầu của những người sử dụng thông tin thống kê lại là vấn đề khác Điều này đòi hỏi ngành Thống kê nói riêng và thống kê của các Bộ, ngành nói chung phải liên tục đổi mới, liên tục hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ, trong đó một trong những việc đầu tiên cần phải gấp rút tiến hành đó là việc xây dựng và hoàn thiện Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia Đến nay Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày
10 tháng 01 năm 2011 quy định nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã
Trang 351.3.2.2 Vì sao phải thay đổi Hệ thống báo cáo các chỉ tiêu Thống kê quốc gia?
Nếu ngược dòng thời gian thì thấy rằng, sau nhiều năm xây dựng và bổ sung hoàn thiện, đến năm 1970 ngành Thống kê nước ta đã có được Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia (Hệ thống cân đối sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân- The Material Product Sýtem-MPS) tương đối hoàn chỉnh và được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định 168/TTg ngày 17/9/1970 Với 297 chỉ tiêu thuộc 13 lĩnh vực, Hệ thống chỉ tiêu này đã phát huy tác dụng tích cực trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp trước đây để làm chuẩn mực cho việc thu thập, xử
lý, tính toán và báo cáo các chỉ tiêu kinh tế- xã hội tổng hợp phục vụ cho các cơ quan Đảng, Nhà nước đề ra các mục tiêu chiến lược và đường lối chính sách phát triển kinh tế, đồng thời đáp ứng cho nhiều đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Hệ thống chỉ tiêu này có nhiều nội dung không phù hợp (cho dù trong suốt 34 năm qua, nhất là những năm thời kỳ đổi mới, hệ thống này cũng đã thường xuyên được hoán cải và nâng cấp) Bên cạnh đó, do còn quá nhiều bất cập trong tổ chức và hoạt động nên vẫn gặp phải tình trạng chồng chéo trong thu thập,
xử lý và công bố thông tin thống kê làm hạn chế không ít tính chính xác và độ tin cậy của các số liệu thống kê được công bố Thêm vào đó, do thiếu các hệ thống báo cáo và chỉ tiêu phù hợp, nhất là các báo cáo chỉ tiêu kinh tế theo thông lệ quốc tế, nên các kết quả thống kê trong nước ít có giá trị so sánh quốc tế Cụ thể
số liệu thống kê công nghiệp hàng tháng ở các nước được tính toán trực tiếp từ các sản phẩm công nghiệp hiện vật chủ yếu đại điện cho các ngành sản phẩm, một số nước tính bổ sung bằng chỉ tiêu giá trị tăng thêm theo giá so sánh Không
có nước nào sử dụng chỉ tiêu giá trị sản xuất và tính theo giá cố định để đánh giá tốc độ tăng trưởng công nghiệp như nước ta hiện nay
Trải qua các thời kỳ hình thành và phát triển, nhất là trong những năm đổi mới gần đầy, ngành Thống kê đã có những nỗ lực trong việc hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ và đã đạt được kết quả quan trọng:
Sự chuyển đổi hệ thống phương pháp luận thống kê từ Hệ thống bảng cân đối vật chất (MPS) nặng về phản ánh chỉ tiêu hiện vật sang áp dụng Hệ thống tài
Trang 36khoản quốc gia(SNA) có sự kết hợp hài hoà giữa giá trị và hiện vật là một trong những tiến trình đổi mới nhanh chóng của ngành thống kê;
Kết hợp các hình thức thu thập thông tin thống kê như: Chế độ báo cáo thống
kê, điều tra thống kê, khai thác các hồ sơ đăng ký hành chính là các hình thức thu thập thông tin phù hợp đối với nhiều nền kinh tế nhiều thành phần;
Từng bước triển khai có hiệu quả việc ứng dụng thành tựu CNTT và truyền thông nhằm nâng cao năng lực công tác thống kê;
Hệ thống các sản phẩm thống kê tiếp tục được hoàn chỉnh và phổ biến ngày càng trở thành các nguồn thông tin chính thống được các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trong nước và ưuốc tế tin cậy, thống nhất sử dụng và đánh giá cao
Tuy nhiên, công tác thống kê vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, số lượng và chất lượng thông tin tuy đã được nâng lên, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng kịp tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước: Hệ thống báo cáo và các chỉ tiêu thống kê chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ; Quá trình đổi mới công tác thống kê chưa được tiên hành đồng bộ ở tất cả các khâu thu thập, phân tích, phổ biến và lưu trữ thông tin thống kê, chưa tạo lập đồng bộ, sự phối hợp, trao đổi và chia sẻ thông tin giữa các hệ thống tập trung và thống kê Bộ, Ngành, thống kê địa phương
Vì vây, yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện công tác thống kê, mà trước hết là xây dựng và ban hành một hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất, thông suốt và hiệu quả sẽ cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin thống kê phân tích, đánh giá tình hình kinh tê- xã hội phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước cũng như từng Bộ, ngành, địa phương
Để tìm hiểu những ưu, nhược điểm của hệ thống báo cáo thống kê trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh than tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn
CN Than – Khoáng sản Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo
thống kê đó , chúng ta xem xét đến chương 2 của luận văn là “Phân tích thực trạng
hệ thống báo cáo thống kê ở Tập đoàn Công nghiệp than – Khoáng sản Việt Nam, chế độ báo cáo thống kê tại chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam - Công ty than Quang Hanh – TKV”
Trang 37Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ Ở TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ TẠI CHI NHÁNH TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIÊP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM – CÔNG TY THAN QUANG HANH - TKV 2.1 Tổng quan về công tác thống kê phục vụ quán lý sản xuất kinh doanh trong Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam
2.1.1 Vài nét về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Công ty than Quang Hanh - TKV
2.1.1.1 Vài nét về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
a Quá trình thành lập và phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Tổng công ty Than Việt Nam được thành lập ngày 10/10/1994 theo quyết định số 563/QĐ.TTg của Thủ tướng Chính phủ với nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức khai thác, chế biến và tiêu thụ than Đến năm 2000 do nhu cầu về điện và vật tư tăng cao, Tổng công ty than Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện đầu tư các nhà máy nhiệt điện, các nhà máy sản xuất xi măng, gạch xây dựng, Tuy nhiên, phải đến giữa năm 2005 Nhà máy nhiệt điện đầu tiên là Na Dương do Tổng công ty đầu tư mới bắt đầu đi vào hoạt động
Do yêu cầu về chuyển đổi mô hình và cơ cấu tổ chức, tháng 8 năm 2005 Tổng công ty than Việt Nam đã chuyển đổi thành Tập đoàn than Việt Nam (Tập đoàn kinh tế đầu tiên trong nước) và đến tháng 12/2005 Tập đoàn than Việt Nam đã được Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Tập đoàn TKV) tại Quyết định số 345/QĐ-TTg ngày 26/12/2005 (Tập đoàn được hình thành trên nền gốc là Tập đoàn than Việt Nam và Tổng công
ty Khoáng sản Việt nam sáp nhập vào) Tập đoàn hoạt động theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con
Đến năm 2009, do yêu cầu phát triển kinh tế trong tình hình mới, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2009 về thí điểm
Trang 38thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước; Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định số 132/2005/NĐ-
CP ngày 20 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước và Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2005/NĐ-CP;
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 989/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2010 của về việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu;(Hình 2-1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tập đoàn TKV)
Đến năm 2013 Thực hiện Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm
2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015, TKV lập đề án tái cấu trúc trình Bộ Công thương và được Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 về việc Phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) giai đoạn 2012 - 2015”
Thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp (DN) nhà nước theo Quyết định
314 của Thủ tướng Chính, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã triển khai nhiều giải pháp tái cơ cấu nhằm mục tiêu góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Ngay sau khi có quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu, TKV đã thành lập ban chỉ đạo để triển khai tái cơ cấu ngành than giai đoạn 2012 -
2015 Chỉ trong thời gian ngắn, Tập đoàn đã triển khai chuyển đổi 6 công ty TNHH MTV sản xuất than thành chi nhánh của Tập đoàn, gồm: Công ty than Mạo Khê, Công ty than Nam Mẫu, Công ty than Dương Huy, Công ty than Thống Nhất, Công
ty than Khe Chàm, Công ty than Quang Hanh từ ngày 1/8/2013 và hiện nay các công ty này đang hoạt động ổn định và hiệu quả Ba Công ty còn lại sẽ tiếp tục chuyển đổi từ 2 cấp về một cấp đồng thời về chi nhánh Tập đoàn đó là: Công ty
Trang 39Than Hạ Long chuyển đổi từ 01/10/2013; Công ty Than Hòn Gai từ ngày 01/12/2013; Còn Công ty than Uông Bí sẽ tiếp tục thực hiện trong năm 2014
Một số các báo cáo về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn TKV trong các năm từ khi còn là Tổng công ty than Việt Nam năm 1995 đến nay
và kế hoạch thực hiện các báo cáo chủ yếu của năm 2013 (Xem bảng số 2-1)
Thực hiện nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước giao, ngay từ khi mới
đi vào hoạt động, Tập đoàn TKV đã xây dựng đề án “Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”, lựa chọn chiến lược “phát triển kinh doanh
đa ngành trên nền công nghiệp than” và phương châm “Cùng phát triển với bạn hàng”
Từ mục tiêu chiến lược đã đề ra, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thay đổi cơ bản về cơ chế quản lý, về mô hình tổ chức sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, về cơ chế quản lý tài chính, tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ trong khai thác than, đầu tư cải tạo hoàn thiện dây chuyền công nghệ trong khai thác than, sàng tuyển, bến rót tiêu thụ
Từ sản xuất than, Tập đoàn TKV đã sử dụng nguồn nhân lực sẵn có được tạo
ra từ than để đầu tư các ngành nghề khác như phát triển mạnh mẽ ngành cơ khí mỏ theo hướng hiện đại hoá cơ khí sửa chữa, phát triển cơ khí chế tạo, lắp ráp, sản xuất
xe tải, đóng tàu thuỷ; xây dựng các nhà máy nhiệt điện; tích cực đầu tư nâng cao sản lượng khai thác khoáng sản; sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, xi măng, vật liệu xây dựng; công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường được chú trọng; thương mại dịch vụ và các ngành nghề khác đều được đầu tư phát triển
Trong suốt chặng đường 20 năm hoạt động, công nhân, cán bộ Tập đoàn TKV đã không ngừng nỗ lực, chủ động sáng tạo, đã khẳng định sức mạnh của mình bằng tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt khó, phấn đấu vươn lên, liên tiếp hoàn thành toàn diện các báo cáo kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước
Là doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành, tính đến ngày 1/1/2012, Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam (TKV) đang có 29.201 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, 103.809 tỷ đồng tổng tài sản và doanh thu năm 2011 là 106.858 tỷ đồng
Trang 40Hiện, tập đoàn có 88 đơn vị, gồm công ty mẹ có 22 chi nhánh, ban quản lý
dự án và văn phòng đại diện; 23 công ty do TKV sở hữu 100% vốn, 32 công ty cổ phần, 7 đơn vị sự nghiệp, 4 công ty ở nước ngoài và 10 công ty liên kết
Định hướng chiến lược của Tập đoàn tập trung vào 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính: thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến than; thăm dò, khai thác, tuyển luyện khoáng sản; sản xuất nhiệt điện từ than; sản xuất, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp phục vụ ngành mỏ và nền kinh tế; cơ khí sửa chữa và chế tạo thiết bị ngành mỏ…
b Chiến lược phát triển ngành than
Tại Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 07/07/2008 Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025: Phát triển ngành than Việt Nam trở thành ngành công nghiệp phát triển, có sức cạnh tranh cao, có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực ở tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến, sử dụng than, đủ khả năng đáp ứng về cơ bản nhu cầu trong nước và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
Xác định phù hợp với Chiến lược phát triển ngành than đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và văn bản số 2197/TTg-KTN ngày 10/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ v/v Quy hoạch ngành than Việt Nam đến năm 2015, có xét đến năm 2025, như sau:
b.1 Quan điểm phát triển
1 Phát triển ngành than trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả
và tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước, phục vụ nhu cầu trong nước là chính; đóng góp tích cực vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; bảo đảm việc xuất, nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng thông qua biện pháp quản
lý bằng kế hoạch và các biện pháp điều tiết khác phù hợp với cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam;
2 Phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hướng đồng bộ, phù hợp với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác Phát huy tối đa nội lực, kết hợp